Đề Xuất 2/2023 # Trang Điện Tử Hội Nông Dân Tỉnh Thanh Hóa # Top 4 Like | Vitagrowthheight.com

Đề Xuất 2/2023 # Trang Thông Tin Điện Tử Hội Nông Dân Tỉnh Thanh Hóa # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Trang Điện Tử Hội Nông Dân Tỉnh Thanh Hóa mới nhất trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Làm giàu từ trồng phong lan

Với diện tích 3.000m2 trồng lan, ông Lê Anh Phấn, thôn 1, xã Đông Anh, huyện Đông Sơn mỗi năm cung ứng cho thị trường hàng nghìn giò, với giá dao động từ 1-3 triệu/giò; 7-15 triệu/gốc; gốc to trên 40 triệu. Theo ông Phấn, giá trị của mỗi giò lan rừng phụ thuộc vào độ quý hiếm và vẻ đẹp của loài hoa, nhất là những giò lan ra hoa đột biến có giá trị rất “khủng” và chỉ những người chơi lan, hiểu lan mới biết được giá trị của nó.

Page Content

Ông Phấn cho biết, gia đình ông có thâm niên trồng lan đã nhiều năm. Lúc đầu, vì yêu thích màu sắc và mùi hương của lan rừng nên chỉ trồng chơi cảnh. Nhưng sau đó, nhận thấy hoa lan có giá trị kinh tế, được nhiều người chơi hoa “săn” lùng nên ông quyết định mở rộng thêm diện tích, sưu tầm thêm nhiều chủng loại, cấy ghép và đầu tư hệ thống tưới phun tự động. Những ngày đầu trồng đại trà, ông còn khá lúng túng, nhất là việc phân loại các giống hoa lan, bởi mỗi loại cần kỹ thuật chăm sóc khác nhau mà lan thì có nhiều chủng loại. Nhưng nhờ chịu khó vừa làm, vừa học hỏi, tham khảo các mô hình trồng lan trên internet nên chỉ sau 2 năm, ông Phấn đã tích lũy được kha khá kiến thức, kinh nghiệm về nghề trồng lan. Từ đây ông thực sự trở thành người trồng lan chuyên nghiệp, thuần thục về kỹ thuật chăm sóc của từng loại lan có thể chăm sóc để cây ra hoa trái mùa, đáp ứng nhu cầu của người chơi. Khi đã có được kiến thức và kỹ thuật chăm sóc ông Phấn bắt đầu tìm và nhập các giống lan rừng ở các vùng miền, từ lan rừng ở trong nước, rừng Lào, rừng Campuchia…Cũng từ đó, hoa lan của gia đình ông được nhiều người biết đến. Trong vườn nhà ông hiện tại có tổng cộng hơn 800 giò phong lan các loại, trong đó: phi Điệp 300 giò, 100 bụi ông cho phong lan bám vào cây thiếc mộc lan, 200 bụi bám vào cây lộc vừng, 100 bụi bám vào gốc gỗ lũa và còn rất nhiều các loại lan quý khác.

Dẫn chúng tôi tham quan vườn lan, ông Phấn chia sẻ: Để có một chậu lan đẹp, đòi hỏi người trồng phải công phu từ việc chọn giống, chọn giá thể sống cho cây lan ký vào như chậu bằng đất nung hay thân cây gỗ. Mỗi loài thích hợp sinh trưởng với một loại giá thể: loại nhiều thân, rễ kim, thường ưa ký vào dớn, xơ của vỏ dừa; như thủy tiên, phi điệp, kim điệp, hoàng thảo…loài một thân, có bộ rễ to lại ưa ký vào thân gỗ, chậu có than củi… Gỗ được chọn làm giá thể phải là loại gỗ bền, được làm sạch trước khi cho lan ký vào (ở vườn nhà, thân cây vú sữa là loại mà lan ưa nhất). Người kỹ tính, cầu kỳ còn bóc vỏ cây gỗ cho thật sạch và nếu là than củi còn được ngâm vào nước gạo trước khi trồng để côn trùng, nấm mốc không có môi trường ẩn náu, làm hại đến cây lan. Mỗi cung bậc, giai đoạn để tạo nên được một chậu lan ưng ý là cả một nghệ thuật, được kết hợp hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Những công việc thật nhẹ nhàng, song lại đòi hỏi người chơi lan phải tỷ mẩn, cẩn thận… tạo cho người chơi có những phút giây thư thái, vừa làm vừa thưởng ngoạn thành quả của mình.

