Top 8 # Xem Nhiều Nhất Xem Kỹ Thuật Trồng Dưa Leo Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Vitagrowthheight.com

Kỹ Thuật Trồng Dưa Leo

Vườn tược- Cây trồng

-Tên khoa học: Cucumis Sativus, L.

-Tên Pháp: Concombre.

-Tên Anh: Cucumber.

-Họ: Cucurbitacées.

-Điều kiện khí hậu: Khí hậu ở nước ta rất thích hợp để trồng dưa leo. Có thể trồng dưa leo trong nước và trồng được quanh năm. Tuy nhiên trồng mùa nắng, năng suất sẽ cao hơn trời mùa mưa và dưa cũng ít bị bệnh hơn.

-Điều kiện đất đai: Đất phải xốp, Tốt nhất là đất cát pha nhiều chất hữu cơ thoáng khí. Đất nhiều cát sẽ làm cho dưa mau già, giảm chất lượng củ. Đất nhiều sét, cây tăng trưởng yếu. Dưa leo cần độ chua ít, độ pH 5,7-7. pH dưới 5,7 dưa không sống nổi. Nên bón 1.500-1.800kg vôi cho một mẫu đất.

Kỹ thuật trồng dưa leo:

a) Làm đất: Vì dưa leo có rất nhiều rễ con, nên cần cày sâu 25-30cm, nhặt sạch cỏ và bừa cho thật nhuyễn. Sau đó bón lót 0,5kg bột TC-Mobi pha dung dịch thủy canh 

b) Cách trồng: Dưa leo trồng bằng cách gieo hạt tại chỗ. Để mau nảy mầm nên ngâm hạt giống vào nước lã 1 đêm, vớt ra để ráo nước rồi mới đem gieo. Nên khử trùng độc bằng cách trộn hạt giống với Spergon hay Semesan (1kg hạt với 3g thuốc), để trong chai hay bao giấy lắc cho trộn đều. Nếu đất có nhiều kiến, muốn ngừa thì trộn với thuốc DDT 75%. Lỗ gieo rộng 20-30cm, sâu 15cm, được móc sẵn và bón phân chuồng (trộn đều với đất mặt) trước khi gieo 3 ngày. Lỗ cách nhau khoảng 30cm. Hàng này cách hàng kia 1m. Trước khi gieo vài giờ, tưới ướt đều các lỗ. Gieo mỗi lỗ 4 hạt (cách rời nhau cho dễ mọc) bằng cách lấy ngón tay đè hạt sâu xuống 1cm rồi lấp lại bằng một lớp đất mặt nhuyễn mỏng. Để thuốc giữ hạt (không tróc ra) chỉ nên tưới sau khi gieo 24 tiếng. Gieo như vậy, mỗi mẫu cần 2kg hạt giống.

c) Mùa trồng: Dưa leo trồng được khắp nơi và quanh năm trồng mùa nằng thì thuận lợi hơn.

d) Chăm sóc: 

-Tưới đãm nước: Vì vây dưa chứa hơn 93% nước và riêng trái dưa gần 97% nước nên tưới nhiều nước cho cây dưa. Tưới xung quanh gốc lúc đầu. Sau khi làm giàn hay cắm chà thì đào đường mương dẫn nước dọc theo hàng dưa tốt hơn.. Nên tưới vào buổi chiều và tưới đầy đủ, nhưng không quá nhiều.

-Tỉa cây con: Tỉa bớt cây con là để loại bỏ cây yếu, xấu và cho cây còn lại được mập mạnh. Nên dùng dao nhỏ bén, cắt sát gốc cây để tỉa. Như vậy sẽ không động gốc cây còn lại.

+Tỉa lần 1: Chừa mỗi lỗ 2 cây, khi dưa có vài lá.

+Tỉa lần 2: Chừa mỗi lỗ 1 cây khi cây có 5-6 lá.

-Tủ gốc: Dùng rơm rạ hay cỏ khô tủ gốc dưa cho im mát (mùa nắng) và để che cỏ, giữ đất xốp (mùa mưa). Trồng chưa leo thì tủ khắp mặt đất nơi dây dưa bò (vì không cần cắm chà).

-Cắm chà: Sau lần vun gốc kỳ thứ 2, dưa bắt đầu bỏ vòi thì nên cắm chà ngay cho dưa leo lên. Nếu cắm chà trễ, dây dưa dài sẽ mất sức. Chà cao 1m-1.5m làm bằng nhánh tre, cây đã rụng hết lá. Được cắm xiên dọc theo 2 hàng dưa. Hai ngọn chà chau nhau ở giữa được buộc lại bằng dây chắc chắn cho khỏi bị ngã vì dông mưa. Chà quá nhiều nhánh nhỏ sẽ làm trở ngại sự tăng trưởng của dây dưa. Sau khi cắm chà chừng 3 hôm, dưa sẽ có nụ đầu tiên nhưng không đậu. Dưa sẽ cho trái ở những kỳ nụ sau.Kỹ thuật trồng dưa leo

-Xén ngọn: Khi cây được 8-10cm, vbaof lúc trời quang đãng, dùng dao hay kéo bén xén ngọn dưa để cho dưa đâm nhiều tượt. Nhờ đó, năng suất sẽ gia tăng đáng kể.

e) Phân bón: Cần dùng phân đầy đủ để cây cho nhiều trái. Dùng cho mẫu đất:

-20 tấn phân chuồng hoai (hoặc với phân bánh dầu): Bón trước khi gieo hạt 3 ngày

-400kg Ammophosko 20-20-15 làm 3 lần:

+Lần thứ nhất: 100kg sau khi gieo hạt 10 ngày.

+Lần thứ hai: 150kg sau lần thứ nhất 10 ngày.

+Lần thứ ba: 150kg sau lần thứ hai 10 ngày.

-0,5kg Dung dịch dinh dưỡng thủy canh TC-Mobi.

Sau mỗi lần bón phân, nhớ vun gốc và tưới nước. Lần thứ ba nên dùng phân pha nước tưới. Nếu thiếu bồ tạt thì có thể dùng tro rơm, củi. Tro này vừa có bần to, giúp cây tăng trưởng. Vôi cũng cần thiết cho dưa leo. Tùy đất chua nhiều hay ít, bón 1.500-1.800kg vôi mỗi mẫu.

f) Sâu bệnh:

-Rầy mềm:, bọ rùa, rầy đục trái: Dùng Malathion 57% nhủ dầu (tỷ lệ 1/350) hoặc Dieldrin 50% nhủ dầu (tỷ lệ 1/250).

-Sâu ăn lá: Sevin (tỷ lệ 1/600) 5-7 ngày xịt 1 lần.

-Bệnh rủ lá: Lá dưa có đốm màu vàng, sau trở thành nâu. Để ngừa bệnh dùng Maneb hoặc Zineb (tỷ lệ 1/500) vài tuần xịt 1 lần.

g) Giống dưa leo: Dưa địa phương có 3 giống:

-Dưa leo xanh: Trái tròn dài 10-15cm, vỏ màu xanh ruột vừa, vị ngọt. Trồng chừng 40 ngày có trái. Biên Hòa, Gia Định trồng nhiều nhất.

-Dưa Bà cai: Trái tròn dài 15-30cm, ruột nhỏ, vị hơi ngọt. Trồng 50 ngày có trái. Cần Thơ, Rạch Giá trồng nhiều nhất.

-Dưa chuột: Trái tròn, ngắn độ 10cm, ruột to, cơm mỏng, trái sai da láng xanh nhợt (chín vàng) vị ít ngọt. Trồng độ 35 ngày có trái. Sóc Trăng, Châu Đốc trồng nhiều nhất.

-Ở Cao nguyên có giống dưa chuột lớn trái, da láng ăn giòn và ngọt hơn dưa dưới xuôi. Ngoài ra còn có giống ngoại quốc (Đài Loan Big) trái to, dài 20-30cm, vỏ xanh đậm, ruột nhỏ, cơm dày, vị lạt, thịt hơi dai. Giống dưa này thích hợp cho việc chiên xào hơn là dùng ăn tươi. Vì vị lạt và dai nên nông dân không ưa giống dưa này cho lắm.

