Top 8 # Xem Nhiều Nhất Tuyen Nhan Vien Cham Soc Hoa O Da Lat Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Vitagrowthheight.com

Quy Trinh Cham Soc Hoa Dao

HOA, CÂY CẢNHKỸ THUẬT TRỒNG, CHĂM SÓC CÂY HOA ĐÀO(Quy trìnhtóm tắt)I. GIỚI THIỆU CHUNG

Cây hoa đào (Prunus persica (L.) Batch thuộc họ hoa hồng Rosaceae, bộ hoa hồng Rosales,lớp 2 lá mầm Magnoliopsida. Ở Việt Nam cây hoa đào được trồng lâu đời và thú chơi đàongày Tết đã trở thành một phong tục, một nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc không thể thiếu đượccủa người dân miền Bắc nước ta. Chính vì vậy, ở miền Bắc đã hình thành 1 số vùng sản xuấthoa đào chuyên canh như Nhật Tân (Hà Nội), Phường Hoàng Văn Thụ (TP Bắc Giang), GiaLộc (Hải Dương), Đồng Thái (Hải Phòng), Đông Hưng (Thái Bình)….

II. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC

2.1. Rễ: Đào có bộ rễ khá phát triển, rễ cái ăn sâu và phân nhánh khoẻ, do vậy đào có khảnăng chịu hạn tốt. Trồng đào ở những nơi có mực nước ngầm cao, rễ bị thối đen, nụ hoa bịthui.

2.2. Thân, cành: Đào thuộc loại thân gỗ, cao từ 3 – 8 m, mọc lâu năm, phân cành nhiều, chồicó nhiều lông

2.3. Lá: Hình bầu dục hoặc ngọn giáo, dài 8 – 15 cm, rộng 2 – 3 cm, có mũi nhọn dài, nhănnheo, có răng cưa nhỏ mịn, màu xanh thẫm hay xanh nhạt tuỳ theo giống.

2.4. Hoa: Hoa màu hồng, đỏ hoặc trắng, có cuống ngắn. Hoa nở vào tháng 1- 3 dương lịch

2.5. Quả: Quả hạch hình cầu, có một rãnh bên rất rõ, phủ lông tơ mịn, khi chín quả có màu đỏhồng. Quả chín vào tháng 5 – 8 dương lịch

III. YÊU CẦU NGOẠI CẢNH

3.1. Nhiệt độCây hoa đào ưa khí hậu ôn hoà, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng và phát triểntừ 18oC – 25oC. Nhiệt độ trên 35oC và dưới 8oC đều làm ảnh hưởng đến sinh trưởng và pháttriển của cây. Hàng năm cây yêu cầu có một khoảng 1 thời gian với nhiệt độ lạnh nhất định đểphân hoá mầm hoa. Trong điều kiện không đủ lạnh, mầm hoa ít.

3.2. Độ ẩmCây hoa đào yêu cầu độ ẩm đất khoảng 80 – 85% và độ ẩm không khí 60 – 70%.3.3. Ánh sángĐào là cây ưa sáng, ánh sáng đầy đủ giúp cây sinh trưởng tốt. Nếu thiếu ánhsáng, cây sẽ sinh trưởng phát triển kém. Khi cây càng lớn yêu cầu ánh sáng nhiều hơn câynon.

3.4. Dinh dưỡngCũng như các loại cây khác, việc cung cấp chất dinh dưỡng cho đào là biệnpháp nâng cao chất lượng hoa. Các chất dinh dưỡng mà cây cần bao gồm phân hoá học như:đạm (N), lân (P), kali (K), phân hữu cơ như phân chuồng, ngoài ra cây còn cần một lượng nhỏcác chất vi lượng.

IV. MỘT SỐ GIỐNG TRỒNG PHỔ BIẾN HIỆN NAYĐào Bích, đào Phai, đào Bạch, đào Tiết dê,đào Mãn Thiên Hồng, …- Giống đào Phai: được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc nướcta, giống này hoa đơn, màu hồng nhạt, cánh mỏng, nhanh tàn nhưng khả năng chống chịu vớisâu bệnh tốt, phạm vi thích ứng rộng- Giống đào Bích: là giống đào hoa kép, màu hồng đậm,cánh dày, hoa lâu tàn, khả năng chống bệnh kém.- Giống đào Bạch: là giống đào hoa kép,màu trắng, cánh dày, hoa lâu tàn, nhưng khả năng thích ứng hẹp hơn, khả năng chống bệnhkém.- Giống đào Tiết dê: là giống đào hoa kép, màu đỏ thẫm, cánh dày, hoa lâu tàn, khả năngchống bệnh kém.- Giống đào Mãn Thiên Hồng: được Viện Nghiên cứu Rau quả nhập từ TrungQuốc, hoa nhiều, cánh hoa dày, màu sắc đa dạng (hồng đậm, hồng nhạt,…)

V. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

5.1. Chuẩn bị đất.Do đào không chịu úng nên phải chọn khu đất cao ráo, quang đãng và phảilên luống cao. Vườn trồng đào nên bố trí cạnh hoặc gần nguồn nước, chủ động nước tướitrong điều kiện khô hạn, có rãnh thoát nước chống úng trong mùa mưa lũ.Trước khi trồngkhoảng một tháng đất phải được phay đập nhỏ, vơ sạch cỏ. Lên luống rộng 60 – 70cm, chiềucao luống từ 30 – 35 cm, chiều rộng rãnh 40cm, theo hướng Đông – Tây.2

5.2. Thời vụ trồng.Trồng cây đào giống mới ghép và cây đào thế đã chơi hoa vào Tết NguyênĐán vào vụ xuân tháng 2 – 3 hàng năm

5.3. Chọn cây giốngChọn cây giống được ươm trong túi bầu nilon, chiều cao 30 – 50cm,đường kính gốc 1 – 1,5 cm, sinh trưởng tốt, không sâu bệnh, dập nát và vỡ bầu.

5.4. Mật độ khoảng cách.Mỗi ha có thể trồng được khoảng 3.100 – 5.500 cây/ha, tùy thuộcvào tuổi cây khi trồng hoặc cây đào cổ thụ, đào thế hay đào trồng cắt cành.- Cây đào mớighép trồng ra ruộng sản xuất với khoảng cách: cây cách cây 1,2 m và hàng cách hàng 1,5 m(tương đương 5.550 cây/ha).- Cây đào thế hay đào cổ thụ với khoảng cách: cây cách cây 1,6m và hàng cách hàng 2 m (tương đương 3.100 cây/ha).