Ông Phấn còn cho biết, để cây cho hoa đẹp thì người trồng phải hiểu được đặc tính của loài lan là ưa ánh nắng vừa phải, thoáng nên trước khi trồng cần phải thiết kế vườn đảm bảo các điều kiện trên. Vườn lan của gia đình ông được đầu tư xây dựng kiên cố với hệ thống giàn treo bằng ống kẽm, phía trên có lưới che mát cho ánh sáng vừa phải. Tuy nhiên chơi phong lan, khâu chăm sóc rất quan trọng nhất. Bởi vì cây phong lan vốn sống tự nhiên trong rừng với điều kiện khí hậu mát mẻ quanh năm, anh sáng tự nhiên nên cây thích nghi và sinh trưởng cũng hoàn toàn tự nhiên. Khi chơi với số lượng lớn treo trên giàn sẽ là môi trường lý tưởng cho nhiều loại nấm, ký sinh trùng có hại. Vì vậy ngoài việc chăm sóc thì khâu trị bệnh cũng rất quan trọng vì nếu mắc loại nấm độc ký vào thì vườn lan có thể bị chết hàng loạt. Công việc chăm sóc cũng đòi hỏi kỹ càng, tỷ mẩn như: Ngày tưới 1 lần với mức tưới vừa phải, phun sương. Nước dùng để tưới cũng phải sạch, tránh nước tưới bị nhiễm phèn sẽ sinh ra rong rêu, làm cây kém phát triển. Đặc biệt, trước khi “ép” lan ra hoa phải nuôi dưỡng cây cho khỏe bằng cách bón phân đầy đủ và hợp lý cùng với những bí quyết nghề nghiệp mà ông không chia sẻ cho ai bao giờ. Hiện tại với vườn lan này, mỗi năm đem về cho gia đình ông trên 100 triệu đồng tiền lãi, tạo việc làm thường xuyên cho 2 lao động trong gia đình và là nơi thăm quan của những người say mê loại hoa dân dã nhưng độc đáo và tao nhã này.

 Trong tương lai, ông Phấn sẽ mở rộng diện tích trồng hoa cũng như tìm kiếm nhiều hơn nữa các giống lan rừng đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Mô hình trồng lan của gia đình ông Phấn không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao, mà đó còn là nơi để những người đam mê hoa lan trao đổi kinh nghiệm và cảm xúc yêu hoa cho nhau.

Cổng Thông Tin Điện Tử Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Quảng Nam

CÂY SÂM NGỌC LINH (Panax vietnamensis Ha et Grushv) DƯỚI TÁN RỪNG (Ban hành kèm theo Quyết định số 333/QĐ-SNN&PTNT ngày 29 tháng 6 năm 2016 của Sở Nông nghiệp và PTNT Quảng Nam)TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM

Sâm Ngọc Linh ( Panax vietnamensis Ha et Grushv) là loại sâm quý thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae), còn gọi là Sâm Việt Nam, Sâm Khu 5 (K5), củ Ngải rọm con, hay cây Thuốc giấu…; được tìm thấy tại vùng núi Ngọc Linh thuộc huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam và 2 huyện Đăk Glei, Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum.Phần thân rễ của cây Sâm Ngọc Linh chứa 52 hợp chất saponin, trong đó có 26 hợp chất saponin không có trong các loại sâm khác.

Tại Quảng Nam, Sâm Ngọc Linh được gây trồng chủ yếu vùng núi Ngọc Linh thuộc xã Trà Linh, Trà Nam, huyện Nam Trà My và diện tích Sâm trồng có triển vọng mở rộng trong thời gian đến.

Trong tự nhiên, Sâm Ngọc Linh là loài đặc hữu hẹp, phân bố trong vùng xuất xứ núi Ngọc Linh.Gây trồng thích hợp trong các điều kiện đặc trưng của vùng xuất xứ, như sau:

– Nhiệt độ thích hợp trung bình trong năm dao động từ 14,0 – 18,0 0C (thấp nhất 8 – 11 0C, cao nhất 20 – 25 0 C);

– Độ ẩm trung bình từ 85 – 90%;

2. Đất đai, tài nguyên và địa hình

– Lượng mưa trung bình từ 2.800 – 3.400 mm/năm và có lượng mưa khá trong các tháng mùa khô (từ tháng 3-7).

III. CHUẨN BỊ GIỐNG, ƯƠM CÂY CON

– Độ cao so với mực nước biển từ 1.500 m trở lên, thuận lợi ở độ cao từ 1.800 m trở lên;

– Đất có đủ ẩm, giàu dinh dưỡng, lượng mùn hữu cơ trong đất cao;còn giữ cấu trúc rừng nguyên sinh và có độ tàn che từ 70-90%.

* Chọn cây giống: Cây lấy hạt giống cần phải có sự chọn lọc kỹ để đảm bảo chất lượng cây giống. Cây phải đạt từ 4 năm tuổi trở lên (đối với cây gieo từ hạt), 2 năm trở lên (đối với cây trồng từ đầu mầm), có biểu hiện đặc trưng của giống, không bị sâu bệnh, tổn thương cơ giới hoặc các tổn thương khác.

* Thời gian thu hái quả: Vào tháng 7 – 9 hằng năm.