Thu hoạch dưa leo:

Từ khi gieo hạt đến khi thu hoạch khoảng 35-40 ngày, sau khi gieo được 25 ngày, dưa bắt đầu tượng trái. Cách 1 ngày hái 1 lần. Hái như vậy 5-8 lần mới hết trái.

Dưa Đài Loan Big cho trái chậm hơn, khoảng 50-60 ngày sau khi gieo hạt. Năng suất trung bình độ 20-30 tấn trái mỗi mẫu (giống địa phương). Giống du nhập có năng suất cao hơn: 30-50 tấn. Mùa mưa thu hoạch kém hơn mùa nắng. Giống địa phương có xén ngọn cho lợi nhuận nhiều hơn.

Kỹ Thuật Trồng Dưa Leo Xanh

 30/11/2016

Dưa leo được biết ở Ấn Độ cách nay hơn 3.000 năm, sau đó được lan truyền dọc theo hướng Tây Châu Á, Châu Phi và miền Nam Châu Âu. Dưa leo được trồng ở Trung Quốc từ thế kỹ thứ 6 và hiện nay được trồng rộng rãi khắp nơi trên thế giới. Dưa leo cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất. Trái dưa leo chứa 96% nước và 100g trái tươi cho 14 calo; 0,7 mg protein; 24 mg calcium; vitamin A 20 IU; vitamin C 12 mg; vitamin B1 0,024 mg; vitamin B2 0,075 mg và niacin 0,3 mg.