5.5. Cách trồng.- Đào hố, bón lót: kích cỡ hố 0,4 x 0,4m. Khi đào hố trồng cây, cần lưu ý đổriêng lớp đất mầu phía trên mặt về một bên, lớp đất phía dưới về một bên.Trước khi trồng từ7-10 ngày, tiến hành bón lót và lấp hố. Lượng phân chuồng hoai mục là 30 tấn/ha + 1.100kgphân lân + 600kg vôi bột. Khi lấp hố cần cho 1 lớp đất đáy xuống trước, tiếp đến hỗn hợp(phân chuồng + lân + vôi bột) và sau cùng lớp đất trên bề mặt. Vun thành vồng cao hơn mặtluống 15-20 cm để khi đất lún cây không bị trũng, không bị úng nước, tránh được nghẹt cổ rễvà bệnh lở cổ rễ.- Trồng cây: Dùng dao hoặc kéo cắt đáy và phía bên túi bầu, bỏ túi bầu ra, đặtthẳng cây xuống chính giữa hố (sau khi đã bỏ túi bầu ra) rồi lấy ngay phần đất vừa đào lên lấplại cho kín và nén nhẹ đất xung quanh gốc. Chú ý cần trồng nông vừa bằng cổ rễ, năng xớixáo để đất luôn tơi xốp, đề phòng nghẹt rễ. Các cây trên 2 luống kề nhau nên trồng so le vớinhau để tận dụng tốt ánh sáng mặt trời.

5.6. Chăm sóc và bón phân: – Tưới nước: Cây sau khi trồng xong phải được tưới nước ngay,15 ngày đầu tưới nước 2 lần/ngày, những ngày tiếp theo tuỳ thuộc vào độ ẩm đất.- Tủ gốc:Bằng rơm rạ, cỏ…là rất quan trọng. Lớp tủ dày 7 -10cm trên mặt luống làm hạn chế thoát hơinước từ đất, làm mát gốc cây khi trời nắng nóng, không mất công làm cỏ dưới vùng tán.- Cắttỉa:Tùy theo mục đích tạo dáng, thế cho cây mà thời gian đầu sau trồng mới có hình thức cắttỉa khác nhau. Sau đó khi chồi mầm cao 30 – 35cm thì bấm

ngọn, cứ làm như vậy đến đầu tháng 7 thì ngừng bấm ngọn, và thường xuyên điều chỉnh cáccành mọc đều bốn phía cho đều tán.- Bón phân: Lượng phân bón thúc cho 1 ha: Phân tổnghợp NPK (13:13:13+TE): 2.700kg, phân Urê: 270kg. Trộn phân NPK và phân Urê theo tỷ lệ10:1 để bón.Bón thúc làm 5 lần:+ Sau trồng 1 tháng, rễ mới đã phát triển tiến hành bón thúclần đầu. Lượng bón 300kg NPK và 30kg urê, hòa tan với nước tưới xung quanh gốc. + Số cònlại chia đều cho 4 lần bón và mỗi lần bón cách nhau khoảng 25-30 ngày. Kết hợp với tưới đủẩm, xới xáo, làm cỏ, vét luống. Ngoài ra phun thêm phân bón lá Đầu trâu 501, 502 hoặc Atoniknhằm giúp cây nhiều cành, tán xum xê.

5.7. Điều khiển ra hoa.Các biện pháp sau thường được thực hiện để làm cho đào ra hoa đúngdịp Tết Nguyên Đán: – Từ đầu tháng 8 âm lịch hạn chế bón các loại phân có hàm lượng (N)cao, để khoanh vỏ. Tháng 10 âm lịch, dừng bón phân vào gốc và hạn chế tưới nước để chuẩnbị tuốt lá. – Khoanh vỏ: tiến hành vào trung tuần tháng 8 âm lịch hàng năm+ Đối với cây đào to,trồng nhiều năm: dùng dao mỏng khoanh 2 vòng xung quanh các cành gần thân chính, cáchnhau 2cm. Bóc lớp vỏ giữa hai vòng khoanh bỏ đi và dùng nilon cuốn che bên trên vết khoanh,buộc chặt để nước mưa khỏi đọng chỗ vỏ bị khoanh làm thối vỏ.+ Đối với cây đào trồng nămđầu và năm thứ 2: dùng dao mỏng cắt khoanh 1 vòng tròn đều quanh thân cây ở dưới chỗphân cành.Sau một tuần lá đào sẽ chuyển từ màu xanh đậm sang vàng nhạt và hơi rủ xuống.Nếu lá vẫn xanh đậm thì tiếp tục cắt thêm một khoanh vỏ nữa phía dưới vết khoanh trước. –Tuốt lá đào: trước Tết Nguyên Đán 55-60 ngày, tuốt sạch toàn bộ lá, để kích thích mầm nụphát triển nhanh. Đồng thời dùng dây nilon go cành lại cho thuận tiện vận chuyển khi mang đitiêu thụ. Lưu ý: – Nên tiến hành tuốt lá làm 2 đợt cách nhau 7 ngày hạn chế rủi ro do điều kiệnthời tiết.+ Đợt 1: tuốt ½ số lá trên cành phía gốc+ Đợt 2: tuốt ½ số lá trên cành phía ngọn-Không được làm mất phần chân lá dính vào cành, dễ mất mầm hoa- Những cây đào sinhtrưởng mạnh tuốt trước, sinh trưởng yếu tuốt sau.4

VI. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH

6.1. Nhện đỏ Nhện đỏ xuất hiện vào cuối thu. Nhện phát triển mạnh khi khô hạn- Triệu chứng:Nhện châm vào lá tạo thành vết chấm màu nâu vàng nhỏ tách riêng nhau. Khi bị hại nặng làmcho lá bị cháy vàng, héo đi và biến dạng, cuối cùng làm cho lá vàng khô và rụng.- Biện phápphòng trừ: + Vệ sinh đồng ruộng, vào lúc thời tiết khô hạn thường xuyên tưới nước, xịt vàomặt dưới của lá cũng sẽ hạn chế được mật độ của nhện đỏ trên cây, bón phân cân đối.+ Dùngcác thuốc hóa học: Commite 73EC, liều lượng pha 15-20ml/16lít nước; Pegasus 500SC, liềulượng pha 15-20ml/16lít nước; Reasgant 3.6EC, liều lượng pha 10ml/16lít nước;…