Quả thu hái phải đảm bảo độ chín sinh lý (vỏ quả có màu đỏ tươi và có chấm đen trên đầu, vỏ quả trông sáng bóng, hạt mẩy). Do đặc điểm sinh học mà một cụm quả đạt độ chín tiêu chuẩn phải từ 6 – 10 ngày, do vậy nên thu hái làm nhiều lần (ít nhất 3 lần, mỗi lần cách nhau từ 2- 3 ngày) để đảm bảo quả giống thu vào có chất lượng cao.

* Phân loại quả: Quả sau khi thu về được sàng sảy để loại bỏ quả nhỏ, lép và phân loại như sau:

– Loại 1: Vỏ quả có màu đỏ tươi, nhìn có màu sáng bóng, hạt mẩy.

– Loại 2: Vỏ quả có màu vàng hoặc nâu đỏ.

– Loại 3: Vỏ quả có màu vàng nhạt hoặc hơi nâu.

2.Thời vụ gieo và xử lý hạt giống

– Loại 4: Vỏ quả có màu xanh, xanh nõn chuối, hạt nhỏ, lép…(nên loại bỏ).

Đối với quả loại 2 và loại 3 sau thời gian ủ từ 2 đến 3 ngày thì đạt độ chín về hình thái giống như loại 1 và 2. Tuy nhiên, chỉ nên sử dụng hạt từ quả loại 1 và loại 2 để gieo ươm, trong trường hợp thiếu hạt giống có thể sử dụng loại 3.

– Thời vụ gieo hạt trùng với thời gian thu hái quả khoảng tháng 7 – 9 hằng năm.

– Trước khi gieo hạt có thể thực hiện bằng 1 trong 2 cách:

3. Phương pháp gieo hạt

+ Sau khi thu quả, để nguyên vỏ và đem gieo ngay (nếu quả có 2 hạt thì tách riêng).

+ Sau khi thu quả, ủ khoảng 5 ngày đem chà xát và đãi sạch để loại bỏ phần thịt quả, để ráo; sau đó ngâm trong dung dịch nước tỏi 10 – 15% (1,0 – 1,5kg tỏi giã nhỏ ngâm với 10 lít nước, lọc lấy nước) trong khoảng 30 – 45 phút để ngừa một số nấm bệnh và tăng sức đề kháng cho cây con, rồi đem gieo.

Sử dụng phương pháp truyền thống, gieo hạt trực tiếp lên luống (phương pháp gieo hạt giống trong khay chuyên dụng và đặt khay cách ly mặt đất trong nhà bảo vệ đang được thử nghiệm, có kết quả tốt, sẽ có hướng dẫn để áp dụng).

– Đất làm vườn ươm phải chọn ở những vùng tương đối bằng phẳng, dưới tán rừng, có độ tàn che của rừng từ 80% trở lên, đất giàu mùn, sạch nguồn bệnh, thoát nước tốt.

– Dọn sạch cỏ dại, lên luống có mặt luống cong hình mu rùa, rộng 0,8 – 1,0 m, cao 0,2 – 0,3 m, dài không quá 10 m theo hướng đường đồng mức để hạn chế xói mòn. Nên bổ sung thêm mùn núi (mùn được phân hủy từ xác bã thực vật) để tăng cường dinh dưỡng cho đất.

4. Chăm sóc sau khi gieo hạt

– Hạt được gieo trong rãnh sâu 2 – 3 cm, với mật độ khoảng 01lon hạt/2 m 2 đất (1 lon hạt tương đương với 1.000hạt). Lưu ý, không gieo các hạt dính sát nhau, khoảng cách giữa các hạt phải trên 2 cm.

– Sau khi gieo xong, lấp đất và phủ một lớp lá khô, cỏ tranh trên mặt luống để giữ ẩm, ấm cho hạt, hạn chế cỏ dại và chống xói mòn.

– Để đảm bảo cho cây giống trong vườn ươm sinh trưởng phát triển thuận lợi, tốt nhất nên làm nhà che bằng ni lông trắng hay lưới nhằm hạn chế tác động của ngoại cảnh (mưa to, hiện tượng sương lạnh…) đến sinh trưởng phát triển của cây giống trong vườn ươm.

– Thường xuyên theo dõi, sửa chữa rãnh luống và mương thoát nước, không để vườn ươm bị đọng nước, ngập úng khi có mưa.

– Khi cây giống bắt đầu mọc mầm (5 – 10% hạt đã mọc mầm), thu dọn phần lá cây, cỏ tranh chưa hoai mục trên mặt luống để cây giống sinh trưởng phát triển thuận lợi.

– Thường xuyên theo dõi tưới nước cho cây, đảm bảo đất đủ ẩm.

– Làm cỏ thường xuyên, kết hợp với việc bổ sung mùn núi, nhưng chú ý không làm tổn thương đến cây giống.

