【#1】Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Tiêu Theo Hướng Bền Vững

Quy trình kỹ thuật trồng và Chăm sóc cây tiêu theo hướng bền vững

Cây hồ tiêu ( Piper nigrum L.) có nguồn gốc ở Ấn Độ, mọc hoang trong các rừng nhiệt đới ẩm phía Tây vùng Ghats và Assam. Từ thế kỷ XIII, hồ tiêu được canh tác và sử dụng rộng rãi trong bữa ăn hàng ngày. Trong nhiều năm, Ấn Độ là nước trồng hồ tiêu nhiều nhất thế giới, tập trung canh tác ở Kerela và Mysore. Sau đó, cây tiêu được trồng phổ biến sang nhiều nước khác ở Viễn Đông, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và SriLanka.

Ở Đông Dương, cây hồ tiêu mọc hoang được tìm thấy từ trước thế kỷ XVI nhưng đến thế kỷ XIX mới được canh tác tương đối qui mô ở vùng Hà Tiên (Việt Nam) và vùng Kampot (Campuchia).

Từ cuối thế kỷ XIX, hồ tiêu bắt đầu được phổ biến sang trồng ở Châu Phi với Mađagasca là địa bàn canh tác tiêu nhiều nhất. Ở Châu Mỹ, Brasil là nước canh tác hồ tiêu nhiều nhất với giống tiêu do nguời Nhật đưa từ Singapore sang.

Hiện nay, hồ tiêu được trồng nhiều ở các nước nằm trong vùng xích đạo khoảng 15 o vĩ Bắc và 15 o vĩ Nam. ở Việt Nam, hồ tiêu có thể trồng ở vĩ độ 17. Hồ tiêu chỉ thích hợp ở độ cao dưới 800 m, trồng ở độ cao hơn tiêu phát triển kém.

Hồ tiêu thuộc loại thân thảo mềm dẻo được phân thành nhiều đốt, tại mỗi đốt có 1 lá đơn. Lá có cuống, phiến lá hình trái tim, mọc cách. Ở nách lá có các mầm ngủ có thể phát sinh thành các dây thân, dây lươn, cành quả tùy theo từng giai đoạn phát triển của cây hồ tiêu.

– Dây thân: thường phát sinh từ mầm nách trên các cây tiêu nhỏ hơn 1 tuổi. Đối với cây trưởng thành, dây thân phát sinh từ các mầm nách trên dây thân chính phía dưới thấp của trụ tiêu. Đặc điểm của dây thân là góc độ phân cành nhỏ, dưới 45 0, cành mọc tương đối thẳng. Dây thân sinh trưởng khỏe, lóng ngắn, các đốt có nhiều rễ bám, thường được dùng để giâm cành nhân giống. Cây tiêu được nhân giống bằng loại dây thân này sinh trưởng khỏe, nhanh cho hoa quả.

– Dây lươn: phát sinh từ mầm nách của các đốt gần sát gốc của cây tiêu. Đặc trưng của dây lươn là bò sát đất và các lóng rất dài. Dây lươn cũng được dùng để nhân giống bằng giâm cành hoặc chiết. Cây tiêu được trồng từ dây lươn thường ra hoa quả chậm nhưng sinh trưởng khoẻ và có thời gian khai thác dài hơn.

– Cành quả: là cành mang trái, phát sinh từ các mầm nách trên dây thân chính của cây tiêu. Mỗi nách lá trên dây thân chỉ có 1 mầm ngủ có khả năng phát triển thành cành quả. Trên cây hồ tiêu trồng bằng dây thân, cành quả phát sinh rất sớm sau khi trồng. Trên cây tiêu trồng bằng dây lươn thường thì sau 1 năm trồng mới phát sinh cành quả. Đặc trưng của cành quả là góc độ phân cành lớn, mọc ngang, độ dài của cành thường ngắn, < 1m, cành khúc khuỷu và lóng rất ngắn. Trên các đốt của cành quả cũng có nhiều mầm ngủ có thể phát sinh thành cành quả cấp 2, cấp 3. Cành quả được đem trồng cũng ra rễ, cây cho trái rất sớm, tuy vậy cây phát triển chậm, không leo cao trên trụ mà mọc thành bụi vì lóng đốt không có rễ bám hoặc rất ít, cây mau cỗi, năng suất thường thấp.

Dây tiêu trồng từ hom có các loại rễ sau đây

– Rễ cái: 3-4 rễ, các rễ này làm nhiệm vụ chính là hút nước. Sau khi trồng ra ngoài vườn được 1 năm các rễ cái này có thể ăn sâu đến 2m.

– Rễ phụ: các rễ phụ mọc thành chùm, phát triển theo chiều ngang, rất dày đặc, phân bố nhiều nhất ở độ sâu 15 – 40cm, làm nhiệm vụ hút nước và hút chất dinh dưỡng trong đất để nuôi cây

Rễ cây hồ tiêu thuộc loại háo khí, không chịu được ngập úng, do đó để tạo cho rễ cái ăn sâu, cây chịu hạn tốt và rễ phụ phát triển tốt hút được nhiều chất dinh dưỡng thì phải thường xuyên có biện pháp cải tạo làm cho đất được tơi xốp, tăng hàm lượng mùn.

Chỉ cần úng thủy 12 – 24 giờ thì bộ rễ cây hồ tiêu đã bị tổn thương đáng kể và có thể dẫn tới việc hư thối và dây tiêu có thể bị chết dần.

– Rễ bám: mọc ra từ các đốt trên thân ở trên không, làm nhiệm vụ chính là giúp cây tiêu bám vào choái, vách tường v.v… để vươn lên cao. Khả năng hút nước và hút chất dinh dưỡng của rễ bám rất hạn chế, gần như không đáng kể.

Hoa hồ tiêu ra không tập trung mà ra thành nhiều lứa. Vào mùa mưa, khi mưa đã đều, cùng với sự ra lá non là mùa hồ tiêu trổ hoa. Các búp non có chứa lá non, chồi non và mầm hoa (gié hoa) ở đốt thân bắt đầu nhú lên. Sau đó lá non mọc mạnh ra trước, tiếp theo sau đó là gié hoa và chồi non. Như vậy búp non ở đốt thân sẽ phát triển thành một cành con mang 1 gié hoa.

Hoa tự của hồ tiêu hình gié, treo lủng lẳng, dài 7 – 12cm tùy giống và tùy điều kiện chăm sóc. Trên hoa tự có bình quân 20 – 60 hoa xếp thành hình xoắn ốc, hoa lưỡng tính hay đơn tính. Các giống hồ tiêu cho năng suất cao thường có tỷ lệ hoa lưỡng tính nhiều hơn.

Quả hồ tiêu thuộc loại quả hạch, không có cuống, mang 1 hạt hình cầu.

Hồ tiêu là một loại cây đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm. Các vùng trồng hồ tiêu chính trên thế giới chủ yếu nằm ở vùng Châu Á Thái Bình Dương như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Sri Lanca, Thái Lan và Việt Nam. Hồ tiêu cũng được trồng ở các nước khác như Brazil, Madagascar. Cây hồ tiêu đòi hỏi lượng mưa cao, nhiệt độ khá cao đồng đều và ẩm độ không khí cao, đó là kiểu khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới nóng và ẩm với sự thay đổi không đáng kể về độ dài ngày và ẩm độ không khí trong suốt năm.

Về mặt nhiệt độ, các tài liệu cho thấy cây hồ tiêu có thể trồng được ở khu vực vĩ tuyến 20 0 bắc và nam, nơi có nhiệt độ từ 10 – 35 0C. Nhiệt độ thích hợp cho cây hồ tiêu từ 20 – 30 0C. Khi nhiệt độ không khí cao hơn 40 0C và thấp hơn 10 0C đều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng. Cây hồ tiêu sẽ ngừng sinh trưởng ở nhiệt độ 15 0C kéo dài. Nhiệt độ 6 – 10 0 C trong thời gian ngắn làm nám lá non, sau đó lá trên cây bắt đầu rụng.

Nguồn gốc tổ tiên của cây hồ tiêu mọc dưới tán rừng thưa, do vậy hồ tiêu là loại cây ưa bóng ở mức độ nhất định. Ánh sáng tán xạ nhẹ phù hợp với yêu cầu sinh lý về sinh trưởng và phát dục, ra hoa đậu quả của cây hồ tiêu và kéo dài tuổi thọ của vườn cây hơn, do vậy trồng hồ tiêu trên các loại cây trụ sống là kiểu canh tác thích hợp cho cây hồ tiêu.

Cây hồ tiêu ưa thích điều kiện khí hậu nóng ẩm. Lượng mưa trong năm cần từ 1500 – 2500mm phân bố tương đối điều hòa. Hồ tiêu cũng cần một giai đoạn hạn tương đối ngắn sau vụ thu hoạch để phân hóa mầm hoa tốt và ra hoa đồng loạt vào mùa mưa năm sau. Cây hồ tiêu cũng có thể sinh trưởng và phát triển tốt ở nơi có lượng mưa thấp hơn, miễn là mưa phân bố đều trong năm.

Cây hồ tiêu cần ẩm độ không khí cao từ 70 – 90%, nhất là vào thời kỳ ra hoa. Độ ẩm cao làm hạt phấn dễ dính vào nuốm nhị và làm cho thời gian thụ phấn kéo dài do nuốm nhị trương to khi có độ ẩm. Tuy độ ẩm cao là giúp cây hồ tiêu sinh trưởng phát triển tốt, ra hoa đậu quả thuận lợi, nhưng đồng thời độ ẩm cao lại tạo điều kiện cho sâu bệnh hại trên hồ tiêu phát triển mạnh. Những nơi mà môi trường đất đủ ẩm với không khí có gió nhẹ và khô rất thuận lợi cho việc trồng hồ tiêu.

Cây hồ tiêu ưa thích môi trường lặng gió, hoặc gió nhẹ. Gió nóng, gió lạnh, bão đều không hợp với cây hồ tiêu. Do vậy khi trồng hồ tiêu tại những vùng có gió lớn, việc thiết lập các hệ đai rừng chắn gió cho cây là điều không thể thiếu được.

Cây hồ tiêu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như đất đỏ phát triển trên đá bazan, đất đỏ vàng phát triển trên sa phiến thạch, diệp thạch, đất cát xám trên đá granit, đất phù sa, đất sét pha cát …..miễn là đạt các yêu cầu cơ bản sau:

– Đất dễ thoát nước, có độ dốc dưới 20 0, không bị úng ngập dù chỉ úng ngập tạm thời trong vòng 24 giờ. Đất dốc thoai thoải từ 5-10 0 tốt hơn đất bằng phẳng vì thuận lợi cho việc thiết lập hệ thống thoát nước cho vườn tiêu.

– Tầng canh tác dày trên 70cm, mạch nước ngầm sâu hơn 2m.

– Đất giàu mùn, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, pH KCl từ 5 – 6.

Đất phải được cày bừa, nhặt sạch rễ cây, rải vôi bột khi bừa với liều lượng 2-3 tấn/ha. Nếu là đất từ các vườn cây ăn quả lâu năm hết nhiệm kỳ kinh tế hoặc từ vườn cà phê già cỗi thanh lý cần phải áp dụng các biện pháp khai hoang, cày bừa, rà rễ và đốt, gieo trồng cây phân xanh họ đậu, cây đậu đỗ từ 2 – 3 vụ để cải tạo đất, xử lý đất để diệt trừ nấm bệnh trước khi trồng hồ tiêu.

2.6. Yêu cầu về địa hình, độ cao so với mặt biển

Cây hồ tiêu trồng được trên đất bằng phẳng, đất dốc thoai thoải, hoặc dốc khá mạnh, miễn là đất thoát nước tốt.

Ở Ấn Độ, người ta trồng hồ tiêu ở các vùng đồi núi có độ cao từ 700 – 1200m, ở đó hồ tiêu được trồng trên các cây che bóng cho vườn cà phê, chè. Ở nước ta, hồ tiêu có thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng Tây Nguyên, nơi có độ cao biến động từ 400 – 700m.

QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Chọn đất trồng và chuẩn bị đất trồng

Cây tiêu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như đất đỏ phát triển trên đá bazan, đất đỏ vàng phát triển trên sa phiến thạch, diệp thạch, đất cát xám trên đá granit, đất phù sa, đất sét pha cát …. miễn là đạt các yêu cầu cơ bản sau:

– Đất dễ thoát nước, có độ dốc dưới 25 0, không bị úng ngập, dù chỉ úng ngập tạm thời trong vòng 24 giờ. Đất dốc thoai thoải từ 5-10 0 tốt hơn đất bằng phẳng vì thuận lợi cho việc thiết lập hệ thống thoát nước cho vườn tiêu.

– Tầng canh tác dày trên 75cm, tốt nhất trên 1m.

– Đất giàu mùn, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, pH KCl từ 5 – 6.

Tiêu trồng lại trên vườn tiêu cũ, hoặc các vườn cây ăn quả lâu năm hết nhiệm kỳ kinh tế hoặc vườn cà phê già cỗi thanh lý cần phải áp dụng các biện pháp khai hoang, cày bừa, rà rễ và đốt tàn dư thực vật. Gieo trồng cây phân xanh họ đậu, từ 2 – 3 vụ để cải tạo đất. Mùa nắng cày phơi đất, xử lý đất để diệt trừ nấm bệnh trước khi trồng tiêu. Trồng tiêu trên đất trồng cao su hay ca cao đã hết thời kỳ khai thác cũng phải luân canh 2-3 năm vì nấm Phytophthora gây hại trên hai loại cây này cũng là đối tượng bệnh hại chính trên cây tiêu.

Trước khi trồng, đất phải được cày bừa, nhặt sạch rễ cây còn sót, rải vôi bột khi bừa với liều lượng 2 – 3 tấn/ha.

2. Thiết kế lô trồng, mật độ khoảng cách

Thiết kế đúng khoảng cách mật độ tùy loại trụ. Trên đất dốc thiết kế trồng tiêu theo hàng đồng mức để hạn chế xói mòn đất.

Chú ý thiết kế các mương rãnh thoát nước, tránh đọng nước trong vườn tiêu vào mùa mưa.

Mật độ khoảng cáchtùy thuộc rất nhiều vào loại trụ tiêu.

– Trụ đúc bê tông: cạnh đáy trụ từ 12-15cm, cạnh đỉnh trụ là 10cm cao 4m, sau khi dựng trụ còn 3,5m tính từ mặt đất. Do có tiết diện leo bám hẹp, trụ đúc thường được trồng với mật độ dày, từ 1800-2000 trụ/ha, với khoảng cách trồng là 2.2 x 2,5m hoặc 2 x 2,5m.

– Trụ gạch xây: Kích thước và hình dạng trụ gạch biến đổi tùy theo nông hộ. Có thể xây trụ gạch vuông có lõi sắt, cạnh 20-25cm, cao 3,5m hoặc trụ gạch tròn có đường kính gốc trụ 80 – 100cm và đường kính đỉnh trụ 60 – 70cm. Mật độ trụ gạch thay đổi tùy theo kích cỡ trụ. Trụ gạch vuông được dựng theo mật độ 1600 trụ/ha, khoảng cách 2,5 x 2,5m. Trụ gạch tròn do có tiết diện leo bám rộng nên được dựng với mật độ thưa hơn 1110 trụ/ha, với khoảng cách 3 x 3m.

– Trụ sống: Tùy theo khả năng sinh trưởng phát triển của bộ tán, cây trụ sống được trồng với mật độ khoảng cách khác nhau. Trụ keo dậu, anh đào, lồng mức ….được trồng với khoảng cách 2,5 x 2,5m, mật độ 1600 trụ/ha. Trụ sống cây muồng đen được trồng với khoảng cách 3 x 3m, mật độ 1100 trụ/ha.

Có thể trồng xen kẽ, một hàng trụ sống kết hợp với 1 hàng trụ bê tông với khoảng cách 2,5 x 2,5m, mật độ 1600 trụ/ha.

3. Giống tiêu sử dụng và tiêu chuẩn hom giống, cây giống

Trong vườn tiêu quy mô tương đối lớn hơn 1ha trở lên nên sử dụng từ 2 – 3 giống tiêu, mỗi giống trồng riêng một khu vực để tiện chăm sóc, thu hoạch. Các giống có triển vọng hiện nay trong sản xuất là: Vĩnh Linh, Trung Lộc Ninh.

Hom giống đem ươm hay trồng cần đạt các tiêu chuẩn sau

* Tiêu chuẩn cây giống khi xuất vườn

– Cây được ươm từ 4 – 5 tháng trong vườn ươm, có ít nhất 1 chồi mang 5 – 6 lá trở lên mới đem trồng.

– Cây không bị sâu bệnh và được huấn luyện với ánh sáng 70 – 80% từ 15 – 20 ngày trước khi đem trồng.

b/ Hom tiêu dây thân: hom thân bánh tẻ khỏe mạnh, lấy trên các vườn tiêu 12 – 18 tháng tuổi. Đường kính dây hom thân lớn hơn 5mm, có 4 – 5 đốt, các đốt có rễ bám tốt hoặc ít nhất 2 – 3 đốt phía dưới phải có rễ bám tốt. Hom có mang ít nhất một cành quả.

Hom thân được đem trồng trực tiếp hoặc ươm trên líp ương cho ra rễ rồi đem trồng, cũng có thể ươm hom thân vào bầu lớn, cây phát triển tốt mới đem trồng.

Hom thân được cắt xiên phía dưới gốc, vết cắt cách đốt cuối cùng 1,5 – 2cm. Cắt hết lá và cành quả ở các đốt chôn vào đất. Tỉa bớt một số lá non và cành quả. Mỗi hom để lại từ 1 – 2 cành quả và một số lá bánh tẻ.

Trước khi đem ươm hay trồng, xử lý hom giống bằng một trong các loại thuốc sau Aliette 80 WP, nồng độ 0,1%, Ridomil Gold 68 WP nồng độ 0,1%, Curzate72WP M8 nồng độ 0,1%. Nhúng vào dung dịch thuốc trong vòng 30 phút.

4. Trụ tiêu và kỹ thuật trồng :

4.1. Trồng cây trụ sống và cây trụ tạm

– Cây trụ sống được trồng ngay vào đầu mùa mưa, làm cỏ bón phân thúc cẩn thận. Sau khi trồng, cứ 20 – 30 ngày bón 1 lần với lượng 10 – 15g Urê + 5g KCl/cây trụ sống cho đến khi trồng mới tiêu vào 2 – 3 tháng sau đó. Có thể trồng cây trụ sống 1 – 2 năm trước khi trồng tiêu, trong trường hợp này mỗi năm bón thúc phân cho cây trụ sống từ 2 – 3 lần. Cần chăm sóc tốt cây trụ sống như cây trồng chính để cây trụ sống sinh trưởng tốt đảm bảo yêu cầu leo bám cho cây tiêu.

– Trồng cây trụ tạm: trồng tiêu cùng năm với cây trụ sống bắt buộc phải trồng trụ tạm. Sau khi trồng trụ sống 2 – 3 tháng thì trồng tiêu. Do cây trụ sống còn nhỏ, chưa có chỗ cho tiêu leo bám nên cần trồng cây trụ gỗ tạm cùng lúc với trồng tiêu. Cây trụ tạm được trồng cách cây trụ sống 10-15cm. Trụ tạm có đường kính 10 – 15cm, chiều cao tính từ mặt đất từ

3 – 3,5m, chất lượng cây trụ tạm tương đối tốt để tiêu có thể leo bám trong vòng 2 – 3 năm trước khi cây trụ sống đủ lớn cho tiêu leo bám.

4.2. Trồng trụ bằng vật liệu xây dựng

Dựng trụ hoặc xây trụ trước khi trồng tiêu khoảng 1 – 1,5 tháng để gặp các trận mưa to rửa sạch bớt hồ, vữa.

Trồng cây che bóng tầng cao trong vườn trụ bằng vật liệu xây dựng để tạo bóng mát cho vườn tiêu vào thời kỳ kinh doanh. Keo dậu được trồng với khoảng cách 6 x 12m.

– Đào hố trồng tiêu: đào 1 hố trồng phía cây trụ tạm, ở phía xa cây trụ sống, mép hố cách trụ tạm 10 – 15 cm, sao cho tâm hố là vị trí đặt bầu tiêu hay dây tiêu cách cây trụ sống từ 40 – 50cm. Hố đào có kích thước 60 x 60 x 60cm. Đất mặt và đất sâu để riêng.

+ Bón 10kg phân hữu cơ ủ hoai(phân bò, gà…) + 0,3kg phân lân nung chảy hoặc super lân + 0,3 kg vôi . Trộn các loại phân lót trên với lớp đất mặt rồi lấp đầy hố trồng. Việc trộn phân lấp hố được thực hiện trước khi trồng tiêu ít nhất là 15 ngày.

+ Bón phân hữu cơ :

* Komix thúc tiêu 6.2.4 : 0,3 kg/hố

* Komix lân vôi + TE : 0,5 kg/hố

* Komix vi lượng : 50 g/hố

– Khi trồng móc lại hố để trồng, trồng tiêu ngang mặt đất, không trồng âm.

– Nếu trồng bằng bầu, xé bầu tiêu nhẹ nhàng tránh vỡ bầu rồi đặt vào giữa hố, đặt bầu hơi nghiêng, hướng chồi tiêu về phía trụ, mặt bầu ngang với mặt đất, không trồng âm. Lấp đất, dùng chân dậm chặt đất xung quanh bầu.

– Trồng bằng hom thì dùng hom thân 5 mắt, đặt hom xiên với đất mặt 45 0, đầu hom hướng về phía trụ, vùi lấp 3 mắt vào đất, chừa trên mặt đất 2 mắt, dậm chặt đất quanh hom.

– Sau 7 – 10 ngày trồng tiêu bằng bầu, 2 – 3 ngày trồng tiêu bằng hom thân nếu trời không mưa phải tưới nước cho dây tiêu.

– Trồng dặm kịp thời các những dây tiêu bị chết và chấm dứt trồng dặm trước khi dứt mưa 1,5 – 2 tháng.

– Làm túp che nắng và chắn gió: do cây trụ sống còn nhỏ, chưa có tác dụng che bóng, cần làm túp che hoặc dàn che nắng và chắn gió cho tiêu. Dàn che làm bằng lưới công nghiệp hoặc các vật liệu che nắng khác có sẳn ở địa phương.

5. Trồng cây đai rừng, cây che bóng

Trồng tiêu quy mô nhỏ, diện tích dưới 1 ha, chỉ cần trồng 1 hàng muồng đen (Cassia siamea) ở đầu lô chắn hướng gió chính.

– Trồng tiêu quy mô lớn, có chiều dài lô tiêu theo hướng gió chính dài hơn 200m cần trồng đai rừng. Đai rừng được trồng đồng thời hoặc trồng trước khi trồng tiêu, gồm 1 – 2 hàng muồng đen cách nhau 2m, khoảng cách cây 2m, trồng nanh sấu. Tùy địa hình và tốc độ gió của vùng, khoảng các giữa các đai rừng chính từ 200 – 300m. Đai rừng chính được bố trí thẳng góc hoặc có thể xiên 60 0 với hướng gió chính.

Tiêu trồng với cây trụ sống đã có bóng mát. Cần chú ý rong tỉa định hình cây trụ sống và cây bóng mát trong các vườn trụ chết từ lúc mới trồng để cây trụ sống và cây bóng mát trong vườn tiêu có thân thẳng đứng cao tới 4 – 5m mà không phân cành ngang.

Đối với những vườn tiêu kinh doanh trồng trên trụ chết không có cây che bóng cần trồng bổ sung cây che bóng. Cây keo dậu, cây muồng cườm trồng với mật độ 100 – 120 cây/ha, cây muồng đen 80 – 100 cây/ha.

Làm sạch cỏ thường xuyên, nhổ cỏ mọc trong gốc bằng tay, tránh làm tổn thương vùng rễ.

Dùng rơm rạ, cỏ rác, vỏ ngô, đậu, cành lá cây phân xanh …. tủ xung quanh gốc tiêu, cách gốc tiêu 10 – 15cm vào mùa khô để giữ ẩm cho cây, khối lượng chất tủ từ 5 – 10 kg vật liệu tủ/trụ.

6.2. Buộc dây tiêu vào trụ, tỉa cành dây tiêu

Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản thường xuyên buộc dây tiêu kịp thời để đảm bảo dây tiêu có rễ bám tốt ở tất cả các mắt. Dây buộc phải mềm, dẻo.

Trong thời kỳ kinh doanh: tỉa bỏ tất cả các dây lươn, cành ác mọc phía dưới gốc tiêu, cành lá của cành ác phải cách mặt đất 10 – 15cm, tỉa bỏ các dây thân mọc ngoài bộ tán tiêu, các dây thân mọc quá dài ở đỉnh trụ, tỉa bỏ các cành ác yếu ớt, các cành tăm nhang. Việc cắt tỉa tiêu kinh doanh cần tiến hành 2 – 3 lần trong mùa mưa. Không dùng kéo cắt các cây bị bệnh xoăn lá do bị virus xâm nhiễm để cắt các cây chưa bị bệnh.