6.2. Sâu đục ngọn.- Triệu chứng: sâu non hại trên các ngọn chồi non, làm héo ngọn và chết. –Biện pháp phòng trừ: + Bón phân cân đối, không bón nhiều đạm+ Dùng thuốc Dupontprevathon 5SC, liều lượng pha 15ml/16lít nước; Reasgant 3.6EC, liều lượng pha 10ml/16lítnước;…

6.3. Rệp sáp- Triệu chứng: Thân có phủ lớp sáp trắng, quanh mình có các tia sáp dài trắngxốp. Sống tập trung thành từng đám bám chặt vào các ngọn non, cuống lá, kẽ cành hoặc mặtdưới lá, chích hút nhựa làm lá và ngọn héo khô. Sau thời gian rệp phát sinh thường có nấm bồhóng đen phát triển trên chất thải do rệp tiết ra làm đen mặt lá gây trở ngại khả năng quanghợp của cây làm cho cây còi cọc, sinh trưởng kém, bị hại nặng cây có thể chết. Vào cuối mùamưa chuyển sang mùa khô, rệp sáp phát triển tăng dần mật độ. – Biện pháp phòng trừ: + Cắttỉa những cành sâu bệnh, cành già, cành tược nằm trong tán để tạo cho cây thông thoáng.+Dùng máy bơm xịt mạnh tia nước vào chổ có nhiều rệp đeo bám có tác dụng rửa trôi bớt sáptrước khi phun thuốc.+ Dùng thuốc Supracide 40 ND, liều lượng pha 20-13ml/16lít nước;Suprathion 40EC, liều lượng pha 20-30ml/16lít nước; Ascend 20SP liều lượng pha 10-16ml/16lít nước. Kết hợp với dầu khoáng SK Enspray 99 hoặc dầu khoáng Citrole 96.3ECtheo nồng độ khuyến cáo.

6.4. Bệnh chảy gôm.

– Triệu chứng: Bệnh phát sinh trên thân, cành đã hóa gỗ, nhất là chỗ phân nhánh. Chỗ bị bệnhvỏ nứt và chảy nhựa vàng trong suốt, sau nhựa chuyển màu nâu đỏ. Bộ phận bị bệnh lồi lên,vỏ và gỗ dần dần bị khô mục, lá cây bệnh bị vàng và rụng, bệnh nặng làm cây chết khô.-Nguyên nhân: do các vết thương cơ giới, sâu đục vỏ, tưới nước và bón phân không hợp lý,làm vỏ cây bị tổn thương, nấm Phytophthora Citrophthora xâm nhập làm thành phần tinh bộttrong tế bào chuyển thành dịch nhựa chầy ra liên tục.- Biện pháp phòng trừ: + Tránh gây vếtthương cho cây, cắt bỏ cây bệnh, cuối mùa thu, đầu xuân hàng năm, quét vôi hoặc nước Bócđô đậm đặc lên thân cây. Thường xuyên phòng trừ các loại côn trùng, giữ độ ẩm hợp lý, khôngnên bón quá nhiều đạm, tăng cường bón phân hữu cơ. + Phun thuốc Mancolaxyl 72 WP, liềulượng pha 60-80ml/16lít nước; Dupont Kocide 53.8DF, liều lượng pha 15-16ml/16lít nước hoặccác loại thuốc có gốc đồng và gốc lưu huỳnh.

6.5. Bệnh thủng lá. – Triệu chứng: lá đào xuất hiện các đốm nhỏ, lan rộng thành hình tròn hoặchình nhiều cạnh màu vàng hoặc nâu đen, đường kính khoảng 2mm. Xung quanh đốm có màuxanh vàng, sau đó đốm khô và rời ra làm lá đào có lỗ thủng.- Nguyên nhân: Do vi khuẩnXanthomonas Pruni Dowson- Biện pháp phòng trừ:+ Ngắt bỏ, tiêu hủy lá bị bệnh, tăng bónphân hữu cơ, hạn chế bón nhiều phân đạm. Vườn đào phải thoát nước mạnh. Đảm bảothoáng gió và chiếu sáng đủ. Không trồng xen các cây khác trong vườn đào tránh lây nhiễm.+Phun thuốc Ridomil Gold 68WG, liều lượng pha 80-90ml/16lít nước, Score 250EC, liều lượngpha 10ml/16lít nước; Anvil 5SC, liều lượng pha 16-20ml/16lít nước…

6.6. Bệnh xoăn, phồng lá- Triệu chứng: đầu tiên xuất hiện ở ngọn và lá non. Một phần haytoàn bộ lá dầy lên, màu xanh xám, sau đó quăn lại có những chỗ phồng rộp màu tím, trên cólớp bột trắng sau thành nâu. Bệnh nặng làm cho lá khô và rụng. – Nguyên nhân: Do nấmTaphira deformans (Berk. Tui). Nhiệt độ thích hợp cho bào tử phát triển là 20oc. Thích hợpCho nấm xâm nhiễm là 10 – 16oc. Nấm qua đông trên vỏ cây, vẩy chồi, phát triển vào mùaxuân năm sau. Bệnh nặng vào tháng 4 – 6- Biện pháp phòng trừ:6 Ngắt bỏ, tiêu hủy lá bệnh,bón phân cân đối, phun thuốc Ridomil Gold 68WG, liều lượng pha 80-90ml/16lít nước; Score250EC, liều lượng pha 10ml/16lít nước…

VII. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN HOA TRONG NHỮNG NGÀY TẾT

7.1. Thu hoạch- Đối với đào dùng để chơi cành: Khi thu hoạch phải dùng cưa, nếu chặt sẽ làmlay gốc đứt rễ. Đem đi xa nên tẩm bông ướt cho vào túi nilon trọng vào gốc rồi buộc chặt. – Đốivới đào thế: Chú ý khâu đánh cây, tránh là cây bị đứt nhiều rễ và vỡ bầu. Khi cần vận chuyểnđi xa nên đánh cây và trồng cây vào chậu trước đó 1-2 tháng, hoặc bao gói bầu thật chặt vàtránh va dập.