CÂY DƯA LEO  Tên khoa học: Cucumis sativus L.  Họ bầu bí: Cucurbitaceae

  1. GIỚI THIỆU Dưa leo được biết ở Ấn Độ cách nay hơn 3.000 năm, sau đó được lan truyền dọc theo hướng Tây Châu Á, Châu Phi và miền Nam Châu Âu. Dưa leo được trồng ở Trung Quốc từ thế kỹ thứ 6 và hiện nay được trồng rộng rãi khắp nơi trên thế giới. Dưa leo cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất. Trái dưa leo chứa 96% nước và 100g trái tươi cho 14 calo; 0,7 mg protein; 24 mg calcium; vitamin A 20 IU; vitamin C 12 mg; vitamin B1 0,024 mg; vitamin B2 0,075 mg và niacin 0,3 mg. 2. ĐẶC TÍNH SINH HỌC Rễ: Bộ rễ dưa phát triển rất yếu, rễ chỉ phân bố ở tầng đất mặt 30 – 40 cm. Thân: Thân thảo hằng niên, thân dài, có nhiều tua cuốn để bám khi bò. Chiều dài thân tùy điều kiện canh tác và giống, các giống canh tác ngoài đồng thường chỉ dài từ 0.5 – 2,5 m. Thân trên lá mầm và lóng thân trong điều kiện ẩm độ cao có thể thành lập nhiều rễ bất định. Thân tròn hay có góc cạnh, có lông ít nhiều tùy giống. Thân chánh thường phân nhánh; cũng có nhiều dạng dưa leo hoàn toàn không thành lập nhánh ngang. Sự phân nhánh của dưa còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ ban đêm. Lá: Lá đơn, to mọc cách trên thân, dạng lá hơi tam giác với cuống lá rất dài 5 – 15 cm; rìa lá nguyên hay có răng cưa. Lá trên cùng cây cũng có kích thước và hình dáng thay đổi. Hoa: Đơn tính cùng cây hay khác cây. Hoa cái mọc ở nách lá thành đôi hay riêng biệt; hoa đực mọc thành cụm từ 5 – 7 hoa; dưa leo cũng có hoa lưỡng tính. có giống trên cây có cả 3 loại hoa và có giống chỉ có 1 loại hoa trên cây. Hoa có màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trước khi hoa nở. Các giống dưa leo trồng ở vùng ĐBSCL thường ra hoa sớm, bắt đầu ở nách lá thứ 4 – 5 trên thân chính, sau đó hoa nở liên tục trên thân chính và nhánh. Sự biến dị về tính trạng giới tính ở dưa leo rất rộng, đó là đặc tính thích nghi mạnh của cây trong điều kiện môi trường. Nói chung, điều kiện ngày dài, nhiệt độ cao và các điều kiện bất lợi khác làm cho cây cho nhiều hoa đực. Ngoài ra, tỉa nhánh, sử dụng kích thích sinh trưởng và chế độ phân bón có thể ảnh hưởng đến sự biến đổi giới tính của cây. Các dạng cây có giới tính khác nhau ở dưa leo được nghiên cứu và tạo lập để sữ dụng trong chọn tạo giống lai. Trái, hạt: Lúc còn non có gai xù xì, khi trái lớn gai từ từ mất đi. Trái từ khi hình thành đến khi thu hoạch có màu xanh đậm, xanh nhạt, có hay không có hoa văn (sọc, vệt, chấm), khi chín trái chuyển sang màu vàng sậm, nâu hay trắng xanh. Trái tăng trưởng rất nhanh tùy theo giống, có thể thu trái từ 8 – 10 ngày sau khi hoa nở. Phẩm chất trái không chỉ tùy thuộc vào thành phần các chất dinh dưỡng trong trái mà còn tùy thuộc vào độ chặc của thịt trái, độ lớn của ruột trái và hương vị trái. Trái chứa hạt màu trắng ngà, trung bình có từ 200 – 500 hạt/trái. Dưa leo thuộc nhóm ưa nhiệt, nhiệt độ ngày thích hợp cho dưa tăng trưởng là 30oC. và nhiệt độ ban đêm 18 – 21oC. Dưa có phản ứng với độ dài ngày khác nhau tùy theo giống, thông thường ngày ngắn kích thích cây ra lá và trái, vì vậy điều kiện thời tiết vùng đồng bằng cho phép dưa leo ra hoa trái quanh năm. Yêu cầu về độ ẩm đất của dưa leo rất lớn. Dưa chịu hạn rất yếu, thiếu nước cây sinh trưởng kém và tích lũy chất cucurbitaxin làm trái trở nên đắng. Tuy nhiên ẩm độ không khí cao lại giúp cho bệnh đốm phấn phát triển mạnh. 3. GIỐNG Có 2 nhóm giống dưa leo: 3.1. Nhóm dưa trồng giàn: Canh tác phổ biến ở những nơi có điều kiện làm giàn. Các giống dưa trong nhóm này có: 3.1.1. Các giống lai F1: – Mummy 331: Nhập nội từ Thái Lan, sinh trưởng khá, ra nhánh mạnh, bắt đầu cho thu hoạch 35 – 37 NSKG, trái suông đẹp, to trung bình (dài 16 – 20 cm, nặng 160 – 200 g), vỏ màu xanh trung bình, gai trắng, thịt chắc, phẩm chất ngon, dòn, không bị đắng, năng suất trung bình 30 – 50 tấn/ha. – Giống 765,789: Nhập nội từ Thái lan, sinh trưởng mạnh, cho thu hoạch 35 – 37 NSKG, trái thẳng, to trung bình, gai trắng, màu trái hơi nhạt hơn nhưng năng suất và tính chống chịu tương đương Mummy 331. – Mỹ Trắng: Nhập nội từ Thái Lan, cây phát triển và phân nhánh tốt, cho thu hoạch 35 – 37 NSKG, tỉ lệ đậu trái cao, trái to trung bình, màu trắng xanh, gai trắng, ít bị trái đèo ngay cả ở giai đoạn cuối thu hoạch. – Mỹ Xanh: Nhập nội từ Thái Lan, cây sinh trưởng tốt, chống chịu tốt hơn giống Mỹ Trắng, trái to tương đương Mỹ Trắng nhưng cho nhiều trái và năng suất cao hơn. 3.1.2. Các giống dưa leo địa phương – Dưa leo Xanh: Tăng trưởng khá, ít đâm nhánh nên phải trồng dầy, cho trái rất sớm (32 – 35 NSKG), trái to trung bình, vỏ xanh trung bình, gai đen, dưa cho năng suất từ 20 – 40 tấn/ha. Khuyết điểm của giống là cho trái loại 2 nhiều vào cuối vụ và dễ nhiểm bệnh đốm phấn. Hiện nay giống nầy được Công Ty Giống Cây Trồng Miền Nam chọn lọc thành giống cao sản. – Dưa Tây Ninh: Tăng trưởng mạnh, đâm nhánh mạnh, hoa cái xuất hiện trên dây nhánh nên cho thu hoạch trễ (40 – 42 NSKG), trái to dài hơn dưa leo xanh, vỏ xanh trung bình, có sọc, 2 đầu hơi nhỏ hơn phần giửa trái. Dưa Tây Ninh chịu nóng tốt, thích hợp canh tác trong thời điểm giao mùa hơn dưa Xanh và cho năng suất cao hơn. Giống nầy cũng được Công Ty Giống Cây Trồng Miền Nam chọn lọc thành giống cao sản. 3.2. Nhóm dưa trồng trên đất: Trồng phổ biến ở những nơi không có điều kiện làm giàn hay diện tích trồng lớn và canh tác trong mùa khô, phần lớn là giống địa phương: – Dưa chuột: Cây bò dài 1m – 1,5 m, cho thu hoạch rất sớm (30 – 32 NSKG), nhiều trái và mau tàn. Trái nhỏ, ngắn (dài 10 -12 cm, nặng < 100 g), màu xanh nhạt, vỏ nhanh chuyển màu vàng sau thu hoạch, thịt trái mỏng, ruột to, ăn ngon giòn, được ưa chuộng để ăn tươi hoặc trộn giấm nhưng không có giá trị kinh tế cao. – Dưa leo Phụng Tường: Tăng trưởng khá và ra nhánh mạnh, cho trái sớm (32 – 35 NSKG), trái dài trung bình, màu xanh trắng, gai đen, ruột đặc. Dưa Phụng Tường cho năng suất cao hơn và vỏ trái không chuyển sang vàng nhanh như dưa chuột nên được trồng phổ biến hơn. 4. KỸ THUẬT CANH TÁC 4.1. Thời vụ Có thể trồng quanh năm, tuy nhiên dưa leo tăng trưởng tốt trong mùa mưa hơn mùa khô. Các vụ trồng khác nhau có thuận lợi và khó khăn khác nhau: - Vụ Hè Thu: gieo tháng 5 – 6, thu hoạch tháng 7- 8 dl, đây là thời vụ chính trồng dưa leo giàn. Mùa nầy dưa cho năng suất cao, ít sâu bệnh và đở công tưới nước. - Vụ Thu Đông: gieo tháng 7- 8, thu hoạch 9 – 10 dl, do mưa nhiều, cây có cành lá xum xuê, cho ít hoa trái. Trong thời kỳ trổ bông nếu gặp mưa liên tục vào buổi sáng thì cây đậu trái kém hoặc trái non dễ bị thối, vụ nầy dưa dễ bị bệnh đốm phấn nên thời gian thu hoạch ngắn. - Vụ Đông Xuân: Gieo tháng 10 – 11, thu hoạch tháng 12 – 1dl, dưa leo bò và dưa giàn đều trồng được. Vụ này thời tiết lạnh, thường có dịch bọ trĩ và bệnh đốm phấn phát triển mạnh nên phải đầu tư cao. - Vụ Xuân Hè: Gieo tháng 1-2, thu hoạch 3 – 4 dl, mùa nầy nhiệt độ cao thích hợp cho dưa leo trồng đất. Cuối mùa nắng, thời tiết khắc nghiệt nhất trong năm, lượng nước bốc thoát qua mặt đất và lá dưa nhiều, nếu không tưới đủ nước cây sinh trưởng kém thân ngắn, lá nhỏ, hoa trái ít và cho năng suất thấp. 4.2. Làm đất và gieo hat Dưa leo có yêu cầu đất nghiêm khắc do bộ rễ yếu và sức hấp thụ của rễ kém, nếu gặp hạn hay úng hoặc nồng độ phân cao bộ rễ dưa dễ bị vàng khô, vì thế nên trồng dưa trên đất có thành phần cơ giới nhẹ như cát pha, đất thịt nhẹ thoát thủy tốt, có nhiều chất hữu cơ, pH từ 6.5 – 7.5. Nên làm đất kỹ. Đất mặt phải cày cuốc sâu, lên líp cao 20 – 25 cm để trồng trong mùa mưa hoặc trồng có làm giàn, mùa nắng trồng dưa thả bò trên đất ruộng hay đất thoát nước tốt chỉ cần đào hộc trồng, không cần lên líp. Líp trồng có thể phủ bạt plastic hay rơm rạ để giử ẩm. Hạt dưa leo nẩy mầm rất nhanh và tỉ lệ nẩy mầm cao nên có thể tỉa thẳng 2 – 3 hạt/lổ, gieo sâu 2 – 3 cm và lấp tro trấu. Trồng giống F1 để tiết kiệm giống và chăm sóc cây con được đều, nên gieo cây con trong bầu đất và đem trồng khi có lá thật. Trồng mỗi lổ một cây, các giống ít đâm nhánh trồng 2 – 3 cây/lổ. Khoảng cách trồng 0.8 – 1.5 m x 0.3 – 0.4 m. mật độ 30.000 – 50.000 cây/ha. Dưa giàn trồng hàng đơn hay hàng đôi đều được, mùa thuận nên trồng dầy để có năng suất cao, mùa nghịch nên trồng thưa để dễ chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh. Lượng giống trồng cho 1 ha tùy phương pháp trồng. Dưa thả bò, dưa địa phương tỉa thằng cần 1 – 3 kg giống/ha; dưa F1 – cần 0.5 – 0.8 kg hạt/ha. 4.3. Chăm sóc 4.3.1. Bón phân: Nhu cầu dinh dưỡng của dưa leo khá cao, dưa leo hấp thụ mạnh nhất là kali, kế đến là đạm. Dưa leo mẫn cảm với chất dinh dưỡng trong đất và không chịu được nồng độ phân cao; vì vậy phân được bón thúc nhiều lần thay vì bón tập trung. Ở giai đoạn đầu của sự sinh trưởng dưa hấp thụ nhiều đạm hơn các chất khác; đến khi dưa phân nhánh và kết trái dưa mới hấp thụ mạnh kali. Tuy nhiên bón đạm dư thừa dẫn tới tình trạng cây tăng trưởng mạnh và ra nhiều hoa đực. Lượng phân bón tùy theo điều kiện dinh dưỡng có sẳn trong đất và nhu cầu của cây dưa leo qua từng giai đoạn sinh trưởng. Đối với giống lai nhập nội cho năng suất cao, cần bón phân nhiều hơn giống điạ phương. Công thức phân thường dùng cho dưa leo trồng ở đồng bằng là: N: 140 – 220 kg/ha P2 O5: 150 – 180 kg/ha K2O : 120 – 150 kg /ha Dựa vào công thức trên có thể bón cho 1 ha dưa leo: 1 tấn phân 16-16-8, 100 kg Urê, 50 kg DAP và 100 kg KCl hoặc 200 – 300 kg Urê, 500 – 700 kg super lân, 150 – 200 kg KCl, 20-25 tấn phân chuồng và 1-2 tấn tro trấu. Sau đây là một ví dụ về thời điểm, loại phân và liều lượng bón cho 1 ha:

Loại phân Tổng số Bón lót Tưới thúc (5-10 NSG) Bón thúc (15-20 NSG) Bón nuôi trái (35 – 55 NSG)

Vôi (tấn) 1 1      

Phân chuồng (tấn) 20 20      

16-16-8 (kg) 1.000 400   300 300

Urê (kg) 100   50   50

DAP (kg) 50   50    

KCl (kg) 100       100

NSKG: Ngày sau khi gieo Ở những vùng có tập quán bồi bùn, phân thúc được chia làm 2 lần bón 2 bên líp vào 12 và 20 NSKG, sau đó bồi bùn lên mặt líp để lấp phân. Phân bón nuôi trái cũng được chia làm nhiều lần sau các đợt thu trái. Ngoài ra có thể phun bổ sung phân qua lá SUPERMES để tăng tỉ lệ trái loại 1. 4.3.2. Tưới nước: mùa nắng tưới 1 ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều. Tăng cường lượng nước tưới và diện tích tưới xung quanh gốc khi cây lớn, nhất là thời kỳ ra hoa trái rộ; cần thoát nước tốt trong mùa mưa. Trong trường hợp tưới rảnh, không nên để nước quá cao trong mương tưới khi cây lớn vì có thể làm hạn chế hoặc hư rễ dưa mọc dài ra mương, tốt nhất là rút cạn nước trong mương sau khi tưới. 4.3.3. Phủ rơm, làm giàn: sau các lần bón thúc, cây bỏ vòi ngã ngọn bò. Trồng dưa bò đất phải đậy rơm xung quanh gốc để giữ ẩm hoặc rải rơm rạ khắp mặt ruộng cho dưa bò, đồng thời bảo vệ trái khỏi hư thối do tiếp xúc trực tiếp với đất ẩm và rơm cũng hạn chế sự phát triển của cỏ dại.

