Top 16 # Xem Nhiều Nhất Xem Kỹ Thuật Trồng Cam / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Vitagrowthheight.com

Kỹ Thuật Trồng Cam Quýt / 2023

Cam quýt có thể trồng được trên nhiều loại đất như đất phù sa ven sông, đất đồi, đất phù sa cổ, đất thung lũng ở các vùng núi.

Chọn đất trồng cam quýt: Cam quýt có thể trồng được trên nhiều loại đất như đất phù sa ven sông, đất đồi, đất phù sa cổ, đất thung lũng ở các vùng núi… Các loại đất trên có tầng dày 80cm, thoát nước (nhẹ và xốp), mực nước ngầm dưới 1m, độ pH từ 5,5-7, độ dốc không quá 20-25%.

Cần có biện pháp chống xói mòn, bằng trồng cây che phủ giữa hàng (cỏ mềm, lạc hoặc một số cây họ đậu…).

Thời vụ trồng: ở các tỉnh phía Bắc, thời vụ trồng cam quýt là mùa xuân và mùa thu, nhưng tốt nhất là trồng vào mùa xuân, khi có mưa xuân tỷ lệ cây sống cao.

Nhu cầu về nước: ở các tỉnh miền núi phía Bắc, lượng mưa trung bình khá lớn 1500-2000mm, nhưng tập trung chủ yếu vào các tháng mùa hè và mùa thu, do vậy, cần có biện pháp chống úng cho cây vào mùa mưa. Giai đoạn khô nhất trong năm lại trùng với giai đoạn ngủ nghỉ của cây, chuẩn bị cho sự phát triển của mầm hoa. Tuy nhiên, những năm khô hạn, cần tưới nước vào những thời điểm sau:

– Giai đoạn phát lộc xuân đến giai đoạn quả nhỏ;

– Giai đoạn quả đang lớn đến trước thu hoạch 1 tháng;

– Sau các đợt bón phân.

Chắn gió: Cần có hàng rào cây chắn gió bảo vệ cây để giảm thiệt hại về cơ giới và đảm bảo cho cây phát triển tốt. Hàng cây chắn gió còn có tác dụng hạn chế sự xâm nhập của sâu hại và lây lan của bệnh hại.

Phân bón:

Bón lót: Nhằm cung cấp lượng dinh dưỡng gồm các nguyên tố đa lượng (N, P, K, Ca), vi lượng (Cu, Zn, Mn, Mg…) cho đất trước khi trồng cây để cây sinh trưởng tốt.N: Đạm urê (45% N);P: Supe photphat (17% P205);K: Kali (63% K)

Tuổi cây

Liều lượng (gam thương phẩm/cây)

1 năm

Bón 2 tháng 1 lần, mỗi lần P = 150g; N = 35g và K = 20g

2 năm

Bón 2 tháng 1 lần, mỗi lần P = 300g; N = 70g và K = 40g

Cây trong thời kỳ kinh doanh

Trước khi ra hoa

Mầm hoa

Quả lớn

Bón duy trì: Nhằm đảm bảo độ phì cho đất và dinh dưỡng cho cây. Lượng phân bón tăng dần theo tuổi cây và căn cứ vào năng suất quả. Thời kỳ bón là giai đoạn cây có nhu cầu dinh dưỡng cao nhất.

Phân bón sâu vào đất bằng cách cuốc các rãnh nhỏ xung quanh tán cây, sau đó lấp nhẹ một lớp đất.

Làm cỏ, xới xáo: Xung quanh gốc vùng dưới tán cây phải luôn sạch sẽ, để hạn chế sự cạnh tranh dinh dưỡng và nước của cỏ với cây và giúp cho cây phát triển tốt. Có thể làm cỏ bằng tay, xới xáo nhẹ bằng dầm hoặc dùng thuốc trừ cỏ. Cũng có thể dùng rơm, rạ phủ xung quanh gốc để hạn chế cỏ mọc và giữ ẩm cho đất. Thời kỳ cây chưa khép tán, có thể trồng xen một số cây họ đậu giữa các hàng, hoặc duy trì cỏ ở độ cao 10cm so với mặt đất để tránh xói mòn.

Đốn tỉa:

Tác dụng: Nhằm điều chỉnh sinh trưởng của cây, tạo cây thông thoáng, đủ ánh sáng, cây sinh trưởng và phát triển tốt, hạn chế sâu bệnh, ra hoa đậu quả đều, cho năng suất và chất lượng quả cao.

Đốn tạo hình: Thực hiện ngay trong 2 năm đầu sau khi trồng. Vào lúc trồng hoặc sau khi trồng một thời gian, tiến hành cắt ngọn thân chính ở độ cao 70-80cm. Sau khi đốn lần 1, cây bị kích thích sẽ cho ra những mầm mới phát triển, chọn giữ lại 3-4 mầm phân bố đều xung quanh cây để tạo bộ khung chính cho cây.

Đốn duy trì: Đốn dọn cho cây thông thoáng, cắt bỏ những cành khô, cành tăm, cành bị sâu bệnh, cành gãy, cành tược của gốc ghép, tạo điều kiện để lá cây tiếp xúc với ánh sáng. Đây không phải là đốn tạo quả vì đối với cam quýt là không cần thiết.