7.2. Bảo quản.- Đối với đào dùng để chơi cành: Sau khi mua cành đào về phải đốt gốc cànhhay nhúng ngay vào chậu nước nóng già 70- 80oC để nhựa của cành đào không chảy và cácchất dinh dưỡng dự trữ nuôi hoa trong cành không thẩm thấy được ra ngoài. Để đào tươi lâunên thay nước 2-3 ngày/lần và mỗi lầ thay nước nên cho 1 viên aspirin nhằm hạn chế vi khuẩngây thối cành, tàn hoa. Sau khi mua về nhà nếu thấy hoa đào nở nhanh cho một vài viên nướcđá vào đó để giữ lạnh, có tác dụng kìm hãm hoa nở nhanh.- Đối với chậu đào thế: 4-5 ngàytưới nước một lần. Khi nào thấy đất trên miệng chậu khô thì phải tưới nước. Không nên tướiquá nhiều nước, làm cây bị úng, sinh ra khí độc gây thối rễ, cây đào sẽ chết. Chậu đào phảiđược đặt ở nơi thoáng mát, đủ ánh sáng không nên để gần quạt hay chỗ có gió lùa vì sẽ làmđào mất nước nhiều dẫn đến héo hoa và nụ. Không nên để đào chỗ quá tối vì sẽ không đủánh sáng làm màu sắc hoa bị phai, hoa nhanh tàn hoặc nụ sớm rụng. Nên tránh để đào ở gầnbóng đèn có công suất lớn vì sẽ thừa sáng, nhiệt độ lại cao cũng làm cho hoa nở nhanh,chóng tàn. Nếu thấy hoa nở muộn người chơi có thể dùng một nắm vôi đắp quanh gốc, là nhưvậy thì chỉ sau 1 đêm hoa đào sẽ nở tung, cũng có thể tưới nước ấm hoặc dùng đèn điệnnhấp nháy chăng xung quanh cây đào vừa trang trí cho cây cũng vừa kích cho hoa nở sớm.*Một số chú ý khi chọn mua đào vào ngày tết: Tuỳ theo không gian bày, lứa tuổi, sở thích màngười mua có thể chọn được cành đào theo ý muốn. Nói chung để chọn được một cây đàođẹp thì người mua nên chọn đào cánh kép, cánh hoa dày. Cành đào phải đều, to vừa phải,dăm đào nhiều, có nhiều hoa và nụ. Vì những cành dăm to thường ít và thưa hoa. Nên chọncây đào có gốc thẳng, thân đào chắc khoẻ. Theo ý kiến của nhiều người, đào đẹp là đào códăm vút thẳng ra ngoài tán, nụ trải đều từ đầu tới cuối dăm. 7 Đối với lại đào chơi cành, nêntìm mua đào tơ, thân mập, nhiều cành dăm, mắt dầy, nhiều nụ. Không mang lá, ít lộc nên sựmất nước qua lá không có hoặc rất ít. Do đó khi cắm đào vào bình chỉ cần đổ một ít nước cânđối trọng lượng để khỏi đổ bình.SƠ ĐỒ QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG HOA ĐÀO – Bón lót: –Mặt luống 60 – 70 cm phân chuồng + phân lân + vôi bột – Cao luống 30 – 35 cm – Mật độ trồng2m2/cây – Bón phân thúc: cho 1 ha: – Sau trồng 1 tháng, bón thúc lần đầu. + Phân NPK(13:13:13+TE): 2.700kg, – Hòa 300kg NPK và 30kg urê + Phân Urê: 270kg. với nước tướixung quanh gốcTrộn theo tỷ lệ 10:1 để bón – Số còn lại chia đều cho 4 lần bón – Kết hợp vớitưới nước, xới xáo, làm cỏ Mỗi lần bón cách nhau 25-30 ngày phun phân bón lá Đầu trâu 501,502 – Phòng trừ sâu bệnhhoặc Atonik Đối với cây đào to: Đối với cây đào nhỏ – Khoanh 2 vòngxung quanh các cành – dùng dao mỏng cắt khoanh 1 vòng tròn gần thân chính, cách nhau 2cmquanh thân cây ở dưới chỗ phân cành. – Bóc lớp vỏ giữa hai vòng khoanh bỏ đi – Tuốt lá làm 2đợt cách nhau 7 ngày + Đợt 1: tuốt ½ số lá trên cành phía gốc+ Đợt 2: tuốt ½ số lá trên cànhphía ngọn8Trồng vụ Xuân(Tháng 1-2 âm lịch)Trước Tết Nguyên Đán 45- 60 ngày(Tiến hànhtuốt lá, go cành)Thu hoạch, tiêu thụCây giống (nhân từ vườn cây mẹ nuôi cấy mô)(cây cao 4-5cm, có 3-5 lá, rễ ra đều)Trung tuần tháng 8 âm lịch(Tiến hành khoanh vỏ)

Welbome To Ysa Orcid, Hoa Lan Da Lat, Hoa Lan Viet Nam

Hoa Lan được phân lọai như thế nào?

HOA LAN ĐƯỢC PHÂN LOẠI NHƯ THẾ NÀO?

Lan được phân thành nhiều loại khác nhau theo cách thức mà chúng sinh trưởng, nghĩa là chúng sống bám vào các cây cối, tảng đá hoặc mọc dưới đất. Một số loài lan thúch ứng để tồn tại trong nhiều điều kiện khác nhau.

Loài lan tiến hóa để có thể sống trên một thân cây khác được gọi là lan công sinh. Chúng không phải la loài cây ký sinh, vốn sống từ cấht dinh dưỡng rát từ cây chủ. Lan cộng sinh không lấy gì từ cây chủ mà nó bám vào, mà chỉ lợi dụng vị trí sinh trưỡng trên cao, được gần với không khí và ánh sáng hơn thảm thực vật ở bên dưới. Lối sống trên không này không chỉ dành riêng cho loài lan, chúng còn chia sẻ với các loài dứa, dương xỉ, rêu và các loài thực vật khác, bò dọc theo cành cây để tạo môi trường khí hậu cho riêng chúng trên tán lá cao. Một lợi thế khác trong việc sống trên cao là ở đây có dồi dào côn trùng sinh hoạt, vốn là điều kiện cần thiết cho việc thụ phấn. Các loài lan đã tìm thấy nhiều cách thức khéo léo để hấp dẫn côn trùng thụ phấn.

