Top 9 # Xem Nhiều Nhất Y Nghia Hoa Lan Ngoc Diem Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Vitagrowthheight.com

Ý Nghĩa Hoa Ngọc Anh Trong Đông Y

/5 – 0 Bình chọn – 3067 Lượt xem

Sở hữu vẽ đẹp dịu dàng, hương thơm thanh mát, trong Đông y khá lớn, khi kết hợp với trà sẽ giúp người thư giãn, nếu làm thuốc có thể hạ sốt, giảm ho khan.

Ngọc Anh đêm nay đã nở hoa chưa em

Phiến trắng mong manh với cánh tơ xinh mềm

Nụ hoa thơm ngát trong hương đêm

Ngoài kia trăng sớm đã lên

Nếu trong tình yêu, ý nghĩa hoa ngọc anh đại diện cho những gì hồn nhiên nhất, ngây thơ nhất của những cặp đôi vừa phải lòng nhau, thì trong Đông y đây chính là loài hoa cho ra vị thuốc.

Thuộc họ hoa lài và thường biết đến với một tên khác là hoa lài trâu, hoa ngọc anh chỉ có một màu trắng muốt duy nhất, nhưng lại được thiên nhiên ban tặng cho hương thơm rất dễ chịu. Nhất là với những cây cho hoa dạng kép với nhiều cánh xếp thành nhiều lớp hương đã thơm sẽ càng thơm hơn.

Theo tiến sĩ Võ Văn Chi, chính là tác giả Từ điển Cây thuốc Việt Nam thì tất cả bộ phận của hoa ngọc anh đều có tác dụng điều trị bệnh. Nếu hoa lài phơi khô phối chung với lá trà có thể hỗ trợ thanh thuần tỉnh não chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn gây bất lợi cho cơ thể.

Thì lá và rễ hoa ngọc anh có vị cay, ngọt, tính mát rất hợp dùng để điều trị ngoại cảm, phát nhiệt, bụng đầy, tiêu chảy, rôm sảy. Ngoài những công dụng trên, các nghiên cứu khác thấy rằng ý nghĩa hoa ngọc anh trong đông y còn hỗ trợ giảm cholesterol, giúp giảm cân, điều hòa đường máu để phòng bệnh đái tháo đường.

Kết hợp các yếu tố, từ công dụng, hương thơm và vẻ đẹp thanh khiết, hoa ngọc anh đang được trồng ngày một nhiều và phổ biến. Các ngôi nhà có thể trồng trước cửa để trang trí, hưởng hương thơm và làm trà; còn những nơi như công viên, trường học, vòng xoay sẽ trồng hoa ngọc anh để trang trí, vì cơ bản là loài hoa này dễ trồng và dễ dàng cắt tỉa

Làm sao để chăm sóc cây ngọc anh tốt?

Để trồng hoa ngọc anh bạn có thể áp dụng hai cách, một là trồng bằng hạt, hai là trồng bằng cách giâm cành. Đánh giá của các nhà vườn thì hình thức trồng hoa ngọc anh giâm cành sẽ ra dễ nhanh hơn.

Theo đó, bạn chỉ cần chiếc một cành hoa ngọc anh thật khỏe mạnh rồi giâm cành xuống nền đất tơi xốp. Hoa ngọc anh phát triển mạnh và cho nhiều hoa khi nó được cung cấp đủ nước và đủ ánh nắng, thế nên bạn không nên đặt cây dưới tán của cây khác.

Nếu muốn hoa ngọc anh phát triển mạnh mẽ thì việc trồng hoa trong chậu với phần đất bị giới hạn không phải lựa chọn tốt. Thay vào đó bạn hãy trồng hoa ngọc anh dưới đất màu mỡ để cây được phát triển tốt hơn.

Chi Cuc Thu Y Dong Nai

 

Tin tức tổng hợp

TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ ỨNG DỤNG ĐỆM LÓT SINH HỌC Ở TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI

1. Ở nước ngoài

Ứng dụng vi sinh vật ở dạng đơn chủng hay đa chủng vào mục đích chăn nuôi nói chung và xử lý môi trường nói riêng đã được các nước có nền công nghệ vi sinh áp dụng từ lâu và phổ biến dưới các dạng sản phẩm vi sinh khác nhau. Các loại này được áp dụng cho từng công đoạn chăn nuôi cũng như áp dụng cho toàn bộ quá trình chăn nuôi tùy thuộc vào đặc tính của các chủng vi sinh vật cũng như mục đích sử dụng.

Tại Nhật Bản, chế phẩm EM (Effective Microorganisms) có nghĩa là vi sinh vật hữu hiệu do giáo sư Tiến sĩ Teruo Higa – Trường Đại học Tổng hợp Ryukius, Okinawa, Nhật Bản nghiên cứu và ứng dụng thành công vào sản xuất nông nghiệp vào đầu những năm 1980. Chế phẩm này gồm tới trên 87 chủng vi sinh vật hiếu khí và kỵ khí thuộc các nhóm: vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lác tíc, nấm mem, nấm mốc, xạ khuẩn được phân lập, chọn lọc từ 2.000 chủng được sử dụng phổ biến trong công nghiệp thực phẩm và công nghệ lên men. Chế phẩm này đã được thương mại hóa toàn cầu, đang được phân phối ở Việt Nam và được người chăn nuôi tin dùng.

Tuy nhiên, việc ứng dụng hệ vi sinh vật để làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng mới được áp dụng ở một số nước trong đó có Việt Nam. Quy trình chung tương đồng ở các nước là sử dụng môi trường lên men được làm từ các vật liệu có hàm lượng xenluloza cao để cho hệ vi sinh vật hoạt động hiệu quả thông qua quá trình phân hủy chất hữu cơ. Thành phần, số lượng và chất lượng các chủng vi sinh vật có sự khác biệt tùy thuộc vào từng nước, từng sản phẩm, đối tượng vật nuôi.

Trong chăn nuôi lợn trên đệm lót lên men được áp dụng ở Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Hoa Kỳ, Anh, Thái Lan, Hàn Quốc… Ở các nước này việc ứng dụng hệ vi sinh vật được chọn tạo hoặc sản phẩm tách chiết từ chúng vào chăn nuôi cũng như xử lý chất thải đã mở ra tiềm năng rất lớn cho chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi sinh thái và đảm bảo quyền động vật trong những năm tới.

2. Ở trong nước

2.1. Ứng dụng các chế phẩm EM trong chăn nuôi lợn

– Chăn nuôi lợn ở Việt Nam là một trong những ngành hàng có ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong chăn nuôi như thức ăn, giống, thú y, chăm sóc nuôi dưỡng và xử lý môi trường. Trong các công nghệ áp dụng cho chăn nuôi lợn thì công nghệ vi sinh là lĩnh vực phát triển nhanh và có tính ứng dụng cao. Trên cơ sở chế phẩm EM của Nhật Bản do giáo sư Teruo Hagi, Tiến sĩ Lê Khắc Quảng, Giám đốc Trung tâm Phát triển công nghệ Việt-Nhật trực tiếp chuyển giao công nghệ này vào Việt Nam.