Bộ môn cây Ăn Quả -Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội

Kỹ Thuật Trồng Cam, Quýt / 2023

I. GIỚI THIỆU CHUNG

– Cây có múi cam, quýt, bưởi: Phát triển ở nhiệt độ từ 13-39oC, thích hợp nhất từ 23-29oC. Nhiệt độ có ảnh hưởng đến phẩm chất và phát triển của trái, ở đồng bằng sông Cửu Long do có nhiệt độ cao và ẩm độ thấp nên trái thường chín sớm, vị ngọt, nhưng vỏ có màu sắc không đẹp.

– Về lượng mưa: Lượng mưa thích hợp khoảng 1000-2000 mm/năm và phân bố đều trong năm.

– Ánh sáng: Cam quýt thích hợp ánh sáng tán xạ, không thích ánh sáng trực tiếp.

– Đất đai: Đất có tầng đất canh tác sâu từ 0,5-1m, thoát nước tốt, đất màu mỡ, độ pH từ 5-7 là thích hợp.

II. GIỚI THIỆU VỀ GIỐNG

Cây cam, quýt, bưởi thuộc nhóm cây có múi, có nguồn gốc ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam, cây cam, quýt được trồng nhiều ở miền Bắc và ở Nam Bộ như Vĩnh Long, Bến Tre, Tiền Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp. Một số giống được trồng phổ biến điển hình là:

1. Giống cam sành

Là giống lai giữa cam ngọt và quýt, dạng trái hình cầu, vỏ trái dày sần sùi (4mm), khi chín có màu vàng, khá nhiều nước, ngon ngọt, nhiều hạt (10-15 hạt/trái) trọng lượng trung bình 200-250gam/quả. Hiện giống này được trồng nhiều ở huyện Tam Bình (Vĩnh Long), huyện Châu Thành và Chợ Lách (Bến Tre), tỉnh Tiền Giang và Cần Thơ.

2. Giống cam mật

Dạng trái tròn, vỏ dày 3-4 mm, có màu xanh đến xanh vàng, thịt trái màu vàng cam, ngọt đậm đà, nhiều nước, có nhiều hạt hơn cam sành (15-20 hạt.quả). Giống cam này được trồng nhiều ở Cần Thơ.

3. Giống quýt tiều

Dạng trái tròn, dẹp hai đầu, dễ bóc vỏ, thịt màu cam hoặc vàng cam, khá ráo nước, ngọt có pha vị chua, hạt nhiều (12-15 hạt/quả). Trọng lượng quả trung bình 140-190 gam/quả. Giống này được trồng nhiều tại huyện Lai Vung (Đồng Tháp), huyện Ô Môn (Cần Thơ) và huyện Bình Minh (Vĩnh Long).

4. Giống quýt đường

Dạng trái hình cầu, vỏ mỏng (dày 2mm) màu xanh đến xanh vàng, vỏ dễ bóc, thịt trái màu cam, ngọt đậm quả nhiều nước, hạt nhiều (7-11 hạt/trái), trọng lượng trái trung bình 123-200gam/quả. Giống này được trồng nhiều ở Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre.

5. Giống bưởi năm roi

Xuất xứ từ huyện Bình Minh (Vĩnh Long) cây được nhân giống bằng hạt, sau đó được chiết ra để trồng khắp vùng trong huyện, dạng quả hình cầu, vỏ khi chín có màu vàng, dễ bóc vỏ, vỏ dày 18mm, tép có vị ngọt, không hạt. Quả có trọng lượng trung bình 1,2 kg/quả, tỷ lệ thịt 53,5%. Giống này được trồng nhiều và tập trung ở huyện Bình Minh (Vĩnh Long) huyện Châu Thành và Ô Môn (Cần Thơ) và rải rác ở các huyện Miền Tây.

6. Giống bưởi đường lá cam

Có nguồn gốc ở Biên Hoà (Đồng Nai) dạng quả hình cầu, vỏ màu vàng xanh đẹp, thịt quả nhiều hơn bưởi Năm roi (tỷ lệ 60%) phẩm chất ngon, có vị ngọt, vỏ mỏng hơn bưởi Năm roi (dày10mm). Đây là giống chủ lực trồng ở các vùng miền Đông Nam Bộ như ở Vĩnh Cửu (Đồng Nai), Tân Uyên (Bình Dương).

7. Bưởi Da xanh

Có nguồn gốc từ cây trồng hạt, tại xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến tre. Tên gọi Da xanh xuất phát từ đặc tính của quả khi chín vẫn giữ màu xanh. Cây có khả năng cho trái sau 2,5-3,5 năm trồng bằng cây chiết hoặc cây ghép nếu được chăm sóc tốt.

Thời gian từ ra hoa đến thu hoạch trái khoảng 7-7,5 tháng. Năng suất khá cao, trên 100 trái/cây/năm đối với cây khoảng từ 14 năm tuổi, và khá ổn định.