Lan cộng sinh lấy chất dinh dưỡng từ không khí và từ bất cứ mảnh vụn nào tụ tập vào góc cành cành cây hay đám rêu phía dưới , nơi mà rễ cây lan xâm nhập vào. Những phần lá cây mục rữa và phân chim hay phân súc vật sẽ trở thành phần còn lại cho khẩu phần đạm bạc của chúng. Nhiều loại lan cộng sinh đã tận dụng tất cả càc bề mặt của cây chủ mà chúng yêu thích. Một số bám vào cành lớn gần thân cây chính hoặc ôm lấy thân cây và phát triển rất mạnh, đến nỗi chúng hoàn toàn bao quanh thân cây. Đôi khi chỉ cần trọng lượng 2 tấn của loài lan khổng lồ (giống Grammatophyllum speciosum) cũng đủ để làm cho cả cây đổ nhào xuống đất. Những loại lan khác, được gọi là lan cộng sinh trên nhánh, bám bấp bênh vào đầu ngoài cành cây, trong khi các loài lan khác, chẳng hạn như Psygmorchis Pusilla, nảy mầm và trưởng thành ngay trên lá của một số cây của vùng Trung Mỹ.

Sống dựa vào cây chủ, các loài lan thích ứng với lối sống giống như cây chủ. Khi cây chủ rụng lá ngay vào lúc cao điểm của mùa khô để giữ lại độ ẩm, nhiều loại lan cũng làm điều tương tự. Bộ rễ trên không của chúng ngừng phát triển và đầu rễ được bao phủ bởi một lớp vỏ lụa trắng, để bảo vệ chúng khỏi bị hư hại và thoát nước. Khi mùa sinh trưởng dừng lại, toàn bộ cây lan rơi vào trạng thái ngủ đợi đến những cơn mưa đầu tiên, vốn sẽ kích động một đợt phát triển mới khi cây lan hoạt động trở lại. Khi yên nghỉ, chúng duy trì sự sống dựa vào những túi nước. Qua thới gian khô hạn kéo dài, những túi nước đó sẽ bắt đầu khô quăn lại, đây là quá trình xảy ra hàng năm của nhiều loại lan.

Khi mùa mưa đến, cây lan bắt đẩu những mầm non và rễ mới cũng mọc ra thêm. Chúng hút ẩm để làm đầy những túi nước một lần nữa. Đợt phát triển mới dựa vào những túi nước cũ, già dặn để làm nguồn năng lượng cho đến khi những rễ mới có khả năng nuôi dưỡng chúng. Các túi nước già nua sẽ hổ trợ cho đợt phát triển mới đến khi chúng kiệt quệ và chết đi trong tình trạng khô héo hoàn toàn. Đến lúc này sẽ xuất hiện nhiều túi nước mới để thay thế chúng, về mặt lý thuyết theo cách này mà cây lan có thể tồn tại. Trên thực tế, chúng sẽ sống nhiều năm nếu cây chủ vẫn còn đứng vững.

Vì một lý do nào đó mà cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu rõ hoàn toàn, nhiều loại lan cộng sinh chọn lựa một loại cây chủ cá biệt nào đó để sống bám vào. Điều này có thể do kết cấu lớp vỏ của cây chủ mà rễ lan bám vào hoặc có thể nó có chất dinh dưỡng phù hợp trong lớp vỏ cũ. Tương tự như vậy, một cố loài lan chỉ phát triền trên một mặt của thân cây, có thể để tránh gió lùa.

Trong khi lan cộng sinh phát triển trên những cây còn sống, một vài loại lan, chẳng hạn như giống Catasetum, là loại lan hoại sinh, nghĩa là sống trên những thân cây đã chết, nơi mà rễ của chúng có thể xâm nhập vào lớp vỏ mềm bên dưới lớp vỏ cứng. tuổi thọ của chúng ngắn hơn loại lan cộng sinh, vì ở vùng nhiệt đới thân cây chết chỉ tồn tại trong vài năm khi nấm mốc và mối làm mục rã chúng hoàn toàn. Vì vậy loài lan hoại sinh phải phát triển và tạo hạt thật nhanh để thế hệ kế tiếp có thể di chuyển đến ở nơi khác.

Loài lan này sinh sống trên mặt đất và dường như không có khu vực nào mà giống lan này không thích ứng để sinh trưởng. Chúng đa dạng đến mức người ta tìm thấy chúng ở vùng sa mạc khô nóng của châu Úc cho đến những vùng rừng cây, thảo nguyên có khí hậu ôn hòa và ít nắng hơn. Ở Bắc Mỹ, những loài lan xinh đẹp chẳng hạn như Cypripedium calceolus sinh trưởng trong khu rừng lạnh, người ta cũng tìm thấy các giống Cypripedium khác mọc trong những khu vực của nước Nga đến tận ranh giới của Bắc Cực.

Địa có thể đẹp lộng lẫy một cách đơn độc hoặc chỉ với một nhóm nhỏ trong khi số lượng vị trí chúng xuất hiện có thể lên đến hàng ngàn nơi. Lan sống dưới đất cũng có nhiều biến thể giống như lan cộng sinh, tuy nhiên chúng không hấp dẫn người sưu tầm như lan cộng sinh, chù yếu là vì chúng không dễ trồng và thân cây cùng hoa của chúng kém phần rực rỡ hơn.

Về mặt cơ bản, địa lan có một cọng lá mọc lên từ một hoặc hai thân chìm dưới đất hay từ một khối các rễ cây. Cuối cành lá là một đến nhiều nụ hoa. Trong khi một số loài lan mọc trên vùng đất cát trong những khu vực khô cằn, loài lan khác lại phát triển trong vùng đầm lầy, nơi mà bộ rễ chìm của chúng nằm sâu dưới nước trong hầu hết thời gian của năm. Trong suốt mùa đông, chỉ có phần chìm dưới đất của cây là còn tồn tại để sống trở lại vào mùa xuân. Những lòai lan sống dưới đất khác, chẳng hạn như loài Phaius hay giống lan Calanthe lúc nào cũng xanh tươi, thân bò có các túi nước. Hệ thống rễ xâm nhập sâu vào lòng đất để tìm nơi ẩm và chất dinh dưỡng.