- Trên cơ sở nghiên cứu gốc, các nghiên cứu mới, bổ sung sau này đã được thương mại hóa thành các sản phẩm EM chứa nhiều chủng loại vi sinh vật được chọn tạo đã có mặt trên thị trường gồm cả sản phẩm nhập khẩu và sản xuất nội địa như EM, chúng tôi S.EM01, EMIC, EMUNIV, EMC, VEM, EMINA, BIOMIX1, BIOMIX2, MAX.250, ACTIVE CLEANER, BALASA No.1,…

- Các chế phẩm trên có hiệu quả khác nhau nhưng đều có một hoặc nhiều tác động lên chăn nuôi lợn:

+ Giảm thiểu mùi hôi từ chất thải và hô hấp ở lợn;

+ Tăng cường phân hủy phân, nước tiểu thành phân vi sinh hữu cơ;

+ Tăng cường quá trình tiêu hóa và hấp phụ dinh dưỡng từ thức ăn;

+ Góp phần tăng sức đề kháng đối với bệnh dịch ở lợn;

+ Giảm lao động và chi phí nước, điện, thức ăn;

+ Góp phần tăng hiệu quả chăn nuôi;

+ Góp phần gia tăng quyền vật nuôi;

+ Bảo vệ môi trường.

2.2. Các chế phẩm vi sinh sử dụng làm đệm lót ở chuồng nuôi lợn

Trong các chế phẩm nêu trên có mặt trên thị trường Việt Nam và được người chăn nuôi sử dụng thì 2 chế phẩm sau đây được áp dụng nhiều vào làm đệm lót trong chuồng nuôi lợn:

- ACTIVE CLEANER là chế phẩm của Công ty Future Biotech – Đài Loan;

- BALASA No.1 là chế phẩm do cơ sở Minh Tuấn sản xuất.

2.3. Chế phẩm BALASA No.1 và ứng dụng chế phẩm này làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn

2.3.1. Chế phẩm BALASA No.1

a) Nguồn gốc sản phẩm:

- Chế phẩm do cơ sở sản xuất Minh Tuấn, do TS. Nguyên Khắc Tuấn và TS. Nguyễn Thị Tuyết Lê ở địa chỉ số 15 đường F, Tổ dân phố Thành Trung, thị trấn Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội sản xuất.

- Đây là kết quả nghiên cứu, thử nghiệm lâu dài từ trước năm 2002 và trong giai đoạn 2007-2012 của các tác giả từ Đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu sản xuất chế phẩm BALASA No.1 để tạo đệm lót sinh thái trong chăn nuôi”.

b) Các công đoạn chính để sản xuất chế phẩm và thiết lập quy trình

- Phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật hiện hữu dùng trong chế phẩm BALASA No.1;

- Hoàn thiện công thức phối hợp cộng sinh các vi sinh vật để tạo ra chế phẩm BALASA No.1;

- Xây dựng quy trình công nghệ và sản xuất thử nghiệm chế phẩm BALASA No.1;

- Nghiên cứu, thử nghiệm và xác định hiệu quả của chế phẩm BALASA No.1 dùng làm đệm lót sinh học trên 18 mô hình chăn nuôi lợn. Sau đó chế phẩm này đã được ứng dụng thử nghiệm ở một số tỉnh/thành khác nhau;

- Xây dựng quy trình sử dụng chế phẩm BALASA No.1 làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn.

c) Thành phần và chức năng sinh học của các chủng vi sinh vật

Chế phẩm BALASA No.1 có chứa 04 chủng vi sinh vật chính sau:

- Chủng Streptococcus lactis (BS 2c): có khả năng chuyển hóa các hợp chất có chứa N hữu cơ, các carbohydrate và lipid thành CO2 và nước;

- Chủng Bacillus subtilis (RU1a): có khả năng chuyển hóa các hợp chất có chứa N hữu cơ, các carbohydrate và lipid thành H2S và SO4;

- Chủng Saccharomyces cereviseae (LV 1a): có khả năng chuyển hóa NH3 thành protein của vi sinh vật.

- Chủng thuộc giống Thiobacillus spp (NN3b): cũng có khả năng chuyển hóa các hợp chất có chứa N hữu cơ, các carbohydrate và lipid thành H2S và SO4.

- Trong việc phân lập, chọn lọc và sản xuất từ các chủng vi sinh vật tiềm năng có mặt trong môi trường tự nhiên theo tiêu chí phải đạt các yêu cầu về phòng trị bệnh đường ruột, xử lý chất thải gây ô nhiễm trong chăn nuôi lợn. Để trên cơ sở đó nuôi giữ, nuôi cấy, sản xuất, phối trộn các vi sinh vật này để cho ra chế phẩm Balasa No. 1 có khả năng xử lý môi trường tốt trong chăn nuôi lợn.

d) Quy trình ứng dụng chế phẩm BALASA No.1 để tạo đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn (18 mô hình):

- Mô tả quy trình ứng dụng: Quy trình chăn nuôi trên đệm lót lên men có tên đầy đủ là “Quy trình chăn nuôi trên đệm lót lên men sinh thái vi sinh hoạt tính” là quy trình nuôi dưỡng động vật trên lớp độn lót chuồng dầy có chứa một quần thể các vi sinh vật có hoạt tính cao, có thể tồn tại cùng nhau lâu dài trong đệm lót, có khả năng phân giải mạnh chất hữu cơ và ức chế các vi sinh vật có hại và gây bệnh nên có tác dụng lên men tiêu hủy phân, nước tiểu làm giảm các khí độc và mùi hôi trong chuồng nuôi tạo môi trường trong sạch không ô nhiễm, ít ruồi muỗi và vi sinh vật gây hại, do đó con vật sống thoải mái, giảm căng thẳng, tăng sinh trưởng và có sức đề kháng cao.

- Vật liệu làm đệm lót: Đệm lót làm nền chuồng nuôi lợn sẽ thay cho nền bê tông truyền thống. Đệm lót sinh học trên nền chuồng chăn nuôi hiện đang được khuyến cáo là mùn cưa được thu gom từ các cơ sở sản xuất, chế biến gỗ và vỏ trấu được rải lên trên mặt một lớp hệ men vi sinh vật có ích. Ngoài ra có thể sử dụng một số phụ phẩm nông nghiệp khác làm đệm lót: vỏ hạt cà phê, lõi ngô, thân ngô, vỏ lạc, xơ dừa, rơm-rạ cắt nhỏ để làm nguyên liệu thay thế cho mùn cưa.

- Chế phẩm sinh học (men) này có tác dụng chủ yếu:

+ Phân giải phân, nước tiểu do lợn thải ra, hạn chế sinh khí hôi, thối;

+ Ức chế và tiêu diệt sự phát triển của hệ vi sinh vật có hại, khống chế sự lên men sinh khí hôi thối;

+ Phân giải một phần mùn cưa, vỏ trấu và vật liệu khác làm giá thể cho vi sinh vật;

+ Giữ ấm cho vật nuôi trong mùa đông do đệm lót luôn luôn ấm bởi nhiệt từ hoạt động của hệ men vi sinh vật.

- Chi tiết quy trình: (xem Tài liệu gửi kèm).