– Thường xuyên theo dõi, phát hiện kịp thời những đối tượng dịch hại tấn công cây giống trong vườn ươm để có biện pháp quản lý hiệu quả.

5. Tạo cây con từ mầm thân

– Dùng lưới nilon căng đứng, cao 35 – 40 cm quanh luống hoặc quanh vườn để ngăn chuột, dúi… cắn cây con.

IV. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC1. Thời vụ

– Khi cây đã mọc đều, nếu có điều kiện nên bứng trồng vào khay và đưa vào chăm sóc trong nhà có mái che, đặt trên giàn đỡ cách ly mặt đất để quản lý, chăm sóc đảm bảo hơn.

2. Thiết kế vườn và chuẩn bị đất trồng

Ngoài việc tạo cây con từ hạt theo các phương pháp trên, Sâm Ngọc Linh có thể trồng được từ mầm thân (đầu mầm) bằng cách: Khi thu hoạch phần củ, cắt chừa lại phần mầm của thân rễ (đoạn thân có các mắt) để trồng.

Với tiểu khí hậu vùng Ngọc Linh, có thể trồng Sâm quanh năm (trừ các tháng mùa mưa chính) nhưng do phụ thuộc vào điều kiện cây giống đủ tiêu chuẩn nên vụ trồng phổ biến từ tháng 7 – 9 hằng năm khi cây giống đạt 1 năm tuổi; ngoài ra, có thể trồng từ tháng 3-5 với cây giống lưu vườn hơn 1 năm tuổi. Không trồng vào những ngày nắng gắt hay mưa lớn.

Thực hiện nghiêm ngặt yêu cầu hạn chế tối đa những tác động bất lợi đến môi trường rừng, để vừa bảo vệ rừng, vừa tạo môi trường sống thích hợp cho sâm trồng.Sâm có thể sinh trưởng – phát triển tốt khi mọc sát gốc các cây gỗ, cây tái sinh.Trong thiết kế vườn và chuẩn bị đất trồng, chỉ phát dọn tối thiểu dây leo, bụi rậm; tuyệt đối không được tác động đến cây gỗ và cây tái sinh.

– Lựa chọn đất trồng: Lựa chọn các vùng đất dưới tán rừng tự nhiên ở đai cao từ 1.500 m trở lên, còn giữ kết cấu rừng tự nhiên và có độ che phủ rừng từ 70% trở lên, giàu mùn, đủ ẩm.

– Trong vùng lựa chọn, thiết kế các băng chừa và băng trồng đồng mức, xen kẽ nhau,rộng 8 – 10mét và chừa lại phần đỉnh trên cùng xuống đến băng trồng ít nhất 50mét.

+ Phát dọn dây leo, bụi rậm để tạo các lối đi lại trong vườn Sâm: Lối đi lạigiữa các băng đồng mức,rộng 0,8 mét.Lối đi lại theo hướng dốc,rộng 0,8-1mét, thiết kếzích – zắc và với số lượng tối thiểu để hạn chế xói mòn.

+ Đối với phần đỉnh dốc và băng chừa, giữ nguyên hiện trạng, nghiêm cấm mọi tác động.

3. Tiêu chuẩn cây giống trước khi trồng3.1. Cây giống gieo từ hạt

+ Đối với băng trồng, chỉ được phát dọn dây leo, bụi rậm.Trong các băng trồng, thiết kế 3-4 luống trồng, mỗi luống rộng 1,6 – 2,0 mét để trồng 3-4 hàng sâm. Giữa các luống, phát dọn dây leo, bụi rậmtạo lối đi lại rộng 30-35cm.

– Chuẩn bị đất và trồng Sâm: Trên các luống trồng đã được phát dọn dây leo, bụi rậm, giữ nguyên hiện trạng mặt đất (không đánh rãnh lên luống; không thu dọn đá lẫn, gốc cây và thân gỗ chết…; chỉ thu gom thân lá dây leo, cây bụi vừa phát dọn để ủ phân hữu cơ). Đào hố trồng lan theo chiều nghiêng tự nhiên của khu vực trồng, theo quy cách và thẳng hàng để tiện trong việc theo dõi, chăm sóc sau này.

Đối với cây giống 1 tuổi, phải đảm bảo các yêu cầu xuất vườn để trồng như sau:

– Về hình thái: Lá có màu xanh đến xanh đậm;

– Chiều cao thân trung bình: Từ 10 cm trở lên (lúc có 1 lá kép).

3.2. Cây trồng từ đầu mầm

– Có đường kính củ từ 0,3 cm trở lên; có từ 2- 3 rễ chính trở lên.

4. Mật độ và cách trồng

– Cây không bị bệnh hại trên thân, rễ, củ; bệnh trên lá nhỏ hơn 5% diện tích lá.