Không phải tất cả những loài địa lan có bộ thân chìm đều sống ở vùng lạnh. Nhiều loại lan nhiệt đới cũng có lối sống này, hoàn rụng lá và rơi vào trang thái ngủ dưới mặt đất suốt thời kì khô hạn. Chỉ khi nào có điều phù hợp, phần thân xanh của chúng mới xuất hiện. Những điều kiện sống khác nhau đó thường hòa nhập với nhau và những cây cộng sinh rớt ra từ thân cây chủ, nếu có điều kiện thích hợp, chúng cũng có thể sống ổn định trên mặt đất.Một số loài giỏi tận dụng cơ hội vì chúng có thể sống ở bất cứ điều kiện nào thích hợp với chúng. Giống Stanhopea và Acineta vốn là lòai cộng sinh tuy nhiên nếu chúng rơi xuống đất, thân cây vẫn sống nhưng không nở hoa, vì cành hoa sẽ đâm sâ xuống đất và chết.

Vài lòai lan sống dưới đất có những túi nước nhưng những túi đó vẫn nằm trên mặt đất hoặc bi rêu, địa y che phủ nhưng vẫn được xếp vào lòai sống dưới đất.

Trong khi các giống địa lan châu Âu có nhiều đặc tính giống nhau, ở Úc một số loài lan đã phát triển hoàn toàn không giống như bất cứ loài nào khác. Chúng rất đáng để được nghiên cứu một cách riêng biệt, nhưng chúng thường không được nuôi trồng phổ biến và ít có tài liệu nào của các chuyên gia bên ngoài nước Úc nhắc đến chúng.

Tuy mọi người ít nuôi trồng loài địa lan nhưng vẫn có những người hâm mộ đi tìm kiếm chúng và hàng năm họ đếu cho chúng ta biết các địa điểm để xem chúng, đó là những bãi lầy, trên sườn đồi hay bất cứ nơi nào chúng hiện diện. Một trong những khía cạnh hấp dẫn mọi người năm này qua năm khác là sự dao động về mặt số lượng của những cây có hoa. Địa lan nổi tiếng là nở hoa thất thường vào nhiều mùa, một vài giống lan thuộc họ Orchis có thể ngủ yên dưới đất trong nhiều năm trước khi chúng đột ngột xuất hiện trở lại.

Nhiều loại địa lan dùng phương pháp nguy trang để hấp dẫn côn trùng đến thụ phấn cho hoa. Ở giống lan Ophrys, thường được gọi là “lan ong” hay “lan nhện”, cánh môi của chúng trông rất giống hình dạng một con ong hay con nhện đủ để lừa con đực bám vào cánh hoa và nghĩ nó đang giao phối, nó sẽ đón nhận hay giao lại phấn hoa được chuyển từ hoa này sang hoa khác.

Nằm trung gian giữa lan cộng sinh sống trên cây và địa lan sống dưới đất là loại lan sống trên các tảng đá. Loài lan này sống trên những triền đá, đôi khi là những vách đá thẳng đứng, nơi mà điều kiện quá khắc nghiệt đối với hầu hết các loài thảo mộc khác. Chúng thường ở trên những vách đá vôi dọc bờ biển hoặc những đá phủ rêu, nơi có điều kiện bảo vệ cho rễ lan. Cây lan sẽ tìm kiếm bất cứ một rãnh nứt nào để cho rễ bám vào. Điều kiện sinh sống khắc nghiệt tạo điều kiện cho 1 số ít loại lan trở nên nổi tiếng, chẳng hạn như loài Phragmipedium Besseae, không bị phát hiện cho đến gần đây, vì người ta chỉ nhìn thấy chúng từ trên không.

Lan sống trên đá cũng đón nhận chất dinh dưỡng giống như lan cộng sinh, hút hơi ẩm từ sương mù và mưa, nhưng cũng chịu đựng được những đợt khô hạn kéo dài. Ngoài ra chúng cũng hút hơi ẩm và chất dinh dưỡng qua các rễ cây vốn ăn sâu và khe đá hay dưới lớp rêu. Lan sống theo cách này bao gồm các loài Plieone và một vài loài trong họ Paphiopedilum. Đôi khi vài giống lan gần với lan cộng sinh có phần thân trở thành lan sống trên đá, nếu có điều kiện thích hợp. Tượng tự như vậy, vài giống Paphiopedilum cũng sống bám vào các tảng đá, nơi có đủ lớp rêu hay đất mùn để rễ chúng ăn sâu vào.

Về mặt nuôi trồng, người ta xem lanb sống trên đá cũng tượng tự như lan cộng sinh. Có nhiều mô hình lan lai tạo, đặc biệt là lai với loài Paphiopedilum và Phragmipedium hoặc các giốnng cộng sinh lai với giống địa lan trong cùng một họ.

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Nhãn Muộn Hưng Yên, Ky Thuat Trong Va Cham Soc Cay Nhan Muon Hung Yen

Kỹ thuật trồng cây

Nhãn là cây á nhiệt đới và nhiệt đới. Nhãn được trồng ở Trung Quốc, Thái Lan và Việt Nam. Nhãn là cây ăn trái được phát triển mạnh trong những năm gần đây do hiệu quả kinh tế cao. Nhãn chứa nhiều dinh dưỡng, có thể ăn tươi, sấu khô hay đóng hộp. Nhãn muộn Hưng Yên là giống nhãn to ngon, ngọt, dễ sinh trưởng và cho năng suất cao hơn so với những giống nhãn khác. Được trồng nhiều ở Hưng Yên và hằng năm đây được xem là nguồn thu nhập đáng kể cho người dân. Tuy nhiên nếu áp dụng đúng kỹ thuật trồng nhãn muộn thì có thể tăng diện tích trồng nhãn muộn ở những vùng khác.

1, Tiêu Chuẩn Chọn Giống:

Là giống nhãn lồng Hưng Yên. Thời gian chín muộn, phân cành thấp (gọi là nhãn lồng chùm). Cùi khô ráo, độ đường cao. Được Viện nghiên cứu rau quả xác nhận là 1 trong 14 giống nhãn chất lượng cao. Chon cây khỏe mạnh không sâu bệnh.

2, Thời Vụ và Mật Độ Trồng:

Hầu như cây nhãn đều có thể trồng quanh năm. Nhưng cần chú ý nếu trồng vào mùa mưa thì phải thoát mước cho cây. Vì nếu mưa nhiều cây bị ngập nước và nghẹt rễ. Cây nhãn muộn được trồng theo hàng và cách nhau giữa các hàng là 6m. Khoảng cách giữa 2 cây nhãn là từ 5 – 6m. Theo mật độ này thì có thể trồng 300 – 350 cây/ha.