- Lợi ích khi sử dụng đệm lót trong chăn nuôi lợn:

Trên cơ sở báo cáo sơ bộ của Sở Nông nghiệp và PTNT một số tỉnh/thành và cơ sở chăn nuôi áp dụng, quy trình này ứng dụng trong chăn nuôi lợn mang lại một số lợi ích sơ bộ sau:

+ Góp phần giảm chi phí sản xuất thông qua tiết kiệm được sức lao động, không phải tắm cho lợn, rửa chuồng, giảm thức ăn chăn nuôi;

+ Tăng cường sức đề kháng cho lợn, gia tăng vật quyền, tăng trưởng tốt, tăng chất lượng thịt;

+ Xử lý triệt để chất thải từ chăn nuôi lợn, phù hợp với quy mô nông hộ.

+ Áp dụng đơn giản, giá phù hợp, mang lại hiệu quả kinh tế cho cơ sở chăn nuôi.

- Những điểm cần hoàn thiện của quy trình:

+ Cần nghiên cứu thử nghiệm các nguyên liệu khác từ phụ phẩm nông nghiệp để thay thế cho mùn cưa (chiếm tới 2/3 khối lượng làm đệm) vì khi sử dụng nguyên liệu này với số lượng lớn, nguồn cung cấp nguyên liệu không ổn định vì vậy khó triển khai áp dụng ra diện rộng. Người chăn nuôi phải đầu tư chi phí ban đầu lớn để làm lớp đệm lót và thường xuyên phải bổ sung trong quá trình chăn nuôi.

+ Chưa có những nghiên cứu sâu, chuyên ngành về mặt phát thải, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm thịt lợn nuôi theo quy trình này, tác động của hệ vi sinh vật đến môi trường sống…

+ Vấn đề stress nhiệt do đệm lót gây ra, đặc biệt trong những tháng nóng nhất của mùa hè chưa được giải quyết có hệ thống và kinh tế.

+ Sử dụng đệm lót sinh học khó đưa vào thực tiễn trong chăn nuôi công nghiệp vì không thể chăn nuôi với mật độ cao. Mật độ tối đa trong chăn nuôi trên nền đệm lót chỉ từ 1,5 – 2m2/1con lợn 60kg.

+ Nghiên cứu và thử nghiệm máy cầm tay để xới, đảo đệm lót khi áp dụng ở quy mô chăn nuôi trang trại.

II. KẾT QUẢ SƠ BỘ VỀ THỬ NGHIỆM ĐỆM LÓT SINH HỌC TRONG CHĂN NUÔI LỢN TẠI MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

1. Hà Nam

- Tỉnh Hà Nam đứng đầu về cả số lượng mô hình, tổng diện tích đệm và chính sách đi kèm khuyến khích các cơ sở chăn nuôi áp dụng quy trình này.

- Từ năm 2010 đến tháng 4/2015, Hà Nam đã xây dựng được tổng số 320 mô hình với tổng diện tích đệm lót sinh học là 7.750 m2 cho chăn nuôi lợn,

+ Kế hoạch năm 2015 của tỉnh Hà Nam là phát triển 2.000 mô hình với tổng diện tích 20.000 m2. Đến tháng 4/2015, tỉnh đã xây dựng 320 mô hình với tổng diện tích là 7.750 m2.

- Công nghệ đệm lót sinh học hiện tỉnh áp dụng và triển khai là chế phẩm BALASA NO1 của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội nghiên cứu và sản xuất.

- Chính sách của tỉnh hiện đang hỗ trợ 100% chi phí làm đệm lót cho các hộ chăn nuôi áp dụng công nghệ đệm lót sinh học là 165.000 đồng/1m2đối với các hộ làm từ 10 m2 trở lên và nuôi từ 5-10 con trên một lứa. Ngoài ra tỉnh còn hỗ trợ cho đào tạo tập huấn về quy trình, cử cán bộ kỹ thuật xuống cơ sở để hướng dẫn, chỉ đạo ngân hàng chính sách cho vay ưu đãi đối với hộ ứng dụng quy trình này.

- Thực tế hiệu quả của phương pháp chăn nuôi này cho thấy hiệu quả kinh tế và năng suất chăn nuôi cao, người chăn nuôi cũng có quan tâm song chưa sử dụng nhiều với lý do: chỉ phù hợp với mùa đông, còn mùa hè nóng nực khi vi sinh vật hoạt động nên sinh nhiệt, không phù hợp; đồng thời, người dân thường chăn nuôi với mật độ vượt quá tiêu chuẩn cho phép nên không đảm bảo hiệu quả.

2. Hậu Giang

Theo báo cáo sơ bộ của Trung tâm Khuyến nông thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh là đơn vị được giao triển khai thực hiện ứng dụng đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn và gà. Đây là một quy trình mới nên thông tin chính xác về sản phẩm và quy trình chi tiết chưa được phổ biến đầy đủ đến người nông dân. Hiện nay cả tỉnh mới xây dựng được 33 mô hình với tổng diện tích khoảng 5.388 m2, trong đó có 32 quy trình chăn nuôi gà với tổng diện tích đệm là 5.368 m2 và 01 mô hình chăn nuôi heo với diện tích đệm là 20 m2 tại Trung tâm Giống vật nuôi của tỉnh.

3. Bắc Giang

Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ Bắc Giang là đơn vị thực hiện chuyển giao chế phẩm và quy trình Balasa No.1:

- Năm 2010: xây dựng những mô hình chăn nuôi trên đệm lót đầu tiên;

- Trung tâm đã được phân công thực hiện dự án cấp tỉnh nhằm nhân rộng mô hình đệm lót sinh thái trong chăn nuôi gia súc, gia cầm với kết quả sau:

+ Tổ chức tập huấn và cấp chứng chỉ kỹ thuật làm đệm lót sinh thái sử dụng chế phẩm BALASA No.1 cho 30 cán bộ khuyến nông, thú y;

+ Tổ chức 10 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật làm đệm lót cho 600 lượt người;

+ Xây dựng 50 mô hình đệm lót chăn nuôi lợn với tổng diện tích là 3.500 m2 từ năm 2011-2012 ở 9 huyện của tỉnh.

4. Đồng Tháp

Hiện nay, công nghệ đệm lót sinh học được người dân trên địa bàn quan tâm và đưa vào áp dụng, đạt hiệu quả tương đối cao, dịch bệnh xảy ra ít hơn và qua 3-5 lứa lợn mới phải thay đệm.

Xuất phát từ thực trạng chăn nuôi tại địa phương gây ô nhiễm môi trường kéo dài, cộng đồng dân cư xảy ra mâu thuẫn vì môi trường sống bị ảnh hưởng, cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, vận động người chăn nuôi sử dụng đệm lót sinh học. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả và năng suất cao thì chuồng nuôi phải được xây dựng đúng theo quy định, và các khâu làm đệm lót phải đảm bảo đúng kỹ thuật, mật độ chăn nuôi phải phù hợp; nhưng hầu hết người chăn nuôi không đảm bảo đúng các yếu tố kỹ thuật đó.

Không chỉ người chăn nuôi ở địa phương quan tâm mà có cả một số người chăn nuôi ở các địa phương lân cận quan tâm, tham quan và học hỏi kinh nghiệm.