Làm giàn kiểu chữ nhân (X)

Đối với dưa trồng giàn, khi cây bắt đầu có tua cuốn (20 NSKG) thì làm giàn kiểu chữ nhân, cao khoảng 2 m. Giàn bằng chà gai tốt hơn tre sậy vì chà gai có nhiều nhánh ngang, dưa dê bám khi bò và sử dụng được 2 – 3 vụ, cần 40.000 – 50.000 cây chà/ha . Giàn cũng có thể làm cố định bằng cọc tràm và dây kẽm để sử dụng được 3 – 5 năm. Hiện nay, việc sử dụng lưới ni long để làm giàn cho dưa leo cũng được phổ biến trong sản xuất vì giảm bớt được số lượng cây giàn, giảm chi phí, thao tác nhanh gọn và dùng được nhiều mùa. 4.3.4. Phòng trừ sâu bệnh Sâu hại quan trọng gồm có: -  Bù lạch phát triển mạnh vào mùa khô hạn. Thiệt hại do bù lạch trong những vùng chuyên canh rất trầm trọng. Nên trồng đồng loạt và tránh gối vụ, kiểm tra ruộng dưa thật kỹ để phát hiện sớm ấu trùng. Bù lạch có tính kháng thuốc rất cao, nên thay đổi thuốc thường xuyên phun Vertimec, Confidor, Admire, Danitol. -  Thu gom tiêu hủy cây dưa sau mùa thu hoạch, chất thành đống tạo bẩy để rầy dưa tập trung, sau đó phun thuốc. Rãi thuốc hột như Bam, Basudin, Regent 20kg/ha hay phun các loại thuốc phổ biến như Sumi-alpha, Sumicidin, Baythroit, Admire. -  -  Ruồi rất nhanh quen thuốc, nên cần thay đổi chủng loại thuốc thường xuyên. Phun khi cây có 2-3 lá; khi cần thiết có thể phun lập lại sau 7-10 ngày. Qua nhiều thí nghiệm cho thấy phun các lọai thuốc gốc cúc hoặc phối hợp với thuốc gốc lân hay dầu khoáng D-C Tron Plus 5%o. Trãi màng phủ plastic trên mặt líp sẽ giãm được mật số ruồi đáng kể và cho hiệu quả kinh tế cao. Bệnh hại quan trọng gồm có: -  Nên lên líp cao, làm đất thông thoáng, bón thêm phân chuồng, tro trấu, nhổ cây bệnh tiêu hủy. Phun hay tưới vào gốc Copper-B, Derosal, Rovral, Topsin-M 2 -3%o hoặc Appencarb supper, Aliette, Ridomil, Curzate 1-2%o. Rãi thuốc hạt Bam, Basudin 10-20 kg/ha trừ tuyến trùng. Tránh trồng dưa leo và các cây cùng nhóm như bí đỏ, bí đao, dưa hấu liên tục nhiều năm trên cùng một thửa ruộng. -  Cần xử lý rơm bằng thuốc hóa học sau khi gieo hạt. Phun Validacin, Anvil, Rovral, Hinosan; Copper-B, Tilt super, Bonanza (các loại thuốc trị bệnh đốm vằn trên luá đều trị được bệnh này) – Bệnh thối trái non (nấm Choanephora cucurbitarum): Thường tấn công lá, hoa và trái non 5 – 7 ngày sau khi thụ phấn, bệnh gây thiệt hại nặng trong mùa mưa. Không nên trồng qúa dầy, giảm nước tưới, không nên tưới nước vào buổi chiều tối khi bệnh đã xuất hiện. Cần vệ simh đồng ruộng, thu gom các lá trái bệnh đem tiêu hủy. Nên phun ngừa các loại thuốc như phòng trị bệnh héo rủ. -  Phun Manzate, Mancozeb, Antracol, Curzate, Copper-B, Topsin-M, Toptan, Benlat-C. -  Phun Curzate, Mancozeb, Copper-B, Benlate-C hoặc Ridomil. -  – Bệnh lở cổ rễ, cháy khô lá (nấm Phytophthora sp.) Bệnh gây hại trên lá, trái và gốc thân. Bệnh gây haị ở bất kỳ vị trí nào trên lá, nhưng thường từ rìa lá vào, vùng bệnh như bị úng nước, chuyển sang màu đen và thối nhũn. Trên trái bệnh chỉ gây hại trên trái non làm trái bị thối đen và nhũn ra. Ở thân, bệnh thường gây hại ở phần cổ rễ làm nơi đây bị úng nước mất màu, sau đó chuyển sang màu nâu đen nhũn ra và gây thối cả rê, làm cây chết. Thoát nước tốt cho ruộng dưa. Tránh trồng quá dày, không tưới nước đẫm vào chiều mát. Phun thuốc Manzate; Curzate, Ridomil; Aliette 7-10 ngày một lần. 5. THU HOẠCH Dưa ăn trái tươi thu hoạch lúc trái trông ngon nhất, vỏ trái có màu xanh mượt, còn lớp phấn trắng, trái suông đẹp và đầu trái còn cánh hoa chưa rụng. Thời gian thu trái kéo dài 20 – 30 ngày, thu cách ngày một lần, lúc rộ có thể thu mỗi ngày để trái vừa lứa, đồng đều, dễ bán. Năng suất dưa chuột 15 – 17 tấn/ha, dưa leo địa phương 20 – 30 tấn/ha và các giống lai 30 – 50 tấn/ha

Kỹ Thuật Trồng Cây Dưa Leo

Ngày đăng: 2015-11-26 11:17:10

1. Điều kiện đất đai, nguồn nước trồng cây dưa leo

1.1. Đất trồng cây dưa leo

Đất bằng phẳng. Không ngập lụt.

Độ pH của đất khoảng 6,0 – 6,5.

Gần nguồn nước sạch.

Xa vùng có nguồn ô nhiễm như khu công nghiệp, bệnh viện, nghĩa trang, bãi rác khoảng cách tối thiểu 500m.

1.2. Nguồn nước trồng cây dưa leo

Nguồn nước phải sạch, nước không bị ô nhiễm kim loại nặng và vi sinh vật gây hại.

Nguồn nước phải đủ tưới cho các mùa vụ trồng.

1.3. Thời tiết trồng cây dưa leo

Nhiệt độ tối ưu để gieo hạt từ 21 – 32 0C. Có ánh sáng mặt trời.

Có thể trồng quanh năm, thích hợp nhất ở vụ Đông Xuân và Hè Thu.

2. Chuẩn bị trồng cây dưa leo

2.1. Tiêu chuẩn chọn hạt giống

Phải biết rõ lý lịch nơi sản xuất hạt giống.

Hạt giống không có mầm bệnh.

Độ sạch của hạt giống ≥ 99 %.

Hạt khác giống ≤ 0,2 %.

Ẩm độ ≤ 7 – 8 %.

Tỉ lệ nẩy mầm từ 90 – 95 %.

2.2. Chọn giống phù hợp

Với nhu cầu thị trường.

Với điều kiện đất đai và thời tiết của địa phương.

Một số giống dưa leo: Dưa leo G8-61; Mỹ trắng, SG 33, giống 579, Happy 2.

2.3. Làm đất trồng cây dưa leo

Đất cần được dọn sạch.

Cày cho đất tơi xốp và phơi nắng từ 7 – 14 ngày trước khi trồng

2.4. Lên liếp và phủ bạt

Liếp rộng 1,0 – 1,2 m, cao 20 – 25 cm. Trồng hàng đơn: khoảng cách hàng cách hàng 1,2 m, cây cách cây trên hàng 40 cm (mùa khô), và 50 cm (mùa mưa).