Cây giống đầu mầm là phần mầm của thân rễ (đoạn thân có các mắt) dài khoảng 3 – 4 cm (tính từ vị trí tiếp giáp với thân khí sinh), phía trên chừa lại 1 đoạn thân khí sinh dài 5 – 7 cm.

– Khoảng cách, mật độ: Hàng cách hàng từ 40-45 cm, cây cách cây từ 30-35 cm;mật độ khoảng 20.000 -25.000 cây/ha rừng (tính bình quân trên diện tích thiết kế, bao gồm diện tích rừng không tác động).

– Cách trồng: Sử dụng cuốc nhỏ hoặc công cụ cầm tay phù hợp để đào hố tròn có đường kính 8-10 cm, sâu 6-8 cm để trồng.

+ Trồng từ cây con: Bứng nhẹ, tách cây con trên vườn ươm hoặc trong khay, tránh xây xát và đứt rễ để đem đi trồng.

Đặt cây con vào hố và điều chỉnh sao cho thân cây theo phương thẳng đứng, cổ rễ ngang với mặt đất tự nhiên; lấp đất và dùng tay ấn chặt đất xung quanh gốc cây; lấp đất theo hình mâm xôi để tránh cây bị úng khi mưa; nên trồng thẳng hàng để dễ theo dõi và tiện chăm sóc sau này; lưu ý không làm bể bầu, đứt rễ, dập nát cây khi trồng.

5. Chăm sóc vườn sâm

+ Trồng bằng đầu mầm: Sau khi chuẩn bị xong đoạn mầm, có thể tiến hành trồng ngay; tương tự như trồng cây con, đào một hốc nhỏ sâu 5 – 7 cm rồi đặt phần thân mầm vào đó, đoạn thân khí sinh hướng lên trên, lấp đất và ấn chặt phần gốc.

– Sau khi trồng, tưới nhẹ để ổn định cây, phủ một lớp lá khô lên mặt đất để giữ ẩm cho đất, hạn chế cỏ dại, đồng thời lá khô sau khi phân hủy sẽ cung cấp một lượng mùn nhất định cho cây sau này.

– Năm đầu sau khi trồng, thường xuyên theo dõi, trồng dặm lại những cây chết (dặm các cây cùng lứa tuổi).

– Hằng năm,thường xuyên phát dọn các dây leo, bụi rậm tái sinh và nhổ cỏ trong vườn trồng sâm; chỉ cần cắt, nhổ cỏ cục bộ những cây sát gốc sâm; không cắt, nhổ cỏ khi cỏ không ảnh hưởng đến cây sâm. Không làm cỏ trong mùa mưa, nhất là giai đoạn cây ngủ đông để hạn chế rửa trôi, xói mòn đất.

– Kết hợp với việc làm cỏ, bón bổ sung thêm mùn núi cho cây bằng cách phủ lên mặt đất gần gốc cây một lớp mùn dày khoảng 2 cm, để giúp cây sinh trưởng tốt và cho năng suất cao. Có thể sử dụng các chế phẩm vi sinh ủ với lá mục, lá khô tại chỗ…để bón bổ sung cho cây.

6. Phòng trừ dịch hại

– Những năm mưa ít trong các tháng mùa khô, đất trồng bị khô, cần tưới nước bổ sung để giúp cây sinh trưởng được thuận lợi.

– Dọn dẹp cành cây đổ gãy xuống vườn sâm; chăm sóc và khắc phục sớm những trường hợp cây bị tổn thương.

Để phòng trừ dịch hại trên cây Sâm Ngọc Linh hiệu quả, phải áp dụng triệt để biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), chú trọng việc tạo điều kiện tốt nhất cho cây sâm sinh trưởng và phát triển, cụ thể:

– Chọn cây giống phải đạt tiêu chuẩn, khỏe, sạch sâu bệnh.

– Chọn đất tốt để trồng, đất có nhiều mùn, không bị úng nước, có độ tàn che từ 70% trở lên.

– Tăng cường các biện pháp canh tác như: Vệ sinh vườn, thu gom, cách ly cây bệnh… để hạn chế các đối tượng dịch hại gây hại.

– Thường xuyên kiểm tra, phát hiện sớm các đối tượng dịch hại, xử lý kịp thời bằng các biện pháp thủ công như: cắt tỉa lá bị bệnh, nhổ bỏ và xử lý cây bệnh,…Cần làm bẫy lồng, bẫy kẹp, dụng cụ xua đuổi… hoặc dùng nilon, lưới để ngăn các động vật gây hại vườn sâm.

* Đối với những vườn giữ giống, nhân giống, vườn ươm khi có nguy cơ dịch hại nặng, có thể sử dụng thuốc BVTV (ưu tiên sử dụng các loại thuốc sinh học) theo hướng dẫn của cơ quan chuyên môn để bảo vệ tối đa nguồn giống.