5. Bến Tre

Tỉnh giao cho Ban thực hiện Chương trình nông thôn mới và triển khai thực hiện từ năm 2013. Tuy nhiên, khi triển khai gặp khó khăn vì các hộ chăn nuôi ngại thay đổi kiểu chuồng trại. Hiện trong dân có khoảng 20 hộ chăn nuôi lợn và khoảng gần 40 hộ chăn nuôi gà thả vườn áp dụng quy trình này. Nhìn chung, chăn nuôi lợn đang còn một số vấn đề bất cập vì mùa nước lũ lớn, phải làm nền chuồng cao, chi phí đầu tư tốn kém, ước chi phí khoảng 300 ngàn/con. Chăn nuôi gà thả vườn rất hiệu quả, phần đệm lót được quây một khoanh là chỗ gà ăn và ngủ, mô hình gà được bà con rất ưa thích.

6. Thanh Hóa

Tỉnh giao cho Hội làm vườn triển khai mô hình, đến nay phát triển hơn 100 mô hình cho gà và 10 mô hình cho lợn. Theo đánh giá, làm mô hìnhtrên gà hiệu quả và dễ thực hiện hơn rất nhiều so với mô hình lợn. Hiện tại, các mô hình cho lợn vẫn còn một số vấn đề tồn tại cần phải được hoàn thiện để có thể triển khai rộng hơn.

7. Tây Ninh

Hiện tỉnh đang cử đoàn đi khảo sát học tập mô hình. Nếu quy trình áp dụng trong thực tế chăn nuôi cho kết quả tốt, tỉnh sẽ triển khai mô hình. Một số người chăn nuôi có ý kiến cho rằng cả cuộc đời con lợn không được tắm liệu có ổn hay không.

8. Nam Định

Trên địa bàn tỉnh, có một số cơ sở chăn nuôi áp dụng công nghệ đệm lót sinh học; tuy nhiên, hiện nay, các cơ sở này đã bỏ phương pháp chăn nuôi này do không phù hợp dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp.

9. Hưng Yên

Toàn tỉnh chỉ có một vài cơ sở áp dụng hiện nay đã bỏ. Theo nhận định của cán bộ quản lý nông nghiệp tại địa phương thì đệm lót sinh học phù hợp hơn với gà thả vườn, chưa phù hợp với chăn nuôi lợn.

10. Quảng Ninh

Tỉnh có 01 cơ sở chăn nuôi gia cầm kết hợp với Đại học Nông nghiệp Hà Nội xây dựng mô hình chăn nuôi theo đệm lót sinh học, hiện đang hoạt động và đạt kết quả tốt.

Chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh chủ yếu là chăn nuôi công nghiệp có sử dụng công nghệ khí sinh học (biogas), các cơ sở chăn nuôi không dùng công nghệ đệm lót sinh học.

11. Phú Thọ

Trung tâm khuyến nông Phú Thọ đã triển khai mô hình đệm lót sinh học từ năm 2010 và triển khai trên toàn tỉnh tại 13 huyện/thị. Đến nay, các mô hình đệm lót cho lợn cho thấy không hiệu quả nên người chăn nuôi không tiếp tục nhân rộng, mặc dù Trung tâm đã chuyển giao công nghệ rất nhiều. Hiện toàn tỉnh còn 10 mô hình trên lợn. Tuy nhiên, mô hình trên gà là rất hiệu quả, hiện đã nhân rộng được trên 100 mô hình cho các trại từ 500 đến 1.000 con gà.

12. Đồng Nai

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Đồng Nai việc áp dụng công nghệ xử lý môi trường chăn nuôi bằng đệm lót sinh học rất ít, có 5 cơ sở chăn nuôi heo, 1 cơ sở chăn nuôi vịt và 20 hộ nuôi heo, 85 hộ nuôi gà có làm đệm lót sinh học; Balasa là chế phẩm sinh học sử dụng cho đệm lót sinh học.

1

3. 

Một số doanh nghiệp

a) Trại heo giống cấp I thành phố Hồ Chí Minh

- Đây là trại heo giống có qui mô chăn nuôi lớn, có diện tích chuồng nuôi 7.000 m2 với số đầu lợn là 5.000 con;

- Cuối năm 2014 đã triển khai làm đệm lót trên tổng diện tích chuồng 1.667 m2 để nuôi 1.190 con lợn.

- Theo kế hoạch trại này sẽ chuyển ra khỏi thành phố ở địa điểm mới, trại sẽ tiến hành làm đệm lót trên toàn bộ diện tích chuồng nuôi.

b) Trại heo Trang Linh Xuyên Mộc, Bà Rịa, Vũng Tàu

- Tổng diện tích trang trại 2 ha, tổng diện tích chuồng nuôi 7.000 m2, nuôi gần 3.000 heo giống;

- Cuối năm 2014, trại đã triển khai làm đệm lót ở 5 ô chuồng, mỗi ô diện tích 150 m2 (tổng diện tích 750 m2), nuôi tổng số 600 lợn;

- Chủ trại dự kiến xây dựng trại mới với quy mô nuôi 2.000 heo giống sẽ tiến hành làm đệm lót trên toàn bộ diện tích chuồng, kết hợp với dùng men vi sinh ủ thức ăn để tạo ra con giống sạch.

c) Trại heo giống Kim Long Bình Dương

- Trại có quy mô cũng khá lớn với tổng diện tích gần 10.000 m2, nuôi 4.000 heo giống;

Tháng 5/2015 mới bắt đầu triển khai làm đệm lót nhưng cho đến nay đã làm đệm lót ở 10 ô chuồng mỗi ô có diện tích 100 m2 (tổng diện tích là 1.000 m2) để nuôi 750 lợn.

14. Đánh giá chung về quá trình triển khai

a) Mặt được

- Chế phẩm Balasa No.1 và quy trình ứng dụng làm đệm lót sinh học trong chăn nuôi lợn mới được thử nghiệm ở dạng mô hình tại một số tỉnh nhưng được người chăn nuôi quan tâm vì những lợi ích mà nó đem lại trong việc xử lý cơ bản các chất thải từ chăn nuôi lợn;

- Chế phẩm và quy trình này khi được hoàn thiện sẽ có tiềm năng áp dụng rất lớn vì đưa thêm một tiến bộ kỹ thuật mới bổ sung vào thực tiễn sản xuất chăn nuôi tạo ra tiền đề cho một hình thức chăn nuôi mới hướng tới sản phẩm sạch, sản phẩm hữu cơ;

- Thực tế triển khai cho thấy sự quan tâm chỉ đạo quyết liệt của các cấp Lãnh đạo đối với việc ứng dụng thử nghiệm tiến bộ kỹ thuật về một vấn đề mới trong chăn nuôi đi kèm với cụ thể hóa thành chính sách của địa phương nên đã đi vào thực tiễn và được nhiều người chăn nuôi đón nhận.

b) Mặt chưa được

- Do chế phẩm và quy trình này mới được áp dụng thử nghiệm ở một số địa phương nên thiếu sự hướng dẫn chi tiết, thường xuyên, hệ thống của đội ngũ cán bộ kỹ thuật ở cơ sở, đặc biệt là cán bộ khuyến nông;

- Quy trình ứng dụng cho chăn nuôi gà phù hợp hơn với chăn nuôi lợn nên cũng cần phải hoàn thiện để áp dụng rộng hơn tới các đối tượng vật nuôi;

- Một số điểm tuy không cơ bản của quy trình cần phải được hoàn thiện để tổ chức triển khai trên diện rộng.