– Phân hữu cơ truyền thống: Phân chuồng được bón hàng năm với liều lượng 15-20kg/trụ. Vào đầu mùa mưa, có thể bón trên mặt đất rồi dùng rơm, cây phân xanh, cỏ khô tủ lên phân chuồng tránh mất dinh dưỡng trong phân. Hạn chế đào rãnh sâu để bón phân chuồng vì làm ảnh hưởng bộ rễ tiêu.

– Phân hữu cơ :

Bón cho cây tiêu thời kỳ kiến thiết cơ bản

Bón cho cây tiêu thời kỳ kinh doanh

Hồ tiêu kiến thiết cơ bản

– Năm trồng mới: ngoài phân chuồng và 0,5 kg phân lân được bón lót khi trồng, lượng phân NPK ở bảng trên được chia thành 2-3 lần để bón thúc sau trồng.

– Năm 2 và 3 lượng phân NPK mùa mưa được chia 3-4 lần để bón trong mùa mưa.

– Lượng phân mùa khô được chia thành 2 lần để bón khi tưới.

* Chú thích: đợt bón nuôi quả cuối cùng trong năm có thể đã vào đầu mùa khô, cần tưới nước đủ ẩm khi bón phân.

* Bón phân đơn: lượng bón/trụ/năm như sau: 400-450g Urê + 500-600g super lân (hay lân Vân điển) + 350 – 400g KCl. Bón vào các thời kỳ sau

Bón phân đơn cho tiêu thời kỳ kinh doanh

Bón phân khi đất đủ ẩm, rải phân lên mặt đất xung quang tán, xới nhẹ lấp phân vào đất, tránh làm đứt rễ tiêu.

Nếu bón phân đơn thì phân lân được bón 1 lần vào đầu mùa mưa, rải đều trên mặt đất chiếu theo tán cây, cách gốc 30 – 40 cm, không nên trộn phân lân nung chảy với phân đạm. Phân kali và đạm có thể trộn đều và bón ngay:

* Chú ý bón vôi: * Bón vôi: Hàng năm bón vôi cho vườn tiêu với liều lượng 500kg/ha. Vôi được bón bằng cách rải đều trên mặt đất, chiếu theo tán tiêu hoặc ủ chung với phân chuồng rồi đem bón cho tiêu hoặc sử dụng Komix lân vôi + TE: Bón trước khi bón các loại phân khác từ 7 – 10 ngày.

* Phân bón lá: Sử dụng một trong các sản phẩm sau đây để bổ sung dinh dưỡng cho cây tiêu: Komix Super zinc K, Bud Booster, Bortrac, phun qua lá, 3 lần trong mùa mưa vào các thời kỳ sau:

– Ra lá non: giúp ra gié tiêu tập trung, tang tỉ lệ trổ bông, đậu trái, hạn chế rụng bông.

– Trái non: hạn chế rụng trái non.

– Trái vào chắc: giúp hạ tiêu chắc mẩy, tang độ dzem (dung trọng).

+ Phun đúng nồng độ hướng dẫn trên bao bì để tránh bị cháy lá, rụng gié do nồng độ quá cao.

+ Phun phân bón lá vào những ngày trời mát không nắng gắt.

6.4. Tưới nước và thoát nước

– Phương pháp tưới: dùng biện pháp tưới gốc cho tiêu. Trong các vườn tiêu quy mô lớn, nên bố trí hệ thống ống tưới chính ngầm trong đất để chủ động tưới và tránh làm thương tổn dây tiêu khi kéo ống tưới trong vườn tiêu.

– Định lượng nước tưới và chu kỳ tưới

– Thời kỳ tưới

+ Tiêu trồng mới và kiến thiết cơ bản: tưới suốt mùa khô cho đến khi có mưa. Trong năm trồng mới, nếu vào mùa mưa có những đợt hạn dài cũng cần tưới nước bổ sung cho tiêu.

+ Tiêu kinh doanh: tưới vào mùa khô khi cây đang nuôi quả, sau khi thu hoạch xong ngừng tưới nước.

Mùa mưa, vườn tiêu phải được thoát nước tốt, vun gốc tiêu để không cho nước đọng ở gốc. Tùy thuộc vào địa hình của vườn tiêu, có thể tiến hành đào các rãnh, mương tiêu nước.

6.5. Điều chỉnh ánh sáng cho vườn tiêu

– Rong tỉa cây che bóng và cây trụ sống

+ Trong vòng 2-3 năm đầu sau khi trồng cây trụ sống và cây bóng mát, chỉ tỉa các cành ngang, hãm ngọn cây trụ sống ở độ cao 4m tính từ mặt đất.

+ Khi cây trụ sống đã lớn và tiêu bước vào thời kỳ kinh doanh cần rong tỉa cây trụ sống và cây bóng mát để tiêu có đầy đủ ánh sáng thích hợp. Mỗi năm rong tỉa 3 – 4 lần. Đầu mùa mưa, rong mạnh cây trụ sống và cây bóng mát, chỉ để lại 2 – 3 cành nhỏ ở ngọn tán. Sau đó cứ 2 tháng rong tỉa lại 1 lần nhẹ hơn, rong lần cuối cùng trước khi chấm dứt mưa 1,5 – 2 tháng và giữ bóng mát qua suốt mùa khô.

– Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản trồng cây che phủ đất như cây họ đậu, cây phân xanh. Trồng các loại cây này theo băng, cách hàng tiêu 50 – 60cm.

– Trong thời kỳ kinh doanh trồng lạc dại theo băng, cách hàng tiêu 80 – 100cm

SÂU BỆNH HẠI CÂY HỒ TIÊU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

1. CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ TỔNG HỢP SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÂY HỒ TIÊU

Hồ tiêu là một trong các loại cây công nghiệp bị nhiễm các loại sâu bệnh có nguồn gốc từ đất rất nghiêm trọng. Đây là các loài dịch hại rất khó phòng trị, nhất là đối với cây hồ tiêu, một loại cây trồng có bộ rễ rất nhạy cảm với sự tấn công của sâu bệnh. Vì vậy để quản lý sâu bệnh hại trong vườn tiêu có hiệu quả cần thiết phải áp dụng biện pháp quản lý tổng hợp theo các nguyên tắc sau:

1.1. Kiểm tra thường xuyên, phát hiện và xử lý kịp thời

– Thường xuyên kiểm tra vườn tiêu để phát hiện sớm sâu bệnh ở giai đoạn mới phát sinh.

– Khi thấy triệu chứng sâu bệnh xuất hiện phải tiến hành chữa trị, đưa các bộ phận bị sâu bệnh gây hại nặng ra khỏi đồng ruộng và đốt để hạn chế sự lây lan.

1.2. Biện pháp phòng ngừa sự nhiễm sâu bệnh

– Phương pháp phòng ngừa bệnh phải được thực hiện cho các cây tiêu khỏe xung quanh những cây tiêu đã bị nhiễm các loại bệnh như: bệnh virus, bệnh héo chết nhanh, bệnh vàng lá chết chậm.

– Các dụng cụ đã dùng để cắt bỏ và chuyển các bộ phận bị bệnh của cây tiêu ra khỏi đồng ruộng nên được làm sạch hay khử trùng trước khi dùng lại trên cây tiêu khác.

– Dụng cụ nông nghiệp đã dùng ở vườn bị nhiễm bệnh phải được làm sạch và khử trùng trước khi dùng cho vườn khác.

– Hạn chế sự di chuyển của người làm vườn từ các vườn tiêu bệnh đến vườn không bệnh.

– Hệ thống thoát nước phải được thiết lập để có thể tránh được sự lan truyền của nấm bệnh qua dòng nước.

1.3. Dùng giống kháng, giống sạch bệnh

Ở Việt Nam, công tác chọn tạo giống, nhất là giống chống bệnh cho cây hồ tiêu còn bỏ ngỏ, chưa có các giống hồ tiêu chống chịu hoặc kháng sâu bệnh hại.

Để phòng ngừa bệnh hại cần lấy các vật liệu giống (dây thân, dây lươn) tại các vườn không bị nhiễm bệnh.

1.4. Các thực hành nông nghiệp để kiểm soát sâu bệnh hại tiêu

– Chọn đất trồng tiêu phù hợp, lập hệ thống thoát nước tốt cho vườn tiêu nếu cần thiết.

– Không trồng với mật độ dày hơn 2000 cây/ha.

– Khuyến khích trồng tiêu trên cây trụ sống. Rong tỉa cây che bóng thường xuyên trong mùa mưa để tạo độ thông thoáng và ánh sáng đầy đủ cho vườn tiêu.

– Cắt tỉa hết các cành nhánh ở gốc tiêu trong khoảng 30 cm trên mặt đất, để làm giảm độ ẩm tối thiểu ở phần cổ rễ và tránh sự tiếp xúc các lá ở tầng thấp với đất vì có thể dễ nhiễm nấm bệnh.

– Hạn chế xới xáo, làm cỏ. Nhổ cỏ gốc bằng tay, trồng cây che phủ giữa các hàng tiêu, cần chú ý không để thảm che phủ phát triển quá tốt sát gốc tiêu.

– Tích cực bồi dưỡng hữu cơ để tăng độ tơi xốp, tạo điều kiện cho hệ thống rễ cây tiêu phát triển khỏe mạnh, chống đỡ được sâu bệnh.

– Tăng cường phun phân bón lá

– Bón phân khoáng cân đối hợp lý cả về đa lượng, trung lượng và vi lượng

– Vệ sinh đồng ruộng: Thu dọn các bộ phận bị sâu bệnh, các tàn dư thực vật của cây tiêu đem ra ngoài lô và tiêu hủy.

Đây là biện pháp cần được ưu tiên trong phòng trừ sâu bệnh hại hồ tiêu

– Duy trì một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các vi sinh vật có ích trong vườn tiêu để hạn chế sự gây hại của các loài sâu bệnh bằng cách: tăng cường bón phân hữu cơ, bón phân bón khoáng cân đối và hợp lý, hạn chế sử dụng hóa chất nông nghiệp.

– Thường xuyên sử dụng các chế phẩm sinh học, chế phẩm chiết xuất từ cây trồng để phòng trừ bệnh.

Biện pháp hóa học được dùng như là biện pháp cuối cùng trong việc phòng trừ sâu bệnh hại tiêu.

Khi sử dụng phải tuân theo các quy định an toàn cho người lao động và các quy định an toàn thực phẩm.

2. BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY HỒ TIÊU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

2.1. BỆNH VÀNG LÁ CHẾT CHẬM

Ban đầu cây sinh trưởng, phát triển chậm, lá vàng (các lá già thường bị vàng trước) sau đó héo và rụng, tiếp theo là các đốt bị rụng. Những cây bị bệnh thường có bộ tán lá thưa thớt, ra hoa và đậu quả kém dẫn đến năng suất và chất lượng giảm. Hiện tượng cây sinh trưởng kém, vàng lá thường xuất hiện thành từng vùng cục bộ; lúc đầu chỉ có một vài cây, sau đó lan rộng ra hoặc phát triển thành nhiều vùng. Triệu chứng vàng và rụng lá, rụng đốt thường phát triển chậm và kéo dài, có khi vài ba năm sau khi xuất hiện triệu chứng cây mới chết.

Hệ thống rễ của cây tiêu bị bệnh phát triển kém, đầu rễ bị thối, rễ có những nốt sần. Những nốt sần này có thể xuất hiện riêng lẻ hay tạo thành từng chuỗi. Triệu chứng nốt sần trên rễ và đầu rễ bị thối thường xuất hiện trên cùng 1 cây nhưng cũng có thể xuất hiện riêng lẻ trên các cây khác nhau và đều đưa đến triệu chứng trên mặt đất là cây vàng, rụng lá và rụng đốt. Khi cây bị bệnh nặng thì các rễ chính và phụ đều bị thối.

Tác nhân gây triệu chứng nốt sần trên rễ chủ yếu là tuyến trùng Meloidogyne spp. và triệu chứng thối rễ là do sự gây hại của một số loài nấm, chủ yếu là: Fusarium spp., Phytophthora spp., Pythium spp…. Tuyến trùng tấn công trước, tạo ra những vết thương và nốt sưng trên rễ sau đó nấm xâm nhập làm thối rễ dẫn đến triệu chứng cây sinh trưởng chậm, vàng lá, tháo đốt và chết.

Đôi khi mặc dầu không có sự hiện diện của tuyến trùng, các loài nấm Phytophthora spp., Pythium spp…. cũng có thể tấn công vào các đầu rễ gây triệu chứng thối đầu rễ làm cây không hấp thu được dinh dưỡng và cũng dẫn đến triệu chứng cây sinh trưởng chậm, vàng lá, tháo đốt và chết.

Tuyến trùng và nấm gây bệnh vàng lá chết chậm trên cây tiêu là các loài dịch hại có nguồn gốc từ đất vì vậy để phòng trừ có hiệu quả cần chú trọng các biện pháp phòng trừ bằng canh tác và sinh học, hạn chế sử dụng biện pháp hóa học. Biện pháp hóa học chỉ nhằm làm giảm tạm thời số lượng tuyến trùng trong rễ và đất trồng cây tiêu, sau đó các biện pháp canh tác và sinh học sẽ giúp cây tiêu phát triển bền vững và chống chịu được sự gây hại của tuyến trùng mà không gây ô nhiễm môi trường và độc hại cho người trồng tiêu. Để hạn chế sự phát triển và gây hại của bệnh vàng lá chết chậm cần áp dụng các biện pháp sau:

– Không nên trồng tiêu trên các vườn tiêu đã nhổ bỏ do bị tuyến trùng gây hại mà chưa qua thời gian luân canh. Đất làm vườn ươm cũng không nên lấy từ những vườn này.

– Trước khi trồng mới cần vệ sinh đồng ruộng để loại bỏ các tàn dư thực vật, cày phơi đất trong mùa khô để diệt nguồn tuyến trùng trong đất.

– Bón phân cân đối, tăng cường phân bón lá và thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho cây vì ngoài việc bổ sung dinh dưỡng và cải tạo đất trong phân hữu cơ còn có các vi sinh vật đối kháng với tuyến trùng có thể hạn chế được sự phát triển của tuyến trùng.

– Thường xuyên sử dụng các loại thuốc sinh học như Paecilomyces lilacinus (Palila 500WP), Chitosan, Trichoderma spp. Nên sử dụng ngay từ khi bắt đầu trồng tiêu và sử dụng liên tục hàng năm để tăng cường lượng vi sinh vật đối kháng với tuyến trùng trong đất trồng tiêu.

– Thường xuyên theo dõi và kiểm tra vườn cây để phát hiện bệnh và xử lý sớm.

– Hạn chế xới xáo và không để nước chảy tràn từ gốc tiêu này sang gốc tiêu khác trong vườn tiêu bị bệnh.

– Những vườn đã bị nặng cần nhổ bỏ và luân canh 2 – 3 năm với cây trồng khác trước khi trồng lại tiêu.

– Sử dụng thuốc hóa học:

o Sử dụng thuốc hóa học để trị tuyến trùng và một số nấm dưới đất: Tervigo 020SC kết hợp với Ridomil Gold 68WG(với nồng độ 200ml Tervigo + 200g Ridomil Gold để phòng và 200ml Tervigo + 400g Ridomil Gold để trị, pha trong 200 lít nước tưới vào từ gốc)

o Để phòng trừ các nhóm nấm xâm nhiễm gây thối rễ ( Fusarium, Pythium, Lasiodiplodia, Rhizoctonia, Phytophthora) tưới gốc EDDY 72WP (pha 500g/ 200 lít, tưới 4-5 lít/ trụ ), xử lý thuốc 2 lần vào đầu mùa mưa (tháng 5,6) và giữa mùa mưa (tháng 8,9).

Bệnh xuất hiện trên tất cả các bộ phận và ở các giai đoạn sinh trưởng của cây tiêu. Nấm bệnh có thể gây hại trên lá, chùm quả, thân, rễ nhưng phổ biến nhất là ở phần thân nằm trong đất nơi tiếp giáp với mặt đất.

Nếu bệnh tấn công vào các bộ phận trên mặt đất như thân, cành, lá sẽ làm các bộ phận này thối đen. Đầu tiên là những vết bệnh mềm, sũng nước trên thân, cành, lá. Sau đó các vết bệnh lan rộng ra tạo các vết thâm đen dẫn đến đến triệu chứng thối thân, thối cành, cháy lá. Những lá tiêu gần sát mặt đất thường dễ nhiễm bệnh do nấm Phytophthora sau những trận mưa lớn trong mùa mưa.

* Triệu chứng trên gié hoa, quả: Sự nhiễm nấm Phytophthora trên gié hoa, quả gây hiện tượng quả, cuống gié hoa, quả bị đen và rụng.

Bệnh do một số loài nấm Phytophthora gây hại.

Bệnh chết nhanh thường xuất hiện trong mùa mưa. đặc biệt là những tháng mưa nhiều và tập trung ở những vườn không thoát nước tốt. Những năm mưa nhiều và kéo dài bệnh thường gây hại nặng và lây lan nhanh, đôi khi thành dịch. Những năm có hạn hán kéo dài, khả năng sinh trưởng và sức đề kháng của cây kém nên cây cũng dễ bị nấm tấn công hơn trong mùa mưa.

Nấm bệnh chủ yếu sống trong đất và lây lan từ đất qua nước mưa; nước tưới; thân, cành, lá tiêu bị bệnh rụng xuống đất. Thân, cành, lá thường bị nhiễm bệnh trong mùa mưa. Các vườn ẩm thấp, các cây có bộ tán lá rậm rạp là điều kiện thích hợp cho nấm bệnh phát triển.

Do diễn biến bệnh trên đồng ruộng rất nhanh, thường khi lá bắt đầu héo thì nấm đã ăn sâu vào bên trong các bộ phận của cây, nên đối với bệnh này phòng bệnh là chủ yếu. Để phòng trừ bệnh cần phải sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp bao gồm các biện pháp: vệ sinh đồng ruộng, kỹ thuật canh tác, sinh học và hóa học. Đặc biệt chú trọng biện pháp canh tác và sinh học.

– Chọn đất trồng tiêu có tầng canh tác dày, thoát nước tốt, có mực nước ngầm thấp.

– Xử lý hom giống trước khi trồng bằng một trong các loại thuốc sau Aliette 80 WP (0,1%), Ridomil Gold 68 WP (0,1%), Rovral 50 WP (0,1%).

– Trồng tiêu với mật độ thích hợp

– Đào rãnh thoát nước, tránh để nước đọng trong gốc tiêu, vun đất cao ở phần gốc thân, không để bồn quá sâu.

– Tạo điều kiện tiểu khí hậu thuận lợi trong vườn tiêu như: trồng cây đai rừng chắn gió, cây che bóng để vườn tiêu có độ ẩm, nhiệt độ thích hợp cho cây tiêu sinh trưởng và phát triển tốt.

– Điều chỉnh cây che bóng hợp lý: Cây tiêu thường được cho leo bám lên các loại cây trụ sống như cây muồng đen, cây lồng mức, cây muồng cườm, cây keo dậu… Trong mùa mưa tán của các loại cây trụ sống này phát triển và tạo một vùng tiểu khí hậu dưới tán cây với ẩm độ cao và nhiệt độ thấp. Đây là điều kiện lý tưởng để cho nấm Phytophthora phát triển và lây nhiễm. Việc chặt các cành nhánh cây trụ sống trong mùa mưa là cần thiết để cây tiêu có thể nhận ánh sáng mặt trời để quang hợp và giảm độ ẩm trong vườn cây. Các cành nhánh được chặt có thể dùng để che phủ đất chống lại sự văng đất bệnh lên cây tiêu.

– Trồng các loại cây che phủ như cây lạc dại ( Arachis pintoii) giữa các hàng tiêu để kìm hãm sự lan truyền của nấm Phytophthora và chống lại việc văng các hạt đất bị nhiễm Phytophthora từ các lá tiêu ở dưới thấp trong suốt mùa mưa.

– Thường xuyên kiểm tra vườn cây trong mùa mưa, đặc biệt là những trận mưa sau một đợt hạn hán kéo dài, để có thể phát hiện được bệnh sớm. Khi đã phát hiện được cây bệnh phải kiên quyết đào bỏ, thu dọn tàn dư cây bệnh đưa ra khỏi vườn và đốt để loại trừ nguồn bệnh.

– Trong quá trình chăm sóc vườn tiêu tránh gây vết thương cho thân ngầm và rễ tiêu: Khi làm cỏ vào mùa mưa nên tránh làm tổn thương rễ, những cỏ mọc trong gốc nên nhổ bằng tay. Khi bón phân chú ý không để phân vô cơ tiếp xúc trực tiếp với phần thân của cây tiêu.

– Cắt bỏ các các dây lươn và các cành nhánh ở cách mặt đất khoảng 30 cm, để tạo độ thông thoáng ở phần gốc thân và hạn chế các lá ở tầng thấp tiếp xúc với đất là nơi có nhiều nguồn nấm Phytophthora.

– Bón phân vô cơ cho cây tiêu cân đối và hợp lý.

– Thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đất bằng các loại phân hữu cơ hoặc sử dụng các vật liệu như: cây xoan, cây đậu tương, cây lạc, rơm rạ, ngô và các loại cây họ đậu để tủ gốc, làm tăng sự phát triển của các vi sinh vật đối kháng với nấm Phytophthora.

– Không trồng xen các loại cây là ký chủ của nấm Phytophthora trong vườn tiêu như: bầu bí, cây họ cà, cao su, ca cao, sầu riêng, bơ…

– Thường xuyên sử dụng các chế phẩm sinh học có nấm đối kháng với nấm Phytophthora như Trichoderma(Tricô – ĐHCT), Pseudomonas fluorescens ….để hạn chế sự phát triển của nấm Phytophthora. Bón 2 – 3 lần trong mùa mưa.

Biện pháp hóa học tổng hợp phòng trừ bệnh chết nhanh

Rửa vườn : Norshield 86.2WG (300 g/200 lít) phun kỹ ướt đều toàn bộ trụ tiêu và quanh gốc sau khi thu hoạch xong (tháng 3,4).

Quét gốc : Cắt bỏ cành nhánh sát mặt đất, dùng Norshield 86.2WG (50 g/1 lít) quét ướt đều phần gốc thân, cổ rễ vào đầu mùa mưa (tháng 5,6).

Tưới gốc : thực hiện 2 lần đầu mùa mưa và giữa mùa mưa EDDY 72WP (500g/ 200 lít), tưới ướt đều cho thuốc thấm sâu vào vùng rễ (4 – 5 lít/ trụ tùy theo tuổi cây).

Phun lá, bông và trái non: dùng Ridomil Gold; Agri foost 400; Hợp Trí Kaliphos (500ml/ phuy 200 lít) phun khi cây có lá non gữa 2 lần tưới Eddy (tháng 7,8 và tháng 9,10)

– Có thể bổ sung thêm 1 lần quét thân vào giữa mùa mưa (tháng 8-9).

– Trường hợp phát hiện vườn đã có bệnh nên tưới EDDY 72WP 2 lần cách nhau 15 ngày/ 1 lần (500 – 600g/200 lít, tưới 4-5 lít/nọc)

– Sau khi phòng trị bệnh nên tưới hay bón Hợp Trí Super Humic để kích thích bộ rễ mới và hồi phục cây (bón 20g/ trụ hoặc pha 1kg/200 lít nước để tưới).

– Bổ sung thêm phân trung vi lượng phân giải chậm Micromate (50g/gốc) vào đầu và cuối mùa mưa để phòng chống hiện tượng rối loạn dinh dưỡng vàng xoăn đọt.

2.3. BỆNH KHẢM LÁ VÀ XOĂN LÁ (TIÊU ĐIÊN)

Có 3 triệu chứng phổ biến xuất hiện trên cây tiêu:

* Triệu chứng xoăn lùn: Cây tiêu bị bệnh thường có lá nhỏ, biến dạng; mặt lá sần sùi; lá dày và giòn; mép lá gợn sóng, có những vùng xanh đậm xen lẫn với những vùng xanh nhạt do sự phân bố không đều của diệp lục. Ngọn tiêu nhỏ lại và ra rất nhiều ngọn tạo thành búi lớn sát gốc. Các lóng đốt của cây tiêu ngắn lại, dẫn đến chiều cao cây cũng thấp hẳn so với cây bình thường. Triệu chứng này thường gặp ở vườn tiêu kiến thiết cơ bản. Trên vườn tiêu triệu chứng này thường dễ nhận biết và nông dân thường gọi là “tiêu điên”.