7. Thu hoạch

Trồng sâm đúng hướng dẫn kỹ thuật, trồng lan trên mặt đất tự nhiên (không lên luống) để tránh nước mưa tạo thành dòng chảy hay đất trong luống sâm quá ẩm ướt sau mưa nhằm hạn chế bệnh hại sau này, đặc biệt đối với bệnh do vi khuẩn gây hại.

Ngoài ra, quả sâm có các đối tượng như chuột, chim và các động vật khác rất thích ăn. Vì vậy, khi cây kết quả, phải làm túi lưới bọc chùm quả. Túi lưới được gắn vào 1 que chắc chắn (que dài hay ngắn tùy thuộc độ cao của chùm quả), que được cắm chắc xuống đất. Ngoài tác dụng bảo vệ các đối tượng gây hại, cọc túi lưới có tác dụng giữ cho cây không bị gió, mưa lay đổ do chùm quả nặng.

Sâm Ngọc Linh trồng từ cây giống sau 6 năm có thể thu hoạch được, tuy nhiên năng suất, chất lượng và hiệu quả chưa cao, nên thu hoạch củ khi sâm đạt từ 8 năm tuổi trở lên, thu vào tháng 10 – 12 (khi cây ngủ đông).

Hội Nông Dân Tỉnh Tuyên Quang

Có thể trồng mướp đắng được nhiều tháng trong năm, nhưng thời vụ thích hợp nhất là gieo trồng từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Ở những vùng đất cao có thể trồng sớm hơn, từ tháng 11 hoặc gieo bầu sau đó đưa ra trồng đế thuận tiện trong việc tiêu thụ sản phẩm.

phải cày bừa kỹ, tơi xốp, sạch cỏ. Có nhiều cách trồng, nếu trồng theo luống cắm choái thì lên luống rộng 1,2m chừa rãnh 0,2 – 0,3m, nếu trồng theo bò giàn thì tạo mô, có thề trồng cho bò đất.

Trồng theo luống cắm choái: Khoảng cách trồng 1 x 0,4 x 1 cây, số lượng cây khoảng 24.000 – 25.000 cây/ha. Lượng giống cần 10 – 12kg/ha (giống nảy mầm trên 70%).

Trồng bò giàn: Khoảng cách thông thường 5m x 0,8 x 2 cây, số lượng cây khoảng 5.000 cây/ha, lượng giống cần 1,8 – 2kg/ha (giống nảy mầm trên 10%).

Trước khi ngâm ủ giống cần phơi lại giống 3 – 6 giờ để hạt khô, hút nước mạnh, nảy mầm tốt. Dùng kéo hoặc dùng cắt móng tay, cắt nhẹ đầu nhọn để hạt hút nước dễ dàng, tránh không cắt vào phần nhân hạt, sau đó đem ngâm từ 6 – 12 giờ (nếu có xử lý thuốc ngâm trong nước pha thuốc 15 phút, sau đó đãi sạch và ngâm tiếp đủ 6 – 12 giờ), vớt hạt ra để ráo, cho vào túi vải hoặc khăn ủ cho đến khi nứt nanh thì đem gieo. Nhiệt độ ủ thích hợp là 28 – 30°c.

Đặt hạt đã nứt nanh theo mật độ rồi lấp nhẹ một lớp đất mỏng lên trên. Đất trước khi gieo nên tưới nước đủ ẩm để cây mọc mầm dễ dàng.

Gieo thẳng trực tiếp trên ruộng.

Gieo bầu: Sử dụng cho gieo sớm khi đất trồng còn ướt, hoặc gieo trồng để dặm, có thể dùng bầu bằng túi nylông hoặc sọt tre.

Tuỳ cách trồng, đất đai mà có lượng phân bón phù hợp.

+ Phân chuồng hoai mục: 400 – 700kg.

+ Bón lót: Toàn bộ phân chuồng.

+ Bón thúc lần 1: Sau khi gieo 10 ngày bón 4 – 6kg NPK.

+ Bón thúc lần 2: Sau khi gieo 25 ngày bón 8 – 12kg NPK.

+ Bón thúc lần 3: Sau khi gieo 45 ngày bón 8 – 12kg NPK.

+ Bón thúc lần 4: Sau khi gieo 70 ngày bón 6 – 8kg NPK.

Bón thúc kết hợp với làm cỏ, vun gốc, lấp phân. Tưới nước vừa đủ ẩm, nếu quá khô hoặc quá ẩm ướt thì không những làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây mà còn làm cây dễ bị bệnh.

Côn trùng phá hoại trên mướp đắng bao gồm nhiều loại bọ rầy, sâu đất, sâu xanh, rệp, rầy mềm, bọ trĩ…

Bệnh thường xuất hiện trên cây mướp đắng là bệnh virus, bệnh lở cổ rễ, bệnh đốm nâu trên lá, bệnh héo rũ…

Để phòng tránh sâu đất hại mướp đắng, khi gieo hạt giống nên rắc một gốc khoảng 10-15 hạt Basudm 10H, đồng thời thường xuyên kiểm tra, phòng trừ sâu bệnh kịp thời. Chú ý khi phun thuốc phòng trừ sâu bệnh nên hạn chế phun vào thời điểm mướp đắng đang trổ bông rộ.