Mùa mưa: nên làm mương sâu quanh ruộng, lên liếp cao để thoát nước dễ dàng sau mỗi cơn mưa.

Bón lót cho 1.000 m2: 2 tấn phân hữu cơ đã ủ hoai + 40 – 50 kg super lân + 50 kg bánh dầu. Phân được bón trên liếp và phủ bạt.

Phủ bạt: Plastic có màu ánh bạc ở mặt trên và màu đen ở mặt dưới (Mặt ánh bạc sẽ phản chiếu ánh nắng mặt trời và xua đuổi côn trùng, mặt tối bên dưới sẽ làm cho cỏ không mọc được).

2.5. Trồng

Hạt dưa leo có tỷ lệ nẩy mầm cao nên có thể tỉa thẳng 1 – 2 hạt/lỗ, gieo sâu 2 – 3 cm và lấp tro trấu. Mật độ 3.000 – 5.000 cây/1.000 m2.

Trộn hạt giống với Iprodione 50% WP 60 g cho một kg hạt giống để phòng ngừa bệnh từ hạt.

3. Chăm sóc trồng cây dưa leo

3.1. Bón phân

Bón thúc: chia làm 3 lần bón: lần đầu (7 ngày sau khi gieo) 10 kg urê + 10 kg Kali lần thứ hai (20 – 25 ngày sau gieo) 10 kg urê + 5 kg kali, lần thứ ba (30 – 35 ngày sau gieo) 10 kg urê + 5 kg kali.

Bón phân theo sự phát triển bộ rể của cây dưa leo. Mỗi lần bón đục lỗ nhỏ hoặc rạch hàng để bón và phủ lớp đất mỏng hoặc phân hữu cơ để giữ cho phân khỏi bay hơi.

3.2. Tưới nước

Mùa nắng tưới một ngày 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều.

Tăng lượng nước tưới và diện tích tưới xung quanh gốc khi cây lớn. Nhất vào thời kỳ ra hoa trái rộ, cần thoát nước tốt trong mùa mưa.

Tưới nước ngay sau khi trồng và sau khi bón phân.

3.3. Chăm sóc

Tỉa bỏ những cây phát triển không tốt. Ngắt bỏ bớt lá, tạo thông thoáng.

Khi cây bắt đầu phun tua cắm chà cho cây bò lên giàn. Giàn làm theo kiểu mái nhà.

Nhổ bỏ cây bị bệnh và đốt. Nên nhổ vào lúc trời nắng ráo.

Sử dụng và bảo quản nông cụ, bình phun hoá chất phải được vệ sinh trước khi cất giữ.

4. Sinh vật hại trên cây dưa leo

4.1. Bệnh hại trên cây dưa leo

4.1.1. Bệnh sương mai trên cây dưa leo

* Nguyên nhân: Do nấm Pseudoperonospora cubensis.

* Triệu chứng: Lá bị hại là chính. Bệnh phát triển từ mặt dưới lá, phía trên lá có những chấm nhỏ màu vàng, về sau lớn dần trở thành màu nâu, dọc theo gân lá có hình đa giác. Chỗ bị bệnh khô và dễ gãy, lá cuốn cong lên và rụng sớm chỉ còn lá mới ra.

* Giai đoạn nhiễm bệnh: Bệnh gây hại từ khi cây có 3 – 4 lá thật đến khi thu hoạch. Bệnh thường phát triển mạnh trong điều kiện ẩm độ cao, mưa nhiều hoặc ban đêm có nhiều sương.

* Phòng trị:

Làm liếp cao, thoát nước tốt (trồng dưa leo trong mùa mưa).

Dọn sạch tàn dư cây trồng, có điều kiện nên ngâm nước ruộng một thời gian để diệt nấm.

Trồng mật độ vừa phải.

Bón phân đầy đủ, cân đối, không bón nhiều phân đạm.Chú ý trong mùa mưa nếu bón nhiều urê hoặc phân hữu cơ tươi dễ gây ngộ độc cho cây và nấm bệnh dễ xâm nhập gây hại.

Tỉa bỏ bớt các lá già và lá bị bệnh, dùng màng phủ nilon để lá không tiếp xúc trực tiếp mặt đất.

Từ khi cây dưa có 3 – 4 lá thật, dùng các thuốc gốc đồng phun phòng bệnh 2 – 3 lần cách nhau khoảng 10 ngày. Sử dụng thuốc phòng trị (xem Bảng 1).

4.4.2. Bệnh thán thư trên cây dưa leo

* Nguyên nhân: Nấm Colletotrichum lagenarium

* Triệu chứng: Bệnh gây hại cả trên quả lá, dây đều bị hại. Trên lá lúc đầu có những điểm tròn màu vàng nhạt, về sau có màu nâu. Khi khô dễ gẫy. Trên quả mới chớm bệnh vết bệnh hình tròn, lõm màu vàng. Trên dây có vết bệnh màu nâu sẫm về sau có màu tro. Đặc điểm trên vết bệnh có lớp phấn màu hồng trong điều kiện ẩm ướt.

* Giai đoạn nhiễm bệnh: Bệnh phát triển nhiều trong điều kiện thời tiết nóng, mưa nhiều, từ khi cây bắt đầu có hoa đến thu hoạch.

* Phòng trị:

Thu gom tàn dư cây trồng.

Ruộng bị hại nặng luân canh cây khác trong 1 năm.

Không dùng hạt ở quả bị bệnh để làm giống.

Từ khi cây có 5 – 6 lá thật phun phòng bệnh bằng các thuốc gốc đồng. Sử dụng thuốc phòng trị (xem Bảng 1).

4.4.3. Bệnh chết cây con trên cây dưa leo

* Nguyên nhân: Nấm Rhizoctonia solani

* Triệu chứng: Cổ rễ cây con chỗ gần mặt đất bị thối nhũn, tóp lại, màu nâu, cây ngã gục trong khi lá non vẫn còn xanh, sau vài ngày cây khô héo.

* Giai đoạn nhiễm bệnh: Bệnh chỉ phát sinh phá hại từ khi cây con mới mọc đến có 1 – 2 lá thật.

* Phòng trị:

Luân canh cây trồng với cây khác họ để tiêu diệt nguồn bệnh, có hiệu quả khi luân canh với cây lúa nước.

Sử dụng phân hữu cơ ủ hoai mục, không bón nhiều đạm.

Xới đất vun gốc kịp thời, sau đợt mưa không để mặt đất đóng váng (đối với ruộng không phủ bạt).

Khi bệnh xuất hiện và phát triển có thể sử dụng các loại thuốc BVTV để phòng trị (xem Bảng 1).

4.4.4. Bệnh héo rũ trên cây dưa leo

* Nguyên nhân: Rhizoctonia, Fusarium, Pythium…

* Triệu chứng: Rễ và cổ rễ gốc bị thối, điểm bị thối thắt lại, tất cả các lá trên cây biến màu vàng, cây héo và bị chết

* Giai đoạn nhiễm bệnh: Giai đoạn nhiễm bệnh: Bệnh xuất hiện từ khi cây có 3 – 4 lá thật đến thu hoạch. Bệnh hại nặng trong mùa mưa. Đất bị úng nước, đặc biệt khi có mưa to, gió lớn gây xây xát vùng rễ, bệnh nặng có thể gây héo rũ chết hàng loạt.

* Phòng trị:

· Luân canh cây trồng với cây khác họ để tiêu diệt nguồn bệnh, có hiệu quả khi luân canh với cây lúa nước.

· Trong mùa mưa phải lên luống cao, thoát nước tốt. Đảm bảo đủ nước cho cây nhưng không để thừa nước.

· Xử lý hạt giống bằng thuốc hóa học.

· Bón phân cân đối. Đặc biệt nên dùng phân hữu cơ đã ủ hoai mục, không dùng phân tươi.

· Dùng các loại thuốc BVTV khi thấy bệnh có khả năng phát sinh mạnh (xem Bảng 1).