Trái có trọng lượng khá to 1500 g/trái, dạng hình quả cầu, vỏ trái màu xanh đến xanh vàng khi chín và dễ lột, con tép màu hồng đỏ, bó chặt và dễ tách khỏi vách múi, nước quả khá, vị ngọt chua (brix 9,5-12%), tỉ lệ thịt quả trên trên 55%, mùi thơm và nhiều hạt (10-30 hạt/trái).

III. KỸ THUẬT CANH TÁC

A. Phương pháp nhân giống

Có 2 phương pháp chính thông dụng hiện nay là:

1. Chiết cành

Chọn cây mẹ có năng suất cao, ổn định, không có triệu chứng bệnh greening hoặc phytophthora sp (quan sát bằng mắt). Chọn cành bánh tẻ (không già, không non), sinh trưởng tốt, vị trí ở ngoài trảng.

2. Ghép mắt

+ Gieo gốc ghép (hạt) khoảng 10-12 tháng có đường kính 1cm là tiến hành ghép được. Gốc ghép phải mọc thẳng, không dị dạng và sâu bệnh (hạt giống làm gốc ghép có thể là cam mật, cam 3 lá, volkameriana, citrange carrizo, quýt Cleopatra,…).

+ Chọn nhánh ghép: Chọn cây mẹ tốt, tương đối sạch bệnh, chọn nhánh mọc ngoài trảng, sau đó tách mắt ghép có kích thước vừa nhỏ hơn miệng ghép, chú ý không để mắt ghép bị dơ, dập bể.

Hiện nay, cam quýt thường được nhân giống bằng 2 phương pháp trên. Tuy nhiên một số bệnh như: Tristeza, greening, virus đều lây lan qua mắt ghép, cành chiết. Vì vậy, để cây giống được sạch bệnh và khỏe mạnh chúng ta cần phải sản xuất cây giống bằng phương pháp vi ghép đỉnh sinh trưởng (shoot tip-grafting)

3. Vi ghép

Là một kỹ thuật đòi hỏi sự chính xác, trong đó mắt ghép và gốc ghép đều được nhân lên trong ống nghiệm và thực hiện trong điều kiện vô trùng.

Sử dụng vi ghép cây con sau khi vi ghép hoàn toàn sạch bệnh.

B. Kỹ thuật trồng

1. Thời vụ

Có thể trồng quanh năm, nếu trồng trong mùa nắng phải đảm bảo chế độ tưới nước, thông thường ở Tây Nguyên có thể trồng vào tháng 6-7 là tốt nhất.

2. Khoảng cách

Cam nên trồng khoảng cách 4m x 4m, quýt với 4m x 5m, bưởi 5m x 5m.

3. Trồng cây chắn gió, che mát

Chắn gió có thể trồng xung quanh vườn, chú ý hướng gió chính, có thể trồng cây mít, keo lá tràm, keo lá to. Trồng cây che bóng vì cây cam quýt thích hợp ánh sáng tán xạ, có thể trồng muồng đen, so đũa v.v… ở giữa các hàng cây.

4. Làm cỏ, tủ gốc

Làm sạch cỏ để cỏ không tranh chấp dinh dưỡng với cây chính, sau đó để tủ đất giữ ẩm bởi vì đa số rễ của cam quýt mọc cạn.

5. Bón phân

Phân chuồng hoai mục trước khi trồng 10-15 kg/hốc. Sau khi trồng cứ 3 tháng tưới 1 lần phân urê pha nước (pha 40 gam phân trong thùng 8 lít nước).

* Năm thứ 2: Bón 200g urê, bón 500g lân, bón 50g Kaliclorua/cho 1cây/năm.

* Năm thứ 3: Bón 450g urê, bón 1kg phân lân, bón 170g Kaliclorua/1cây/năm.

* Năm thứ 4: Bón 900g urê, bón 1,5kg lân, bón 250g Kaliclorua/1cây/năm

* Năm thứ 5 trở đi bón:

– Trước khi ra hoa: Bón 1/5 đạm + 1/5 lân + 1/5 kali.

– Sau khi đậu quả: 1/5 đạm + 1/5 lân + 1/5 kali.

– Giai đoạn nuôi quả: 2/5 đạm + 1/5 lân.

– Trước khi thu hoạch 1 tháng bón 3/5 kali.

– Sau khi thu hoạch: Bón để phục hồi cây 1/5đạm và 2/5 lân.

* Cách bón:

Đánh rãnh xung quanh gốc theo hình chiếu của tán lá (cách gốc tối thiểu 0,5m). Bón phân trong rãnh cuốc xong lấp đất lại.

IV. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH

A. SÂU HẠI

1. Sâu vè bùa: Sâu đục dưới lớp biểu bì lá thành những đường ngoằn ngoèo. Sự phá hại của sâu làm cho lá co cúm, quăn queo, hạn chế quang hợp. Ngoài ra, các vết thương do sâu to nên trên lá, chồi tạo điều kiện cho bệnh loét phát triển.

Biện pháp phòng trừ: Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, thúc cho các đợt ra lộc tập trung, chóng thành thục có thể hạn chế được phá hại của sâu.

Bệnh nặng dùng các loại thuốc hoá học có tác dụng nội hấp để phun phòng trừ cho cam, quýt

2.  Rầy mềm: Thường chích hút nhựa ở đầu ngọn làm chồi và lá non không phát triển được, co rúm lại, đồng thời phân của chúng thải ra tạo điều kiện cho nấm bồ hóng cộng sinh và phát triển. Rầy mềm còn là môi giới truyền bệnh Tristeza trên cây có múi.