Tuy nhiên, khi thực hiện mô hình chăn nuôi trên đệm lót sinh học cần chú ý một số điểm như sau:

– Thiết kế đệm lót: Các nguyên liệu làm chất độn phải đảm bảo tiêu chuẩn: có độ sơ cao, có độ trơ cứng không dễ bị làm mềm nhũn và có lượng chất dinh dưỡng nhất định, không độc, không gây kích thích.

Mùa đông sau khi làm xong đệm lót có thể thả lợn vào ngay vì trời lạnh sự lên men chậm do vậy tận dụng nhiệt độ của lợn để làm tăng lên men. Mùa hè thì trong 1 – 2 ngày đầu đã lên men mạnh đạt nhiệt đô trên 400 C. Dưới độ sâu 30cm có thể đạt nhiệt độ 700C, nhưng chỉ duy trì trong thời gian ngắn. Sau khi lên men kết thúc, tiến hành bỏ bạt phủ, đồng thời cào cho lớp bề mặt (sâu khoảng 20cm) cho tơi, để thông khí sau 1-2 ngày mới thả lợn.

– Quản lý đệm lót: phải đảm bảo độ ẩm của đệm lót tầng trên cùng luôn giữ độ ẩm ở 20% để đảm bảo sự lên men tiêu hủy phân tốt. Phải đảm bảo độ tơi xốp của đệm lót có như vậy thì sự tiêu hủy phân mới nhanh. Phải thường xuyên quan sát phân lợn. Đặc điểm của nền đệm lót là khi phân thải sẽ được vùi lấp do sự vận động của lợn. Tuy nhiên, nếu phát hiện thấy phân nhiều ở một chỗ cần phải nhanh chóng dải đều và vùi lấp. Căn cứ vào mùi đệm lót để xác định nó hoạt động tốt hay không, bằng cách khi ngửi thấy có mùi của nguyên liệu kèm mùi của phân lên men, không có mùi thối là đệm lót hoạt động tốt. Nếu còn phân và có mùi thối là lên men không tốt, cần phải khắc phục như sau: Xới tung đệm lót ở độ dày 15 cm để cho tơi xốp trong trường hợp có kết tảng và độ ẩm cao, sau đó bổ sung thêm dịch chế phẩm men.

– Chống nóng trong mùa hè: lát gạch hoặc láng xi măng khoảng 1/3 diện tích nền chuồng để làm chỗ nằm cho lợn khi nhiệt độ bên ngoài quá cao. Dùng quạt hoặc lắp hệ thống phun mù với các đầu phun được lắp đặt ở từng ô chuồng. Mở toàn bộ cửa để đảm bảo lưu thông không khí.

Như vậy triển khai mô hình chăn nuôi trên đệm lót sinh học có hiệu quả về mặt kinh tế cao hơn vì tiết kiệm rất nhiều công lao động, nguyên liệu đầu vào cho chi phí sản xuất. Kỹ thuật chăn nuôi trên đệm lót sinh học với việc làm chuồng chuẩn bị đệm lót và chăm sóc vật nuôi đơn giản, người nuôi hoàn toàn có thể áp dụng tốt. Trong thời gian tới  cần tiếp tục mở rộng phạm vi trên tất cả các xã, phường trên địa bàn Tỉnh, mở rộng phạm vi với nhiều đối tượng vật nuôi khác, để thấy hiệu quả của việc sử dụng đệm lót sinh học và phổ biến các lợi ích của việc nuôi lợn trên đệm lót sinh học trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

                                                                                               Nguyễn Chí Hiền

Phương pháp tốt hơn để phát hiện vi khuẩn E. coli trong thịt bò (24/07/2015)

Những chủng virus cúm gia cầm “đáng gờm” (24/07/2015)

HƯỚNG DẪN, GIÁM SÁT PHÒNG CHỐNG BỆNH DẠI TRÊN NGƯỜI (24/07/2015)

Kỷ niệm 65 năm ngày truyền thống ngành Thú y Việt Nam. (09/07/2015)

Lễ kết nạp Đảng viên mới (06/07/2015)

THÚ Y- MỘT NGÀNH RẤT CẦN ĐƯỢC NHÀ NƯỚC VÀ XÃ HỘI QUAN TÂM, CHIA SẺ (02/07/2015)

Xử lý cơ sở giết mổ heo bệnh (02/07/2015)

TIẾP TỤC CÁC HOẠT ĐỘNG GIAO LƯU THỂ THAO MỪNG NGÀY THÀNH LẬP NGÀNH THÚ Y VIỆT NAM (01/07/2015)

Xử lý giết mổ heo trái phép tại Phường Hố Nai thành phố Biên Hòa (29/06/2015)

PHƯƠNG PHÁP DÙNG THUỐC TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN (29/06/2015)

Quay Về

Tìm kiếm theo tiêu đề

2. Indoor – Hướng Dẫn Canh Tác Cần Sa Y Tế

BÀI SỐ 2: CANH TÁC CÂY CẦN SA TRONG NHÀ (INDOOR)

Những cây cần sa mang giá trị y tế cao nhất đều là những cây được canh tác ở ngoài trời. Mặt đất rộng lớn, cơ chế thẩm thấu nước nhanh của đất và ánh sáng mặt trời tự nhiên cùng với không khí, gió là những yếu tố giúp cây cần sa có thể phát triển hết tiềm năng của chúng. Những cây trồng ở ngoài trời thường có kích thước lớn hơn so với những cây trồng ở trong nhà, nhờ đó sản lượng của chúng cũng cao hơn, và thường thì lượng nhựa trên búp cũng nhiều hơn so với những cây trồng trong nhà, lượng nhựa dồi dào phủ trên búp là yếu tố quyết định tới sản lượng của thuốc chữa bệnh – Dầu Cần Sa, khi bạn sử dụng thành quả của vụ mùa để chiết xuất loại thuốc này. Đó là chưa kể tới công sức chăm sóc ít hơn so với cách trồng trong nhà, phí đầu tư ban đầu thấp hơn và dĩ nhiên, hóa đơn tiền điện sẽ không còn là vấn đề đau đầu của bạn!

  Tuy nhiên không phải ai cũng có may mắn được sở hữu một khu vườn kín đáo, khuất xa tầm mắt của những kẻ tò mò sẵn sàng kể lể về những gì họ đã nhìn thấy trong khu vườn của bạn, hơn nữa những kẻ này cũng thường rất sẵn lòng “thu hoạch giúp” bạn khi búp cần sa đã trưởng thành! Mặt khác, canh tác cây cần sa ngoài trời cũng có những vấn đề của riêng nó: Từ đơn giản như thời tiết có thể sẽ bất lợi cho vụ mùa (ví dụ như mưa đá, gió bão) tới phức tạp như sâu bệnh tấn công… Dù rằng những vấn đề này đều có cách để giải quyết: Dựng khung gỗ che mưa chắn gió cho cây và sử dụng những loại thuốc phòng trừ sâu bệnh đặc chủng, nhưng điều này không có nghĩa là cách trồng trong nhà sẽ kém hiệu quả hơn. Trên thực tế, chất lượng của thuốc chữa bệnh Dầu Cần Sa được chiết xuất từ nguyên liệu (búp cần sa) canh tác ngoài trời và từ nguyên liệu được canh tác trong nhà KHÔNG CÓ SỰ KHÁC BIỆT ĐÁNG KỂ.