4.4.5. Bệnh hoa lá trên cây dưa leo

* Nguyên nhân: Virus

* Triệu chứng: Gây hại trên lá và toàn cây. Cây bị bệnh đọt non xoăn lại, lá nhạt màu và lốm đốm vàng, loang lổ, các đốt thân co ngắn, cây chùn lại, phát triển rất chậm, quả ít và biến dạng, sần sùi, có vị đắng.

* Phòng trị:

· Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại trong ruộng và xung quanh để hạn chế nguồn bệnh và côn trùng môi giới.

· Phòng trị bọ trĩ và rệp.

· Nhổ bỏ thu gom tiêu hủy các cây dưa bị bệnh.

· Sử dụng giống khoẻ sạch bệnh.

4.2. Côn trùng hại trên cây dưa leo

4.2.1. Sâu xanh sọc trắng trên cây dưa leo

* Đặc tính: Sâu non có màu xanh lá cây nhạt, trên lưng có 2 sọc trắng chạy dọc cơ thể. Nhộng màu nâu đen. Sâu non thường sống ở đọt và mặt dưới lá non, nhả tơ cuốn lá non lại ở bên trong đó cắn đọt và lá, khi có quả non sâu gặm quả làm vỏ sần sùi loang lổ.

* Thời gian xuất hiện: Sâu phát sinh gây hại từ khi cây dưa còn nhỏ đến khi có quả, nhiều nhất là khi cây bắt đầu ra hoa và có quả non.

* Phòng trị:

Thu dọn tàn dư cây dưa sau khi thu hoạch.

Bắt giết sâu non và nhộng.

4.2.2. Bọ trĩ trên cây dưa leo

* Đặc tính: Khi trưởng thành hình dạng dài, màu vàng nhạt. Đẻ trứng (trứng đơn) trên gân lá, sâu non và trưởng thành đều hút chất nhựa từ lá, gân lá làm lá chuyển thành màu nâu vàng và cuộn lại. Mật độ bọ trĩ cao làm cây cằn cỗi, chùn đọt, không vươn lóng, lá vàng và khô, hoa rụng, quả ít và nhỏ.

* Thời gian xuất hiện: Trong suốt mùa vụ trồng. Bọ trĩ phát triển nhanh trong điều kiện thời tiết nóng và khô.

* Phòng trị: Kiểm tra 100 cây/1.000m 2 theo 5 điểm chéo góc và trên 1 dây kiểm tra 5 lá từ đọt cây nếu phát hiện bọ trĩ trung bình lớn hơn 2 con/1 lá, phải phun thuốc phòng trị (theo Bảng 2).

4.2.3. Bọ dưa trên cây dưa leo

* Đặc tính: Trưởng thành là loài ruồi nhỏ, màu đen, có vệt vàng trên ngực. Ấu trùng là dòi có màu vàng nhạt, mình dẹt, đục dưới lớp biểu bì thành những đường vòng vèo màu trắng, có thể nhìn thấy con dòi và phân của chúng trong các đường đục. Nhiều vết đục sẽ làm lá bị cháy khô, cây sinh trưởng kém và mau tàn lụi, quả ít và nhỏ.

* Thời gian xuất hiện: Khi cây có 1 – 2 lá thật, đến khi cây tàn.

* Phòng trị:

Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, vượt qua tác hại của dòi.

Ngắt bỏ những lá bị dòi hại nặng.

Phun thuốc trừ sớm khi dòi phát sinh gây hại (lưu ý dòi đục lá có nhiều loại ong ký sinh gây hại nên điều tra mật độ và tỷ lệ lá bị hại trước khi phun thuốc).

4.2.5. Rệp muội (rầy mềm) trên cây dưa leo

* Đặc tính: Cả rệp trưởng thành và rệp non đều rất nhỏ, hình quả lê, mềm. Màu sắc thay đổi từ vàng nhạt đến xanh thẫm hoặc xanh đen tuỳ theo mùa (mùa đông màu thẫm, mùa hè màu nhạt). Rệp trưởng thành có 2 loài có cánh và không cánh. Rệp chích hút nhựa làm cho dây dưa chùn đọt, sinh trưởng kém, lá vàng, mật độ rệp cao có thể làm khô lá. Rầy mềm còn lá môi giới lan truyền bệnh khảm virus cho cây dưa.

* Thời gian xuất hiện: Khi cây có 2 – 3 lá thật.

* Phòng trị:

Giết rệp bằng tay hoặc ngắt bỏ các lá bị rệp tấn công.

Khi mật độ rệp cao ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất dưa dùng thuốc phun trừ.

4.2.6. Sâu khoang (sâu ăn tạp) trên cây dưa leo

* Đặc tính: Bướm đẻ trứng trên lá, cành và gân lá thành từng ổ bằng hạt đậu, có lông tơ bao phủ màu vàng rơm. Khi mới nở sâu gây hại tại chổ ăn lá, gân lá; khi lớn sâu sẽ phân tán, ăn mọi bộ phận của cây và tàn phá nhanh chóng. Sâu phá hại mạnh vào ban đêm, ban ngày ẩn trong đám lá, bụi cỏ hoặc trong đất. Sâu làm nhộng trong đất.

* Thời gian xuất hiện: Trong suốt mùa vụ trồng.

* Phòng trị:

Gom trứng và sâu tiêu huỷ.

Kiểm tra trứng và sâu trên 100 cây/1.000 m2 mỗi 5 – 7 ngày, nếu có trung bình 1 ổ trứng hoặc 1 – 2 con/cây, phải phun thuốc phòng trị (theo bảng 2).

4.2.7. Nhện đỏ trên cây dưa leo

* Đặc tính: Nhện đỏ chuyên sống và gây hại ở mặt dưới lá, trứng hình tròn, màu vàng nhạt, rất nhỏ, trứng được đẻ ớ mặt dưới lá. Con trưởng thành dài cỡ 0,5 mm, màu đỏ nâu, có 8 chân. Con non nhỏ hơn, cũng có màu đỏ nâu có 6 chân. Nhện non và trưởng thành chích hút lá tạo ra những đốm lá trắng vàng.

* Thời gian xuất hiện: Trong suốt giai đoạn sinh trưởng của cây.

* Phòng trị:

Bón phân tưới nước đầy đủ cho cây sinh trưởng tốt.

Khi nhện phát triển gây hại không để ruộng khô hạn, dùng các thuốc đặc trị nhện.

4.3. Cỏ dại mọc ở vườn cây dưa leo

4.3.1. Loại cỏ dại

* Cỏ dại hàng niên: Loại cỏ dại có chu kỳ sống ngắn trong 1 mùa vụ hầu hết tăng trưởng bởi hạt

Cỏ lá hẹp: cỏ chỉ, mần trầu…

Cỏ lá rộng: dền, đuôi chồn, màng màng…

Cỏ cói lác: cỏ cú, lác…

* Cỏ dại đa niên: Thường tăng trưởng bằng cây, cây con mọc từ thân cây mẹ tăng trưởng mạnh hơn cây mọc từ hạt.

4.3.2. Phòng trị cỏ dại

Làm (cày) vỡ đất, phơi nắng từ 7 – 14 ngày và sau đó bừa cho đất tơi 1 – 2 lần.

Gom cây và rễ cỏ trong khu vực trồng.

Diệt cỏ dại bằng tay hoặc bằng máy khi cỏ còn nhỏ chưa ra hoa.

5. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) an toàn và hiệu quả

5.1. Mục tiêu của việc dùng thuốc BVTV trên đồng ruộng

* Phát huy tác dụng tích cực của thuốc BVTV trong việc đẩy lùi tác hại của dịch hại.

* Hạn chế tới mức thấp nhất tác dụng xấu của thuốc BVTV đến con người, cây trồng, sinh vật có ích và môi trường sống.

* Để đạt được mục tiêu trên, cần thực hiện hai điều cơ bản sau:

Thực hiện phương pháp phòng trừ tổng hợp đối với mọi loài dịch hại và cây trồng, chỉ dùng biện pháp hóa học (phun thuốc trừ dịch hại trên đồng ruộng) trong trường hợp đã thực hiện mọi biện pháp phòng trừ khác, nhưng dịch hại vẫn phát sinh phát triển với mức độ cao có thể gây tổn thất nặng đến năng suất và phẩm chất nông sản.