* Phòng trị: Phun thuốc phòng trừ rầy rệp trên cam, quýt vào các đợt lộc của cây.

3.  Rầy chổng cánh

* Tác hại của rầy chổng cánh

–  Là côn trùng truyền bệnh vàng lá greening trên cam, quýt.

– Trực tiếp gây hại bằng cách chích hút trên đọt non, làm đọt non bị chết.

– Gây hại trên tất cả các cây họ cam quýt như:

+ Cam: Cam mật, cam dây, cam sành, cam canh…

+ Quýt: Quýt đường, quýt tiều,…

+ Bưởi: Bưởi năm roi, Bưởi long, bưởi da xanh,…

+ Chanh: Chanh giấy, chanh tàu,…

– Di chuyển từ nơi này đến nơi khác chủ yếu nhờ gió

– Bị hấp dẫn bởi màu vàng và vàng nâu.

– Xuất hiện nhiều vào lúc cây ra đọt non.

*  Thiên địch của rầy chổng cánh

Rầy chổng cánh có thể bị hại bởi một số thiên địch ngoài tự nhiên như bọ rùa, ong ký sinh và nấm.

*  Phòng trừ rầy chổng cánh

– Không nên trồng các cây kiểng họ cam quýt gần vườn cam quýt, vườn ươm sản xuất cây giống.

– Trồng cây chắn gió xung quanh vườn để ngăn chặn rầy từ nơi khác bay đến.

– Cắt tỉa cành, điều khiển các đợt ra đọt non tập trung để xịt thuốc trừ rầy

– Thường xuyên thăm vườn để phát hiện ấu trùng và rầy trưởng thành để tiêu diệt kịp thời, nhất là những giai đoạn cây ra đọt non hoặc sau những cơn giông lớn.

– Nhổ bỏ những cây bị bệnh vàng lá trong vườn đem tiêu hủy để loại trừ nguồn bệnh lây lan sang những cây khỏe. Trước khi hủy, xịt thuốc để loại trừ rầy chổng cánh bay sang các cây khác lân cận.

– Bảo vệ các loài thiên địch phát triển bằng cách phun thuốc phòng trừ hợp lý.

– Phun thuốc:

4. Nhện đỏ

Cả ấu trùng và thành trùng đều rất nhỏ, màu nâu, vàng lợt hoặc trắng trong tùy loại, thường bu chích hút bên ngoài vỏ trái non khoảng 1-2 tháng tuổi, ít khi trái bị rụng nhưng thường làm cho vỏ trái sần sùi như cám, nên thường gọi là trái da cám, làm giảm giá trị thương phẩm.

Phòng trị: Phun các loại thuốc đặc trị nhện đỏ.

B. BỆNH HẠI

1. Bệnh loét: Do vi khuẩn gây hại. Ban đầu lá, trái cành đều bị nhiễm, dễ thấy nhất trên lá và trái. Vết bệnh lúc đầu nhỏ, sũng nước, màu xanh sậm, sau đó biến thành màu nâu nhạt, mọc nhô trên mặt lá hay vỏ trái, chung quanh vết bệnh trên lá có thể có quầng vàng.

Biện pháp phòng trị: Cắt bỏ, tiêu hủy những cành, lá bệnh, vệ sinh nghiêm ngặt kể cả quần áo công nhân làm vườn.

– Phun các loại thuốc gốc đồng như Copperzinc, Kasuran BTN (1,5-2%), hoặc Zineb 80 BHN (1/500-1/800) ở giai đoạn cây chờ đâm tược ra hoa và sau đó khi 2/3 hoa đã rụng cánh và tiếp tục phun định kỳ 2 tuần/lần cho đến khi trái chín.

– Xử lý hạt, mắt ghép trước bằng nước Javel hay nhiệt (nước: 5nóng:5 lạnh) trong 20 phút.

2.  Bệnh vàng lá Greening

Bệnh vàng lá greening do vi khuẩn gram âm sống trong mạch dẫn libe của cây, lây lan qua mắt ghép hoặc do rầy chổng cánh truyền qua. Vi khuẩn gây xáo trộn sinh lý, làm tắt nghẽn quá trình vận chuyển dinh dưỡng. Do đó làm thiệt hại đến năng suất, phẩm chất trái.

Triệu chứng:

Có thể phát hiện các triệu chứng ở bất kỳ thời điểm nào trong năm (ở vùng châu Á).

Triệu chứng điển hình của bệnh: Lá vàng lốm đốm (chứa nhiều vi khuẩn) song các triệu chứng đi kèm như vàng lá gân xanh (thiếu kẽm), vàng lá thiếu Mangan cũng dể dàng tìm thấy. Cần lưu ý gân lá vẫn xanh, trong khi nếu lá vàng gân vàng thì lại điển hình hơn của bệnh do nấm Phytophthora.

Trung gian truyền bệnh: Côn trùng truyền bệnh vàng lá Greening là rầy chổng cánh Diaphorina citri, Kuwayama hút và truyền vi khuẩn từ cây này sang cây khác.