Tại Sao Lại Trồng Cần Sa Trong Nhà?

Nếu canh tác outdoor tốt như thế, tại sao lại phải canh tác indoor? Có nhiều lý do cho việc này, lý do đầu tiên phải kể tới chắc chắn là bởi vì không phải ai trong chúng ta cũng sở hữu một khu vườn riêng, hoặc ít nhất là sở hữu một sân thượng/ban công đón nhận được ánh sáng mặt trời. Lý do thứ hai phải kể tới là vấn đề luật pháp, tại nhiều nước trên thế giới, việc canh tác cây cần sa là hoàn toàn hợp pháp, ví dụ như ở Cộng Hòa Séc, bạn có thể canh tác 5 cây cần sa cho nhu cầu cá nhân (chữa bệnh hoặc vì sở thích), hoặc tại Tây Ba Nha bạn có thể trồng 3 cây cần sa cỡ lớn,  nhưng đâu phải ai cũng có may mắn được sống tại những nước đã hợp pháp hóa cần sa?

  Ngoài ra, còn có một số lý do khác nữa để bạn quyết định canh tác indoor: Từ đơn giản như bạn có thể tránh được các vấn đề về thời tiết bất lợi như mưa, bão và bạn cũng kiểm soát được gần như hoàn toàn các điều kiện môi trường nếu bạn có một chút kiến thức và có đủ đồ nghề cần thiết (nhiệt độ, độ ẩm, thời gian chiếu sáng, CO2, dinh dưỡng, nước tưới…) tới THU HOẠCH NHIỀU LẦN trong một năm. Canh tác indoor còn là giải pháp duy nhất đối với những người trồng (growers) chuyên nghiệp – Họ muốn kiểm soát mọi yếu tố theo cách mà họ muốn – và điều này chỉ có thể làm được với cách trồng indoor!

Đối với nhiều growers đã quen với việc canh tác indoor, chất lượng búp của họ thật sự không thua kém gì so với chất lượng búp được canh tác outdoor.

Bạn Cần Những Gì Để Canh Tác Indoor?

  Buồng trồng cây

Buồng trồng cây có thể hiểu đơn giản là không gian trồng cần sa trong nhà khép kín. Hiện nay trên thị trường đã có vô số mẫu mã và kiểu dáng cho bạn chọn lựa, từ mô hình nhỏ 0,6m2 tới mô hình lớn cỡ 9m2. Từ chất liệu rẻ tiền là nhựa cho tới chất liệu đắt tiền là thép không gỉ… Và tất nhiên, bạn cũng có thể tự đóng cho mình một buồng trồng cây theo kích cỡ mong muốn, phù hợp với nhu cầu và điều kiện của riêng bạn, chỉ với vài tấm gỗ và một miếng bạt chắn ánh sáng phát ra từ bóng đèn trồng cây phía trong lọt ra ngoài.

Buồng trồng cây indoor chính là “khu vườn bí mật” của bạn, nơi cây cần sa nảy mầm và trưởng thành, nơi bạn cung cấp cho chúng ánh sáng, nước, dinh dưỡng, không khí mới để quang hợp… (*) Nếu bạn sở hữu một góc nhỏ dưới chân cầu thang hoặc một phòng nhỏ trong nhà không dùng tới (như toilette) hoặc ngay cả một ngăn tủ trống trong chiếc tủ đựng quần áo cỡ lớn trong nhà bạn, thì bạn có thể sử dụng để làm buồng trồng cây.

  Bóng đèn

Bóng đèn trồng cây cần sa khác với bóng đèn dân dụng, đừng nhẫm lẫn điều này nếu bạn không muốn thất bại!

  Trên thị trường hiện nay có vô số loại bóng đèn chuyên dùng cho việc trồng cây trong nhà, một số loại tỏa ra rất ít nhiệt lượng khi phát sáng, ví dụ như: Bóng huỳnh quang (bóng tuýp), CFL, LED, Plasma…, một số loại khác tỏa ra rất nhiều nhiệt lượng khi phát sáng, ví dụ như: MH, HPS. Một số loại rất tiết kiệm điện, có nghĩa là loại bóng đèn có khả năng chuyển hóa rất tốt năng lượng từ Watts (đơn vị đo lường năng lượng điện) sang Lumes (đơn vị đo lường ánh sáng), ví dụ như LED, Plasma…, một số loại khác ít tiết kiệm điện hơn…

Nhưng dù là loại bóng đèn gì, thì chúng cũng được thiết kế để phát ra ánh sáng nằm trong Dải Quang Phổ phù hợp với cây cần sa, hay nói chính xác hơn là chúng bắt chước dải quang phổ của mặt trời.

Quạt hút

Để thực hiện phản ứng quang hợp nhằm tạo ra đường Glucozo là năng lượng cơ bản cho sự sống , cây cần sa cần ánh sáng, nước và khí các bô níc (CO2). Để có thể cung cấp cho cây nguồn khí mới giàu CO2, grower cần phải sử dụng quạt hút khí, thường được đặt ở vị trí cao nhất (trên nóc) của buồng trồng cây. Quạt hút sẽ đẩy không khí cũ đã được cây sử dụng ra bên ngoài (cùng khí nóng do đèn phát ra nếu có) và nhờ thế không khí mới được chuyển vào phòng qua những ống dẫn khí (hoặc lỗ khí) được đục ở phía dưới thấp của buồng trồng cây.

  Đi kèm quạt hút còn thường có bộ lọc mùi đính kèm. Trong nhiều trường hợp, người trồng không muốn người khác ngửi thấy mùi rất đặc trưng của hoa cần sa khi chúng bước vào giai đoạn trưởng thành, do đó họ sử dụng bộ lọc mùi (có chứa than hoạt tính khử mùi) đính kèm với quạt hút để xử lý triệt để vấn đề này.

Dinh dưỡng

Dinh dưỡng vô cơ (hóa học) hay dinh dưỡng hữu cơ (organic, BIO)? Dinh dưỡng ở dạng bột, cứng hay ở dạng lỏng? Dinh dưỡng hoàn chỉnh (complete) hay dinh dưỡng bộ phận (N,P,K, Vi Lượng…)? Lựa chọn gam dinh dưỡng nào, của nhà sản xuất nào, sử dụng chúng với tỉ lệ ra sao trong từng giai đoạn… Tất cả phụ thuộc vào kinh nghiệm của bạn, hoặc bạn cũng có thể không cần quan tâm nhiều tới điều này mà chỉ cần làm theo công thức đã được những người trồng trước tìm ra. Điều này sẽ được đề cập cụ thể trong bài CƠ BẢN số 8: Dinh dưỡng.

  Chất nền

Phân trùn quế hay đất sạch tribat? Đất mùn (ủ ở góc vườn) hay xơ dừa/mụn dừa? Chất nền để trồng cây cần sa thường phải được tiệt trùng để tránh những vấn đề về vi khuẩn và nấm/mốc, nó cũng cần phải thoáng khí để rễ cây có thể sử dụng Ô-xy (O2) – Để làm được điều này growers thường sử dụng đất đóng gói sẵn đã được nhà sản xuất tiệt trùng và sau đó trộn với đá trân châu hoặc xơ dừa để tạo độ thoáng khí cho chất nền. Những chất nền tốt nhất cho cây cần sa đều có tính A-xít nhẹ – PH của chất nền nằm trong khoảng 5.5-7.0 (PH là thước đo nồng độ a-xít/kiềm).