– Không được lấy giống từ các vườn đã có triệu chứng bệnh virus. Bệnh do virus thường lây lan qua hom giống lấy từ cây đã bị bệnh. Các cây này có thể chưa thể hiện triệu chứng xoăn lá, khảm lá nhưng virus đã xâm nhập và hiện diện trong cây.

– Trong quá trình canh tác không dùng dao, kéo cắt tỉa các cây bị bệnh, sau đó cắt sang cây khỏe.

– Cần phải kiểm tra cây tiêu xem có các côn trùng môi giới chích hút hay không. Nếu có thì phun một trong các loại thuốc sau: Bassa 50 EC nồng độ 0,1% hay Vibasa 50 ND nồng độ 0,2%, Subatox 75 EC nồng độ 0,2%, để diệt trừ côn trùng môi giới.

– Khi cây đã bị bệnh virus thì không thể cứu chữa, cần nhổ bỏ cây bệnh.

Đầu tiên trên lá có những đốm lớn màu vàng sau đó chuyển thành màu nâu và đen dần. Vết bệnh có hình dạng không nhất định. Khi già rìa vết bệnh có quầng đen rộng bao quanh, phân cách giữa phần mô bệnh và mô khỏe.

Bệnh thường gây hại ở đầu và mép lá tiêu, làm lá bị cháy, trường hợp bị nhiễm nặng lá sẽ bị rụng. Bệnh cũng có thể tấn công vào gié bông, gié quả làm bông, hạt bị khô đen hoặc cũng có thể gây hại thân nhánh cây tiêu làm tháo đốt, khô cành. Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng thường phát triển mạnh trong mùa mưa.

Tác nhân gây bệnh: Do nấm Colletotrichum spp.,

– Phun thuốc Tepro Super 300EC 250ml/phuy 200 lít; Rius opti; Carban… bệnh nặng phun lại lần 2 cách nhau 15 ngày.

(Cành tiêu bị nấm mạng nhện) (Cành lá tiêu bị khô do nấm mạng nhện)

– Trên thân, cành, lá có những sợi màu trắng giống như sợi chỉ bám chặt làm các bộ phận này bị héo khô. Triệu chứng dễ nhận biết đó là cành và lá khô héo nhưng vẫn bám chặt vào cây do các sợi nấm kết chặt lại với nhau. Bệnh thường xuất hiện ở các cành lá trên đỉnh tán hay các cành lá phía ngoài tán.

– Bệnh làm cho cây không phát triển được chiều cao, phần dây thân từ đỉnh tán bị chết khô và tuột khỏi trụ.

Đây là loại bệnh mới xuất hiện gần đây tại một số vùng trồng tiêu ở nước ta nhưng đã gây nhiều tổn thất nặng cho người trồng tiêu

Do nấm Corticium koleroga. Đây là loài nấm thích ẩm độ cao, sợi nấm luôn phát triển theo hướng ánh sáng. Vì vậy bệnh phát triển mạnh trong mùa mưa và thường gây hại phần nửa phía trên của cây tiêu.

Sử dụng Keviar 325SC (250 ml/ phuy 200 lít) phun trên lá.

2.7. BỆNH TẢO (BỆNH ĐỐM RONG)

Mặt trên lá có những đốm tròn hoặc hơi tròn, hơi nổi lên cao hơn bề mặt của phiến lá một chút. Ở giữa đốm tảo có lớp rong phát triển nhìn giống như lớp nhung mịn, màu nâu đỏ.

Tảo cũng có thể gây hại trên cành và quả tiêu nhưng không phổ biến như trên lá.

Do tảo Cephaleuros virescens. Tảo phát triển mạnh trong điều kiện mưa nhiều và ẩm. Đất thoát nước kém, cây sinh trưởng kém, vườn cây thông thoáng là điều kiện để tảo phát triển

– Tạo tỉa thông thoáng vườn cây.

– Rong tỉa cây choái và cây che bóng trong mùa mưa.

– Rửa vườn sau thu hoạch là hiệu quả nhất : Norshield 86.2WG (300 g/ 200 lít) phun kỹ ướt đều toàn bộ nọc tiêu và quanh gốc. Mục đích: Vệ sinh vườn tẩy các loại nấm bệnh tồn lưu trên lá, trái, thân, nọc tiêu, …

Ngoài ra trên cây tiêu còn có một số bệnh khác gây hại nhưng mức độ gây hại không nghiêm trọng như: bệnh đen lá (do nấm Lasiodiplodia theobromae), bệnh khô vằn (do nấm Rhizoctonia solani), bệnh nấm hồng (do nấm Corticium salmonicolor)

3.SÂU HẠI CHÍNH TRÊN CÂY HỒ TIÊU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Trên cây tiêu rệp sáp gây hại tất cả các bộ phận của cây từ thân, lá, quả đến rễ. Rệp sáp hại rễ là đối tượng gây hại nguy hiểm, đã từng gây nạn dịch làm hủy diệt nhiều vườn tiêu tại Đak Lak vào những năm trước 1990 và hiện nay chúng cũng là một trong những nguyên nhân gây hiện tượng vàng lá, chết cây tại các vùng trồng tiêu ở nước ta.

Rệp sáp tấn công gié hoa, gié quả, đọt non, kẽ cành, mặt dưới lá tiêu. Chúng chích hút dinh dưỡng làm cho các bộ phận này không phát triển được và khô héo.

Khi rễ tiêu bị rệp sáp gây hại thì triệu chứng trên cây giống như triệu chứng bệnh vàng lá chết chậm. Thường rất khó phát hiện triệu chứng trên thân lá khi cây bị rệp gây hại ở mức độ nhẹ. Cây bị hại nặng thì vàng lá, cằn cỗi, sau đó cây rụng hết lá và chết. Vì vậy khi thấy cây có triệu chứng sinh trưởng kém, rụng lá thì cần phải kiểm tra hệ thống rễ của cây để xác định nguyên nhân.

Rệp sáp chích hút thân ngầm và rễ của cây tiêu, tạo vết thương để nấm xâm nhập và làm thối rễ. Rễ các cây bị rệp nặng thường có măng xông bao xung quanh tạo thành những vùng u lớn, bên trong có rất nhiều rệp sáp. Lớp măng xông này sẽ bảo vệ rệp không bị tác động bởi các điều kiện ngoại cảnh, vì thế khi cây đã có măng xông ở rễ thì rất khó diệt rệp. Rệp sáp thường tấn công vào phần thân ngầm tiếp giáp với mặt đất (cổ rễ) trước, sau đó đến các rễ ngang và rễ chính. Do vậy, đối với các cây có triệu chứng vàng lá nặng, khi kiểm tra cổ rễ nếu không thấy rệp sáp, cần phải đào sâu đến vùng rễ ngang và rễ chính.

Rệp sáp lây lan chủ yếu nhờ vào các loài kiến, cây tiêu bị rệp sáp gây hại thường có nhiều kiến. Rệp sáp tiết ra chất thải có hàm lượng đường cao là thức ăn cho nhiều loài kiến, đồng thời chất thải này cũng tạo điều kiện cho nấm muội đen phát triển. Kiến ăn dịch của rệp sáp và mang rệp đi khắp nơi. Ngoài ra rệp sáp còn lây lan qua các con đường khác như: mưa, nước tưới, dụng cụ lao động.

– Cần chăm sóc vườn cây, cắt bỏ những cành mọc sát mặt đất, vệ sinh đồng ruộng để hạn chế sự lây lan của rệp qua kiến.

– Cắt bỏ các cành nhánh tiêu bị rệp sáp nặng, nhổ bỏ các cây tiêu đã bị rệp sáp gây hại tạo măng xông, đưa ra ngoài vườn và đốt.

– Việc phòng trừ rệp sáp hại rễ chỉ có hiệu quả khi cây bắt đầu có triệu chứng chậm phát triển, cây vàng lá nhẹ, rệp sáp chưa tạo ra măng xông. Khi kiểm tra phần cổ rễ nếu có rệp sáp thì sử dụng một trong các loại thuốc sau để tưới vào gốc tiêu: Brightin 1.8EC(250 ml/200 liters, tưới 4-5 liters/gốc), Subatox 75 EC, nồng độ 0,3 %, Pyrinex 20 EC, nồng độ 0,3 %, Suprathion 40 EC, nồng độ 0,3 %…, liều lượng 1 – 2 lít dung dịch/ gốc, tưới 2 – 3 lần cách nhau 15 ngày. Trước khi xử lý cần đào đất ra để thuốc tiếp xúc trực tiếp với rệp thì hiệu quả sẽ cao hơn. Đào đất đến đâu tưới thuốc đến đó, đợi thuốc ngấm rồi lấp đất lại.

– Các loại thuốc dạng hạt cũng rất thuận tiện để phòng trị rệp sáp hại rễ: dùng Basudin rải gốc với liều lượng 30-40g/gốc. Rạch rãnh sâu 7-10cm quanh tán trụ tiêu, rắc thuốc và lấp đất. Chỉ thực hiện khi đất đủ ẩm.

– Có thể dùng thuốc sinh học Metarhizium với lượng 500 g/ gốc để phòng trừ.

– Nếu cây đã bị măng xông thì nhổ bỏ, việc phòng trừ giai đoạn này không có hiệu quả bởi vì rễ tiêu đã bị thối không thể hồi phục lại được.

– Hạn chế trồng tiêu trên các vùng đất đã bị rệp sáp gây hại nặng.

Con trưởng thành của bọ xít lưới có màu đen, kích thước khoảng 15 x 7 mm. Cánh dài quá bụng, mảnh lưng ngực trước kéo dài ra hai bên và phình tròn ở đầu, nhìn giống như hai cánh ngắn. Mặt lưng và cánh trước có cấu tạo lưới. Vòi nằm sát mặt dưới của đầu và ngực.

Bọ xít lưới chích hút lá non, gié bông, gié quả, quả non làm rụng gié bông, gié quả, quả non, giảm tỷ lệ đậu quả và ảnh hưởng đến năng suất vườn cây. Mức độ rụng hoa, quả phụ thuộc vào mật độ bọ xít trên cây. Khi cây tiêu bị bọ xít gây hại nặng, gié bông, gié quả rụng đầy dưới đất. Bọ xít lưới thường sống ở mặt dưới lá tiêu, ngoài ra chúng còn sống và trú ngụ ở các loại cỏ trong vườn tiêu.

Bọ xít lưới thường xuất hiện vào giai đoạn cây tiêu ra hoa và đậu quả. Thời gian xuất hiện nhiều nhất trong năm là vào đầu và giữa mùa mưa.

– Thu gom các bộ phận bị hại, đưa ra ngoài vườn để đốt.

– Làm cỏ trong vườn tiêu để phá bỏ nơi trú ngụ của bọ xít lưới.

– Trồng tiêu với mật độ thích hợp, tạo hình để cây thông thoáng.

– Sử dụng một trong các loại thuốc như: Thiamax 25WG, Brightin 1.8EC,

Permecide 50EC, Motox, Subatox 75 EC (0,3 %)… Phun vào tán lá, chú ý phun kỹ vào tán lá và mặt dưới lá tiêu và phun vào lúc chiều tối sẽ tăng hiệu quả phòng trừ.

Đặc điểm hình thái, sinh học của rệp và cách gây hại

Rệp muội có màu xanh, nâu bóng hay đen. Rệp non có màu sắc thay đổi nhưng nhạt hơn rệp trưởng thành. Rệp muội dài 2 – 3 mm, có cánh hoặc không có cánh, râu đầu tương đối ngắn.

Rệp muội thường xuất hiện và chích hút các bộ phận non của cây tiêu như đọt non, lá non, làm biến dạng, thâm đen.

– Có thể dùng một trong các loại thuốc sau đây khi thấy cần thiết như: Subatox 75 EC (0,2 %), Thiamax 25 WG (4g/ 16 lít nước). Chỉ phun vào các bộ phận của cây tiêu bị rệp muội gây hại.

4. CÁC LOÀI SÂU HẠI TIÊU KHÁC

Trên cây tiêu còn có các loại sâu hại khác như: rầy xanh (thuộc Bộ Homoptera), bọ xít dài ( Leptocorisa actua), bọ cánh cứng ăn lá ( Anomala sp., Apogonia sp.)…Tuy nhiên các loài này không xuất hiện phổ biến và mức độ gây hại không nghiêm trọng đối với cây tiêu.

Dùng một trong các loại thuốc sau: Bi 58 40 EC, Subatox 75 EC, nồng độ 0,3%, phun 2 lần cách nhau 7 – 10 ngày.

BÀI VIẾT QUA CÁC NĂM

【#2】Cách Làm Lan Nở Hoa

Giả Hạc không hoa toàn keiki, Sóc Cáo Chồn toàn lá và rễ không hoa, Vảy rồng 5 năm không hoa, Dendro 10 năm bụi khủng, giả hành bằng ngón chân cái không có hoa…

Tôi không tài giỏi gì, nhưng sẽ giúp các bác giải đáp được thắc mắc, còn chuyện các bác làm được lan nở hoa như tôi nói hay không thì hên xui….

Tôi không dùng từ KÍCH HOA, vì thật ra nếu trồng và chăm sóc đúng kỹ thuật thì lan sẽ ra hoa rất tự nhiên.

Ví dụ như Ngọc Điểm (Đai Châu, Nghinh Xuân), Thanh Đạm, Kiếm… thì chỉ cần cung cấp đủ nước, đủ dinh dưỡng, đủ tuổi, đủ sáng là cây sẽ ra hoa.

Còn vài thể loại khó hơn xíu như Kiều (Thủy Tiên), Giả Hạc (Phi Điệp), Long Tu, Trầm, Vảy Rồng, Sóc, Cáo, Chồn, Đùi Gà, Hoàng Thảo Xoắn… thì ngoài ra còn yêu cầu thêm vài cái lưu ý linh tinh nho nhỏ.

1. Bắt buộc lan phải đủ tuổi mới ra hoa được

Tùy loại ví dụ Kiều từ 18 tháng trở lên, Thân Thòng 12 tháng, Catlaya trên 3 năm, Vanda trên 4 năm…

2. Tùy vùng miền

Khi ta chuyển vùng lan bị lệch khí hậu sẽ rất khó ra hoa. Ví dụ Kim Thoa Lâm Đồng trồng tại Lâm Đồng thì không phân thuốc gì vẫn hoa bình thường, còn mang từ Bắc vào thì rất khó hoa…. Tóm lại lan thuần trong cùng 1 vùng sẽ rất dễ ra hoa. Nói cái này trước để khỏi ăn gạch của các bác. Kẻo có bác lại nói lan tao trồng cứ vứt đại ở ngoài gốc cây mà năm nào cũng ra hoa ầm ầm.

Để giải quyết vấn đề này ta có vài cách như sau:

A. Ráng chịu khó 1-2 năm không có hoa cho em nó thích nghi khí hậu (Ví như vườn nhà tôi 3 năm trước nhập 1 lô Kim Thoa Vàng Tuyền từ bắc vào, năm ngoái mấy chục chậu không ra được 1 cọng hoa. Năm nay, vẫn chế độ chăm bón vậy mà giờ đang bung mắt hết 1 loạt).

B. Tạo khí hậu trong vườn để giống với khí hậu nơi em nó khai sinh. Có nhiều khi chuyển lan từ vùng ôn đới (cao nguyên lạnh) về vùng nhiệt đới (Sài Gòn, Miền Tây), một vài loại lan khó phải cho em nó ở phòng máy lạnh mới chịu.

C. Chọn mua loại lan có gien khỏe, phổ thích nghi cao. Ví dụ trong các loại Kiều (Vàng, mỡ gà, tím (Bắc gọi Hồng, Tây gọi Hường), Tua, Dẹp, Trắng, Cam) thì Kiều Trắng dễ ra hoa nhất, thích nghi mọi loại địa hình cao thấp nóng lạnh mà không khó như em Hường (Em này mà không kích có khi 10 năm không ra hoa).

3. Cách chăm, tưới.

Mô phỏng đúng môi trường tự nhiên lan sinh sống, nếu lan không ra hoa, em xin bỏ cmn nghề lan.

Em thấy có nhiều chị nói lan nhà, chị toàn đẻ con mà không thấy hoa đâu hết. Tôi tới quan sát thì thấy giàn, tiểu khí hậu, phân tro đúng hết mà chỉ có mỗi 2 cái sai nhỏ. Đó là chị rất thích CẦM VÒI và để em ở CHỖ KÍN (tối, mát). Lúc em nó cần ngủ nghỉ thì cứ cầm vòi làm em nó không ngủ được, lại không đủ nắng thì ra hoa bằng NIỀM TIN à!!!

A. Đa số thân thòng như Giả Hạc, Long Tu, Trầm và mấy em khác như Ý Ngọc, Đùi Gà, Kèn… thì có thời gian ngủ khoảng 45-50 ngày, mấy em này khi ngủ sẽ từ từ TUỘT HẾT lá.

Thôi, ví dụ cụ thể đi:

Long Tu của Việt Nam nở tết. Vào khoảng đầu tháng Mười Âm lịch, ngừng tưới nước cho đến khi nó rụng hết lá, nếu cách Tết 45 ngày mà cây vẫn chưa rụng hết lá thì nên vặt hết lá đi và vẫn để khô như vậy cho đến cuối tháng 11 Âm lịch bắt đầu tưới nước trở lại, sau 10-15 ngày xuất hiện nụ hoa, nếu nụ to thì để ở nơi mát và giảm tưới nước, còn nụ nhỏ tăng ánh sáng và nước tưới. Muốn làm được như vậy thì ta phải trồng cho nó thật xanh tốt, giả hành dài và mập.

Năm ngoái, cùng 1 lô long tu, tôi đã thí nghiệm làm cho em nó ra hoa chênh nhau 40 ngày. Tôi để vài giò sau khi trụi lá khô luôn (KHÔNG TƯỚI), cho nó NGỦ SÂU, để chỗ mát lạnh nhất trong vườn, tới khi nụ bung ra tôi mới tưới để giả hành nó căng lên 1 chút để hoa lâu tàn hơn. Em nó nở vào đầu tháng 2 âm của năm sau. Còn mấy chục giò sau khi trụi lá, tôi bắt đầu tập trung tưới đẫm, treo chỗ nắng. Giò nào đẫm nhất (ngày 2 lần tưới) nở trước cả ngày ông Táo về trời, còn giò nào tưới ngày 1 lần thì nở trúng tết. Giò nở sớm nhất và muộn nhất cách nhau 40 ngày.

Cách ép lan nở tết là vậy. Còn ví dụ GIẢ HẠC HÈ muốn ép nở tết cũng được, nhưng không nên làm thế, cây sẽ yếu, hoa nhanh tàn (có khi sai hoa và hoa đậm hơn), muốn làm được điều này phải có sự chuẩn bị trong 2 năm. Xin phép không chia sẻ, bí kíp này phải có tí mồi và tí cồn mới được.

Nhớ nhé các chị! Lan nó cần ngủ, đừng tưới nhiều vào mùa khô (mùa thu đông). Căn nước sao cho giả hành không quá teo tóp và rễ không bị chết khô là được.

Từ 1 em Long Tu các bác cứ thế mà suy ra các em kia tương tự thôi (đặc biệt là Giả hạc cực kỳ giống), quan trọng là phải biết em nó ra hoa thời gian nào mà CẮT NƯỚC (NGƯNG CẦM VÒI) cho hợp lý.

Lưu ý: Giai đoạn này tuyệt đối không xịt nước vào giả hành, chỉ xịt vào rễ và giá thể.

B. Họ nhà Dendro mà thích đứng hiên ngang như mấy em Kiều (Thủy Tiên), Vảy Rồng, Dendro công nghiệp, họ nhà CÓ LÔNG (Dendro Kontum, Thanh Bạch Hạc, Trinh Bạnh, Nhất Điểm Hồng Hoàng…) thì thực tế là không TUỘT lá, tuy nhiên em nó vẫn cần nghỉ.

Tôi đã có lần đi tầm lan vào dịp tết, thấy bụi kiều chi chít hoa, nhưng thân em nó teo tóp lại. Có khi gặp bụi Long Tu, Hàm Long thân cũng tóp sờ teo lại, nhưng hoa thì quá chừng chừng.

Suy ra là, bản năng duy trì nòi giống, nó cảm thấy thiếu nước quá nguy hiểm, cần phải nở hoa tạo hạt để nếu có khô chết cũng không tiệt tự tiệt nọc. Vì thế em nó bung hoa.

Thường thì khi các bác chơi tại nhà có vài chục tới vài trăm giò, ngày nào cũng BẮC VÒI XỊT cho sướng cái tay, vì các bác treo lan không có quy hoạch lẫn lộn lung tung hết lên, ngày nào cũng được MÂY MƯA, các em sướng quá ĐẺ 1 ĐỐNG CON cho các bác, sao mà ra hoa được.

Cụ thể tí nhỉ:

Vảy rồng nở thường là tháng 2-4 âm lịch (trừ vảy rồng Lâm Đồng nở trúng tết) Vậy các bác cắt nước từ tết cho em, không tưới luôn (nếu tiểu khí hậu quá kém thì 10 ngày phun nước dạng sương 1 lần vào GỐC), khi thấy nhú nụ thì tập trung tưới hết cỡ cho em, vì khi này giả hành bị tóp teo lại, tưới để nó căng lên 1 chút, khi đó hoa sẽ bền hơn được xíu. Còn muốn hoa lâu tàn thì nụ chuẩn bị nở lại ngừng tưới nhé.

Kiều cũng rứa mà làm. Ví dụ Kiều Tím khó hoa đi! Thường thì em nó nở vào tháng 3-8 âm lịch. Ví dụ tháng 7 Âm Lịch đi cho cụ thể nha. Từ tháng 5 các bác dừng tưới, để khô hoàn toàn cho giả hành tóp lại 1 xíu lại phun tí nước vào gốc cho đỡ khô chết rễ, sau đó lại để khô (trung bình 10 ngày 1 lần xịt nước, ít thôi nhé) làm như vậy khoảng 2 tháng là thấy nụ nhú ra. Khi nụ nhú đều và nhiều đủ số lượng, thường thì nụ nhú được 1cm, các bác tập trung tưới ngày 2-4 lần cho giả hành nó căng lên, sau đó lại ngừng tưới và chơi hoa….

Vụ này mà không có khu mái hiên hoặc nhà nilon thì hơi khó, mà lắp tưới tự động cho cả vườn thì lại càng khó… Ép cho cố mà dính 1 trận mưa thâu đêm thì thôi xong.

C. Sóc, Cáo, Chồn, Nghinh Xuân (Ngọc Điểm)….

D. Catlaya…

4. NẮNG

5. PHÂN

6. THUỐC KÍCH HOA

7. Ăn Rùa, 502, …

Các bác thấy hay thì chia sẻ nhé!

CHIA SẺ chính là một cách LƯU TRỮ và LAN TỎA, nhằm nâng tầm người chơi lan lên 1 tầm cao mới.

(Theo chia sẻ từ bác Nguyễn Ngọc Hà)

【#3】Cách Trồng Và Chăm Sóc Lan Phi Điệp Toàn Tập Từ A-Z

Cách trồng lan phi điệp và chăm sóc chúng chưa bao giờ là khó cả. Trong thực tế lan phi điệp rất dễ trồng. Dù là người mới chơi lan bạn cũng có thể được sở hữu những giò phi điệp đẹp. Chỉ cần bạn biết cách trồng và chăm sóc chúng sao cho hợp lý. Việc này không khó khi bạn chịu đọc hết bài viết này, hihi. Vì đây là mình cũng học hỏi của các bậc cao thủ lan nhiều nơi.

cách trồng lan phi điệp

1. Các loại lan rừng nên trồng

Mới chơi lan, theo mình chọn lan rừng là phù hợp nhất và cũng đẹp nhất. Lan rừng có nhiều loại, có loại dễ thuần, có loại khó thuần, có loại gần như không thể thuần, có loại hợp khí hậu vùng này, có loại hợp khí hậu vùng khác, tuỳ sở thích, điều kiện khí hậu mà chơi.

Lan rừng nhiều loại nhưng tựu chung lại có 4 nhóm chính: Thân thòng ( như Phi điệp, trầm, long tu, u lồi, kèn, hạc vỹ…). Giáng hương, đơn thân (quế, nhạn, tam bảo sắc, đai châu, cáo, sóc, hải yến…) địa lan và hài. Trong các nhom này theo mình có 4 loai nên trồng nhất đó là Phi điệp (giả hạc), Đai Châu (nghinh xuân, ngọc điểm, tai trâu), Kiều và Quế vì 4 loại này hội đủ các yếu tố dễ trồng chăm sóc, hoa đẹp, thơm, màu hoa và hình dáng hoa đa dạng. Riêng đai châu nở vào Tết cổ truyền nên càng quý. Chỉ cần bạn có một giò lan phi điệp quý, một trụ đai châu khủng, một giò kiều đẹp hay giò Quế lớn là bạn đủ để người khác phải nể rồi.