Phòng trị:

Không có thuốc trị bệnh mà chỉ có thể sử dụng tổng hợp nhiều biện pháp đồng bộ và có tính cách rộng rãi trong vùng mới có hiệu quả cao.

– Loại bỏ cây đã nhiễm bệnh, cây ký chủ của rầy.

– Trồng cây giống sạch bệnh, cách ly nguồn nhiễm bệnh, nên trồng thưa và có cây chắn gió bảo vệ trong và ngoài.

– Sử dụng thuốc hóa học phun định kỳ bảo vệ các đợt lá non, nhất là vào mùa xuân, hay đầu mùa mưa, vì rầy luôn chọn các đọt non để đẻ trứng.

3. Bệnh thối gốc, chảy nhựa

Do nấm Phytopthora sp gây ra. Lúc đầu bệnh làm vỏ của thân cây ở vùng gốc bị úng nước, thối nâu thành những vùng bất dạng, sau đó khô, nứt dọc, chảy mủ hôi. Cây bệnh ít rễ mảnh, rể ngắn, vỏ rễ thối rất dễ tuột, nhất là ở các rễ con, lá bị vàng. Nấm gây bệnh này cũng làm thối trái, nhất là trái ở gần mặt đất và ở các vườn trồng dày.

Phòng trừ: Chọn gốc ghép chống chịu bệnh như cam ba lá, cam chua,…đất trồng phải ráo, tránh gây thương tích vùng gốc và rễ. Theo dõi phát hiện bệnh sớm, cạo sạch vùng bệnh, bôi dung dịch thuốc tím 1% hay bằng các loại thuốc như Captan 75 BTN, Aliette 80 BHN, Copper Zinc, chúng tôi gom, rải vôi và vệ sinh sạch vườn cam quýt là biện pháp quan trọng để hạn chế sự lây lan.

V. THU HOẠCH  & BẢO QUẢN

Cam, quýt từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 8-10 tháng, tùy theo giống, thời gian thu hoạch phải khô ráo, không nên thu trái sau mưa hoặc có sương mù nhiều. Trái thu xong cần dể nơi thoáng mát, không nên tồn trữ quá 15 ngày sẽ giảm giá trị thương phẩm.

HN

Kỹ Thuật Trồng Cam Cara Cara / 2023

Cam Cara Cara là một giống cây có múi nhập nội, được nhiều nhà vườn quan tâm trong thời gian gần đây. Báo Khoa Học Phổ Thông đã tìm hiểu về việc đưa giống vào Việt Nam cũng như triển vọng phát triển của cam Cara Cara nhằm cung cấp cho các nhà vườn những thông tin cần thiết.

Theo Viện di truyền nông nghiệp (Bộ NN & PTNT), cam Navel là giống cam ngọt đã được trồng rộng rãi ở các vùng cận nhiệt đới, đặc biệt là Mỹ, Brasil, Bắc Phi, Địa Trung Hải từ nhiều thập niên qua. Gần đây Trung Quốc cũng chú trọng phát triển giống cam Navel. Cam Navel có cỡ trái to, dạng trái hình cầu hơi xổm, vỏ dày, khi chín có màu vỏ vàng cam đậm và bóng, mẫu mã rất đẹp. Cam Navel không hạt (0 – 2 hạt), tép đều và sắp xếp đẹp. Từ giống gốc cam Navel, bằng kỹ thuật đột biến các nhà chọn giống đã chọn tạo được một số cá thể có đặc tính ưu việt hơn nhưng vẫn giữ nguyên những đặc tính quý của giống gốc.

Một trong những giống được chọn có tên là giống Cara Cara Navel. Cara Cara Navel được chọn tạo từ một dòng đột biến của giống cam Navel thương mại có tên Washington Navel xuất xứ từ Venezuela. Ở Mỹ và các nước trong khu vực, Cara Cara Navel cho thu hoạch muộn so với cam Hamlin và Valencia – hai giống cam ngọt phổ biến. Giống Cara Cara Navel mang tất cả các đặc điểm chung của giống Navel nhưng khác với các giống Navel khác ở đặc điểm thịt và nước trái có màu đỏ do trong thành phần có chứa hàm lượng lycopen cao.

Năm 2001 Viện di truyền nông nghiệp phối hợp với Nông trường 3/2 Phủ Quỳ – Nghệ An, Nông trường Hòa Bình – Hòa Bình; một số địa phương như Thác Bà – Yên Bái, Văn Giang – Hưng Yên, Bảo Lộc – Lâm Đồng… tiến hành khảo nghiệm giống cam Cara Cara Navel nhập nội, từ Mỹ. Sau đó viện xác định giống cam Cara Cara Navel ruột đỏ không hạt (ký hiệu là N.02) là giống có triển vọng. Viện đang cho trồng thử nghiệm trên diện rộng, sau đó hoàn thiện hồ sơ báo cáo Hội đồng KHCN Bộ NN-PTNT đề nghị công nhận là giống tạm thời.