  Hoặc bạn cũng có thể không cần quan tâm tới điều này lắm mà chỉ cần làm theo công thức trộn chất nền đã được những người trồng trước tìm ra, điều này sẽ được đề cập cụ thể trong bài CƠ BẢN số 9: Chất nền.

  Những dụng cụ khác Ngoài những trang thiết bị không thể thiếu ở phía trên, grower canh tác indoor còn cần những dụng cụ hỗ trợ khác nữa như:

– Chậu trồng cây, bạn có thể sử dụng chai, lọ, xô, chậu để thay thế, yêu cầu có đục lỗ thoát nước ở phía dưới:

– Bút đo PH:

– Nhiệt kế để đo nhiệt độ:

– Nhiệt ẩm kế: để đo độ ẩm trong buồng trồng cây, thường kèm luôn đo nhiệt độ:

– Bình xịt nước mát:

– Kéo để cắt tỉa lá:

– Hẹn giờ tắt/bật của bóng đèn:

Và các dụng cụ hỗ trợ khác như: Găng tay cao su, kìm, tô vít, dây thép, nước ô-xy già, ống rồng (để dẫn khí), keo dán, băng dính…

  Ở trong bài số 3 tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu sâu hơn về Buồng Trồng Cây: Chi tiết về cách bố trí các trang thiết bị phía bên trong cũng như cách tự làm một buồng trồng cây bằng những dụng cụ đơn giản: thép, gỗ, bạt…

https://www.facebook.com/groups/1486318385017188/ 

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Y Tế Học Đường

Việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ban đầu cho học sinh là một nhiệm vụ rất quan trọng vì thế hệ trẻ hôm nay và tương lai đất nước mai sau. Được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước, trong những năm gần đây ngành Y tế và Giáo dục đã có nhiều cố gắng trong việc phối hợp chỉ đạo, xây dựng mạng lưới y tế trường học. Nhờ đó hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe sức khỏe học sinh đã có những bước cải thiện đáng kể và đạt được những kết quả khả quan. Tuy vậy công tác y tế trường học vẫn còn gặp không ít khó khăn do nhân lực tại các trường học còn thiếu hoặc chưa đáp ứng đầy đủ về chuyên môn, nghiệp vụ. Một mặt do cán bộ y tế chưa được đào tạo, tập huấn chuyên sâu về chuyên môn y tế trường học, mặt khác do điều kiện thực tế tại các trường học còn thiếu thốn về cơ sơ vật chất chính vì vậy mà việc triển khai thực hiện công tác y tế trường học chưa đạt được kết quả cao nhất.

Dựa trên những điều kiện thực tế trên, tôi mong muốn đóng góp một vài ý kiến nhằm khắc phục những thiếu sót và phát huy hiệu quả hơn nữa những gì đã đạt được giúp công tác y tế trường học ngày càng phát triển.

I. PHẦN MỞ ĐẦU

Biện pháp chăm sóc sức khỏe ban đầu cho các em học sinh là một vấn đề cấp thiết hiện nay. Có được sức khỏe tốt sẽ giúp các em học tập tốt và phấn đấu trở thành những nhân tài tương lai cho đất nước. Biện pháp Chăm sóc sức khỏe ban đầu đạt hiệu quả tốt là mục tiêu quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện học sinh trong trường học. Việc giáo dục và bảo vệ sức khỏe cho các em học sinh hiện nay cũng là mối quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước, của mỗi gia đình và toàn xã hội. Vì vậy tôi chọn đề tài: “Biện pháp chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh” làm vấn đề nghiên cứu trong sáng kiến kinh nghiệm của mình.

Khi viết sáng kiến kinh nghiệm này, tôi mong được đóng góp ý kiến của mình về công tác y tế trường học giúp cho việc bảo vệ và chăm sóc sức khỏe ban đầu cho học sinh được tốt hơn. Qua đó giúp các em học sinh có sức khỏe để học tập tốt.

– Dựa trên điều kiện thực tế của nhà trường.

– Dựa vào các tài liệu tham khảo về công tác y tế trường học.

– Dựa vào một số ý kiến đóng góp của đồng nghiệp.

Đối tượng là học sinh từ lớp 1 đến lớp 9, Trường TH và THCS Hưng trạch

II. THỰC TRẠNG

– Được sự quan tâm và tạo điều kiện của Ban giám hiệu nhà trường.

– Có cán bộ y tế được trang bị đầy đủ kiến thức về chuyên môn.

– Có sự phối hợp nhiệt tình của cán bộ giáo viên trong nhà trường trong các hoạt động y tế.

– Kinh phí dành cho hoạt động y tế học đường còn thấp.

– Đơn vị chưa có phòng dành riêng cho hoạt động y tế học đường

– Cơ sở vật chất, trang thiết bị phòng y tế còn thiếu thốn.

– Nhà trường chưa có bếp ăn bán trú cho các em học sinh học cả ngày.

III. NỘI DUNG

Thành lập Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe trường học:

– Trưởng ban: Hiệu trưởng nhà trường

– Phó ban: Phó Hiệu trưởng nhà trường

– Thường trực: Cán bộ y tế trường học

Ban sức khỏe có nhiệm vụ:

– Giải quyết các trường hợp sơ cứu, xử lý ban đầu các bệnh thông thường.

– Tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho học sinh.

– Tổ chức thực hiện các chương trình bảo vệ và chăm sóc sức khỏe do ngành y tế và giáo dục triển khai hàng năm.

– Tuyên truyền phong chống dịch bệnh. Kiểm tra xây dựng trường học xanh, sạch, đẹp và đảm bảo vệ sinh ATTP.

2. Về cơ sở vật chất, trang thiết bị:

Tủ thuốc y tế nhà trường được trang bị đầy đủ các loại thuốc để giải quyết kịp thời các bệnh thông thường và sơ cấp cứu ban đầu những tai nạn xảy ra trong thời gian học sinh tham gia các hoạt động tại trường.

Ngoài ra, nhà trường còn lắp đặt máy lọc nước tiệt trùng đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sạch cho học sinh toàn trường.

Phòng y tế là nơi thực hiện các hoạt động chăm sóc và nâng cao chất lượng sức khỏe cho học sinh chính vì vậy cần phải được xây dựng và đảm bảo sạch sẽ, thoáng mát.

3. Về công tác tuyên truyền, vận động học sinh:

Thực hiện công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe học sinh theo kế hoạch năm học.

– Tổ chức các buổi tuyên truyền giáo giáo dục sức khỏe vào các giờ chào cờ thứ 2 hàng tuần. Tuyên truyền phòng chống các dịch bệnh theo mùa như: cúm, đau mắt đỏ, sốt phát ban, tiêu chảy, thủy đậu…, phòng chống các bệnh học đường: cận thị, gù vẹo cột sống. Qua các buổi tuyên truyền giúp các em học sinh hiểu được nguyên nhân, triệu chứng và cách phòng chống dịch bệnh.