Sau đây mình sẽ chia sẻ trước cách trồng, chăm sóc lan phi điệp. Mọi người cùng tham khảo và thảo luận nhé

2. Tại sao lại chọn trồng và chơi lan phi điệp?

Vì sao mình lại đặt nó lên hàng đầu, tất nhiên là có lý do của nó.

Thứ nhất, nó dễ trồng, ai đã chơi rồi đều biết. Phi điệp cực kỳ dễ trồng, các cụ xưa đã đem ở rừng về cột vào thân cây trong vườn chả tưới tắm gì mà vẫn xanh tốt, ra hoa đều đặn. mình đã gặp ở nhiều nơi, chỉ cột vào thân nhãn, mít, thậm chí cau nắng chiếu gần như trực tiếp vẫn to đẹp. Lan phi điệp phù hợp với mọi vùng miền, từ miền bắc, núi cao khí lạnh, đến miền nam mưa nhiều, miền trung khô nóng, vùng biển mặn mòi đến tây nguyên nắng gió, đều trồng và ra hoa được. Lan phi điệp có thể treo dưới gốc cây, ghép cây sống, treo giàn, ghép dớn, gỗ, chậu đều ok, có thể chịu nắng tới 100% ( trừ nơi nắng gắt). Có nơi mình thấy người dân còn dùng thau nhôm thủng, lốp ô tô, giỏ xe đạp, máng lợn hỏng… Trồng cũng ok.

Thứ hai, hoa đẹp, hoa phi điệp là loại hoa đẹp với màu sắc quyến rũ, từ tím đến hồng nhạt, trắng, lan Phi điệp là loại đa dạng nhất về màu hoa và khuôn bông. Hiện nay, loại 5 cánh trắng và trắng tuyền là loại đặc biệt được ưa chuộng và cũng đẹp, nhưng toi vẫn thích màu tím đậm hơn. Hình dạng hoa cũng có nhiều hình dáng khác nhau như cánh cong hay cụp, kích cỡ to hay nhỏ, môi hoa hình bầu hay nhọn… Mới chơi chúng ta sẽ tìm hiểu dần về mặt hoa.

Thứ ba, hương hoa phi điệp rất thơm, mùi thơm quyến rũ mà ai thưởng rồi sẽ không quên, gần như hương Trầm, cũng tương tự lan Trầm. Một giò lan phi điệp nở sẽ thơm cả khu vườn, đem vào nhà treo thì tuyệt.

Thứ tư, hoa phi điệp rất bền, của nhà mình có cây gần một tháng mới tàn.

Thứ năm, ít sâu bệnh, thối nhũn, đây là vấn đề lớn với người mới chơi lan. Các loại khác thường hay bị nấm, thối nhũn, nhưng lan phi điệp thì rất khoẻ. Chúng rất ít khi sâu bệnh, nấm vì mùa đông rụng lá nên không lưu mầm sâu bệnh. Chỉ khi mưa xong nắng to dễ bị thối nhũn mầm non thôi.

Thứ sáu, phi điệp đa dạng về vùng miền xuất xứ như Hoà bình, Thái nguyên, Phú thọ, Cao bằng, Lạng sơn, Cát bà, Thái nguyên, Ninh bình, Phong nha, Daklay, Chumoray, Hòn hèo, Di linh… Mỗi nơi có đặc sắc riêng về màu và kết cấu hoa. Do vậy, nó được giới chơi lan thích thú sưu tầm vùng miền.

Thứ bẩy, về giá cả. Hiện nay lan phi điệp là một cây trồng khá kinh tế

Thứ tám, rất dễ nhân giống, ai cũng có thể làm được, bà con ta đã làm từ nhiều đời nay rồi ( mình đã có bài viết về kinh nghiệm nhân giống lan phi điệp. ).

3. Trồng lan phi điệp vào khoảng thời gian nào là hợp lý nhất?

Đây là vấn đề khá quan trọng. Vì sao? trước hết bạn nên hiểu đặc tính của lan phi điệp thường ra mầm mới và ra hoa vào mùa xuân. Mùa hè tiếp tục phát triển đến cuối thu thì bắt đầu xuống lá, thắt ngọn. (Nọn thắt mập lại, lá vàng và rụng dần đến hết, vài trường hợp, giống có thể còn lá xanh). Mùa đông thì nghỉ chờ và mùa xuân lại chu kỳ mới, cây sẽ ra hoa ở thân đã rụng lá. Chỉ ra một năm, năm sau sẽ thành thân già.

Như vậy, chúng ta nên trồng lan phi điệp vào mùa đông là thuận lợi và phù hợp nhất. Vì sao không phải mùa khác? Khi mùa đông cây đã nghỉ, lá đã rụng, và dinh dưỡng đã tích đủ chỉ chờ mùa xuân ấm áp là nảy mầm, mọc rễ và bung hoa. Ghép mùa này cây sẽ không bị dập lá, đứt rễ, gãy ngọn ảnh hưởng tới sự phát triển của cây. Nếu bạn ghép lan phi điệp vào mùa xuân, rất có thể sẽ vô tình làm hỏng mầm tơ rất mong manh, nó sẽ chột cây. Mùa hè khi ghép cây đang sinh trưởng sẽ bị chột do bị bóc rễ ra, lá rất dễ bị dập. Mùa thu là giai đoạn quan trọng tích dưỡng chất mà ghép cây sẽ không mập mạp đủ dưỡng chất cho mùa hoa năm tới.

4. Bạn nên chọn mua giống lan phi điệp như thế nào?

Mới chơi, bạn nên mua lan phi điệp đã trưởng thành. Nếu thành giề và đã được trồng trong vườn nhà càng tốt vì dễ trồng, dễ sống, cây khỏe. Bạn cũng có thể mua kie (cây con mọc từ thân già) về trồng. Nhưng sẽ rủi ro vì bạn chưa có kinh nghiệm nên dễ chết, khó phát triển. Và bạn sẽ phải chờ vài mùa mới có hoa ngắm, dễ nản.

Còn mua lan trưởng thành sẽ được chơi hoa ngay năm đầu. Điều đó sẽ cho bạn thêm hứng thú chơi lan (giữ được hứng thú lâu dài cũng là vấn đề quan trọng đó nhé, không chỉ chơi lan, hihi). Hiện thị trường có nhiều nguồn cung cấp, có thể mua trực tiếp hoặc qua mạng, trên các hội lan cũng rao bán nhiều.

Về loại mua, mới chơi chúng ta không cần tìm hiểu nhiều về vùng, miền. Sau khi chơi có kinh nghiệm chúng ta sẽ tìm hiểu sau, nó là cả một vấn đề lớn. Hiện người chơi lan phi điệp lâu năm thường sưu tầm mặt hoa, ai cũng muốn có trong vườn nhà ít nhất 1 cây 5ct. Cá nhân mình, không thấy vấn đề gì nhiều về vùng miền, quan trọng là thân dài, mập, hoa sai, dầy, càng tím sậm càng đẹp, mặt hoa rạng rỡ.

Tất nhiên vùng miền có ảnh hưởng nhiều đến mặt hoa. Nhưng giờ ai biết được nó xuất xứ vùng nào. Trừ khi bạn tận mắt thấy nó đang mọc ở đó. Chính vì thế mới chơi bạn đừng nghe những lời rao bán mỹ miều trên mạng nhé. Xu thế bây giờ là cứ mặt hoa hoặc cây đẹp là mua. Đây là quan điểm cá nhân.

5. Chọn giá thể để trồng lan phi điệp

Giá thể là chỗ cho lan phi điệp bám vào phát triển. Giá thể có thể cũng là nơi cung cấp độ ẩm, dưỡng chất cho cây lan. Tóm lại nó như như ngôi nhà của chúng ta vậy, phải an cư mới lạc nghiệp.

Giá thể trồng Phi điệp rất dễ tìm, nếu nhà bạn có cây sống thì tuyệt vời rồi. Ghép trực tiếp vào cây sống là phương pháp ông cha ta đã làm từ bao đời. Đây cũng là cách hợp tự nhiên nhất như trong thiên nhiên, nơi mà lan Phi điệp sinh sống. Cây sống sẽ cung cấp độ ẩm cho rễ của lan. Vỏ cây mục sẽ cho lan dưỡng chất (nên nhớ lan không làm hại cây chủ vì lan không phải loại ký sinh, không ăn bám vậy Lan mới quý). Chúng ta sẽ không phải chăm sóc nhiều, mình đã thấy bà con ta cứ bỏ mặc mà em nó vẫn xanh tốt và hoa sai đẹp. Cách này có hạn chế khi mưa nhiều, nắng to, gió bão có thể làm hỏng cây, vì không treo vào nơi an toàn được. (Năm ngoái bão mình cũng bị thiệt hại một ít).

Gỗ khô, đây là giá thể phổ biến nhất, dễ kiếm, rẻ tiền, dễ ghép, dễ tạo hình nghệ thuật. Bạn nên chọn gỗ chắc, khó mục thì giá thể sẽ bền, lưu ý vài loại gỗ đắng, độc không nên dùng như xoan, bạch đàn. Chúng ta hiện sử dụng phổ biến nhất là gỗ nhãn, vải, vú sữa… Một trào lưu đang thịnh hành là dùng gỗ lũa để ghép, như vậy giá trị giò lan sẽ tăng lên nhiều lần cả về thẩm mỹ và giá thành. Vậy tuỳ bạn chọn nhé.

Dớn, mới chơi, nhiều bạn chưa hiểu là gì vì trước mình cũng vậy. Thực ra nó đơn giản là thân cây Dương Xỉ rừng, được cắt khúc phơi khô, có thể xẻ thành tấm, hoặc làm hình chậu. Với đặc tính thoáng, thoát nước nhanh, bền, rẻ nên cũng được ưa chuộng trồng nhiều loại lan, trong đó có Phi điệp

Chậu đất nung, ưu điểm bền, nhưng theo mình thân thòng nhất là lan phi điệp trồng loại này nhìn không đẹp (đây là quan điểm và thẩm mỹ của riêng mình). Có thể trồng ngang, dốc ngược chậu, hoặc khoét ngang để trồng, cũng lạ mắt.

Chậu gỗ, mới xuất hiện vài năm trở lại đây, nhưng chậu gỗ nhanh chóng được yêu thích (loại chậu đóng nghệ thuật hình trụ, bầu, nón cụt, sen… Chứ không phải dạng khay như dân tự đóng trước kia) mình cũng thích chơi loại chậu này.

Tận dụng vật hư hỏng của gia đình bạn cũng có thể làm một giá thể độc cho giò lan của bạn. Như: can hỏng, xô chậu hỏng, bạn đục lỗ xung quanh. Lốp ô tô, xe máy, bình muối dưa, có bạn còn dùng cả vạt giường… Miễn đừng lấy đồ dùng đang tốt ra làm là bị vợ xử đó. Lúc đó thì không có cơ hội chơi lan nữa đâu ^^. (Sự ủng hộ của một nửa là nhân tố lớn tới đam mê và khả năng hiện thực của bạn đấy).

Bạn có thể sáng tạo giá thể nào tuỳ bạn, miễn đủ tiêu chí: có chỗ cho lan bám rễ, giữ ẩm tốt mà thoát nước nhanh (thế mới khó), bền, thẩm mỹ.

Về chất trồng trong chậu, do chậu gỗ và đất nung hay chậu gì khác cần chất trồng để bám rễ, cung cấp nước và dinh dưỡng. Mình thấy mỗi người, mỗi nơi một cách, chả có công thức chung nào. Người cho than hoa, người cho dớn, người cho vỏ cây, rêu rừng, bã chè, sơ dừa, hoặc tổng hợp, … Nói chung không quan trọng lắm miễn là đủ tiêu chí như trên và có thể cung cấp hoặc dự trữ nước , dinh dưỡng cho lan là ổn.

Mình dã thấy có nhà người hoà bình trồng bằng thau nhôm thủng. Cho gỗ mục cây trồng chui xuống qua lỗ thòng xuống mà dài cả 2 mét. Hỏi họ bảo chả chăm sóc gì, chỉ thỉnh thoảng tưới nước gạo. (Mình cũng có bài về sử dụng nước vo gạo tưới lan. Bạn có thể tham khảo tại đây nhé ).

6. Cách trồng lan phi điệp

Trước khi ghép ta phải có dụng cụ. Các bạn nên mua một súng bắn ghim. Giá từ 80-110k làm sẽ nhàn và đẹp nếu không có vẫn OK. Ngày đầu mình chả có cũng làm được. Dây buộc có thể dùng dây ni lông, dây vải… (Mình thích dùng dây ống nước mềm cắt dọc to khoảng ngón út là vừa bền, có độ co giãn vừa phải, tận dụng ống nước hỏng). Dây thép treo giá thể, vậy là OK .

6.1 Xử lý lan phi điệp mới mua về

Khi mua bạn nên chọn thân mập, đã thắt ngọn, nhiều thân tơ (thân hoa). Chú ý xem thân già trước hoa nở từ đâu ta có thể đánh giá được độ sai hoa của cây. Kinh nghiệm thân càng sẫm thì hoa càng tím. Thân xanh sạch tỉ lệ ra 5ct rất cao. Lá vàng úa, rụng bạn cũng đừng lo mà càng vui vì nhẹ cân. Trước sau lá này vào mùa nghỉ nó cũng rụng thôi.

Lan mua về mùa này ( chú ý mùa nghỉ lá và rễ đã khô nhé, còn mùa xuân, hè sẽ khác) bạn sẽ ít phải xử lý nhiều. Bạn cắt rễ gọn gàng, còn lại khoảng 2-3 cm, cứ mạnh tay vào đừng sợ. Vì rễ này nếu để sẽ chết thôi, khó ra rễ mới mà lại đọng nước dễ gây ra thối rễ. Cắt tỉa thân đã già héo khô.

Chú Ý, chỉ thân héo khô thôi nhé. Còn thân vẫn tươi bạn phải để lại vì nó chính là nơi dự trữ dinh dưỡng cho cây non sau này đấy nhé. Có bạn không biết thấy lằng ngoằng cắt đi cho đẹp. Thế là mầm non không được cung cấp đủ dinh dưỡng sẽ èo uột, không to, dài được. (Lan phi điệp và thân thòng nói chung đều có đặc điểm này.)

Sau khi cắt tỉa gọn bạn bắt tay vào ghép. Mình đi từ dễ đến khó, có chi tiết nào chưa rõ cứ bình luận để mình sửa ngay bài viết.

6.2 Ghép lan phi điệp vào cây tươi

Dễ nhất rồi, bạn nên chọn các loại cây sau để trồng, theo kinh nghiệm sẽ tốt: Nhãn, vú sữa, Vải (cây phải cao, thoáng, chứ loại vải đồi thấp, tán lá dầy thì cay ít ánh sáng sẽ èo uột), mít, cau, lộc vừng, sưa, … Đây là những loại phổ biến còn tuy bạn. có thể thử nghiệm cay khác như me điều, sung… Nói chung là có gì ghép nấy trừ xoan, bạch đàn, cây gỗ dầu. (Mình chưa thấy ở thông, tùng, bạn nào ghép rồi cho ý kiến.)

Bạn lựa chọn sao cho ngọn cây quay xuống đất, áp rễ vào thân cây, thân tơ hướng ra ngoài ( khi hoa nở sẽ khoe hoa, thân non mọc ra bên ngoài thuận hướng). Dùng dây cố định chặt vào thân cây sống. Lưu ý chỉ buộc phần gốc, chú ý tránh mắt ngủ để cây dễ ra mầm mới năm sau. Nên nhờ người giữ, người buộc. Nên buộc vào vị trí cách mặt đất từ 2 mét trở lên, để cây còn thòng xuống, vừa đủ ẩm và đủ thoáng, buộc vào cành to.

6.3 Ghép lan phi điệp vào gỗ

Đây là kiểu ghép phổ biến nhất. Có 3 hình thức là gỗ tròn, gỗ tấm (thớt), và đẳng cấp nhất là lũa.

6.3.1. Ghép vào gỗ tròn

Ta bắt đầu với gỗ tròn, về chất liệu đã nói ở trên. Còn kích thước thì tuỳ vật liệu sẵn có. Thường thì to bằng khoảng cặp giò của Hoa hậu Kỳ Duyên là đẹp. Dài cũng vậy nhé ( không tưởng tượng thêm), nếu bé quá sẽ khó ghép, nhanh kín rễ, giữ ẩm không tốt. To nặng khó treo. Nên phơi cho gỗ khô mới ghép, phơi nắng cũng làm cho gỗ tiệt trùng, bớt nấm bệnh. Nhà vườn trồng nhiều họ phải xử lý thuốc. Ta ít không cần, bạn nào có nước vôi trong ngâm 1 ngày rồi ngâm sang nước sạch 1 ngày vớt lên là ok, đây là kinh nghiệm riêng mà mình hay làm

Gỗ tròn có 2 kiểu ghép: Ghép đứng lan xoè hình nơm như cái váy của mấy cô múa ba lê. Ghép ngang kiểu rèm che cửa đều hay. Cũng như cây sống, bạn úp rễ vào gỗ, cho xuôi than, dùng dây cột chặt, mình thích dùng súng bắn ghim để găm dây buộc sẽ dẹp và chặt chẽ, không nên đóng đinh, buộc dây thép dễ làm tổn thương cây, sau han gỉ. Tuỳ số luọng lan bạn có mà bố trí cho đẹp là được.

6.3.2 Ghép vào bảng gỗ

Bảng gỗ hiện bán sẵn trên thị trường rất nhiều. Bạn có thể tự làm, cắt lát khúc gỗ to dày 3-5 cm là vừa. Nếu gỗ nhỏ cưa chéo vát sẽ được bản rộng hơn và hình thức đẹp. Khoan lỗ thủng cho lan dễ bám rễ, thoáng gốc, khoảng cách 5-7 cm một lỗ. Bạn nên bố trí lỗ sao cho đẹp. Lỗ này cũng dễ buộc dây nếu các bạn không có súng ghim.

Bạn dùng dây thép to làm dây treo. Nên chọn dây không gỉ, cứng hơi khó buộc nhưng việc treo sau này sẽ tiện. (Phần gỗ tròn cũng tương tự nhé ), bền. Bạn chỉ nên ghép vào 1 mặt gỗ. Vì như vậy dễ điều chỉnh hướng đón ánh sáng cho cây

Dùng dây luồn qua các lỗ cột chặt gốc lan vào thớt. Tuỳ hình dạng của giề lan, gốc lan mà ốp vào cho sát mặt gỗ. Chỗ nào trống có thể lót sơ dừa, than, rêu vào cho chắc và cũng là để giữ ẩm. Bạn có thể dùng cả thớt gỗ hỏng nhà bạn để ghép trông cũng hay.

6.3.3 Ghép vào lũa

Đây là vấn đề sáng tạo của mỗi bạn, tuỳ thế lũa mà ghép cho thẩm mỹ. Nói về ghép lũa thì thật đa dạng. Mình đã thấy có nhiều giò cực ấn tượng. Có giò hoa không nhiều nhưng kết hợp cùng lũa thành tác phẩm tuyệt vời. Các bạn tham khảo trên các hội và tự sáng tạo theo cách riêng của mình nhé.

6.4 Cách trồng lan phi điệp vào dớn

Bạn mua dớn ở cửa hàng vật tư cho lan. Có 2 loại là dớn bảng và dớn chậu, giá tuỳ loại từ 10-50k là ok. Dớn bảng thì bạn ghép như thớt gỗ, nên dùng dây đồng, hoặc thép mềm xuyên qua dớn để cột lan vào bảng là ok.

Với chậu dớn cách trồng phổ thông là ngửa chậu lên cho khóm lan thẳng đứng hoặc xoè ngang. Có thể úp ngược và cho quay xuống, ghép vào xung quanh bên ngoài. Có bạn dùng rêu, sơ dừa phủ quanh rễ lan cho giữ ẩm. Cái này tuỳ bạn, tôi thấy không cần thiết vì khi trồng lan là ta phải tứoi ẩm thương xuyên rồi.

Hiện có loại giá thể đặc biệt là cây tổ quạ, bạn có thể ghép xung quanh rễ cây như với dớn,

6.5 Trồng lan phi điệp vào chậu

Chậu gỗ, đất, nhựa bạn cũng có thể trồng 3 tư thế, thẳng, ngang và thòng. Bạn phải cố định lan vào chậu trước khi cho giá thể vào. Lấy cục gỗ lọt trong chậu, cố định lan xung quanh cục này bằng dây như ghép gỗ tròn mình đã trình bày. Cho vào chậu buộc cục gỗ chặt vào đáy chậu qua các lỗ của chậu. Cho giá thể vào (chú ý gốc lan cần hở nhé đừng lấp kín rễ và gốc bị bí gốc, thối rễ. Nếu để thẳng thì bạn dùng dây nhỏ buộc thân lan vào các dây của móc treo. Nếu để ngang bạn cần có vỉ hay thanh nép mặt chậu để giá thể không bị rơi nhé. Có người dùng thanh gỗ cài vào, có ười cắt miếng rổ tre nẹp, bạn làm thế nào cũng được, sau ra rễ thì nó sẽ bám hết khg sợ rơi.

Các loại giá thể khác thì cũng tương tự nhé. Muôn vàn kiểu, từ gốc tre, ống bương, vỏ ti vi, bình ắc quy, gáo dừa, xô chậu, hòm đạn, bình hoa, … Có bạn chơi cả xong nhôm thủng mới kinh chứ. Vậy là ok phần ghép rồi nhé. Bây giờ treo vào đâu, giàn thế nào, nắng gió ẩm ra sao nhỉ?

7. Làm giàn treo lan phi điệp

Các bạn nhà có vườn rộng, sân rộng thì đó là tuyệt vời rồi. Bạn thật hạnh phúc đó kể cả là bạn vẫn còn nghèo. Vì nhiều bạn ở thành phố nhà tiền tỷ mà mơ ước một không gian vài mét vuông làm giàn treo lan cũng không có đâu.

Nhà bạn có cây xanh treo vào tán cây là tốt nhất vì bạn ít cây nên tiện chăm sóc. Không có cáy xanh bạn có thể tận dụng mái hiên, ô văng cửa treo lan cũng được. Với mái tôn thì hơi khó nhưng cũng vẫn có khả năng. Bạn muốn trồng nhiều nên làm giàn cho đẹp, chăm đại trà nhé. (Cách làm giàn bạn tham khảo thêm chi tiết tại đây nha: Cách làm giàn lan 2 tầng hoặc cách làm giàn lan mini)

Nguyên tắc nơi treo lan là :

  1. Tránh nắng trực tiếp, nếu giàn phải có lưới che.
  2. Phải đủ nắng cây mới khoẻ mạnh, sai hoa,
  3. Phải đủ ẩm cây mới phát triển đuọc
  4. Phải thoáng cây mới không sâu bệnh và lưu thông không khí để cung cấp dinh dưỡng cho cây (gọi là phong lan mà).

Giàn nên làm mái cuốn hoặc bán mái để nước dóc nước nhanh. Tránh xối trực tiếp vào giò lan. Vì đặc tính ngọn lan phi điệp phát triển sẽ hướng theo ánh sáng. Nên lan trồng bảng gỗ, dớn, hay kiểu rèm treo hãy treo theo hướng cố định. Có như vậy sau này thân lan sẽ đều đẹp, không bị uốn éo, mất mỹ quan. Lan giò xoè xung quanh thì thường xuyên đổi hướng để giò phát triển đều.

Với các bạn nhà ở phố có thể tận dụng sân thượng và ban công để treo lan. Làm giàn trên sân thượng các bạn nên chú ý che bớt nắng và gió. Cần tăng độ ẩm bằng cách trồng các chậu sen, súng, hoặc cây cảnh bên dưới. Hoặc kết hợp trồng địa lan hoặc lan hài. Một kiểu trồng sân thượng mình thấy phi điệp phát triển tốt đó là làm giàn lưới che trên. Xung quanh bên dưới trồng trúc trong các thùng xốp cao khoảng hơn 1m. Dưới nền lót ni lông (để chống thấm) và trải cát tạo độ ẩm cho lan bên trên.

Vấn đề treo lan ban công thì phi điệp cũng dễ xử lý. Có người nói lan phi điệp không ưa nắng hướng tây. Nhưng thực tế nhà ông cậu mình đã trồng treo ban công hướng tây lại rất tốt. Giàn lan nhà mình có mấy giò bên cạnh giàn nắng hướng tây chiếu xiên lại thấy dài và mập hơn bên trong. (Tuy nhiên chỉ chiếu xiên vào thân lan từ 5 giờ trở đi và không chiếu vào gốc lan). Như vậy, theo mình nhà bạn ban công hướng tây vãn treo lan phi điệp được. Vấn đề là không cho lan chiếu trực tiếp trước 4 giờ chiều. Như vậy bạn chỉ cần treo cao gần giáp trần là ok, bạn hình dung đc chứ.