Trong khi đó, chủ trang trại Phương Mai thuộc Công ty TNHH Phương Mai tại thôn Định An, xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng, KS. Mai Viết Phương (Việt kiều Úc hồi hương, cựu giảng viên chuyên ngành nông học Trường đại học Western Sydney) cho biết: Cam Cara Cara không hạt giống gốc có xuất xứ từ vùng Valencia -Venezuela, du nhập qua Mỹ, sau đó đến Úc. Từ giống gốc đó, tiến sĩ thực vật học Graeme Richards, Đại học Hawkesbury, miền tây Sydney (Úc) cùng ông Phương và nhóm công tác gồm 30 nhà khoa học lai tạo bằng phương pháp gây đột biến, chọn và duy trì các cá thể biến dị để có được cá thể ruột đỏ thẫm và đặt tên Cara Cara Navel. Ông Mai Viết Phương đem giống cam Cara Cara về trồng thử trên một khu đồi thuộc Đức Trọng, Lâm Đồng. Hiện Công ty Phương Mai đã xuống 10 ngàn cây cam Cara Cara, 5 ngàn cây cam Navel trong nông trại tại Hiệp An, Đức Trọng. Ông Phương cho biết rất nhiều tỉnh, thành trong nước đã đến tham quan tại vườn thực nghiệm trồng cam Cara tại Đức Trọng, sau đó đặt mua giống và nhờ công ty chuyển giao kỹ thuật trồng, chăm sóc cây. Hiện công ty đang cung cấp giống và trợ giúp kỹ thuật cho tỉnh Thanh Hóa trồng 300 ha cam Cara Cara tại Bỉm Sơn; cung cấp giống và trợ giúp kỹ thuật cho tỉnh Kiên Giang lập một vườn cây ăn trái phục vụ du lịch sinh thái trên đảo Phú Quốc; trồng trên 100 ha cam Cara Cara và các giống cây ăn trái nhiệt đới khác tại Ba Vì – Hà Nội; tham gia chương trình cải tạo giống cây ăn trái cho tỉnh Hòa Bình. Ông Phương cho biết toàn bộ giống cam Cara Cara hiện đang nhập từ Úc theo giấy phép của cơ quan quản lý thuộc Bộ NN & PTNT.

Kết quả khảo nghiệm của Viện di truyền

Cây cam Cara Cara Navel trên các vùng trồng thử nghiệm sinh trưởng phát triển khá, phân cành đều. Cây 3 năm tuổi đạt chiều cao trung bình 2,2 m, tán lá trung bình đạt 2,3 m; lá cam Cara Cara Navel hình ô van cong đều và phồng ở bản lá. Cây cam Cara Cara Navel cho thu hoạch lứa trái đầu từ năm thứ ba sau trồng, trung bình 72 trái/cây (60 – 85 trái/cây). Trái cam Cara Cara Navel hình cầu dài hay ô van, rốn trái hơi lồi do có một trái phụ nhỏ bên trong đuôi trái. Vỏ trái dày 3,1 mm, trọng lượng trái trung bình 217 g/trái (180 – 235 g/trái). Vỏ trái khi chín có màu da cam đậm, nhẵn bóng. Cam Cara Cara Navel dễ bóc vỏ, dễ tách múi, hương thơm dễ chịu, vị ngọt có hàm lượng acid ít hơn các giống cam nội địa. Cam Cara Cara Navel không hạt do hoa cam Cara Cara Navel bất dục đực hoàn toàn, bao phấn hoa cam Cara Cara Navel hầu như không có phấn trái nên hoàn toàn không có hạt khi trồng cách ly hoặc trong nhà lưới. Ngay cả trong điều kiện trồng xen với các giống hữu thụ đực khác, cam Cara Cara Navel vẫn hầu như không hạt, chứng tỏ cam Cara Cara Navel còn có tính bất dục cái. Ở các địa điểm khảo nghiệm, cam Cara Cara Navel cho thu hoạch sớm (tháng 9 đến 11). Về năng suất, ở năm thứ tư sau trồng đạt 8 tấn/ha, thấp hơn giống cam Xã Đoài làm đối chứng. Do giống y như cam nhập nội, chất lượng tốt, mẫu mã trái đẹp, cho thu hoạch sớm hơn các giống cam khác nên cam Cara Cara Navel cùng thời điểm bán được giá cao hơn các giống cam nội địa. Nhược điểm của giống cam Cara Cara Navel là dễ bị rụng quả do độ ẩm cao, nhất là trong mùa mưa; khi bộ lá phát triển mạnh cây dễ bị bệnh loét.

MINH TUẤN – Khoa học PT, 04/09/2009

Kỹ Thuật Trồng Cây Cam Canh / 2023

* Nguồn gốc Cam canh: Là giống được trồng lâu đời ở xã Vân Canh – Hoài Đức (Hà Tây). Đang được trồng nhiều ở Từ Liêm (Hà Nội), Văn Giang (Hưng Yên).

* Đặc điểm Cam canh: Cây sinh trưởng khoẻ, tán cây hình dù, lá không eo, màu xanh đậm. Cây cao 3-3,5 m, đường kình 3-4 m, ra hoa tháng 2-3. Thu hoạch tháng 11-12.

Quả hình cầu dẹt, chín màu đỏ, vỏ mọng, ruột màu vàng, ăn ngọt, thơm. Trọng lượng trung bình 80 gr – 120 gr/quả.