3, Làm Đất Và Đào Hố Trồng:

Làm sạch cỏ dại , Cũng giống như những loại cây trồng khác, trước khi trồng nhãn muộn cần tiến hành làm đất cho cây. Nhãn được trồng vào hố. Hố đào thường là hình vuông, tỉ lệ 60 x 60 x 60 cm hoặc 80 x 80 x 80 cm.

4, Phân Bón Lót:

Để cây phát triển và sinh trưởng tốt cần bón lót cho cây. Kết hợp phân chuồng và phân hữu cơ để cây hấp thu đầy đủ chất dinh dưỡng. Bón 20 – 25kg phân chuồng hoai + 1 – 2kg supe lân + 100g ure + 100g kali hoặc 2kg phân NPK (5 – 10 – 3 – 8)/hố, dùng cuốc trộn đều phân với đất, lấp cho gần đầy hố. Bón phân trước khi trồng từ 30 ngày trở ra.

5, Kỹ Thuật Trồng Cây Nhãn Muộn Hưng Yên:

Tốt nhất nên chọn điều kiện thời tiết thuận lợi như trời râm mát, đất ẩm để trồng. Khi trồng dung một con dao nhỏ và sắc để rạch bỏ túi của bầu. Chú ý không được làm vỡ bầu đất. Đặt cây trồng ngay ngắn vào giữa hố. Lấp đất cho cây, lấp ngang đến cổ rễ. Trồng xong cần tưới nước ngay để tránh mất nước.

6, Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Nhãn Muộn Hưng Yên:

6.1 Kỹ thuật chăm sóc định kỳ:

Tưới nước: cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín. Phòng trừ cỏ dại: Phủ gốc chè bằng cỏ, rác, cây phân xanh… để hạn chế cỏ dại; xới phá váng sau mỗi trận mưa to. Làm cỏ vụ xuân tháng 1-2 và vụ thu tháng 8-9, xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2-3 lần.

6.2 Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình:

+ Đợt 1: Sau khi thu hoạch tiến hành cắt bỏ toàn bộ những cành trong tán, cành vượt, cành bị sâu bệnh, cành khô, cành tăm, cành sát mặt đất, tạo điều kiện cho cây thông thoáng để hạn chế sâu bệnh và tiêu hao dinh dưỡng. + Đợt 2: Khi lộc thu dài 5-7cm, tiến hành tỉa bỏ bớt lộc trên những cành quá nhiều lộc. Mỗi cành giữ lại 2-3 lộc to, khỏe để làm cành mẹ cho vụ sau. + Đợt 4: Cuối tháng 5 đến đầu tháng 6, cắt bỏ những cành không đậu quả. Đối với những cây có nhiều quả sẽ cắt bỏ những cành có tỷ lệ đậu quả thấp (<10quả/cành) và những cành hè mọc quá dày.

6.3 Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Nhãn Muộn Hưng Yên:

– Cây 1 – 3 năm tuổi: mỗi năm bón 1 – 1,5kg/gốc loại phân NPK 20 – 20 – 15. Lượng phân này được chia đều làm 3 – 4 lần bón trong năm, năm đầu nên pha phân vào nước tưới. – Cây trên 3 năm tuổi: Cây càng lớn lượng phân bón càng tăng, năm trúng mùa bón nhiều hơn năm thất mùa. Trung bình, mỗi năm bón cho mỗi gốc 3 – 5kg loại phân PNK 15 – 10 – 15 hoặc 20 – 20 – 15. Hàng năm lượng phân bón tăng dần cho mỗi gốc từ 0,4 – 0,5kgN; 0,1 – 0,2 kg P2O5; 0,3 – 0,5 kg K2O bón vào các giai đoạn sau: + Trước khi ra hoa + Khi trái có đường kính 1cm, bông dài được 5 – 7 cm nên bón thêm phân NPK khoảng 100g/gốc giúp nuôi bông. + Trước thu hoạch 1 tháng + Ngay sau thu hoạch ở lần bón sau thu hoạch nên bón thêm 10 – 20kg phân chuồng hoai cho mỗi gốc, tưới thâm phân cá, phân ruốc … sẽ giúp cho cây phát triển tốt hơn. Ngoài ra, để cây mau hồi phục sau thu hoạch và giúp cây ra hoa đồng loạt, tăng độ lớn của trái cần phun thêm các loại phân phun qua lá như HVP, Komix, AC, Agrostim … cách nhau 15 – 20 ngày/lần. Cách bón phân: Nên cuốc rãnh vòng quanh và cách gốc cây 1 – 1,5m, cho phân vào rãnh, lấp đất lại và tưới. Hoặc dùng cào 3 răng cào nhẹ đều trên mặt đất theo tán cây rồi rãi phân, tưới nước (cào cách gốc 1 – 1,5m). Cần lưu ý là không nên bón phân trước mùa lũ đến, phải cắt phân trước khi lũ về ít nhất là 1 tháng vì bón phân muộn, rễ còn non ngập nước dễ bị hư thối gây chết cây.

 

7, Phòng Trừ Sâu Bệnh Cho Cây Nhãn Muộn Hưng Yên:

+ Bọ xít nhãn: Chúng xuất hiện từ tháng 2 – 3 và gây hại mạnh nhất vào tháng 4 – 6. Sử dụng các loại thuốc để phòng trừ: Sherpa 0,2 – 0,3% hoặc Trebon 0,15 – 0,2% và phun vào giai đoạn bọ xít non là có hiệu quả nhất. Ngoài ra có thể rung cây vào ban đêm để bắt bọ xít trưởng thành qua đông vào tháng 12 và tháng 1. + Rệp hại hoa và qủa non: Rệp thường xuất hiện khi giò hoa vươn dài đến khi quả non ổn định, ban đầu rệp thường xuất hiện rải rác trên một vài cành hoặc một vài cây trong vườn sau đó mới lan rộng ra. Mật độ rệp có thể lên rất cao (vài trăm con/cành) gây cháy đọt, thui hoa quả. Phòng trừ: Sử dụng thuốc hoá học như: Sherpa 0,2 – 0,3%, Trebon 0,15 – 0,2% phun 2 lần. Lần thứ nhất khi rệp xuất hiện, lần 2 sau phun lần đầu 5 – 7 ngày. + Câu cấu ăn lá: Hại lá, cành, quả non, Biện pháp phòng trừ: Phun Supracide 40EC nồng độ 0,25% + Bệnh tổ rồng: Xuất hiện ở chồi non, chùm hoa làm cho lá non, hoa xoăn lại. Phòng trừ bằng cách cắt bỏ chùm hoa, cành lá bị bệnh gom lại và đem đốt. + Bệnh sương mai: Bệnh xuất hiện và gây hại tập trung vào thời kỳ ra hoa và quả non làm chùm hoa biến màu, thối quả và rụng. Phòng trừ: Sử dụng thuốc hoá học để phun phòng: Rhidomil MZ 0,2%, Boocdo 1%, Oxyclorua đồng 0,2 – 0,3%. Phun lần 1 khi cây ra giò và phun lần. + Bệnh xém mép lá: Đầu và mép phiến lá có mầu xám trắng và khô, sau đó sẽ bị rách. Có thể sử dụng các loại thuốc: Zineb 0,4%, VibenC 0,3%, Score 0,05%, Daconil phun khi bệnh mới xuất hiện, phun lại lần hai cách lần đầu 1 – 2 tuần.

8, Thu Hoạch và Bảo Quản:

Thu hoạch: khi quả đã chín, vỏ quả chuyển màu nâu vàng, vỏ mỏng và nhẵn. Quả mềm, mùi có vị thơm, hạt đen hoàn toàn. Độ Brix đạt 19-21% tuỳ vào từng giống. – Yêu cầu ngoại cảnh khi thu hái: Thu hoạch quả vào ngày tạnh ráo, thu hoạch vào buổi sang hoặc buổi chiều. * Kỹ thuật khi thu hái: Dùng kéo cát chum quả, khi cắt chùm quả không kèm lá. Bảo quản: Quả sau khi hái đưa vào chỗ râm mát, xếp quả vào sọt hoặc bao bì có thành cứng lót lá hoặc rơm rạ chuyển đến địa điểm tập trung. Khi xếp vào sọt, xếp quả quay ra xung quanh thành sọt, cuống quả chụm vào giữa tạo khe trống thoáng khí.

Trích nguồn Intenert

—————————————————————————————————

Lactofol O Bungari, Phân Bón Lá Lactofol O Cho Hoa Lan

Lactofol O Bungari, Phân bón lá Lactofol O cho hoa lan

Lactofol O tăng sức chống chịu các loại bệnh và các dạng thời tiết khắc nghiệt

Thúc đẩy quá trình phát triển rễ, thân, lá để cho năng suất vượt trội.

Sử dụng nhiều cách như tưới vào gốc, phun lên lá cây, ngâm hạt giống…

Phân bón lá Lactofol O Bungari Thành Phần Chủ Yếu

Thành phần:

Nitơ …21%

Nitrat…7%

Amoni…4%

Amide…10%

Oxit Kali…10%

Lân Peroxit…5%

Ngoài ra còn có các chất dinh dưỡng, vi lượng, axitamin, vitamin, kháng sinh, các chất sinh học, chất bám dính…

Khối lượng tịnh 100gram.

Nhập khẩu và phân phối tại Công ty TNHH TH COM.

Phân bón lá Lactofol O Bungari Công Dụng Chủ Yếu

Tăng sức chống chịu sâu bệnh và các dạng thời tiết khắc nghiệt. Phát triển nhanh bộ rễ, sinh trưởng mạnh, thân củ to, lá dày, năng suất vượt trội.

Kích thích ra rễ cho cây ăn trái, cây công nghiệp, vườn ươm cây cảnh, hoa lan…

Tưới vào gốc để cây tăng cường phát triển bộ rễ, kích thích nảy rễ để nhánh cao.

Phun lên trên và dưới bề mặt lá cây làm tác dụng lớn lá, chống rụng hoa…

Thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi và tăng trưởng của cây trồng trong khi mới trồng hoặc bị ngập úng.

Cách Dùng Phân bón lá Lactofol O Bungari

Sử dụng cho việc phun lên trên mặt lá và trên chất trồng cây.

Phun cho lúa, dung lần 1 cho giai đoạn đẻ nhánh, lần 2 giai đoạn làm đòng, lần 3giai đoạn trổ bong.

Phun cho cà chua, lần 1trước khi ra hoa, lần 2 sau khi ra quả, lần 3 tiếp theo sau từ 10-15 ngày.

Phun cho cà pháo, cà tím, lần 1lúc cây ra hoa, tiếp theo phun đều sau 10-15 ngày.

Phun cho cải bắp, súp lơ, lần 1 khi cây bắt đầu tạo bắp, lần sau từ 10-15 ngày.

Phun cho hoa hồng, hoa cúc, khi hình thành lá, lần sau hình thành bong.

Phun cho hoa lan, phun đều tỉ lệ từ 7-15 ngày. Khi vào dịp thay đổi thời tiết thì nên pha tỉ lệ thuốc 3ml cho 1 lít nước. Dịp bình thường pha tỉ lệ 2ml cho 1 lít nước sạch.

Pha tỉ lệ 2-3 cho 1lít nước sạch phun khi cây mới nảy mầm ra đọt, khi cây ra hoa, đậu trái. Gíup cây phát triển nảy mầm mới, chống rụng hoa…

Chú ý: khi sử dụng cho các cây phun lên trên thân lá, sử dụng tưới vào gốc nên sử dụng lại sau 30 ngày để đảm bảo cây hấp thụ được tốt nhất. Có thể sử dụng cho tỉ lệ phân bón pha loãng hơn để cây đảm bảo phát triển đồng đều, tránh bị sốc.

Phân bón lá Lactofol O Bungari Dùng Hiệu Qủa

Phân bón lá, kích thích nảy mầm và ra rễ khi sử dụng đủ liều lượng sẽ thấy có sự phát triển đồng đều, tránh hiện trạng lạm dụng thuốc khiến cây ảnh hưởng.

Đọc kĩ hướng dẫn trước khi sử dụng, trước khi dùng.

Cẩn thận để xa tầm tay trẻ em, bảo quản thuốc nơi khô, mát, tránh ánh nắng trực tiếp.