Tốt nhất là bạn nên có tấm lưới che là ngon nhất. Nếu nắng gắt quá ta kéo xuống che vừa tốt cho lan vừa bảo vệ bộ cửa gỗ tiền triệu của bạn. Vậy cơ bản xong phần nhà cho lan rồi, sở dĩ mình phải nói kỹ vì sau với các loại lan khác sẽ kg cần nói lại nữa.

8. Chăm sóc lan phi điệp theo mùa

Đây mới là nội dung quan trọng chúng ta cần nhất. Nhưng sẽ là đơn giản nếu chúng ta đã nắm chắc phần trên và đọc tiếp phần này. Mình lại nói tiếp về cách chăm sóc nhé. Nên bắt đầu từ đâu nhỉ, có lẽ cứ theo tiến trình sinh trưởng của lan nhé.

8.1 Chăm sóc lan phi điệp vào mùa đông

Như vậy, sau khi chúng ta đã ghép lan phi điệp xong. Như phần trên đã nói là nên ghép vào mùa đông. Đặc tính của phi điệp là ngủ đông hay vào mùa nghỉ khá dài (từ 2 tháng trở lên). Thời gian này ta chỉ cần chăm sóc đơn giản là treo chỗ mát. Tưới phun sương tuần 1-2 lần cho thân khỏi teo tóp. Tránh ảnh hưởng số lượng và chất lượng hoa sau này. Các bạn chưa có giàn phun sương thì có thể dùng bình xịt loại nhỏ, giá khoảng 100k là ok.

Tuỳ thời tiết mà tưới cho phù hợp, khi trời quá hanh thì có thể cách một ngày tưới một ngày (đối với miền Bắc). Hết sức lưu ý không nên tưới quá nhiều và đậm cây sẽ ra ít hoa mà sẽ mọc kie ở thân ( Tuy nhiên có bạn lại thích có ky để nhân giống). Cũng cần kiểm tra thân hoa, đừng để teo tóp nhé.

Có lẽ đây là giai đoạn chờ đợi lâu nhất và sốt ruột nhất với người mới chơi. Vì lúc này lan phi điệp hầu như không thay đổi gì, rễ không mọc, lá trụi lủi. Đây là lúc thử thách sự kiên trì và đam mê của bạn nhất. Bạn chỉ có thể cảm nhận được sự thay đổi rất chậm, rất chậm của thân hoa. Bạn sẽ thấy lớp áo (màng) của thân hoa co lại, mắt hoa sẽ sưng lên, chậm lắm nhé. Nhưng đó là sự thay đổi kỳ diệu để mùa xuân về sẽ bật lên sức sống mãnh liệt.

Có bạn hỏi mùa này có bón phân gì không. Câu trả lời là không kể cả giò ghép mới cũng như đã thuần vì lúc này cây vào giai đoạn ngủ, như chúng ta ngủ ăn sao được nhỉ ?

Vậy là các bạn đã yên tâm rồi nhé. Đừng thấy giò lan của mình xơ xác mà buồn chán. Đúng là có lúc nhìn cũng nản nản thật. Vào các mùa khác thì thi thoảng thấy cái rễ nhú ra, cái chồi mới mọc, cái hoa to dần vui sướng bao nhiêu. Thôi cứ chờ nhé, chờ đợi rồi phát hiện ra sự thay đổi mới thích. Đây là cái thú của người chơi lan đó các bạn. (Người mới chơi chưa nắm được quy luật của lan nên mong từng ngày lan ra hoa). Điều mình cần lưu ý các bạn phía bắc là cần tránh treo chỗ gió may quá mạnh sẽ làm cây nhanh mất nước, thân hoa sẽ bị teo tóp. Còn vấn đề nữa, nếu mua thân còn chưa thật đứng ngọn cây sẽ gặp tình trạng này.

Đối với giò đã thuần thì có thể gặp trường hợp cây không chịu trút lá. Hoặc trút lá không đều, ta nên can thiệp bằng cách cắt lá để cho hoa ra sai và đều. Vậy mới đẹp (cắt lá có thể cắt 2/3 lá cho phần còn lại tự rụng. Hoặc bẻ gập 2/3 lá cũng được. Cách này nó sẽ tăng cường được phần dinh dưỡng vào thân hơn là cắt trụi luôn.

Các bạn có thể nghiên cứu thêm bài về cắt nước cho phi điệp trước đây của mình.

8.2 Chăm sóc lan vào mùa xuân

Mùa xuân đem đến cho chúng ta những niềm vui lớn trong cuộc sống. Đây cũng là mùa lan Hoàng thảo rừng đua nhau khoe sắc. Những ngày này các vườn lan, chợ lan ngập trong sắc hoa từ U lồi, Hạc vỹ, Long tu, Đùi gà, Vôi, Kèn, vảy rồng, kiều, hoàng lạp… Thật sự chúng ta phải thấy tự hào và hạnh phúc vì nước ta được thiên nhiên ban cho những loài lan đẹp và quý. (Nhưng cũng rất lo rằng một ngày nào đó rừng không còn nữa. Chúng ta không giữ được môi trường tự nhiên để bảo tồn những loài lan quý nữa. Nên chúng ta trồng lan trong vườn là góp phần bảo tồn lan rừng Việt Nam, chứ không phải là làm cạn kiệt lan như một số người nghĩ đâu nhé, hihi. Vậy chúng ta sẽ thêm vui các bạn nhỉ vì việc làm của mình không chỉ cho bản thân mình mà có ý nghĩa cho xã hội).

Hơi lan man một tý nhưng là để tạo hứng khởi cho chúng ta tiếp tục. Những ngày giáp tết này miền bắc và miền nam sẽ có mưa xuân nhiều. Trời nồm ẩm ướt rất khó chịu với chúng ta nhưng lại là điều kiện rất thuận lợi để cho lan Phi điệp nói riêng và các loại hoàng thảo rụng lá nói chung nảy mầm mới. Đến giờ (23/4 Dl) thì hầu hết các giò lan đã thuần hay mới ghép đều đã nảy chồi ở gốc. Một số loại có nguồn gốc từ tây nguyên hoặc Lào, cpc có thể chưa nảy mầm. Các bạn cũng yên tâm chờ đợi, tưới đủ ẩm là chồi non sẽ mọc thôi. Với các giò chưa ra chồi thì các bạn nên tham khảo sử dụng kích chồi. Có thể dùng Atonic, keiki duy để đánh thức trạng thái ngủ của lan phi điệp. Hoặc dùng B1 (loại cho phong lan) pha tỷ lệ loãng để tưới.

Cũng chưa có một công thức chung nào cả, và mỗi vườn có một bí quyết riêng. Nhưng các bạn nên nhớ dùng kích thích hay phân bón là con dao 2 lưỡi. Quá liều lượng sẽ gây sốc, thậm chí làm cây chết. Vì vậy, các bạn luôn pha với liều lượng loãng hơn so với hướng dẫn. Và chỉ nên thử với một giò nếu thành công thì năm sau sẽ áp dụng đại trà. Còn không thì cũng còn có giò khác mà chơi. Và chúng ta mới chơi nên cứ thuận lẽ tự nhiên là an toàn nhất, chỉ cần tưới đủ ẩm hàng ngày là được. Riêng bản thân mình thì chỉ dùng B1 pha loãng phun tuần một lần là OK, hàng ngày tưới đủ ẩm.

8.3 Chăm sóc lan phi điệp vào mùa hè và mùa thu

Có thể nói đây là giai đoạn mà cây phát triển mạnh nhất. Thời điểm đầu mùa hè hầu hết các loại lan nhất là dòng Hoàng Thảo đã lên chồi non và đâm rễ mới và chuẩn bị ra hoa hoặc đã ra hoa. Thời điểm này chúng ta cần chú ý chăm sóc cây về chế độ phân bón, tưới nước để cây phát triển tốt chuẩn bị cho giai đoạn phát triển ở mùa mưa.

Bây giờ chúng ta sẽ đi tìm hiểu từng vấn đề chi tiết về chăm sóc lan phi điệp. Có mấy vấn đề lớn cần thực hiện khi chăm sóc đó là ÁNH SÁNG, TƯỚI NƯỚC, BÓN PHÂN, PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH, CẮT NƯỚC. Mình sẽ viết lồng ghép theo từng giai đoạn sinh trưởng của lan để các bạn dễ tìm hiểu

9. Cách chăm sóc lan phi điệp

9.1 Ánh sáng cho lan

Như đã nói, lan Phi điệp khá ưa ánh sáng nên bạn để cây nơi có đủ ánh sáng mới khỏe, mầm to dài, mới hình thành hoa được. (Đủ nắng cây sẽ ra hoa, đủ yêu thương hạnh phúc sẽ đong đầy, hihi). Vì vậy bạn hãy để ý cây của bạn nếu lá xanh thẫm, thân nhỏ vươn dài, mọc loằng ngoằng là thiếu sáng rồi đấy. Bạn phải nhanh chóng đưa ra chỗ nhiều nắng hơn. Với lan ghép cây sống bạn phải chặt tỉa bớt cành lá xum xê để nắng chiếu vào giò lan nhiều hơn.

Ngược lại, nếu lá màu cỏ úa, đầu lá khô héo vàng, thân tóp là nắng quá. Nhất là vào mùa hè nắng gắt bạn nênn đưa ngay cây lan vào chỗ râm mát hơn. Nếu ghép thân cau, hay nơi không xê dịch được thì bạn cần che được phần gốc.

Với các bạn có giàn có mái che bằng lưới chống nắng thì quá OK rồi. Phi điệp khá hợp môi trường nắng trong giàn dùng lưới che này. Tuy nhiên cần có thời gian sáng hoặc chiều cho nắng chiếu xiên trực tiếp thì cây sẽ khỏe đẹp, mập hơn. Đặc biệt lưu ý tránh ánh nắng gắt khi bạn vừa tưới hay vừa mưa xong nắng bừng nên. Vì cây rất dễ bị thối nhũn mầm, cái này miền Bắc hay bị vào tháng 7-8 âm lịch. Trong nam cũng hay có kiểu khí hậu này nên các bạn cần chú ý phòng tránh nhé.

9.2 Tưới nước cho lan phi điệp

Đây có lẽ là công việc cần làm nhất và thường xuyên nhất của một người chơi lan. Tưới cây vừa là công việc cần nhưng cũng là thời gian thư giãn hàng ngày của chúng ta. Thật thư thái khi vừa tưới lan vừa ngắm nghía cái lá , cái rễ cái mầm, cái nụ phát triển hàng ngày phải không các bạn.

Nước là một thành phần cơ bản của lan, là điều kiện tiên quyết để lan sinh sống. Trong môi trường tự nhiên, lan hấp thụ nước chủ yếu qua bộ rễ cây và qua lá. Rễ và lá lan hút hơi ẩm trong không khí là chủ yếu. Chúng hút nước ẩm ở những vỏ cây ẩm mục mà lan bám và nước mưa tự nhiên. Khi chúng ta đem về trồng ở nhà thì dù để ở ngoài trời hay dưới tán cây, có mưa tự nhiên thì gần như vẫn không đủ ẩm để cung cấp nước cho lan (ngoại trừ lan ghép cây sống). Do vậy ta phải tưới nước cho lan, nhưng tưới nước gì và tưới thế nào, tưới bao nhiêu là đủ.?

Nói chung là lan phi điệp không quá khó tính về việc tưới nước như mình đã nói ở phần đầu. Nhưng rõ ràng là có chăm sóc tốt thì cây vẫn đẹp hơn. Đó là điều đương nhiên.

Bạn nên dùng nước sạch để tưới cho lan nói chung. Nếu bạn có nước giếng khơi , hoặc sông, suối là ổn nhất. Hợp tự nhiên nước không bị hoá chất. Trong nước có thêm các yếu tố dinh dưỡng và khoáng chất cho lan. Nước ao cũng được nhưng không nên dùng nước ao tù sẽ dễ gây nấm bệnh. Nước máy thì bạn nên xả vào một thùng to để vài ngày cho bay hơi hết flo rồi hãng dùng tưới, nếu không hoá chất làm sạch nước sẽ hại cho lan. Đối với giếng khoan cũng vậy, cần được lọc kỹ, sợ nhất là nước giếng khoan nhiều sắt vàng khè mà tưới lan thì dễ ra đi lắm.

Có bạn tận dụng được nguồn nước chảy từ điều hoà ra dùng tưới lan cũng tốt, vì nó chính là hơi ẩm trong tự nhiên. Vấn đền có nên dùng nước vo gạo tưới lan hay không cũng là chủ đề tranh luận nhiều trên các diễn đàn lan. Nước vo gạo có nhiều tác dụng như chúng ta đã biết. Trong nước vo gạo có thành phần của vỏ hạt gạo phai ra. Chúng chứa nhiều dinh dưỡng và khoáng chất tốt cho các loai cây trồng nói chung. Lan cũng vậy, tuy nhiên đi kèm với đó lại là vấn đề vi khuẩn, nấm bệnh phát sinh vì vậy cũng có thể lại làm hại lan. Do đó bạn có thể dùng thử và tự đúc rút kinh nghiệm cho mình. Nếu không thì cứ nước sạch cho an toàn.

Câu hỏi tưới nước thế nào luôn được người mới chơi đặt ra. Không có câu trả lời cụ thể cho câu hỏi này mà chỉ có những nguyên tắc bạn cần nắm. Như các cụ đã đúc rút đó là lan chết đa phần là do tưới nước quá nhiều chứ không phải do khô hạn. Nên cũng không cần quá chăm tưới nước. Tuy nhiên, lan phi điệp là loại lá to, nhiều lá nên bị bay hơi nước nhanh, nên phải cung cấp đủ cho nó

9.3 Bón phân cho lan phi điệp

Trên diễn đàn về lan, nhiều người đưa ra quan điểm nói không với phân thuốc. Lại có người chỉ dùng phân hữu cơ. Cá nhân mình xác định mình đang sống ở giai đoạn khoa học phát triển. Đã trồng lan thì phải chăm sóc thì cây mới phát triển tốt được. Cây không phân thuốc không thể tốt bằng cây được bón phân đầy đủ đúng cách.

Về dùng phân hữu cơ, đây là phân của những năm đầu thế kỷ trước. Ta không thể kiểm soát được thành phần các chất trong phân. Điều nữa, cây lan phi điệp chỉ hấp thu dinh dưỡng ở dạng khoáng chất. Nên phân hữu cơ phải có thời gian phân hủy lan mới hấp thu được. Trong khi ngày nay, khoa học phát triển người ta đã chế ra phân bón tổng hợp. Thành phần xác định cụ thể giúp cây lan hấp thu nhanh hơn, tốt hơn cớ sao ta không sử dụng. Quan trọng là phải sử dụng có kiểm soát và không được lạm dụng.

Trên đây là toàn bộ chia sẻ về cách trồng lan phi điệp cũng như cách chăm sóc lan phi điệp. Hơi dài, rất cám ơn các bạn đã đọc. Hy vọng với những chia sẻ này thì các bạn sẽ có cái nhìn tổng quan hơn về quá trình trồng và chăm sóc lan. Qua đó rút ra được phần nào kinh nghiệm cho bản thân.

Nếu thấy bài viết hay và bổ ích hãy cho like cho mình phía dưới nhé. Nếu bạn có đóng góp nào cho bài viết sinh động hơn, hoặc có thắc mắc gì hãy để lại coment phía dưới mình sẽ cố gắng giải đạp. Thanks all

【#4】Kỹ Thuật Trồng Cây Rau Cải Thùng Xốp Hiệu Quả Cao

Ảnh: Một loại cải – nguồn: giaoduc.net.vn

(*) Giới thiệu chung:

   Cây rau cải có tên khoa học là: Brasica sp.L, thuộc họ thập tự: Cruciferea, là một họ thực vật có hoa, cung cấp lượng rau chủ yếu vào mùa đông cho con người trên khắp thế giới.

   Chúng bao gồm cải bắp, cải bông xanh, súp lơ, cải brussels, cải xoăn (tất cả đều là các giống cây trồng từ một loài là Brassica oleracea),cải làn, cải củ Thụy Điển, cải xoăn nước mặn, cải củ, cải thìa và su hào. Các thành viên được biết đến nhiều khác của họ Brassicaceae còn có cải dầu (gồm cải dầu Canola và các loại khác), mù tạc, cải ngựa, cải canh, mù tạc Nhật, xà lách và cải xoong.

1. Đặc tính sinh học của rau cải

   Cải là một loại cây thân thảo, có chu kỳ sống 1, 2 hay lâu năm. Rau cải vốn tập trung trong vùng ôn đới, ưa khí hậu mát lạnh song cũng có những giống chịu nóng khá tốt.

   Rau cải có bộ rễ ăn nông trên tầng đất mặt, bộ lá mọc so le, khá phát triển và chứa nhiều chất dinh dưỡng, to bản nhưng mỏng manh nên khả năng chịu hạn kém và dễ bị sâu bệnh phá hại.

    Có mấy nhóm rau cải phổ biến, cung cấp lượng rau chủ yếu cho con người sau đây:

a. Nhóm cải bẹ:

   Gồm cải bẹ dưa, cải chíp, cải bẹ dưa… Nhóm này chịu lạnh, ưa nhiệt độ thấp, nhiệt độ thích hợp 15 – 22 độ C, do đó thích hợp trong vụ đông xuân (từ tháng 8 đến 2,3).

  Đặc điểm của nhóm cải bẹ: Có bẹ lá to, rất lớn, một cây có thể nặng 2 – 4kg, thời gian sinh trưởng dài trên 50 ngày tùy loại.

b. Nhóm cải xanh

  – Có cuống lá nhỏ và hơi tròn, phiến lá nhỏ và hẹp, bản lá mỏng (so với nhóm cải bẹ và cải thìa)

  – Có màu từ xanh vàng đến xanh đậm, hịu được mưa và nóng nên có thể trồng trong vụ xuân hè.

c. Nhóm cải thìa hay cải trắng

  – Cuống là hình lòng máng, màu trắng, phiến lá hơi tròn, cây mọc gọn; nhiệt độ thích hợp từ 10 – 27 độ C nên có thể trồng gần như quanh năm.

2. Kỹ thuật trồng các loại rau cải thùng xốp (tại gia đình).

2.1. Thời vụ gieo trồng: 

  Vụ đông xuân: Gieo hạt vào tháng 8, tháng 9, tháng 10. Sau 25 – 30 ngày, cây có 3 – 4 lá thật thì đem trồng là tốt nhất.

2.2. Làm đất: 

  + Làm đất kỹ, tơi xốp, bón lót vôi nông nghiệp rồi phơi ải ít nhất từ 7-10 ngày trước khi trồng để diệt mầm bệnh: ấu trùng, nhộng, nấm…

  + Hoà nấm tricohderma vào nước rồi phun vào đất trước khi trồng để diệt trừ mầm mống bệnh.

  + Bổ sung phân bón cho 1 thùng xốp (khoảng 30-50 kg đất): mỗi thùng khoảng 2 kg phân trùn quế hoặc phân chuồng hoai mục: 3-5kg/thùng; phân cá ủ hoai. Nếu không có thì có thể thay bằng phân vi sinh, lượng dùng khoảng 2-5 kg/thùng.

  + Thùng xốp trồng cây phải thoát nước tốt, tốt nhất nên làm thùng @ cải tiến để trồng cây đạt hiệu quả cao.

2.3. Gieo hạt:

   Để hạt nẩy mầm tốt, cần làm theo các bước sau:

  + Vớt ra rửa sạch, để ráo nước.

  + Đem gieo vào bầu hoặc trực tiếp lên đất đã chuẩn bị sẵn. Sau vài ngày hạt sẽ nẩy mầm.

2.4. Cách trồng: 

 + Đào các hố cách nhau 20 – 30 cm, mỗi hố sau từ 10 – 15 cm.

 + Cho vào mỗi hốc một nắm phân chuồng ủ hoai hoai hoặc phân trùn quế, phân vi sinh

 + Mỗi thùng xốp trồng từ 4 – 6 cây cải vào các hốc.

2.5. Chăm sóc: 

 + Tưới nước: sau khi trồng phải tưới nước ngay; mỗi ngày một đến hai lần, nên tưới trực tiếp vào gốc, cho đến khi cây bén rễ hồi xanh. Sau đó chỉ tưới khi cảm thấy đất thiếu ẩm. Lưu ý: Tưới nhiều nước quá dễ dẫn đến nấm bệnh.

 + Bón phân:

   Sau khi trồng 12 – 15 ngày, cây đã hồi xanh và có nhu cầu phát triển thì bón thúc lần 1:

Cần bổ sung thêm lượng phân chuồng hoai mục để cây đủ chất phát triển, ngoài ra có thể bổ sung thêm lượng phân vô cơ theo hàm lượng sau, tỉ lệ 2 lân : 0,5 đạm : 0,5 kali. Lấy 2 thìa cà phê super lân, 0,5 thì cà phê đạm và 0,5 thìa cà phê kali trộn lẫn với nhau rồi pha với bình 20 lít nước. Mỗi ngày tưới cho 1 thùng xốp khoảng 300 – 500 ml/lần.

   Nếu e ngại dùng phân vô cơ cho cây trồng, có thể dùng nước tiểu ngâm lân trong 1 tuần, đem pha loãng tưới cho cây cũng tốt.

   Khi cây xoè lá thì bón thúc lần thứ hai. Trước khi bón thúc nên xới xáo mặt thùng kết hợp với vun cao gốc cho cải bẹ để chống đổ và nhặt cỏ dại.

   Trong suốt quá trình sinh trưởng của cải bẹ cần bón thúc 5 – 7 lần tuỳ tốc độ sinh trưởng của cây, màu sắc của thân lá cây mà tăng hay giảm lượng phân bón cho phù hợp.

   Thu hoạch cải bẹ có thể tỉa lá hoặc thu chặt cả cây thu hoạch 1 lần.

2.6. Sâu bệnh:

   Cải là một loại cây thuộc họ thập tự nên chịu ảnh hưởng của tất cả các loại sâu, bệnh có ảnh hưởng đến họ này. Có thể kể đến như sâu tơ, sâu khoang, bệnh thối nhũn, đốm vòng…

   Hạn chế sử dụng thuốc hoá học khi trồng tại gia đình. Có thể sử dụng các loại thuốc thảo mộc như thần điền (TP) hoặc gốc sinh học như dầu khoáng: Đầu trâu, SK enspray 99EC hoặc các loại thuốc trừ sâu sinh học tự chế như: thuốc lào, hỗn hợp: tỏi, ớt, gừng, rượu… để phun diệt trừ sâu, bệnh.

   Biện pháp cuối cùng là sử dụng thuốc hoá học nhưng lưu ý đến các quy tắc sử dụng thuốc hoá học và an toàn trong sử dụng thuốc (nguyên tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật). Trước khi thu hoạch ít nhất 10 ngày thì cần ngừng phun để đảm bảo lượng tồn dư hoá chất độc hại không gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

【#5】Kỹ Thuật Trồng Hẹ Thùng Xốp Hiệu Quả Cao

Cây hẹ là một loại rau ăn lá phổ biến, được nhà nông trồng nhiều vì vốn đầu tư thấp nhưng hiệu qủa kinh tế cao hơn các loại rau ăn lá khác.

Kỹ thuật trồng hẹ thùng xốp hiệu quả cao

– Cây hẹ dễ trồng và ít phải chăm sóc, gieo một lần có thể thu hoạch nhiều lần, cây phát triển xanh tốt quanh năm, vừa cho lá để ăn vừa có thể dùng làm thuốc những khi cần thiết. Lá hẹ có thể thay thế cho lá hành, thường dùng để muối chua với giá đậu, ăn sống.

– Cây hẹ là cây thân thảo, cây giống một loại cỏ, thường có chiều cao khoảng 20-50 cm tùy đất và mùa vụ. Cây hẹ có mùi đặc biệt, giò hẹ nhỏ hơn giò hành, dài, mọc thành túm và có rất nhiều rễ con.

– Lá hình dẹp, dài, bản lá hẹp, nhưng dày. Cây hẹ thường có 4-5 lá, dài 10-30 cm, rộng 1,5-10 mm, đầu lá nhọn. Hoa hẹ mọc trên 1 cọng hoa kéo dài hơn. Các hoa tụ lại thành hình xim nhưng co ngắn lại thành một tán giả. Cọng hoa có hình gần giống 3 cạnh. Hoa màu trắng, cuống hoa dài trên 10 mm. Trái hẹ khi khô dài 4-5 mm có đường kính trái khoảng 3-4 mm. Hạt nhỏ, màu đen, cây hẹ thường ra hoa vào tháng 6-8, cho trái từ tháng 8-10.