* Làm đất và đào hố: Làm sạch cỏ dại, đào hố theo kích thước rộng 60 cm, sâu 60 cm.

* Bón lót: * Thời vụ trồng Cam canh:

– Vụ Xuân trồng tháng 2-4.

– Vụ Thu trồng tháng 8-10.

* Mật độ khoảng cách trồng Cam canh

Tuỳ theo từng vùng đất xấu tốt mà bố trí mật độ khác nhau: Khoảng cách trung bình (5 x 6 m), mật độ 333 cây/ha. Có điều kiện thâm canh cao trồng dày khoảng cách (3 x 3,5 m), mật độ 800 – 1.000 cây/ha.

* Tưới nước cho Cam canh:

Sau khi trồng xong cần phải tưới nước ngay. Nếu trời nắng hạn tưới 1lần/ngày đến khi cây hồi phục sinh trưởng. Sau đó tuỳ điều kiện sinh trưởng và thời tiết để tưới.

* Bón phân cho Cam canh

– Thời kỳ cây còn nhỏ 1-3 tuổi: Hàng năm cần bón thúc vào thời điểm: Tháng 1, tháng 2, tháng 5 và tháng 11.

Lượng bón:

Khi bón cần kết hợp xới xáo, làm cỏ.

– Thời kỳ thu hoạch từ năm thứ 4 trở đi: Hàng năm cần bón thúc vào thời điểm:

+ Bón cơ bản (tháng 8 – tháng 11): Phân hữu cơ + Super lân + Vôi.

+ Bón đón hoa, cành xuân từ 15/1 – 15/3: Đạm Urê + Kali.

+ Bón thúc tăng trọng quả vào tháng 5: Đạm Urê + Kali.

+ Bón thúc cành thu và tăng trọng quả tháng 7 – tháng 8: Đạm Urê + Kali.

Ngoài ra bón cho cây sau khi thu hoạch làm cây chóng phục hồi, lượng bón thúc như sau:

Các năm sau lượng phân tăng theo tuổi cây, năng suất quả và tuỳ thuộc loại đất để tăng hoặc giảm lượng phân bón.

Cách bón: Đào rãnh hoặc hốc rộng 20 cm, sâu 15-20 cm xung quanh tán cây, rắc phân lấp đất, tưới đẫm nước.

* Bón tỉa cây Cam canh

Khi cây có quả, sau mỗi lần thu hoạch cần đốn tỉa bỏ cành nhỏ, cành trong tán, cành sâu bệnh… và tiến hành thường xuyên tạo thuận lợi cho việc hình thành quả.

* Phòng trừ sâu bệnh cho Cam canh

Thường xuyên kiểm tra vườn cây, phát hiện sâu bệnh kịp thời.

Sử dụng các biện pháp canh tác (xén tỉa cành lá sâu bệnh…) sử dụng các loại thuốc BVTV sinh học, thuốc hoá học ít độc, không dùng thuốc cấm và chú ý sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng và chú ý một số loại sâu bệnh…

– Bọ xít, nhện chích hút, rầy, rệp phun: Sherpa 25 EC; Trebon 2,5 EC; Pegasus 500 EC; Actara 25 WG; Danitol 10 EC…

– Bệnh loét sẹo, đốm lá thân và cành lớn, thân quả cần phun: Rhidomil MZ 73 WP; Score 250 EC; thuốc gốc đồng…

Ngoài ra có thể dùng Basudin 10 G để trị kiến, mối, bọ cánh cứng: Trộn tỷ lệ 1 thuốc + 10 cát rắc xung quanh gốc và hố.

* Chú ý: Sử dụng thuốc theo nồng độ ghi ở nhãn thuốc. III. Thu hoạch và bảo quản Cam canh

Khi quả già, vỏ quả hơi vàng màu đặc trưng của giống thì thu hoạch. Nên thu hái vào lúc trời râm mát, khô ráo. Quả thu hái về cần phân loại. Nếu vận chuyển đi xa khi đóng vào sọt hoặc thùng không quá 5 lớp (đóng sọt phải có lót rơm hoặc giấy giữa các lớp quả).

Sau khi thu hoạch vệ sinh xung quanh tán cây, cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh và tiếp tục chăm sóc.

Chưa đến Tết Ất Mùi, nhưng giờ này đặc sản cam Canh chính gốc nổi tiếng Hà thành dù giá đắt gấp 3 cam Canh trồng nơi khác nhưng có tiền cũng không mua nổi.

Làng Canh vốn là “thủ phủ” của cam Canh nhưng quá trình đô thị hóa khiến cây cam ngày càng vắng bóng. Hỏi chính người dân đất Canh họ cũng chỉ biết cam Canh là đặc sản có nguồn gốc xuất phát từ mảnh đất này, tuy nhiên hiện nay ngay cả người dân đất Canh cũng không được thưởng thức cam Canh chính hiệu.

Đến đầu chợ Vân Canh, hỏi thăm địa chỉ để tìm mua cam Canh “xịn”, một người bán tại chợ này cho hay: “Giờ ở đây ít người trồng lắm, muốn mua cam Canh xịn cũng không đến lượt em đâu. Cam Canh xịn còn rất ít, có khi họ còn đặt khi cây chưa ra hoa nữa là”.