Thời kỳ thu hoạch cần phải áp dụng thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật theo hướng dẫn để bảo toàn khi sử dụng.

Sau khi gieo 42 – 45 ngày là có thể bắt đầu thu hoạch lứa đầu tiên. Thời gian thu hoạch kéo dài từ 35 – 55 ngày tuỳ theo mức độ thâm canh của người sản xuất. Năng suất bình quân của mướp đắng, có thể đạt từ 25 – 30 tấn/ha, những giống lai có năng suất cao hơn.

Một số loại sâu bệnh thường gặp ở mướp đắng

Ruồi có hình dạng và kích thước rất giống ruồi đục trái cây nhưng chỉ gây hại trên các cây họ Bầu bí. Ấu trùng là dòi có màu trắng ngà, đục thành đường ngoằn ngoèo bên trong làm quả thối vàng, rụng sớm.

Nên thu gom tiêu diệt quả rụng xuống đất, cày phơi đất sau vụ hoặc cho nước ngập mộng vài ngày để diệt nhộng.

Phun ngừa ruồi bằng các thuốc Sherpa, Karate, Cyper – alpha, Cyperan.

Nếu ruồi ở mật độ cao có thể dùng giấm pha với một ít đường và trộn với thuốc trừ sâu, xong đặt rải rác, 6 -10m một bẫy.

Cũng có thể dùng giấy báo, bao nylông để bao quả sau khi quả đậu 2 ngày.

Bù lạch có tính kháng thuốc rất cao, nên định kỳ 7 – 10 ngày/lần phun dầu khoáng DC – Tron plus (Caltex) sẽ giảm đáng kể sự tấn công của bù lạch.

Khi thấy mật độ vài ba con trên một đọt non cần phun một trong các loại như: Confidor 100SL, Admire 50EC, Danìtol 10EC, Vertimec… 0,5 – l%x, Chú ý cần thay đổi thuốc thường xuyên.

Còn được gọi là rầy mật, cả ấu trùng lẫn thành trùng đều rất nhỏ, dài độ 1 – 2mm, có màu vàng, sống thành đám đông ở mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa làm cho ngọn dây dưa chùn đọt và lá bị vàng.

Rầy truyền các loại bệnh siêu vi khuẩn như khám và

Rầy mật có rất nhiều thiên dịch như: bọ rùa, dòi, kiên, nhện nấm, nên chỉ phun thuốc khi mật số quá cao làm ảnh hường đến năng suất. Phun các loại thuốc phổ biến như thuốc: trừ bọ rầy dưa hoặc Trebon.

+ Bướm nhỏ, màu nâu, khi đậu có hình tam giác màu trắng ở giữa cánh hoạt dộng vào ban dêm và đẻ trứng rời rạc trên các đọt non. Trứng rất nhỏ, màu trắng, nở trong vòng 4 – 5 ngày. Sâu nhỏ, dài khoảng 8 – 10mm, màu xanh lục có sọc trắng đặc biệt ở giữa lưng, thường nhả tơ cuốn lá non lại và ở bên trong ăn lá hoặc cạp vỏ trái non. Sâu đủ lớn khoảng 2 tuần làm nhộng trong lá khô.

Phun thuốc ngừa bằng các loại thuốc phổ biến trên đọt non và trái non khi có sâu xuất hiện rộ như thuốc trừ rệp dưa, bọ rầy dưa.

+ Bệnh đốm phấn, sương mai do nấm Pseudoperoiiospora cubensis gây ra. Lúc đầu, ở mặt trên lá vết bệnh nhỏ màu xanh nhạt, sau đó chuyển sang màu vàng nâu và giới hạn trong các gân phụ của lá, nên đốm bệnh có hình góc cạnh. Bên dưới ngay vết bệnh có lớp tơ nấm lúc đầu màu trắng, sau đó chuyển sang màu vàng tím. Nhiều vết bệnh liên kết lại làm lá vàng, cây phát triển chậm, quả nhỏ kém chất lượng. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện độ ẩm cao.

Phun Curzat M – 8, Mancozeb 80 WP, Copper – zinc, Zm 80WP, Benlate – c 50 WP hoặc Ridorml 25VYP 1 – 2% kết hợp tỉa bỏ lá già.

+ Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum lagenanum gây nên. Bệnh gây hại trên hoa, cuống quả, quả non và cả quả chín. Vết bệnh trên quả có màu nâu tròn, lõm, khi bệnh nặng các vết này liên kết thành mảng to gây thối quả và làm quá rụng sớm.