Đảm bảo sử dụng thuốc BVTV đúng thuốc, đúng đối tượng, đúng liều lượng, đúng nồng độ, đúng thời gian, đúng phương pháp và phạm vi cho phép, đúng thời gian cách ly; đảm bảo an toàn cho người, cây trồng, vật nuôi, vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường (Điều 21, Điều lệ Quản lý thuốc BVTV).

5.2. Kỹ thuật 4 đúng trong việc dùng thuốc BVTV

5.2.1. Đúng thuốc

* Thực hiện đúng các quy định đối với thuốc hạn chế sử dụng.

5.2.2. Đúng liều lượng và nồng độ

* Liều lượng là lượng thuốc và nước cần dùng trên 1 đơn vị diện tích (…. lít, kg /ha) và nồng độ là độ pha loãng của thuốc trong nước để phun.

* Cần tuân thủ theo đúng liều lượng và nồng độ quy định trên nhãn thuốc để đảm bảo thuốc trang trãi đều và tiếp xúc với dịch hại nhiều nhất, hiệu quả phòng trừ sẽ cao.

* Không sử dụng giảm liều hoặc tăng liều sẽ làm tăng tính kháng thuốc của sinh vật hại. Tăng liều sẽ làm ngộ độc cho cây trồng, con người và ô nhiễm môi trường.

5.2.3. Đúng lúc

* Nên sử dụng thuốc khi sinh vật hại phát triển tới mức cần phòng trừ, khi sâu còn nhỏ, bệnh mới chớm phát.

* Không phun thuốc khi trời nắng nóng, sắp mưa, gió to, khi cây đang nở hoa thụ phấn.

* Cần giữ đúng thời gian cách ly ghi trên nhãn thuốc để đảm bảo không còn dư lượng thuốc trên nông sản khi thu hoạch.

5.2.4. Đúng cách

* Cần phun rãi đều và đúng vào vị trí sinh vật tập trung gây hại. Không phun ngược chiều gió. Sử dụng đúng hướng dẫn theo dạng chế phẩm, thuốc hạt dùng để rải không hoà vào nước phun.

* Khi hỗn hợp các loại thuốc cần chú ý theo quy định trên nhãn thuốc, giữ đúng nồng độ mỗi loại thuốc và không hỗn hợp thuốc cùng nhóm hoặc không được phép hỗn hợp.

* Cần luân phiên thay đổi loại thuốc khác nhóm giữa các lần phun để ngăn ngừa tính kháng thuốc của sinh vật hại, giữ được hiệu quả lâu dài của thuốc BVTV.

6. Thu hoạch trái dưa leo

6.1. Giai đoạn thu hoạch thích hợp

Thu hoạch khi trái vừa đạt độ chín sinh lý (5 – 7 ngày tuổi), vẫn còn màu phấn trắng ở trên trái, trái cỡ 15 – 25 cm tuỳ giống, thu hoạch vào buổi sáng. Nếu để trái quá già sẽ ảnh hưởng đến sự ra hoa và đậu quả của những lứa sau Phương pháp thu hoạch

6.2. Phương pháp thu hoạch

* Trang bị đồ bảo hộ lao động, găng tay cao su.

* Sử dụng dao nhọn cắt trái có cuống không quá 1 cm, và giữ trong giỏ/thùng sạch, không được để trái dưa xuống đất.

* Thùng/giỏ chứa không quá 10 kg trọng lượng trái.

6.3. Tiêu chuẩn chất lượng trái

* Trái non, tươi, màu xanh nhạt đến đậm, trái còn phấn trắng, cứng, dài 15 – 25 cm cho dùng tươi và trữ lạnh.

* Không có bệnh, côn trùng và những chất không tốt trên bề mặt trái.

7. Sơ chế bảo quản trái dưa leo sau thu hoạch

7.1. Bảo quản – đóng gói sản phẩm

* Bảo quản nơi thoáng mát, không có ánh sáng mặt trời

* Lựa chọn trái có chất lượng tốt để bán

* Đóng gói trong bao lưới hoặc bao nylon có lỗ thông hơi, 0,5 – 1 kg trái/bao.

* Khu vực đóng gói phải xa khu sản phẩm phế thải để tránh lây lan dịch bệnh trên sản phẩm sau thu hoạch.

7.2. Vận chuyển

* Chuẩn bị thị trường và vận chuyển trước khi thu hoạch

* Sử dụng xe và bao bì đóng gói sạch

* Trái dưa cần được bảo vệ trong quá trình vận chuyển nhằm đảm bảo chỉ tiêu về chất lượng và hình thức của rau an toàn.

* Sản phẩm được đóng gói tại nơi thu hoạch.

8. Ghi chép dữ liệu

* Người trồng trọt phải ghi chép dữ liệu trong mỗi bước sản xuất để dễ dàng kiểm tra và giải quyết khi có sự cố xảy ra.

* Môi trường ví dụ nhiệt độ, độ ẩm, nước mưa, tần số mưa.

* Tên giống, ngày gieo trồng, ngày tỉa cây yếu.

* Ngày bón phân, loại phân (hoá học, hữu cơ…).

* Ngày thu hoạch, chi phí, sản lượng, thu nhập.

* Những sự cố, vấn đề xảy ra trong suốt quá trình trồng, thu hoạch, vận chuyển.

Bảng 1. Hướng dẫn sử dụng hoá chất để phòng trừ bệnh

Bảng 2. Hướng dẫn sử dụng chất sinh học và hoá chất để phòng trừ sâu

Lưu ý: Đây là tên hoạt chất rất có nhiều tên thương mại trên thị trường

Phòng TT-BVTV

Từ khóa: hướng dẫn kỹ thuật trồng cây dưa leo, cách trồng cây dưa leo, mô hình trồng cây dưa leo đem lại hiệu quả kinh tế cao, mua bán hạt giống cây dưa leo, cung cấp hạt giống cây dưa leo, thu mua trái dưa leo, cơ sở sản xuất dưa leo

TIN TỨC KHÁC :

Kỹ Thuật Trồng Dưa Leo Năng Suất Cao

Đặc điểm năng suất rất cao, kháng chủ yếu một số bệnh, trái thường khá to, màu sắc và hình dạng khác nhau. Giống F1 không để nhân giống được cho vụ sau. Mummy 331 : Thân lá to, thời gian sinh trưởng 60 – 70 ngày, cây cao 2 – 2,5m, mỗi mắt cho một hoa cái, trái hơi nhỏ, màu xanh vàng, năng suất 3 – 4 tấn/công. Kháng khá được bệnh hoa lá,mốc sương. Happy 02 : Thân lá rất to, cây cao 2 – 2,5m, ít phân nhánh, mỗi nách cho một hoa cái, trái to màu xanh sậm,năng suất 3 – 4 tấn/công, kháng được bệnh đốm phấn, hoa lá.

Mùa vụ : Dưa leo ở Bến Tre trồng được quanh năm. Tuy nhiên khi trồng nông dân tập trung vào 3 vụ chính là HT gieo tháng 5 – 6 DL, thu hoạch tháng 7 – 8 DL, ĐX gieo trồng tháng 10 -11DL, thu hoạch tháng 12 -1 DL, vụ xuân hè gieo trồng tháng 1 – 2 DL, thu hoạch tháng 3 – 4 DL.

Mật độ 4000 – 5000 dây/công, khoảng cách trồng 0,8 – 0,9m x 0,3 – 0,4 m, hai dây/hốc. Lượng giống cần cho 1 công đất cần từ 60 -100 gr hạt.

Đất trồng phải cao ráo, gần nguồn nước tưới sạch sẽ, ít nhiễm phèn, mặn pH : 5 – 7, mặn < 2 phần nghìn, thoát nước tốt trong mùa mưa.

Làm đất : Đất cuốc phơi ải 7 – 10 ngày kết hợp rải vôi 30 -50kg/công,tưới Penac P, lượm sạch cỏ dại.

Lên liếp tùy theo mùa vụ, địa hình. Cao 20 – 40cm x rộng 0,8 – 1,2m, giữa hai líp có rãnh rộng 30 – 40cm.

Hạt phơi nắng vài giờ, cho hạt vào tô nước ấm + thuốc ngừa bệnh Aliette, Rovral + 1/4 viên thuốc tím (KMnO4), phơi nắng trong 30 phút, cho vào túi vải bao lại để chỗ mát trong 24 giờ, kế đó xả nước đem gieo.