Cam Canh có vị ngọt mát, thơm là một trong những đặc sản hút hàng tìm mỗi dịp Tết đến xuân về.

Mặc dù giống cây này được trồng phổ biến ở một số địa phương khác như Bắc Giang, Yên Bái, Hòa Bình… nhưng vị ngọt, thơm như “bản gốc” thì không thể bằng.

Chính vì thế mà trước Tết vài ba tháng, nhiều người cất công đến tận vườn để đặt mua làm quà biếu hoặc bày lên mâm ngũ quả ngày Tết. Cam Canh chính gốc khan hiếm nên giá bán của nó so với những loại cam Canh trồng ở nơi khác thường cao gấp 2, gấp 3 lần.

Anh Lê Danh Thành, chủ vườn cam Canh ở xã Vân Canh, Hoài Đức, Hà Nội cho biết: cách đây vài ba năm trong vùng chỉ còn mình anh trồng loại cây này. Năm nay có thêm vài hộ nữa nhưng số lượng chỉ vài chục gốc, không đáng kể.

So với năm ngoái mức giá không tăng mặc dù năm nay vườn cam bị mất mùa. Như trong dịp Tết năm ngoái, vườn cam giúp anh thu về gần 300 triệu đồng.

“Năm nay cây sai quả nhưng bị hỏng rễ, cứ héo lá nên đành phải chặt bỏ. Vườn cây 600 gốc nay phải chặt mất một nửa. Nhìn đến là buồn”, anh Thành buồn rầu nói.

Theo anh Thành, mức giá cam Canh trên thị trường hiện nay dao động từ 50.000- 70.000 đồng/kg, thậm chí có loại cam Canh trồng ở đâu cũng bán tận 90.000 đồng/kg nên so với giá thị trường thì cam Canh chính gốc cũng không phải là quá đắt, bởi điều quan trọng là làm thế nào để chọn được cam Canh chính gốc để thưởng thức mới là khó.

Anh Thành cho biết, vườn cam của anh có khách đặt từ đầu tháng 9. Hiện tại số lượng cam Canh trong vườn anh Thành đã được người đặt mua hết.

Nhiều người gọi điện hỏi mua nhưng anh đành phải từ chối. Do đó khách hàng muốn mua cam Canh ở thời điểm hiện tại là không còn có cơ hội.

Anh Nguyễn Trí Hùng, một người dân ở xã Đắc Sở cho biết, trước đây Đắc Sở cả làng trồng cam nay chỉ còn vài nhà làm cây giống hoặc cây cam cảnh.

Kỹ thuật cho ra quả và duy trì tuổi thọ của cây khó. Nếu không có kỹ thuật thì chỉ vài ba năm là cây chết. Chính vì thế dân Đắc Sở bỏ cam Canh chuyển sang trồng phật thủ để cho thu nhập cao hơn.

Hiện nay cam Canh được trồng nhiều ở Bắc Giang. Chỉ tính riêng huyện Lục Ngạn, diện tích trồng cam Canh hơn 500 ha, cho sản lượng hơn 6.000 tấn.

Theo những người buôn cam ở chợ đầu mối phía nam thì cam Canh Bắc Giang loại 1 có giá khoảng 55.000- 60.000 đồng/kg, loại 2 giá từ 45.000- 50.000 đồng. Cam Canh trồng ở những vùng khác quả thường to, màu đỏ đậm. Còn cam canh trồng trên đất Canh thường có màu vàng.

Dù là cam Canh trồng ở nơi khác thì để chọn cam Canh ngon phải chọn quả mỏng vỏ, tròn căng mới ngọt và nhiều nước.

Vì vậy, với người cầu kỳ muốn chọn mua cam Canh chính hiệu thì chỉ có cách chờ mua cam sang năm và phải đặt hàng thật sớm, “từ lúc cam chưa ra hoa”.

Cách phân biệt cam Canh xịn và cam rởm

Cam Canh nhái có màu sắc đỏ au rất đẹp, kích thước quả đồng đều nhau. Trong khi đó thì cam Canh xịn thường có màu đỏ pha vàng hoặc xanh lẫn vàng, thậm chí có nhiều quả còn hơi bị rám. Kích thước quả cũng không đồng đều, quả to quả nhỏ lẫn lộn. Tóm lại là trông không đẹp mã bằng cam Canh rởm của Trung Quốc.

2. Căn cứ vào cuống quả

Cam thật cuống quả đầy và ít lõm. Nếu có thì cũng chỉ hơi lõm một chút. Còn hàng nhái Trung Quốc thì xung quanh cuống quả hầu hết đều lõm khá sâu.

3. Giá cả

Giá cam Canh thật khá cao, khoảng từ 50 – 70 ngàn đồng/kg. Vì giá bán buôn loại quả này ít nhất cũng khoảng 40 ngàn/kg. Trong khi cam Trung Quốc giá chỉ khoảng 12 – 18 ngàn đồng/kg. Nên chỉ cần bán khoảng 35-40 ngàn/kg thì người bán cũng đã lời to rồi.