– Phát tờ cam kết gia đình không có Lăng quăng không có sốt xuất huyết đến hộ gia đình của từng học sinh và thu lại lưu tại đơn vị. Ngoài ra, còn vận động học sinh diệt Lăng quăng khu vực xung quanh nhà ở, cơ quan, khu vực căn tin với phương châm ” mỗi học sinh là một tuyên truyền viên tích cực trong việc phòng chống bệnh sốt xuất huyết “.

– Vận động học sinh tham gia bảo hiểm y tế học sinh. Tuyên truyền sâu rộng tới toàn thể các em học sinh và gia đình các em về lợi ích của việc tham gia bảo hiểm y tế.

4. Về công tác khám sức khỏe định kỳ:

Phối hợp chặt chẽ với trạm y tế xã để tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho học sinh ít nhất một lần trong một năm học, ưu tiên các học sinh đầu cấp và cuối cấp học.

Phát hiện và thông báo các trường hợp mắc bệnh về gia đình để có biện pháp giải quyết điều trị kịp thời.

Phòng y tế nhà trường có nhiệm vụ lập, quản lý, lưu trữ hồ sơ sức khỏe của học sinh và có trách nhiệm chuyển hồ sơ khi học sinh chuyển trường hay kết thúc chương trình của cấp học để đảm bảo cho việc quản lý theo dõi sức khỏe cho các em được tốt hơn. Cần có túi hồ sơ, kẹp hồ sơ và phải được bố trí sao cho thuận tiện khi sử dụng.

5. Về công tác nha học đường:

Tổ chức khám răng định kỳ cho học sinh. Khám lồng ghép với đợt khám sức khỏe chung. Phát hiện và điều trị kịp thời các bệnh răng miệng: sâu răng, viêm lợi. Thống kê các em học sinh mắc bệnh và có kế hoạch điều trị các trường hợp đơn giản như: Viêm lợi răng, sưng nướu răng…, chuyển tuyến trên điều trị những trường hợp khó: Trám bít lỗ răng, lỗ sâu đã chạm tủy, viêm tủy,…

Tuyền truyền giáo dục nha khoa, dạy cho học sinh cách phòng bệnh răng miệng, bỏ các thói quen xấu ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe răng miệng. Hướng dẫn cho học sinh cách chải răng đúng phương pháp.

– Thực hiện công tác phòng chống dịch, Tiêm chủng theo hướng dẫn của cơ quan y tế địa phương và ban chăm sóc sức khỏe nhà trường.

– Thực hiện kế hoạch phòng chống dịch bệnh của TTYT dự phòng, phối hợp với trạm y tế xã triển khai các chương trình tiêm chủng, tẩy giun trong trường học.

– Hướng dẫn các em học sinh giữ vệ sinh cá nhân phòng chống bệnh dịch.

Ban chăm sóc sức khỏe tham mưu cho lãnh đạo nhà trường thực hiện các yêu cầu về vệ sinh học đường, vệ sinh ATTP, thực hiện phong trào xanh – sạch – đẹp”.

– Tổ chức các buổi tổng vệ sinh môi trường, hướng dẫn các em học sinh đổ rác và xử lý rác đúng nơi quy định.

– Tổ chức trồng hoa và cây xanh trong nhà trường.

– Lớp học phải đảm bảo đủ ánh sáng, ấm áp về mùa đông và thoáng mát về mùa hè. Bàn ghế cho học sinh ngồi học phải đảm bảo đúng quy cách, đúng kích thước theo từng lứa tuổi, bảng và phấn viết hợp vệ sinh.

– Công trình vệ sinh phải đảm bảo sạch sẽ, luôn được lau rửa thường xuyên, hệ thống cống rãnh thoát nước tốt.

– Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và nước uống trong nhà trường. Hướng dẫn các em học sinh thực hiện ăn chín, uống chín và rửa tay trước khi ăn, ăn phải đảm bảo đủ no, chủ chất.

IV. KẾT QUẢ

Do nắm được vai trò quan trọng về vấn đề sức khỏe của học sinh nên những việc làm trên đã được triển khai thường xuyên. Dựa trên tiêu chuẩn đánh giá sức khỏe cho thấy tình hình sức khỏe của các em ngày được nâng cao, tỷ lệ học sinh nghỉ học do bệnh tật giảm đáng kể so với đầu năm học.

Nhờ công tác tuyên truyền giáo dục sức khỏe được tiến hành thường xuyên, cùng với việc phối hợp thực hiện tốt công tác phòng dịch nên đã kiểm soát tốt không để dịch bệnh lây lan trong trường học.

Tuy còn thiếu thốn về trang thiết bị y tế nhưng vẫn đảm bảo việc sơ cấp cứu ban đầu và xử lý kịp thời các bệnh học thông thường giúp các em học sinh có được sức khỏe tốt để học tập.

Thực hiện đầy đủ, đúng lịch các chương trình tiêm chủng và tẩy giun định kỳ cho học sinh toàn trường.

V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Đối với một cán bộ y tế trong nhà trường đòi hỏi đầu tiên theo tôi đó là sự tận tâm, nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ. Trong các hoạt động tại trường học phải luôn tạo dựng niềm tin cho bản thân mình cũng như cho học sinh và các bậc phụ huynh.

Thường xuyên rèn luyện, phấn đấu, không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về y tế trường học để đáp ứng tốt nhu cầu sức khỏe của các em học sinh.

Qua quá trình công tác bản thân đã rút ra được nhiều kinh nghiệm, từng bước khắc phục những khó khăn, tồn tại để phát triển công tác y tế trường học tốt hơn.

Y tế trường học ngày nay đang được ngành Y tế và Giáo dục quan tâm. Bản thân tôi nhận thấy nếu mỗi cán bộ y tế học đường luôn có ý thức rèn luyện và tận tình với công việc thì chắc chắn việc tạo dựng một nền tảng sức khỏe cho các em học sinh vững bước trên con đường học tập là không khó. Có được sức khỏe tốt giúp các em học tập đạt kết quả cao để sau này trở thành người có ích cho xã hội, là chủ nhân tương lai của đất nước.

VII. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT

Để nâng cao sức khỏe cho học sinh tôi xin có một vài ý kiến đề xuất như sau:

– Y tế trường học cần được sự quan tâm chỉ đạo hơn nữa của nhà trường và lãnh đạo cấp trên, đặc biệt là sự chỉ đạo thường xuyên của Ban chăm sóc sức khỏe trường học để giúp cho hoạt động y tế trường học phát triển đi lên.

– Có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa Đoàn, Đội, giáo viên chủ nhiệm và phòng y tế nhà trường để giúp công tác chăm sóc sức khỏe cho học sinh được thuận lợi hơn.

– Tổ chức các buổi họp Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe trường học để rút kinh nghiệm, bổ sung những thiếu sót và đề ra các phương pháp thực hiện cụ thể.

– Cần bố trí phòng y tế riêng và được trang bị đầy đủ thiết bị, dụng cụ y tế.

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Hưng Trạch, ngày 10 tháng 5 năm 2013 NGƯỜI VIẾT Lê Hồng Thúy

Lê Hồng Thúy @ 15:08 10/05/2013 Số lượt xem: 4573