Gieo vào các hốc đã làm sẵn, hàng cách hàng 80 – 90 cm x hốc cách nhau 30 – 40 cm, gieo 2-3 hạt/hốc, độ sâu gieo hạt 3-5cm, tưới nước tủ rơm. Cần gieo 5% bầu để dặm các lỗ bị chết.

Phân bón lượng phân cần 1 công đất như sau: Phân hữu cơ hoai 15 – 20 thúng + 25 – 30 kg urê + 20 – 25kg Super lân +15 – 20 kg KCl + 10 -15 kg DAP + 5 – 10 thúng tro trấu. (xem bảng)

Chú ý: Bón lót toàn bộ phân hữu cơ trộn phân vô cơ (theo liều lượng như trên bảng 1) + 1kg Borat + 1 – 2kg Basudin, trộn xong bón từng hốc, khi gieo hạt xong lấp tro trấu. Phân (DAP + phân vi lượng) tưới xen kẽ các lần bón phân bảng trên do dưa leo rất mẫn cảm với phân, nên bón nhiều lần mỗi lần một ít, bằng cách tưới gốc. Tỉa dặm: Sau khi gieo 4 – 5 ngày cây con có 2 lá mầm, tiến hành trồng dặm những hốc không mọc, khi cây con được 10 – 12 ngày tuổi tỉa để lại mỗi hốc 1 – 2 cây.

Kết hợp đợt bón thúc lần 2, lúc cây vừa bỏ vòi ngả ngọn bò nên làm cỏ, vun gốc, tủ rơm giữ ẩm. Tưới nước : Lúc nhỏ tưới nước 1 – 2 lần/ngày, cây lớn tưới nước 1 -2 ngày /lần (độ ẩm 75 – 85%), thường tưới sáng sớm hoặc chiều mát. Lúc cây cần nước là thời kỳ cây con và ra hoa cho trái. Làm giàn: Chiều cao giàn từ 2 – 2,5m thay đổi tùy giống, hình dạng chữ V ngược, chữ X hoặc chữ U ngược.Vật liệu là chà hay làm khung căng dây nilon.

Phủ bạt là tiến bộ kỹ thuật trong việc trồng dưa leo vì nó làm tăng năng suất từ 15 – 30%, khi phủ ta lật mặt sáng lên trên, tạo lỗ bằng cách dùng lon chứa than nóng có tay cầm từng lỗ theo khoảng cách quy định, lúc cây còn nhỏ nên tủ rơm tưới nước để cây ổn định nhiệt.

Hệ thống tưới nhỏ giọt rất hữu hiệu vì nó tiết kiệm được lượng nước, phân bón, công lao động, gồm lu chứa nước đặt trên giá đỡ, cao từ 1-1,2 m, đục lỗ dưới đáy, gắn ống có van khóa mở, tạo thành hệ thống tưới gồm một ống chính (phi 40), nhiều ống phụ (phi 21), dẫn ống phân bổ nước đến các cây trồng, bằng lỗ đục nhỏ.

Thụ phấn dưa leo trên cùng cây dưa có cả hoa đực và hoa cái, do thụ phấn nhờ côn trùng nhưng côn trùng ngày một ít đi nên ta cần thụ phấn bổ sung cho cây, sáng sớm tìm hoa đực hái úp lên nụ hoa cái, nhử côn trùng bằng sữa (50gr/10 lít nước) phun lên hoa, TĐQ40, Vipac88, kết hợp đủ phân nước sẽ làm tăng đậu quả tối đa, tạo hoa cái bằng cách bấm đọt hoặc bằng phun chất Dikali, Ethell ; tạo hoa đực bằng cách tỉa lá mạnh tay, bón nhiều phân đạm, hoặc phun hóa chất lục diệp tố, GA3. Chú ý phòng trừ sâu bệnh kịp thời.

Ở điều kiện nhiệt đới và Á nhiệt đới, dưa leo ra hoa lúc 35 – 45 ngày sau gieo; thu hoạch lúc 45 – 55 ngày. Mật độ trồng 33000 tới 54450 cây/ha. Cây ưa đất thoát nước tốt, không mặn, thích ứng với nhiều loại đất, nhưng cho thu hoạch sớm trên đất cát. Nhìn chung dưa chuột là cây trồng có tưới. Năng suất thương phẩm trong điều kiện sản xuất hàng hóa là 13 – 30 tấn/ ha.

Dưa leo rất mẫn cảm với sự thiếu Magie; bón Đồng và Mangan cho dưa leo rất có hiệu quả.

Khuyến cáo sử dụng phân bón.

Một số nước khuyến cáo sử dụng phân bón cho cây dưa leo như sau:

Senegal: Trên đất cát nhẹ ở vùng bán khô hạn bón 20T/ha phân hữu cơ, 130 kg/ha N, 95 kg/ha P2O5, và 200 kg/ha K2O. Trước khi gieo rải toàn bộ lượng phân hữu cơ và lân và 1/3 lượng N và Kali. Số còn lại bón làm 2 lần bằng nhau vào lúc 30 và 50 ngày.

Brazil: Lượng phân khuyến cáo chung là: Lần thứ nhất bón 50 kg N, 200 kg/ha P2O5 và 150 kg/ha K2O vùi vào đất lúc gieo; tiếp theo 50 kg/ha N và 50 kg/ha K2O bón rải làm 2 lần lúc 15 và 30 ngày sau gieo. Năng suất cao hơn sẽ đạt được bằng cách bón vùi 20 T/ha phân hữu cơ vào lúc 2 tuần trước gieo.

Philippines: Trong mùa khô bón 120 kg/ha N, 120 kg/ha P2O5 và 120 kg/ha K2O. Một phần ba số phân trên được bón theo băng vào lúc gieo. Khi dây dài chừng 1 m bón theo rạch cạnh hàng 1/3 số phân tiếp theo. 1/ 3 số phân còn lại cũng bón theo rạch lúc quả đầu tiên to chừng bằng quả trứng gà.

Ấn Độ: Trên đất thịt pha cát, với pH = 6,5 và hàm lượng Bo chừng 0,58 ppm dùng 80 kg/ha N, 45 kg/ha P2O5, 85 kg/ha K2O và dung dịch 0.25 % Na2B4O7.10 H2O. Bón toàn bộ lượng đạm, lân và Kali lúc gieo. Phun dung dịch chứa Bo 0.25 % nói trên lúc 6 lá và lúc xuất hiện chồi hoa.

Sử dụng phân NPK

Chọn phân bón cho dưa leo theo tỷ lệ NPK chừng 1:1:2 là được. Ngoài lượng phân chuồng khoảng 20-30 tấn/ ha thì số phân khoáng cần bón khoảng 100 kg N + 100 kg P2O5 + 200 kg K2O. Có thể chọn loại phân NPK 6-6-12; 3-5-7, hoặc dùng những loại phân có hàm lượng Kali cao để bón như 11.7.14; 11.11.22; 15.15.20; 20.7.25 v.v.. để bón.

Cách thứ nhất – Bón 1 loại phân: Dùng 1500 kg NPK 6-6-12 hay 3000 kg NPK 3-5-7 bón làm 3 lần. Lần 1 bón lót 1/3 lượng phân theo hàng trước khi trồng. Lần 2 bón 1/3 lúc cây cao chừng 1 m (hoặc 15 ngày sau trồng). Lần 3 bón 1/3 lượng phân còn lại lúc cây có quả đầu tiên lớn bằng quả trứng (hay 30 ngày sau trồng)

Cách thứ 2 – Bón phối hợp:

Bón lót 100 kg DAP + 200 kg KCl.

Thúc lần 1 lúc 15 ngày sau gieo 500 kg NPK 6-6-12 hoặc 250 kg 11-7-14 hoặc các loại phân có hàm lượng NPK tương tự, sao cho số lượng N đạt khoảng 30 kg/ ha.

Thúc lần 2 lúc 30 ngày sau gieo 150 kg NPK 20-10-5 hoặc các loại phân có hàm lượng NPK tương tự, sao cho lượng N đạt khoảng 30 kg/ h

Nguồn: sưu tầm