– Cây hẹ cũng thuộc họ hành tỏi (Liliaceae), có các đặc tính sinh học giống như hành và tỏi. Ưa nhiệt độ mát (20-25 độ C), ánh sáng mạnh. Bộ rễ ăn nông, khả năng chịu hạn và chịu úng kém. Bộ phận sử dụng gồm cả củ, lá và hoa.

1/ Giống:

– Hẹ có thể trồng bằng hạt hoặc bằng thân, tuy nhiên đa số nhà nông trồng bằng thân.

– Có 2 giống chính:

+ Giống lá lớn: là giống được trồng nhiều với diện tích lớn vì năng suất cao nhưng phẩm chất kém.

+ Giống lá nhỏ: chất lượng cao nhưng năng suất thấp, diện tích trồng ít.

– Trồng tại nhà: hay chọn giống lá nhỏ để trồng.

2/ Thời Vụ:

– Trồng được quanh năm. Tuy nhiên, nó hay được trồng vào tháng 10, 11 để thu hoạch vào dịp tết, đạt hiệu quả cao.

3/ Đất:

– Chọn đất: đất tơi xốp, thoáng khí, màu mỡ, tốt nhất là đất thịt, thịt pha cát, đất phải chủ động được hệ thống tưới và tiêu nước tốt. Sau khi trồng được 12 tháng thì phá bỏ gốc, lật đất lên, lấy tầng lớp dưới lên trên làm đất trồng lứa mới.

– Làm đất: đất sau khi cày xới, lượm sạch cỏ, xử lý vôi 0,3-0,5 kg/thùng xốp, đất được phơi ải ít nhất 5-7 ngày để hạn chế sâu bệnh, nấm hại.

4, Cách trồng:

– Thùng xốp hoặc chậu trồng dùng để trồng hẹ phải đục lỗ thoát nước bên sườn, tốt nhất nên làm loại thùng @ cải tiến, có nhiều ưu điểm dùng để trồng cây tại nhà, hiệu quả cao.

– Hẹ được tách ra từng tép, trồng mỗi bụi từ 3-4 tép tuỳ theo diện tích trồng, khoảng cách tối thiểu 10 x 10cm, trước khi trồng phủ lên một lớp rơm mỏng để giúp cây cứng cáp, khó đổ khi gặp gió.

– Nếu trồng bằng hạt thì phải làm đất thật mịn, tơi xốp, đất phải có độ phì cao, tốt nhất nên dùng đất phù sa, có hàm lượng chất hữu cơ khoảng 1,5%. Để đảm bảo hạt nẩy mầm đều, cần ngâm hạt trong nước ấm 2 sôi 3 lạnh (khoảng 40 độ C) trong 2h, để ráo nước đem reo. Tưới ẩm phun sương cho hạt, giữ ẩm đều sau khoảng 3 – 7 ngày hạt nẩy mầm.

5/ Phân bón:

– Sử dụng phân chuồng hoai mục hoặc phân cá ủ hoai, lượng bón cho mỗi thùng xốp 40 lít khoảng 3-5 kg. Nếu không có phân chuồng có thể thay thế bằng phân trùn quế hoặc phân hữu cơ vi sinh, bón mỗi thùng ít nhất 3 kg.

– Ngoài ra để đạt hiệu quả cao nên bón thêm đạm, lân và kali cho cây theo liều lượng: 1:0,5:0,25

Chuẩn bị 1 hỗn hợp gồm: 1 thìa cà phê lân trộn đều với 1/2 thìa cà phê đạm trộn tiếp với 1/4 thìa cà phê kali: pha với 20 lít nước, tưới đều. Tuần tưới 1 lần.

– Nếu không muốn sử dụng phân hoá học có thể sử dụng nước tiểu (NH3) ngâm ủ 1 tuần trở lên, pha loãng để bổ sung đạm cho cây phát triển.

– Cách bón:

+ Bón lót: toàn bộ phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh vào giai đoạn đầu.

+ Bón thúc:

Lần 1: 7-10 ngày sau khi trồng, bón hỗn hợp phân đạm, lân, kali ở trên.

Lần 2: 30 ngày sau khi trồng, bón hỗn hợp trên với nồng độ đậm hơn 1:0,5:0,25 đạm, lân, kali pha với 10 lít nước.

6/ Chăm sóc:

– Công việc chăm sóc cho hẹ là bón phân, vun gốc, nhổ tỉa và trồng dặm.

– Nên dùng màng phủ nông nghiệp (polyetylen) để hạn chế tối đa cỏ dại.

7/ Phòng trừ sâu bệnh:

– Sâu ăn lá, ruồi đục lá, sử dụng thuốc Karate, Padan.

– Bệnh thối nhũn, tiêm lửa: nhổ bỏ cây bệnh.

8/ Thu hoạch:

– Đợt 1: 55-60 ngày sau khi trồng

– Đợt 2: 30-35 ngày sau khi thu hoạch đợt 1

– Đợt 3,4,5,6: cách nhau 30-35 ngày.

9/ Để giống:

– Để giống bằng thân:

Luống hẹ được nhổ tỉa cây để ăn, chừa lại cây khỏe mọc đều theo khoảng cách cây cách cây 12 đến 15 cm, sau đó bón thêm phân lân, tro bếp, bánh dầu, vun nhẹ gốc, tưới nước, chăm sóc để hẹ có củ to, mập. Khi cần trồng hẹ gấp có thể nhổ cây, vặt bớt lá đem trồng như đã nói ở trên.

Hoặc chờ hẹ có củ chắc, lá tàn bớt, nhổ cả cây buộc túm, treo trên dây, phơi trong bóng râm, sau phơi ngoài nắng, rồi đem bảo quản để trồng vụ sau. Cần kiểm tra củ thường xuyên vì hẹ có thể bị thối củ trong quá trình bảo quản. Trường hợp phát hiện có thối củ, cần loại bỏ, đem hẹ phơi ngoài nắng 5 đến 6 giờ lại đem vào bảo quản, chú ý không để thành đống to, nhiệt độ cao dễ thối.

– Để giống bằng hạt:

Cũng để cây hẹ tốt trên liếp, chăm sóc cho hẹ ra hoa, kết trái, thu trái về, chà lấy hạt (chỉ chà nhẹ bỏ bớt vỏ ngoài) phơi khô ở nhiệt độ 35-40oC, để nguội, cho vào chai lọ, đậy kín để gieo vụ sau.

Công dụng chữa bệnh của hẹ:

– Cây hẹ – tên khoa học: Allium tuberosum Rotller ex Spng, thuộc họ Hành – Alliaceae.

– Mô tả: Cây thảo nhỏ sống nhiều năm, cao 20-50cm, có thân mọc đứng, hình trụ hoặc có góc ở đầu. Lá ở gốc thân, hình dải phẳng hẹp, có rãnh, dài 15-30cm, rộng 1,5-7mm. Hoa trắng mọc thành tán ở đầu một cán hoa dài 20-30cm hay hơn. Tán gồm 20-40 hoa có mo bao bọc, 3-4 lẩn ngắn hơn tán hoa; bao hoa màu trắng, gồm nhiều phiến thuôn mũi mác. Quả nang, hình trái xoan ngược chia ra 3 mảnh; 6 hạt nhỏ, màu đen.

– Hoa nở vào tháng 7-8, quả đậu vào tháng 8-9.

– Bộ phận dùng: Hạt – Semen Alli Tuberosi, thường gọi là Cửu thái tử. Toàn cây cũng được dùng.

– Nơi sống và thu hái: Cây của vùng Đông Á ôn đới, được trồng rộng rãi làm rau ăn ở miền núi, trung du và đồng bằng. Thường trồng bằng củ tách ở cây đã tàn lụi. Có thể trồng vào mùa xuân, hoặc thu đông là tốt nhất. Ta thường thu hái rau hẹ quanh năm, thường dùng tươi. Còn quả chín, phải chờ mùa thu đông, lấy về phơi khô, đập lấy hạt.

– Thành phần hóa học: Trong cây hẹ có hợp chất sulfur, saponin, chất đắng và hoạt chất adorin có tác dụng kháng khuẩn và vitamin C.

– Tính vị, tác dụng: Hạt có vị cay, ngọt, tính ấm, có tác dụng ôn trung, trợ vị khí, điều hoà tạng phủ, hạ nghịch khí, cố thận tinh, tán ứ huyết. Rau Hẹ có vị cay đắng chua mà sít, lại mạnh cho khí và thêm cho dương sự, lại cầm máu, vít tinh.

– Công dụng, chỉ định và phối hợp: Hạt Hẹ dùng chữa chứng mộng tinh, Di tinh, đái ra huyết, lưng gối mỏi, tả và chứng đàn bà bạch đới và ỉa chảy. Còn dùng chữa viêm tiền liệt tuyến. Liều dùng 6-12g. Cây Hẹ dùng trị cơn hen suyễn nặng, đờm chặn khó thở, chứng ra mồ hôi trộm, sưng cổ họng khó nuốt, đổ máu cam, lỵ ra máu, viêm mũi, viêm tiền liệt tuyến. Ngày dùng 20-30g giã nát, thêm nước, gạn uống. Dùng ngoài, lấy nước Hẹ nhỏ tai trị viêm tai giữa. Rễ Hẹ là vị thuốc tẩy giun kim rất nhẹ nhàng và hiệu nghiệm.

Đơn thuốc:

1. Cổ họng khó nuốt: Dùng 12-24g lá Hẹ giã tươi lấy nước uống.

2. Yết hầu sưng đau: Hẹ toàn cây một nắm, muối một cục đâm vắt nước nuốt lần lần.

3. Viêm tai giữa: Giã Hẹ tươi lấy nước nhỏ tai.

4. Côn trùng bò vào tai: Lá Hẹ đâm vắt lấy nước nhỏ vào tai ít giọt, côn trùng sẽ bò ra.

5. Hen suyễn nguy cấp: Lá Hẹ, một nắm, sắc uống.

6. Đổ máu cam, lỵ ra máu: Củ hoặc lá Hẹ giã tươi lấy nước uống.

7. Ho trẻ em: Lá Hẹ hấp với đường đặt trong nồi cơm hoặc đun cách thuỷ lấy nước cho uống.

8. Giun kim: Sắc lá Hẹ hoặc rễ Hẹ lấy nước uống.

9. Di tinh: Hẹ và Gạo nếp, hai thứ đều nhau, hiệp chung nấu cháo nhừ, phơi sương một đêm, ăn lúc sáng sớm, ăn luôn một lúc. Hoặc dùng hạt Hẹ ăn mỗi ngày 20 hạt lúc đói với nước muối mặn mặn, hoặc chưng chín ăn.

10. Sản hậu chóng mặt bất tỉnh: Củ Hẹ, Hành tăm, đều 12g, đâm nát hoà ít giấm, để lên cục gạch nướng đỏ, xông hơi.

Các món ăn từ hẹ:

1. Bánh nhân hẹ

– Lá hẹ 200 g, đậu phụ 100 g, bột mì 500 g, miến 50 g ngâm cắt vụn, rau hẹ thái nhỏ, đậu thái quân cờ.

– Xào khô già với nước tương, muối, bột ngọt, hành, gừng, dầu vừng trộn đều viên làm nhân. Bột mì nhồi làm viên rồi cán mỏng, bọc nhân chưng chín.

2. Chế biến làm các món xào

– Hẹ 200 g cắt đoạn dài, xào với giá đậu xanh.

– Hẹ xào tôm nõn tươi: Lá hẹ 200 g, tôm nõn 200 g, xào ăn.

– Hẹ xào gan dê: Lá hẹ 150 g, gan dê 150 g. Có tác dụng làm sáng mắt.

– Hẹ xào lươn: Lươn 500 g lọc bỏ xương, cắt đoạn xào qua, thêm gia vị, gừng, tỏi và nước, vừa cạn cho thêm 300 g lá hẹ cắt đoạn, xào thêm 5 phút. Ăn nóng.

– Hẹ xào: Hẹ 240 g, hồ đào nhục (quả óc chó) 60 g. Xào với dầu vừng và ít muối. Ăn ngày 1 lần lúc đói hoặc vào bữa cơm trong 2 tuần đến 1 tháng. Còn dùng chữa táo bón, đau lưng, gối, tiểu tiện luôn, nữ giới bị khí hư, lãnh cảm.

3. Chế biến làm các món cháo

– Cháo hẹ: Hẹ 20 g, gạo 90 g. Nấu cháo ăn nóng ngày 2 lần. Còn dùng chữa đau lưng, gối mỏi, ăn uống kém, phân sống nát, chân tay lạnh; nữ giới bị đới hạ, lãnh cảm.

– Cháo hạt hẹ: Hạt hẹ (xào chín) 15 g, gạo tẻ 50 g, ăn hàng ngày

Tất cả các bài thuốc, đơn thuốc nêu trong bài viết đều là sưu tầm, chỉ có tác dụng tham khảo. Tác giả không chịu trách nhiệm nếu người đọc áp dụng theo. Quý vị có thể liên hệ với các tiệm thuốc, bệnh viên Đông Y hoặc tham khảo thêm sách chuyên ngành để biết thêm chi tiết.

Chúc các bạn đọc vui vẻ.

【#6】Một Số Bí Quyết Chọn Gà Chọi – Đúc Kết Từ Kinh Nghiệm Chơi Gà

Gà chân xanh chân vàng hay còn gọi là nhật nguyệt cước kê. Gà này có tánh linh, biến thế rất hay. Tuy nhiên không phải chỉ có đôi chân này thôi là hay mà còn phải xem về tiềm lực bên trong con gà, thể hiện qua hình thể, dáng đi đứng. Để đúng là một con nhật nguyệt cước kê thì phải có kiểu hình thể sau: lùn chân, tướng đi chuối về phía trước, mã to lông ướt, đôi cánh xếp ngược lên lưng, lông đuôi và mã dài chấm đất. Thường thì tướng gà thế này không ai chấp nhận. Tuy nhiên nếu có đôi chân nhật nguyêt thì quả đúng là linh kê có 1 không 2

– Gà mồng rồng, gà chọi thường không ai thích con gà trống nào có cái mồng rồng to tướng chỉ để làm chổ dựa cho đối thủ đánh. Thế nhưng một khi cái mồng rồng này đi với đôi chân tam bản, các ngón chân nhỏ và dài thì con gà trở nên không có đối thủ, bất kể đến đối thủ nặng bao nhiêu cân vân có thể thắng được. Gà này tôi đã từng nuôi, ô ớt chân vàng 2.6 đánh thắng ô mã lại chân chì 3.6 trong vòng 4 đốt nhang. Gà này thường tranh đá mặt dọc, khi xuất đòn từ 3 – 5 cái mới chịu buông mỏ

– Gà tử mị , gà này cũng thường gặp. Gà này khi ngủ giống như chết mà chết cũng như ngủ. Loại này không được xếp vào các loại linh kê, nhưng vẫn được xem là gà tài

– Gà bốc cát : đặc điểm rất dễ nhân thấy là khi nó đi thường rất chậm so với những con gà bình thường, chạy thì không thể nhanh được vì mỗi bước đi nó phải nhất chân thật cao. Khi đứng yên thì thường đứng một chân, chân trụ là chân thuận. Gà này cũng thường, có biệt tài đá sỏ, nhưng khi gặp những đối thủ có chân thuận đối ngịch với thế đá hầu nữa thì dù có bốc cát quăng ra cũng có lúc bốc “cứt”..

– Gà lắc mặt : Thường gà này có bột mặt tròn, dân chơi gà hay gọi là mặt nguyệt, gà này đá mé rất hay, hay trông đá mặt dọc. Ưu điểm đánh nhanh thắng nhanh. Gà này vẫn bị thua cho những con đá bợ và đá hầu

– Né lồng: tướng gà lúc nào cũng như đang dè, khi nhốt trong lồng thì đi kiểu như say rượu. Gà này có biệt tài sỏ ngang. Xoay trở được cả hai bên. Thế đá này dường như không đối thủ. Thế nhưng vẫn kỳ với những con gà đá bợ và đá sỏ dọc

– Gà ngũ sắc chỉ có ở con gà sám son. Ngủ sắc trông kinh kê được cho là thuần văn nên con này rất hay, biết xoay trở biến thế, nhưng thế thường đá nhất, hay nhất vẫn là thế sỏ ngang

– Gà lông voi, loại này rất hiếm gặp, nếu gà có lông voi thì bất kể dòng giống, bất kể gà lai hay gà chính. Trong kinh kê gà này được xếp đầu – Thiên hạ vô địch. Con này có thể xếp ngang với ẩn đầu rồng và nhân tự đầu hổ

–  Gà có vảy ác tinh cũng thuộc dạng linh kê. vảy tròn nhỏ màu đỏ nằm chính giữa ngón thới và ngón nội

( trên đây là những con gà tôi từng sở hữu và chứng nghiệm hai quyển sách “Đạo Kê Diễn Nghĩa” và Kinh Kê)Sau Đây Là Quyển Đạo Kê Diễn Nghĩa

1. Hậu biên yến quản đồng hành 

Hậu biên đồng hành tức là Hậu Biên Tiên Lộ. Hàng biên và hàng hậu cùng song song đi xuống, cuối cùng hàng hậu tấp vào hàng biên cùng đi xuống ngón ngoại. Đây là gà quý.

2. Giáp Long Chi Tự Điềm Lành Hữu Linh

Vảy Giáp Long đóng ở ngón thới. Vảy có hình cánh bướm hoặc từa tựa vảy rồng nên được gọi là giáp long. Loại thần kê này chuyên dùng móng làm trảo để điểm vào mắt địch.

3. Âm minh thư đoản tài tình, 

4. Âm minh hùng đoản thanh vang hổ gầm. 

5. Hổ gầm khẩu chớ lặng câm, 

6. Hoặc rung khẩu hạ biết ra vẹn toàn.

Âm minh thư đoản là tiếng gáy thanh, rít mà ngắn ở tiếng ngân cuối. Cũng là loại gà có tài.

Âm minh hùng đoản là tiếng gáy mạnh mà ngắn ở tiếng ngân cuối. Tiếng gáy có âm thanh như cọp rống. Khi gà gáy mạnh và tiếng gáy kết thúc ngắn gọn thì đó là gà dữ.

– Gà gáy phải há lớn miệng mới tốt. Ngậm miệng lặng câm không tốt.

– Khi gáy mỏ dưới không rung mới tốt. Rung thì cũng chưa vẹn toàn.

7. Vậy thời cho rõ đừng oan, 

8. Kẻo mà hay phản “Đạo Kê” là thường. 

9. Xem gà ta phải cho tường,

Người xưa xem phép đá gà là Ðạo vì nó đòi hỏi sự thông suốt kê kinh. Ðoạn này xác quyết sự chính xác của kinh và quy sự thất bại vào người xem kinh chưa thông suốt.

10. Rõ ràng “hoa thới” một đường thẳng ngay. 

11. Nội lên tiếp ứng nào hay, 

12. Có mà “giáp độc” chận ngay là tài.

– “Hoa Thới” tức là Thới Hoa Ðăng. Vảy của ngón thới không ngưng lại ở chậu mà chạy thẳng lên tới cựa rõ ràng thắng tắp thì gọi là Hoa Thới.

– Vảy của ngón nội không ngưng ở chậu mà chạy thẳng lên tiếp ứng với Thới Hoa Ðăng tạo thành ngã ba và nhập một đi thẳng tới cựa.

– Cả hai hàng vảy này bị Ðộc giáp chặn lại tại cựa. Vảy độc giáp ở hàng Quách là một vảy lớn hả mồm ngậm chiếc vảy cuối cùng của Hoa Ðăng.

Lưu ý: vảy Ðộc giáp không phải là một liên giáp mà chỉ là một vảy lớn.

13. Chận rồi còn thể là hai, 

14. Chấn trên giữ dưới thế hoài phải phân. 

15. “Thần hổ đệ nhất” nên cân,

Đoạn này mô tả vảy “Đệ Nhất Thần Hổ Đao”.

– Vảy ĐNTHĐ là đại giáp nội đóng tại hàng Quách, tức là liên giáp bao gồm ba vảy.

– ĐNTHĐ hả miệng ngậm chiếc vảy cuối cùng của Thới Hoa Đăng đi lên vì thế vảy này đóng trên cựa 1 ly.

– ĐNTHĐ phải đóng cả hai chân.

Gà có vảy này được liệt vào hạng “Linh Kê”.

16. “Hổ Thần Đệ Nhị” cũng phân rõ ràng. 

– Đệ Nhị Thần Hổ Đao nằm ở hàng Quách và cũng hả miệng ngậm ngọc giống như Đệ Nhất Thần Hổ Đao. Cả hai đều nằm trên cựa 1 ly nhưng Đệ Nhị Thần Hổ Đao không phải là một đại giáp mà chỉ là một liên giáp. Đại giáp do ba vảy tạo thành, liên giáp chỉ do hai vảy mà thôi.

– Hai chân đều có Đệ Nhị Thần Hổ Đao đóng, nếu không thì thất cách.

– Thới Hoa Đăng của vảy phải rõ ràng và thẳng tắp. (Đăng có nghĩa là đèn. Đèn đỏ rực thắp sáng thẳng hàng đẹp như hoa nở nên gọi là đèn hoa.) Có lẽ vì những vảy này nổi lên tròn trịa đẹp như đèn hoa nên có tên là Hoa Đăng.

– Gà có chân này có tài cản cựa địch khó đâm. Rất quý.

Thưa quý độc giả, Tàng Kinh Các của Nhất Phẩm Ðường lưu trữ nhiều Giáp Kinh của các danh gia. Một trong những Giáp Kinh này do danh sư Phan Kim Hồng Phúc biên soạn và trong đó có sự khác biệt của Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Thần Hổ Ðao.

Sau đây Mộng Lang xin trình bày những điểm quan trọng của ngài Hồng Phúc.

Theo như Sư Kê Phan Kim Hồng Phúc thì Thần Hổ Ðao không phải là một liên giáp hay đại giáp mà chỉ là một giáp tại hàng Quách.

– Ðệ Nhất Thần Hổ Ðao thì đóng trên cựa một ly và cũng mở miệng ngậm ngọc.

– Ðệ Nhị Thần Hổ Ðao cũng có hình dáng tương tự nhưng nằm cao hơn.

Gà có vảy này thì ra đòn xuất quỷ nhập thần. Khó có địch thủ nào sống sót để gáy.

*Thầy Phan Kim Hồng Phúc không cho biết vảy Đệ Nhị Thần Hổ Đao nằm cách cựa bao nhiêu nhưng phỏng theo hình vẽ của thầy thì Đệ Nhất Hổ Đao nằm cách cựa khoảng một vảy hoa đăng, Đệ Nhị Hổ Đao nằm cách cựa khoảng 2 vảy hoa đăng. Hình vẽ dưới đây là tài liệu riêng của Tàng Kinh Các nhưng phương vị của vảy thì giống nhau.

17. Quay sang “liên cước tam hoàn”,

18. Đôi chân phải có ngọc song mặt tiền.

Ngọc song có thể là Song Cúc và cũng có thể là Lưỡng Ngọc Song Cước. Mộng Lang xin đưa ra cả hai để quý độc giả dễ bề nghiên cứu.

Vảy Song Cúc đóng ở mặt tiền cả hai chân. Vị trí của vảy ở hai chân phải tương xứng nhau thì mới tốt. Nếu vảy này đóng ngay cựa thì đúng cách.

Gà có vảy Song Cúc có biệt tài đá liên hoàn cước. Mỗi lần xuất chiêu là đá liên tục ba bốn đòn.

Lưỡng Ngọc Song Cước

Cả hai chân đều có vảy to phía trên cựa. Một chân có đại giáp ở hàng Thành. Một chân có đại giáp ở hàng Quách.

Gà có vảy này luôn luôn có biệt tài đá song cước cực kỳ lợi hại và được nổi danh làLưỡng Cước Kê (Theo Sư Kê Phan Kim Hồng Phúc)

Gà có Lưỡng Ngọc Song Cước đá song cước nhưng gà này có đá “liên cước tam hoàn” hay không thì không thấy sư kê nhắc đến.

19. Rõ ràng nó đá đòn kiêng,

20. Lại thêm đòn thủ mé cần đòn ngang.

21. Thêm rằng bể hậu khai biên,

22. Là tiên giáng xuống cậu tên gà nòi.

Ðòn kiêng có lẽ là đòn quăng còn gọi là xạ. Ðòn quăng là đòn đá vào mặt và cần cổ địch thủ bất thình lình mà không mổ trước.

Bể Hậu Khai Biên là cậu của gà nòi.

Có sách chép: ” Bể Biên Khai Hậu” là cậu gà nòi. Bể hay khai thì cũng giống nhau. Ðường “Quách” và đường Hậu đều có một vảy nứt ra chia làm hai. Gà ấy là gà hay.