Phun Manzatfc 200, Mancozeb 80WP, Antracol 70w, Curzatp MS, Copper – B. Topsin M, Benlat – C 50WP nồng độ 2 – 3%.

Cổng Thông Tin Điện Tử Huyện Phú Xuyên

Bà con nông dân trong huyện tập trung chăm sóc lúa Xuân trong điều kiện thời tiết thuận lợi, quyết tâm thực hiện thắng lợi kế hoạch sản xuất vụ Xuân 2021

Cây lúa giai đoạn đẻ nhánh

      Theo báo cáo của các xã, thị trấn, các HTX NNtrong toàn huyện đến hết ngày 28.02.2021 toàn huyện cơ bản đã cấy xong diện tích lúa Xuân. Hiện nay điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng, phát triển, bà con nông dân cần tập trung chăm sóc cây lúa ngay sau cấy để cây lúa bén rễ, hồi xanh nhanh. Phòng Kinh tế xin lưu ý một số biện pháp chăm sóc lúa xuân như sau:

      1. Về nước tưới

Sau cấy luôn phải giữ một lớp nước nông khoảng 3-5cm trên mặt ruộng: vừa giữ ấm cho cây lúa giúp cho cây nhanh bén rễ hồi xanh tốt, hạn chế cỏ dại, tăng hiệu lực phân bón.

      Đến khi cây lúa bắt đầu đẻ nhánh thực hiện phương châm tưới nước theo công thức nông – lộ – phơi: tưới nông và giữ ẩm xen kẽ để tạo điều kiện cho mùn giun phát triển, giúp lúa đẻ nhánh sớm, đẻ khỏe, đẻ tập trung; không để ruộng khô cỏ sẽ mọc nhiều. Khi lúa đẻ nhánh kín đất tháo cạn nước để lộ chân chim giúp rễ lúa ăn sâu sẽ tăng khả năng chống đổ của cây.

      2. Dặm, tỉa

      Sau khi cấy cần kiểm tra, tỉa bớt đối với những khóm to, dặm vào những chỗ cây chết, cây chưa đồng đều để sớm ổn định mật độ, đảm bảo mật độ 30-35 khóm/m2, 1-2 dảnh/khóm đối với các giống đẻ khỏe và đối với lúa đẻ trung bình 35 – 40 khóm/m2, 2- 3 dảnh/khóm.

Tiến hành dặm tỉa càng sớm càng tốt nên kết thúc trước khi cây lúa đẻ nhánh.

      3. Phân bón và kỹ thuật bón phân

      Năm nay, các xã, thị trấn đã chủ động cày ải, tuy nhiên do thời tiết nhiệt độ thấp kéo dài nên tốc độ khoáng hóa chậm, nên phương châm bón phân là bón lót đầy đủ, tăng lượng phân bón thúc và bón rải, bón cân đối NPK, chú trọng tăng lượng kali bón thúc để hạn chế bệnh đạo ôn gây hại lá. Cần chú ý quan sát thời tiết và sinh trưởng của lúa để bổ xung phân bón đạm và kali khi lúa làm đòng một cách linh hoạt.

      *  Lượng bón: Ngoài lượng phân đã bón lót, có thể bón thúc bằng các loại phân NPK chuyên thúc có hàm lượng đạm và kali cao như loại 16:5:17; 17:5:16; 12:5:10… với lượng khoảng 12-15 kg/sào theo.

    Cách bón:

      – Thúc lần 1: bón 2/3 lượng phân thúc khi lúa bén rễ hồi xanh, ra lá mới, trời ấm trên 15oC.

      – Thúc lần 2: bón hết số phân còn lại sau lần 1 từ 10 – 12 ngày.

        Lưu ý:

      Tùy vào điều kiện cụ thể, nếu giai đoạn phân hóa đòng cây lúa có biểu hiện đói ăn cần bón bổ sung với tỷ lệ 1 đạm: 1 kaly.

Không nên sử dụng phân đơn để bón cho lúa, đặc biệt không được bón đạm lai rai sẽ kéo dài thời gian đẻ nhánh, làm cho lúa tốt lá, ruộng lúa không thông thoáng là điều kiện để sâu bệnh phát sinh gây hại.

     Đối với diện tích cấy bằng các giống mẫn cảm với bệnh đạo ôn cần theo dõi điều kiện thời tiết, khi  có mưa phùn, độ ẩm không khí cao nguy cơ bệnh đạo ôn xuất hiện và  bùng phát thành dịch cần kiểm tra, phun phòng sớm khi đạo ôn lá xuất hiện bằng các loại thuốc đặc hiệu./.

CTV: Phùng Thị Thanh Chúc – PHÒNG KINH TẾ

Admin

Bạn đang đọc nội dung bài viết Trang Điện Tử Hội Nông Dân Tỉnh Thanh Hóa trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!