23. Trường thành địa giáp nên coi,

24. Những vảy ấy có gà hay thường thường.

Trường thành là vảy ở hàng Thành lấn sang hàng Quách. Khi ta nhìn ở mặt tiền thì thấy vảy hàng Thành có diện tích rộng theo chiều ngang.

Vảy Ðịa Giáp là một vảy nhỏ ở dưới lòng bàn chân. Phải lật lên mới thấy. Loại gà này được liệt vào “Linh Kê”.

25. Thới mang nhân tự một đường,

26. Dễ mà khinh nó sọ bêu phải tường.

Ngón thới có vảy nứt như chữ Nhân thì gọi là Nhân Tự Thới. Gà có vảy này chuyên nhả đòn độc và thượng hành đi trên. Nếu nhân tự mà đóng ở các vảy cuối sát móng thì gà có tài móc mắt.

27. Phải tường tứ ứng mà thương,

28. Đôi chân như một trường nương người mời.

Tứ Ứng Độ Sơn là 4 vảy độ đếm từ cựa trở lên nằm trên gò cao cách biệt với các vảy độ kế tiếp khuyết hẳn xuống. Nếu được 3 vảy nổi cồm lên thì gọi là “Độ Tam Ứng” và kém hơn gà tứ ứng, ngũ ứng, lục ứng v.v.

Gà có Tứ Ứng Độ Sơn cả hai chân là gà quý.

Gọi là Độ Sơn vì hình thể cao hẳn lên như 4 ngọn núi.

Lưu ý: Bốn vảy này phải to lớn gần bằng nhau.

29. Song liên là vảy của trời,

30. Phải xem cho nhớ đời đời nước hai.

Song Liên là liên giáp nội do hai vảy dính liền tạo thành và đóng tại hàng Quách.

Theo tài liệu trong Tàng Kinh Các thì có hai loại song liên tự.

Loại thứ nhất 

– Song Liên đóng ngay cựa nhưng không cần phải ngậm ngọc, và cũng không cần phải có đường thới hoa đăng.

Loại thứ hai 

– Song Liên phải ngậm ngọc và đóng ngay cựa. Đường thới hoa đăng phải tốt. Viên ngọc bị ngậm không nhất thiết là ngọc cuối cùng. Gà có Song Liên Tự theo cách này ăn đứt các vảy Nhật Thần, Hổ Khẩu, và Hàm Long.

Lưu ý: Đừng lộn Song Liên Tự với Đệ Nhị Thần Hổ Đao. Đệ Nhị Thần Hổ Đao đóng trên cựa. Song Liên Tự đóng tại cựa.

Theo các sư kê thì gà có Song Liên thì có đòn độc từ cuối nước thứ hai đổ đi.

31. Hiểu rằng vảy nhỏ “lạc mai”,

32. Chẳng nên căn cứ một hai đòn tài.

Lạc Mai là bốn năm vảy chụm lại và đóng trên hoặc dưới cựa. Gà có vảy này thuộc loại thường. Ta không nên căn cứ một hai đòn hay mà giữ gà này vì nó không phải là chiến kê.

33. Đòn tài bán nguyệt nữ giai,

34. Thêm vào ngón giữa ra oai nhiều đường.

Vảy bán nguyệt là một đường chỉ vòng bán nguyệt tại cựa. Tuy nhiên, câu này không mô tả đường chỉ đó mà muốn đề cập tới ngón chân cong hình bán nguyệt.

Bán Nguyệt Nội là hai ngón nội của cả hai chân cong hình bán nguyệt. Nếu gà mà có bán nguyệt tại ngón giữa (ngón Chúa) thì lại càng cực kỳ hay.

Chiến kê có chân cong hình bán nguyệt có biệt tài móc mắt đối phương, giỏi song cước, nhảy cao và đá tạt ngang rất ác nghiệt.

35. Đừng cho thất hậu bản lườn,

36. Riêng hai thứ ấy kiên cường phải sâu.

Những sư kê có nhiều kinh nghiệm thì họ cho rằng hàng vảy quan trọng bậc nhất không phải là hàng vảy tiền phía trước mà chính là hàng vảy hậu phía sau. Tiền hư thì còn gỡ gạc được, chứ nếu hậu hỏng thì không thể dùng được nữa.

Một con thần điểu tốt phải có hàng vảy hậu no tròn và đều đặn từ chậu đến gối.

Bản lườn tức là lườn tam bản. Loại lườn này có đáy trệt và hai vách hơi vuông vức trông giống như đáy của loại thuyền đóng bởi ba miếng ván nên gọi là lườn tam bản. Kinh sách khuyên ta không nên dùng loại gà có lườn tam bản.

Ngược lại với lườn tam bản thì có lườn tàu có đáy nhọn. Khi ta “vô tay” nâng gà lên thì sẽ cảm thấy đáy lườn cộm vào lòng bàn tay.

“Vẹo lườn thì bỏ, vẹo mỏ thì nuôi”

Xương lườn nằm ở phía dưới bụng của gà. Nếu xương lườn sâu và thẳng không bị “vạy” thì chiến kê ấy có thể tạm coi là tốt.

37. Tam tài tứ quý là đâu,

38. Song tam song quý mới hầu tài cho.

Theo tài liệu của Tàng Kinh Các thì có rất nhiều loại tam tài khác nhau. Loại thông thường là ba vảy nhỏ đóng sát gối như hình vẽ này.

Qúy điểu có loại vảy này thì ra đòn cực kỳ mãnh liệt hung ác.

Tứ quý là bốn hàng vảy đóng sát gối. Chiến kê có tứ quý chuyên đá lòn, đá dĩa. Con gà đi dưới cũng có nhiều đòn độc ma quái riêng của nó.

Song tam = hai chân có tam tài

Song quý = hai chân có tứ qúy.

 39. Gà tài vảy độ càng to, 

40. Nghinh thiên cho tỏ bo bo “độ điền”. 

41. Độ điền mới quý làm sao, 

42. Hẳn là vua cả trên cao lộng hành.

Mộng Lang truy cứu nhức cả đầu nhưng cũng không tìm ra được vảy “Ðộ Ðiền”. Có lẽ là vảy độ có hình vuông như chữ Ðiền chăng ?

43. Đến lần biên độc làm anh,

Ðộc biên là một hàng vảy biên chạy từ đầu gối xuống quá chậu ra ngón ngoại.

Thần Ðiểu có vảy độc biên thì đá chết địch thủ, khó có con nào thoát chết.

44. Đa biên mà dứt chẳng lành hiện ra.

Ða biên là có từ hai hàng vảy biên trở lên.

Ða biên mà đứt đoạn thì càng tồi. Kinh sách khuyên ta không nên dùng.

45. Dặm xa ngoại ngón chỉa ra, 

46. Gà hay cũng đặng tài xa phải đòn. 

47. Ngón giữa giáp vảy nhập môn, 

48. Tài hay móc họng như côn thọc hầu.

Có sách cho rằng nếu ngón Ngoại có vảy nứt ra hoặc có vảy nhỏ chen vào thì tốt. Nhưng cũng có sách cho đó là xấu.

Kê Kinh viết:

“Vảy may vảy rủi đâu là 

Hư có vảy ngoại thiệt là chẳng may.”

Tất cả các sách đều ghi nhận nếu vảy ở hàng thành (còn gọi là ngoại) mà bị nứt ra thì là điềm chẳng may. Vảy của ngón Ngoại là do hàng Thành tiếp tục chạy xuống quá chậu mà thành. Như thế chúng ta có thể kết luận rằng dậm tại ngón Ngoại là xấu.

Một trong những tài liệu ghi nhận dặm Ngoại xấu đã ghi thêm rằng nếu dặm Ngoại cách ba vảy tính tử móng chân thì càng tồi, gà có số bị đui.

Nhưng nếu vảy nhỏ dặm vào ngón Chúa (ngón giữa) thì đó là điềm tốt. Ðoạn này có thể mô tả vảy Ẩn Ðầu Long. Ẩn Ðầu Long nằm sát móng trước vảy nhập môn và bị vảy nhập môn che khuất. Khi bẻ cong móng lên thì sẽ thấy nó lộ ra. Nếu vảy giặm nằm ở vị trí khác trên ngón Chúa thì nó có tên là Lạc Diệp. Gà có vảy Lạc Diệp và Ẩn Ðầu Long là gà dữ.

————————————————

Công nhận gà có vẩy giắt tại ngón ngọ là gà hay, giống này quá dữ đòn và cực hung hăng có khi đá cả người vì ông bác tôi có con gà cú có vẩy này chuyên đánh người.

Bác Mộng Lang kiếm đâu được sách hay thế, chỉ bảo cho anh em đọc với, mọi người phải cảm ơn bác nhiều đấy!

đọc sách (của tác giả Minh Tâm nào đấy) thấy trường hợp nứt vảy hay dặm ở hàng ngoại cũng rất phức tạp : (hàng ngoại = hàng thành + ngón ngoại)

– nếu có 1 vảy hàng Thành vô cớ bị nứt thì gọi là Khai Tiền – đây là điềm báo xui xẻo (gà đá xổ chơi thì hay nhưng đá độ có tiền thì xui ??); còn nếu có 1 vảy nứt ở hàng Quách – thì gọi là Bàng Khai – gà thường thường còn dùng được.

– nếu có 2 vảy liên tiếp ở hàng Thành bị nứt thì là Xuyên Thành – tốt (nếu 2 vảy liên tiếp hàng Quách nứt thì gọi là Tả Công – tốt); các trường hợp này nếu các vảy dưới cựa “nứt” thì tốt hơn.

– các sách điều ghi “Dặm ngoại bất tồn” – nếu có vảy nhỏ dặm chen vô hàng Ngoại đều xui xẻo, gà dễ bị mù ( điều này tôi chưa thấy thực tế, vì gặp trường hợp này chủ gà đều sợ không dám cho ra trường; trong thực tế tôi thấy nhiều con gà chẳng có cái vảy giặm nào 2 chân rất đẹp nhưng sáp trận cũng bị địch đá cho mù mắt

à các bác cho tôi hỏi cái: có phải “Dặm ngoại” = “Liên giáp ngoại” ???

Cho em hỏi cái khác nhau của 2 vẩy “nguyệt tà” và “xuyên đao” ?

Câu hỏi của nhà vua thì gachoihn đã trả lời rồi.

Nhưng theo sách thì có tới hai quyển phân biệt Nguyệt Tà và Xuyên Ðao. Theo đó thì Nguyêt Tà chỉ đóng dưới cựa mà thôi.

Vẩy vấn tại cựa mà phía hàng thành thấp , hàng quách cao gọi là vày gi

Nguyệt tà hình trăng khuyết hoặc từa tựa như vậy, còn xuyên đao thì vẩy có hình nhọn chỉ vào cựa.

Cả hai đều cao ở hàng thành và thấp ở hàng quách đóng chéo xuống chứ không phải ngang , 2 vẩy này có tác dụng như nhau (gà có vẩy này chắc chắn 1 điều biết dùng cựa) nên người ta thường gọi thế nào cũng được, có người gọi xuyên đao, có người gọi nguyệt tà, ngoài này có người gọi trễ giáp.

Vẩy vấn tại cựa mà phía hàng thành thấp , hàng quách cao thì mình hỏi mấy ông bác chơi gà cũng chịu , họ bảo gà có vẩy quấn như vậy không phải kiểu, nhưng các ông ấy chỉ biết kinh nghiệm về gà đòn thôi gà cựa thì không biết theo như BEBI nói thì chắc là đúng cho cả gà cựa.

Mà có người bảo gà tre cũng là 1 giống của gà chọi , không biết có đúng không nhỉ?

Tôi nghĩ phép xem vảy là áp dụng chung cho tất cả lọai gà chọi, tùy theo loại gà minh chơi là linh động ứng dụng.

Với gà cựa ta phải chú trọng các vảy cho biết gà “nhạy cựa”, “tránh cựa”… còn với gà đòn phải để ý thêm các vảy báo tài “về khuya”.

ví dụ vảy “Song Liên” mà anh Lang đã nói trên là một vảy rất quý với gà đòn; nhưng có thể không hay với gà cựa : vì gà “Song Liên” này tới cuối nước thứ 2 đi mới chịu xuất chiêu, trước đó thì đá rất thường; lỡ khi gặp địch thủ ác quá, thì nội trong hiệp đầu đã bị chém cho tơi tả (nhiều khi tiêu tùng luôn) rồi còn sức đâu nữa mà ra chiêu các hiệp sau  ; nhưng cũng kiểu vảy này với gà đòn thì khác, các hiệp một hai nó đá như chơi những người không biết cứ đổ bạc về phía con gà kia; nhưng tới hiệp ba chẳng hạn gà mình chỉ cần “xuất chiêu” là tha hồ hốt bạc

Phép xem vảy có thể đem ra áp dụng cho cả hai loại. Kinh sách dạy ta tùy cơ ứng biến. Tỷ như gà có vảy Lạc Ma Hàm Cốc vốn có tài đứng nước khuya thì áp dụng cho đá đòn hay hơn đá cựa.

Bài Kinh theo vần thơ lục bát được truyền tụng là do Tả Quân Lê Văn Duyệt viết và theo sử liệu thì quê quán tổ tiên của Tả Quân vốn ở Quảng Ngãi; từ đời nội tổ đã dời về Nam lập nghiệp. Qua đời thân sinh thì lại dời về Rạch Gầm, (thuộc tỉnh Mỹ Tho ngày nay.) Mỹ Tho, Sóc Trăng, và các tỉnh miền Tây thì nổi tiếng về gà cựa nên nhiều người đã cho rằng bài Kinh của Tả Quân là viết cho gà cựa.

Ðể tiếp tục tụng niệm kinh gà, xin mời qúy độc giả suy niệm đoạn kinh sau:49. Con nào sọ thắt liền nhau,

50. Biết rằng là nó cam đau chịu đòn.

51. Khấc đầu nó chịu đá lòn,

52. Lủi sau lòn trước là con thế gà.

53. Thế gà hẳn có tài ma,

54. Nhằm đâu cũng đặng miễn là phản công.

Ðoạn này mô tả sọ gà. Theo sách vở thì cái sọ gà khá quan trọng. Tỷ như sách xem tướng liệt những kẻ có bướu sau gáy thuộc vào thành phần phản loạn thì gà cũng có sách tướng riêng của nó. Thế nên, một người Sư Kê thượng thặng thì phải biết sọ gà của mình.

Khi một vị Sư Kê đưa tay bóp ngang sọ gà phía trên gò mắt thì thấy nơi đó bị khuyết và nhọn về phía trước theo xương sọ. Nếu nơi đó mà thắt lại, khuyết nhiều, thì đó là con gà thế.

Ở phía sau ót cũng vậy. Tất cả mọi sọ gà đều thắt lại và bằng phẳng trước khi nổi lên cao để nối với xương cổ. Nếu sọ mà dài ra sau quá thì không có nghĩa là gà xấu, nó chỉ không phải là con gà thế.

Gà thế thì có tài ngoai lên lòn xuống đủ mọi cách để hạ địch thủ, nó là con gà khôn.

55. Gà mà có quản mai hồng,

56. “Mai son” thời biết anh hùng là đây.

Theo Thầy Phan Kim Hồng Phúc thì gà có quản mai hồng là gà có đôi chân chia làm ba màu rõ rệt.

57. “Tam Vinh” vảy ấy gà hay,

Cũng theo thầy PKHP thì Tam Vinh là chân cẳng minh bạch. Ba hàng vảy Ðộ, Biên, Hậu phải đúng cách: Hàng Ðộ phải no đủ, Biên không bị đứt đoạn, Hậu phải xuống quá cựa.

58. Lộc điền cũng đặng gà cay gà kỳ.

Lộc Ðiền là hai vảy đâu đầu với nhau. Nếu hai vảy này được ngăn bởi đường đất nhỏ ở giữa không lấn qua Quách hoặc Thành thì nó có tên là Lộc Ðiền Tự. Vảy này xấu.

Nếu đường đất ngăn chia hai vảy này quay đầu vào Quách thì nó có tên là Lộc Ðiền Nội. Vảy này tốt nếu đóng ngang cựa. Nếu đóng ở những nơi khác thì cũng thuộc loại thường.

Ngược lại nếu đường đất quay đầu ra Thành thì nó có tên là Lộc Ðiền Ngoại. Vảy này xấu.

59. “Tiểu son” tấm đỏ “ác tinh”, 

60. Nó là một thứ nên kinh phải nhường.

Chân gà thì có rất nhiều vảy nhỏ lấm tấm ở giữa các khe ngón. Nếu những vảy lấm tấm ở giữa ngón thới và hàng nôi có một vảy có màu đỏ như son thì gọi là Tiểu Son. Gà này đựơc liệt vào hạng ác tinh đâm chém rất dữ.

61. Vào tay cho biết đoạn trường,

“Vào tay” là thò tay ra giữa bụng gà và nâng nhẹ lên để biết đựơc xương lườn dài hay ngắn; dài thì tốt, ngắn thì xấu. Ở những trường gà mà cho phép Sư Kê của đôi bên “vào tay” thì ấy là lúc các Sư Kê khảo nghiệm khả năng chiến đấu của nhau. Một sư kê kinh nghiệm chỉ cần vào tay cả hai con gà cũng đoán biết được khá nhiều về kết quả của cuộc đấu.62. Quản ngay mới đặng một đường như tên.

Quản, còn gọi là cán, là khoản chân từ đầu gối tới chậu.

Quản ngay thẳng thì tốt, quản xiên vẹo, khuyềnh ra thì xấu. Quản mà thắt ở khúc giữa thì qúy.

63. Ghim kia trường đoản một bên, 

64. Nó là độc nhãn có tên rành rành.

Xương ghim nằm ở phía dưới hậu môn. Khi nhìn từ phía sau thì ta sẽ thấy hai đầu nhọn của ghim nhô ra. Nếu hai xương ghim này khít cỡ ngón tay thì tốt. Nếu xương ghim hở rộng ra quá thì gà này tung đòn thiếu chính xác.

Ngoài ra, nếu hai xương ghim không đều nhau, một bên dài một bên ngắn thì số kiếp con gà ra trường trước sau gì cũng bị đui mắt. Ðoạn kinh trên quả quyết như thế không sai trật.

65. Xét cho có ngọn có nghành, 

66. Con nào gò nhật là anh can trường. 

67. Gò cao mặt khuyết mà thương, 

68. Thương chi gò lép nhãn to mà lồi.

Gò nhật ở đoạn này là gò mắt. Xương gò quanh mắt của gà mà có hình bán nhật thì gà ấy được xem là lì lợm.

“Gò cao mặt khuyết” là nói về gò má. Gà lỳ lợm dữ tợn thì xương gò má nổi cao, mặt mũi uy nghi như một võ tướng.

Kinh sách chê loại gà có gò má lép và đôi mắt to và lồi. Gà có mắt to và lồi thì dễ bị đá mù.

Rồi tiếp tục

69. Thẳng lưng cánh hẹp đã rồi, 

70. Lại thêm đuôi phụng cổ đôi mình đầy.

Cẩn thận đừng nhầm lẫn cánh hẹp và vai hẹp. Gà có vai rộng thì mạnh và tốt hơn vai hẹp. Tuy nhiên, gà có vai rộng mà cánh lại hẹp ôm sát thân mình thì tuyệt.

Một con gà bình thường mà có hai cánh xoạc rộng và phệ xuống thì không tốt.

Ðuôi phụng hay “Phụng Vỹ” là đuôi dài chấm đất. Gà có phụng vỹ thì có lắm tài.

Cổ đôi là gà có thêm miếng da sau ót từ gáy xuống tới lưng.

Lưng gà tốt thì phải xuôi với cần cổ và thẳng băng xuống đuôi.

Nếu lưng gà và lưng cánh bằng phẳng như mặt bàn, cao phần trên và hạ thấp xéo xuống mé đuôi thì tốt.

71. Bày ra lưng tốt như vầy, 

72. Lưng tôm chẳng khéo lưng gầy tài nghiêng. 

73. Ngắn lưng tài ấy bất thiêng, 

74. Lại thêm ngắn mã ngắn biên thường tài.

Gà có lưng gù và lưng tôm đều xấu. Năm thì bảy kiếp thì có gà lưng gù có tật có tài còn bình thường thì không dùng được.

Gà có lưng ngắn thì kém tài.

Gà có lông mã ở hai bên hông dài thì tốt, ngắn thì xấu. Ngắn biên tức là hàng vảy biên ở chân gà không chạy dài từ gối quá chậu mà bị đứt đoạn. Loại gà đoản biên này không nên dùng.

75. Đuôi dài giữa thủ một hai, 

76. Vũ đôi đa sắc đa oai mà trường. 

77. Hậu thêm lông quản lông cương, 

78. Hẳn là lông tượng có đường hiển vinh. 

79. tài như sấm động vang đình, 

80. Một mình trấn thủ “kê linh” “kê thần”. 

Ðuôi gà mà có chen thêm một vài cọng lông đa sắc nhiều màu thì gà có tài.

Hậu thêm lông quản lông cương

Lông quản ???

Lông Cương tức là lông thép.

Gà có lông mã thép thì rất dữ. Lông mã thép thì nhìn cũng thấy nó cứng rắn. Khi ta sờ vào thì thấy nó khô cứng chứ không mềm như những cọng lông mã bình thường.

Các loại lông voi (lông tượng):

Lông voi (tượng) thì cũng chỉ có một hoặc hai cọng mà thôi. Lông này thường mọc ở cánh và đuôi. Cũng có con mọc ở đùi.

Loại 1: Lông cứng và to như kẽm. Lông này tuy cứng nhưng rất dẻo và nếu bị bẻ cong thì nó cũng duỗi thẳng y như cũ. Loại lông voi này Mộng Lang đã từng cầm xem qua. Loại này được xem là hiếm. Ngàn con có một.

Theo Sư Kê Nguyễn Tú thì có thêm hai loại lông voi khác nữa như hình số 2 và 3.

Loại 2: Lông cứng, lớn sợi, hơi quăn như sợi tóc ngứa. Loại này thường gặp hơn loại 1.

Loại 3: Lông xoắn lại và có sức co giật như lò xo. Loại này cũng hay thường gặp.

81. Phụng đuôi điểm rất ân cần, 

82. Quăn lông xoắn mã trông bần mà thương. 

83. Kê kia phản vỹ nhiều đường, 

84. Đặng xem cho biết “tứ thương khứ đà”. 

Ðuôi phụng như đã nói trên là đuôi dài chấm đất.

Ngoài ra, có các loại lông đuôi đặc biệt sau đây:

Nguyệt cung: lông đuôi có nhiều khúc trắng như trăng lưỡi liềm.

Bạch linh: Lông đuôi có một sợi trắng không đen chỗ nào

Lông mã là lông ở hai bên hông của gà. Lông mã cứng như xương nên gọi là thép. Gà cựa mà có mã dài, rậm và có mũi nhọn như kim thì đó là con gà chiến. Lông mã mà có vài cọng xoắn lại như hình vẽ này thì lại càng dữ tợn. Mã có nhiều màu sắc khác nhau “tạp sắc” thì không hay. Nhưng nếu có chấm nhỏ li ti thì tuyệt.

Phản Vỹ: Ðuôi có vài sợi lông quăn lại như tóc uốn. Khi kéo thì thẳng ra, khi buông tay thì lại quăn trở lại như lò xo.

Tứ Thương Khứ Ðà?

Hôm nay chúng ta tìm hiểu về triều thiên của các vị vua.

85. Một hai mão thủ xem qua, 

Tả quân Lê Văn Duyệt đã từng mô tả mồng gà như mão quan. Phàm trời đất đã xếp đặt cho con gà tài có một chiếc mão oai phong phù hợp với tài năng của chúng.

ML đã từng được xem qua diện mạo của hai con gà xuất chúng thì cả hai đều có mão xếp từng lớp đổ về phía mỏ như vương miện của Tần Thuỷ Hoàng.

86. Dáng to mà ngã bất là chỉ thiên. 

87. Anh hùng chẳng ngã chẳng nghiêng, 

88. Chấn trên mồng thủ trung kiên thăng trời.

Mồng gà có gốc từ mỏ và mọc về sau đầu. Nhưng nếu gà có gốc mọc từ trên đầu và đổ về phía trước mỏ thì không gọi là mồng mà gọi là Mão.

Con gà này có mão từng lớp đổ về phía mỏ. Gà có mão là Vương Kê, có phong cách đường đường là một Chúa Công, tài trí một trời một vực.

Mồng gà như hình tam giác có đỉnh nhọn chỉ lên trời thì gọi là mồng chỉ thiên. Gà có mồng thẳng không nghiêng mé tả hoặc mé hữu được cổ nhân ưa chuộng và liệt vào hạng anh hùng.

Trong các loại mồng gà thì mồng dâu là thường gặp nhất.

Mồng dâu không to cũng không nhỏ, nó có từ ba hoặc bốn cạnh trở lên và thường ngay thẳng.

Một loại mồng khác là mồng trích. Mồng như mồng chim trích, thường thì mồng này trệt xuống. Gà mồng trích đá nhanh.

Mồng lá chỉ có nơi gà cựa. Gà mồng lá đá hăng dữ nhưng nếu không hạ địch thủ trong ba nhang đầu thì càng về khuya càng dễ thua.

Mồng Hoa

Gà có mồng như cánh hoa nhiều cánh xếp lại. Nếu mồng này mà đổ về trước thì chẳng khác gì mão quan. Các Hành Giả khi đá gà mà gặp đối thủ có mồng xếp lớp đổ về trước như con này thì nên cẩn thận.

89. Lại thêm hàm kéc lá đôi,

Hàm kéc lá khoé miệng sâu rộng như miệng kéc. Gà có khoé miệng sâu thì mạnh mỏ và khi mổ thì bám rất chắc.

Mỏ lá đôi hay mỏ “ba lá” là loại mỏ có hai rãnh ở bên hông mỏ. Nhìn từa tựa như mỏ được ghép lại bởi hai phần.

90. Mỏ xuôi mà đoản chính tôi anh hùng.

Mỏ gà càng dài thì càng yếu. Càng cong thì càng chậm.

Mỏ xuôi mà đoản là mỏ thẳng và ngắn. Mỏ xuôi và hơi cong vừa phải là tốt nhất. Mỏ như mỏ chim sẽ thì cắn nhanh đớp lẹ khiến đối phương không kịp né tránh.

Mỏ nhỏ mà dài thì yếu

Mỏ cong thì chậm

91. Túc trường có thể hình cung,

Ðùi gà và quản gà cong theo hình cung là tốt nhất.

Ðùi gà và quản gà thẳng băng như cây cột thì không tốt, không tốt.

Quản cong hình cung nhưng đùi thẳng băng 90 độ như cột nhà là không tốt. Dễ bị ngã ngửa.

Gà có thế đứng hai đầu gối chụm lại và hai bàn chân xoạc rộng như hình này thì đá đòn không ngay.

92. Đại song đại lép tài trung văn toàn. 

93. Nở đùi ngắn quản thì ngoan. 

Ðại song đại lép là nói về quản gà, còn gọi là chân, cán, cặp giản v.v.

Quản gà mà to thì gà đá chậm, mau mệt.

Quản gà lép gầy xương xẩu là tốt nhất. Đá lâu mệt, đứng nước khuya tốt.

Ðùi gà phải nở nang to bằng thân hoặc lớn phình lớn hơn thân mới tốt. Nếu ta nhìn từ phía trước mà thấy đùi gà phình to hơn thân thì tốt.

Ðùi gà phải nở theo hình bầu dục. Ðùi tròn xấu, đòn yếu kém.

94. Hậu trên nở dưới thắt ngang cán thần.

Quản gà mà thắt lại khúc giữa thì tốt. Thắt quản không có nghĩa là quản bị cong. Quản ngay thẳng như mũi tên nhưng thắt lại ở đoạn giữa.

Như hình vẽ thì quản gà tại A và C đều lớn bình thường nhưng đoạn B bị thắt lại.

95. Cán thần cứ một mà phân, 

96. Đùi hai trên dưới bất cân mà tài. 

Ðùi gà phải dài gấp đôi quản gà. Ðùi hai quản một theo như câu “Lưỡng túc tam phân” là đúng sách vở.

Ðùi gà là phần quan trọng vì sức mạnh của cú đá được phát xuất từ đùi. Ðùi gà to và dài thì sức mạnh nhân đôi.

Bế gà lên, gập chận lại như hình vẽ và tính từ chậu lên tới gối là phần quản. Nếu chậu gà của bạn chỉ dài tới nửa phần đùi thì bạn đã có một con gà “Lưỡng túc tam phân”.

97. Nhìn xa ngón ngọ thấy dài, 

98. Sát trung cang điểm là hai thứ quà,

Sát Cang Điểm và Trung Cang Điểm đều nằm ở ngón Ngọ. (còn gọi là ngón Chúa). Ngón Ngọ là ngón chân dài nhất trong bốn ngón. Có sách không gọi là Cang Điểm mà gọi là Cân Điểm và Can Điểm.

Trung Cang Điểm là ngón Chúa cứ cách hai vảy lại có một điểm đốm khác màu đóng vào như vệt chấm. Gà có vảy này thì tài nghệ nghiêng trời lệch đất.

Trung Cang Điểm cuồng kê thường hạ địch thủ ở nhang thứ nhất. Ít có con nào sống sót qua nhang thứ hai.

Sát Cang Điểm, hay Sát Cân Điểm là ngón Ngọ có hai điểm đốm ở hai vảy sát nhau. Gà có vảy này thì đá tới tấp như hung thần. Cuồng kê này đá khắp mình mẩy đối phương không chừa chỗ nào.

99. Ngực gà cũng thể nhìn qua. 

100. Gặp như thực tả “quý kê” hẳn là. 

101. Hẳn là giống ấy văn gia, 

102. Đa mưu chiến lược tài ra tật nguyền. 

Gà có “trữ thực tả” là gà có bầu diều bên trái. Bình thường thì mọi con gà đều có bầu diều bên phải. Những con gà trữ thực tả thì rất hiếm và có ẩn tài.

Tiện có con “trữ thực tả kê” này thì Mộng Lang xin “tả” kỹ thêm về đôi chân của một con gà đòn. Theo như kinh sách thì gà chọi phải có cặp đùi to bằng hoặc to hơn thân mình của nó. Ta có thể đứng phía trước và xem xét nếu thấy cặp đùi nở to bằng hoặc hơn thân mình của nó thì đó là cặp đùi tốt. Qúy Bồ Tát cần lưu ý thêm là quản (phần chân từ chậu đến gối) gà phải nhỏ và thẳng thì mới tốt. Quản to và mập thì xấu.

103. Lưỡi đầu lưỡng chẽ đã duyên, 

104. Lại thêm lưỡi thấp lưỡi chuyên như rùa. 

105. Gà này giống tỏ con vua, 

106. Điểm đen đầu lưỡi bất thua “kê thần”. 

107. Như trên đã kể ân cần, 

108. Kẻo rằng chẳng đặng xa chân thời phiền.

Lưỡi đầu lưỡng chẽ (lưỡng thiệt) là đầu lưỡi của gà chia đôi thành hai lưỡi. Gà này rất quý.

Gà có lưỡng thiệt thì lưỡi bị chẻ ra như hình 1.

Gà có bớt đen ở đầu lưỡi cũng được liệt vào hạng gà qúy không thua “kê thần” như hình 2.

Lưỡi thấp (Đoản thiệt) hay lưỡi rùa là gà có lưỡi nhưng rất cụt như hình vẽ. Theo như kinh sách thì gà lưỡi rùa miệng rất hôi thối.

Đoản thiệt kê đựơc xem như Hoàng Thái Tử vì có tài nghệ áp đảo quần thần.

109. Bấy lâu tướng vảy bất duyên, 

110. Cùng xin xuất hết chinh chuyên “Đạo gà”. 

111. Đạo gà như thể trăm hoa, 

112. Biết đâu mà kể vảy xa vảy gần.

Thú chọi gà được Sử Ký đề cập đến tại xứ ta ít nhất là từ cuối thế kỷ thứ mười ba vì khi quân Nguyên xâm lấn nước ta thì Thái-Sư-Thượng-Phụ Hưng Đạo Đại Vương có khiển trách binh sĩ và các tì tướng của ngài về tội mê chọi gà.

Nước ta có chiến tranh triền miên. Khi Pháp chiếm kinh thành Huế thì đã thiêu rụi thư viện quốc gia. Kinh sách, tài liệu hiếm quý phút chốc tan biến thành khói. Có thể là các pho sách bị đốt bao gồm những tài liệu thơ phú liên quan tới Đạo Kê của cổ nhân.

“Đá như trong Kinh” – Người xưa dày công nghiên cứu kê pháp và xem nó như nghề nghiệp. Ðạo Kê (Gọi là Kê Ðạo theo cách đọc của Hán văn hoặc Ðạo Kê theo lối đọc của Việt văn) là Đạo, là Nghiệp có lẽ vì nó đòi hỏi sự hiểu biết có bài bản.

113. Xa gần nó ở ngoài chân, 

114. Lộ dung hình dữ nên phân thế này. 

115. Con nào đá cựa đá tầy, 

116. Đá ngang đá dọc đá rày chẳng kiêng. 

117. “Vy đao” “yểm địa” “thắt biên”, 

118. Thì ra vảy ấy bất kiêng bất nhường.

Theo tài liệu của mình thì Giáp Vy Đao không phải là những vảy nhỏ của hàng thới đi lên mà là vảy của hàng Quách (còn gọi là hàng Nội). Giáp Vy Đao có mũi nhọn như mũi dao chỉa vào cựa. Giáp Vy Đao phải có từ ba mũi trở lên. Nếu chỉ có hai mũi thì nó có tên là Song Phủ Đao.

Chiến kê có Giáp Vy Đao ra đòn ác độc sát phạt tới tấp dọc ngang khiến đối phương không kịp thở.

Vảy Yểm Ðịa là một vảy nhỏ dặm thêm vào của ngón Ngọ sát chậu. (cẩn thận đừng lộn với vảy Ẩn Ðịa).

Trong phép xem vảy thì vảy nhỏ ăn vảy to. Vảy bên chân trái ăn vảy bên chân phải.

Yểm Ðịa đóng cả hai chân thì gà có tài hạ địch thủ trong nhang đầu. Nhưng quý Bồ Tát cũng biết rằng khi hai con gà tài gặp nhau thì cuộc đấu có thể sẽ không kết thúc nhanh chóng mà trái lại kéo dài vì những con gà có tài tấn công thường cũng có tài né tránh chịu đòn bền khuya.

Mình đã từng được nghe những mẩu chuyện kể về hai con gà tài đụng nhau mà mỗi con đều đã có thành tích hạ đối phương trong nhang đầu lại không thể hạ được nhau cho tới nhang cuối để rồi hoà nhau nhưng khi về thì sáng ra cả hai đều lăn ra chết.

Người xưa giải thích rằng những con Thần Kê không phục nhau và chúng không bỏ chạy tuy trong mình mang nội thương và lục phủ ngũ tạng đã nát bấy nên sau khi kết thúc trận đấu thì quy tiên.

Quản gà mà có rãnh ở giữa tạo ra bởi hai hàng vảy Thành và Quách nổi cao lên như hình vẽ này thì gọi là Hàm Rập, vảy này tốt.

No Hậu

Theo như các Sư Kê lão luyện thì họ chú ý tới hàng hậu nhiều hơn là hàng tiền. Nếu hàng tiền đựơc xem như hàng vảy chứa đựng tài nghệ cho các đòn tấn công thì hàng hậu được xem như hàng thủ thế của gà. Tiền tốt mà hậu bần thì hỏng. Hậu tốt mà tiền bần thì vẫn có thể xài tạm.

Gà có hàng hậu no nê và chạy dài từ gối xuống tới cựa hoặc sâu hơn đều được xem là tốt. Con nào vảy hậu xuống không tới cựa hoặc nát hoặc khiếm khuyết đều bị loại bỏ.

119. Thất hậu đoản thẳng một đường,

Đoản Hậu 

Vảy hậu xuống chưa tới cựa như hình vẽ này thì xấu, không nên đem ra Kê Trường.

120. Lại thêm chia gối chán chường ối a !

Nát Gối

Hàng hậu xuống tới hoặc quá cựa nhưng sát gối mà nát như hình vẽ này thì cũng xấu. Không dùng được.

Kém Hậu

Hàng hậu xuống tới cựa nhưng vảy hậu nhỏ lăn tăn yếu ớt như hình vẽ thì được xem là kém hậu, cũng không nên dùng.

Khai Hậu

Hàng hậu có một vảy nứt ra cũng không xài được ngoại trừ hai trường hợp sau đây:

1. Bể Biên

Hàng Quách cũng có một vảy bể ra thì gọi là “Bể Biên Khai Hậu” là cậu gà nòi. Ấy là điềm lành. Bể biên đây không phải là bể hàng biên mà là một vảy ở hàng Quách bể ra. Bể hay khai cũng đồng nghĩa. Câu “Bể biên khai hậu” hơi tối nghĩa và dễ hiểu lầm. Phải chi sách vở gọi là “Bể Quách Khai Hậu” thì ít có ai hiểu lầm.

2. Quấn Cán

Kê Kinh có chép:

“Rằng mà khai hậu nhỏ to 

Mà có quấn cán chẳng lo chút nào.”

Hàng tiền có thêm một vảy Vấn Cán, (còn gọi là Quấn Cán). Vảy vấn cán là một vảy dài vấn ngang quản từ Thành qua Quách. (Tựa như vảy Án Thiên hoặc Phủ Ðịa nhưng địa điểm là từ hàng vảy thứ tư trở xuống và trên cựa.)

Đa Hậu

Hàng hậu xuống tới cựa nhưng bị chia ra thành hai hoặc ba hàng vảy thì thất cách nên còn gọi là thất hậu

121. Ai ơi áp khẩu chỉ ra, 

122. Tài hay lụn bại thêm là phí công.

Có hai tài liệu về vảy Áp Khẩu. Theo nhiều tác giả danh tiếng (Mộng lang xin tạm giấu tên) thì vảy Áp Khẩu là ở ngón Thới có một hàng vảy bình thường đột nhiên có một vảy chia đôi thành hai vảy. Nhưng tài liệu hình vẽ vảy áp khẩu như vậy không đúng như Kê Kinh.

Tài liệu thứ hai về vảy Áp Khẩu của tác giả Vũ Hồng Anh thì vảy Áp Khẩu là đường chỉ chẻ ra và sổ dài từ gối xuống chậu và đổ ra rãnh giữa ngón Nội và ngón Chúa (điểm B) hoặc sổ xuống rãnh giữa ngón Chúa và ngón Ngoại (điểm A) theo như câu “hoặc ngoại hoặc chính trung tâm”. Hình này Mộng lang vẽ phỏng theo hình của tác giả Vũ Hồng Anh.

Kê Kinh chép:

Áp khẩu đường chém chẻ hai, 

Đóng trên các vảy xổ dài xuống ngay. 

Ấy vảy nó chỉ ra rày. 

Vảy ấy là nó như bày cây kim. 

Hoặc ngoại hoặc chính trung tâm, 

Nuôi thì tốn lúa lại thêm thua tiền.

Theo Kinh thì hình vẽ vảy Áp khẩu của tác giả Vũ Hồng Anh có phần chính xác hơn. Mộng lang xét thấy chính xác hơn chứ bản thân mình chưa từng thấy qua nên không dám kết luận. Theo như trong kinh thì vảy này là một đường chỉ chém băng qua các vảy như một cây kim. Có lẽ nó phải là một đường chỉ thẳng băng thì đúng như trong kinh hơn.

Gà có vảy Áp Khẩu là gà xấu, không thể đem ra trường được.

123. Đôi chân thủy được như sông, 

124. Vảy khô như chết móng rồng phải kiêng.

Vảy chân của gà chọi mỏng và trong như mặt nước sông thì ra đòn rất nhanh. Gà có vảy trong và mỏng thì dùng cho gà cựa thì tốt. Đối với gà đòn thì nên chọn vảy khô và lởm chởm như vảy gà chết vì gà có vảy khô tuy ra đòn chậm nhưng đá đau thấu xương.

Kê Kinh có câu:

Bất câu xanh xám trắng ngà, 

Ðường đất cho nhỏ vảy mà cho trong……. 

Khai mương vảy dóng khô vi 

Chơn như gà chết võ thuần chẳng sai.

Vảy trong và mỏng thì đường đất phải cho nhỏ, vảy khô thì Thành và Quách phải nổi cao (còn gọi là hàm rập hoặc khai mương) thì mới tốt.

Cũng theo Kê Kinh thì:

…Vảy đóng cho mỏng chân dày phân ba 

Ngón dài nhỏ thắt tằm nga. 

Đường đất như chỉ đóng xà cựa kim. 

……Cho hay là thể thuần văn 

Địch cùng võ thể mười phần toàn công.

Và:

…..Vảy thời to kịch hình dung võ toàn, 

Đá thời động địa kinh thiên, 

Sánh cùng văn thể thủ thành đặng đâu.

Xem thế thì gà chọi có vảy khô như vảy gà chết thì thuộc dòng Võ. Gà có vảy mỏng và trong như mặt nước sông thì thuộc dòng Văn. Văn quan ăn võ quan. Tuy nhiên, tất cả còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác

Khi một con thần kê thác đi thì các Sư Kê thường giữ lại cặp chân gà để nghiên cứu. Chân gà chết lâu ngày thì thịt teo và vảy khô lởm chởm. Đoạn này mô tả vảy khô như vảy gà chết là vậy.

Mình không có tài liệu về móng rồng mà chỉ có tài liệu về vảy rồng thôi.

Vảy gà xếp lên nhau theo hình thức “Nhân Tự” 人 là gà quý.

Theo Hán văn thì:

Nhân = người

Tự = chữ.

Gà có vảy nhân tự xếp lên nhau trông giống như   Chưởng”.

125. “Tam Tài” đòn quý đòn thiêng, 

126. Nó hay quăng đá bất kiêng chẳng nề. 

Vảy Tam Tài đã được mô tả trong những trang trước. Ngoài ra, khi vảy phủ địa mà có ba cái thì nó đựơc gọi là Tam Tài Phủ Địa, 3 vảy Huyền Châm thì gọi là Tam Tài Huyền Châm v.v.

Gà đá quăng là nạp đòn mà không cần phải núm đầu hay lông đối thủ.

127. Chân nào tứ trụ đa thê, 

128. Đòn hay hiểm hóc vỗ về nước khuya,

(Theo ít nhất là 2 danh sư thì vảy Tứ Trụ là 4 vảy giặm ngang cựa mà chia đều nhau, không vảy nào lớn nhỏ. Tài liệu vảy Tứ Trụ của các danh sư kém phần chính xác, hình vẽ chưa hợp lý, bổn Tự cần phái thuộc hạ đi nghiên cứu thêm.

129. “Lạc ma hàm cốc” cũng khuya, 

130. Còn như ám chỉ ra tia độc đòn.

Vảy Lạc Ma Hàm Cốc là một vảy có hình tròn thuộc hàng Quách nằm dưới cựa. Theo như Ðạo Kê thì gà có vảy này rất bền nước khuya.

Gà có vảy này ưa bay cao, đá mép, đá hầu và đá tạt rất giỏi.

Ám Chỉ tức là Nguyệt Ám Chỉ. Ðường chỉ này nhỏ xíu quấn ngang sát gối từ Quách qua Thành hình ánh trăng lưỡi liềm. Gà có chỉ này ra đòn độc địa na ná như phép Nhất Dương Chỉ của nhà họ Ðoàn . Chỉ này còn đựơc gọi là Chỉ Nguyệt Anh. Theo một vài danh sư thì gà có chỉ này rất may độ.

131. Xuyên thành hổ trảo nhiều con, 

132. chém như dao cắt địch bon chạy dài. 

Xuyên Thành là hai vảy dưới cựa sát nhau của hàng Thành có đường nứt. Ðịa điểm của vày này là khoảng dưới cựa. Gà có Xuyên Thành tung đòn nặng nề đủ làm gãy cổ đối thủ.

Nếu vảy Xuyên Thành mà nằm ở hàng Quách thì nó có tên là Phả Công, (có nơi gọi là Tả Công). Gà có Phả Công chuyên đá tạt rất hung dữ.

Theo danh sư Phan Kim Hồng Phúc thì vảy hổ trảo là chân gà có vảy lốm đốm xanh, đen, hoặc đỏ. Gà có vảy này đá chắc đòn. Mộng lang không có tài liệu hình vẽ của vảy này.

133. Cẳng nào vấn án hoành khai, 

134. Khôn lanh như chớp chẳng sai nhiều đường.

Có ít nhất là 3 sự dị biệt giữa các danh sư về vảy Vấn Án Hành Khai.

Theo danh sư Huỳnh Ngọc Trảng thì vảy Vấn Án Hành Khai là 1 vảy vấn có 1 đường nứt ở giữa, vảy này nằm tại cựa hay từ cựa tới chậu thì tốt hơn nằm ở quản gà.

Xem ra thì vảy này gần giống vảy Lộc Ðiền Tự nhưng khác nhau ở đường đất chia đôi. Lộc Ðiền Tự có đường đất chia đôi. Vấn Án Hành Khai cũng có đường chia đôi nhưng chỉ là đường nứt.

135. “Hổ đầu” “hắc bạch” phải thương,

Hổ đầu có thể là Hổ Ðầu Nhâm – ngón chúa có nhiều vết đốm khoang nhỏ li ti. Gà có Hổ Đầu Nhâm ra đòn cực mạnh từ nước hai đổ đi.

Ngoài ra, ngón chúa có một dặm nhỏ ở vảy đầu tiên sát móng thì gọi là Hổ Đầu. Cũng tại điểm này mà có vảy Nhân Tự thì gọi là Nhân Tự Ðầu Hổ. Tất cả đều là vảy của gà dữ.

Hắc tức là Hắc Hổ Thới. Các ngón của hai chân đều có móng trắng duy ngón Thới có móng đen cả hai chân thì gọi là Hắc Hổ Thới. Gà này giao tống mạnh.

Bạch tức Bạch Ðầu Chỉ. Tất cả các móng đều đen duy ngón chúa của cả hai chân có móng trắng. Gà có Bạch Đầu Chỉ có biệt tài song phi và đá tạt.

Vảy này gởi riêng cho Nhị Ca.

Theo danh sư Huỳnh Ngọc Trảng thì Độ Tam Tằng là độ có hai hàng kẽm kèm theo hộ vệ hai bên. Một hàng kẽm ở bên hàng Quách và một hàng kẽm ở bên hàng Hậu.

Nếu nhìn từ sau cựa của gà và đi theo chiều kim đồng hồ vòng ra phía trước thành một vòng tròn thì chúng ta sẽ có những hàng vảy như sau:

Độ/Kẽm/Quách/Thành/Biên/Hậu/Kẽm/Độ.

Và như thế thì chúng ta trở lại vị trí ban đầu là Độ.

Theo danh sư Huỳnh Ngọc Trảng thì gà có độ tam tằng rất tốt.

Sự khác biệt gữa hai vảy Vấn Án Hành Khai và Ðâu Ðầu là “đường nứt ở giữa”.

Khi gà còn nhỏ thì vảy Vấn Án Hành Khai chỉ là một vảy vấn (quấn). Nhưng khi trưởng thành hoặc về già thì có đường nứt chia đôi vảy vấn nên gọi là Vấn Án Hành Khai. Còn vảy Ðâu Ðầu thì ở giữa chỉ là đường đất bình thường. (không phải đường nứt.)

Có khá nhiều dị biệt giữa các danh sư về hình thức của vảy này nhưng Mộng lang chỉ chọn làm tài liệu những vảy nào có hình thức đúng như tên gọi hoặc đúng như Kê Kinh mô tả mà thôi.

Tên gọi của vảy Vấn Án Hành Khai theo bổn sư hiểu thì là một vảy quấn (Vấn) bị nứt (Khai) một đường (Hành), trấn ngự phía trước (Án).

Tiếp tục Ðạo Kê thì:

136. Như thương “ẩn địa” “giáp cương” là thường.

Vảy Ẩn Ðịa nằm ẩn ở dưới vảy Phủ Ðịa. Vảy Phủ Ðịa là một vảy vấn nằm dưới tất cả các vảy của quản gà. Khi khẽ lật mí vảy Phủ Ðịa lên thì sẽ thấy vảy Ẩn Ðịa nếu có.

Lưu ý: Ðừng lộn vảy Ẩn Ðịa với vảy Yểm Ðịa.

Mộng Lang không có tài liệu của “giáp cương”.

137. Nhật thần hổ khẩu khai vương,

138. Chỉ tài võ nghệ cao cường phải ra. 

Theo Kê Kinh thì vảy Nhật Thần là vảy có thể chống đỡ được đao thương.

Nhật thần vảy đóng ở đâu,

Nó đóng ngang cựa để hầu phòng thương……..

Cũng theo Kê Kinh thì hình thức của vảy Nhật Thần là một liên giáp có đường nứt ở giữa như câu:

Liên giáp hai vảy dính liền

Liên giáp nứt giữa, nhựt thần rất hay.

Có sách cho rằng vảy Nhật Thần có hình tròn. Nhưng Kê Kinh chỉ nói rằng vảy Nhật Thần là một Liên Giáp đóng tại hàng Quách do hai vảy dính liền nhau (giống như Hổ Khẩu) nhưng có thêm đường nứt ở giữa mà thôi.

Bất kể vảy Nhật Thần có hình tròn hay ngũ giác nhưng điểm quan trọng là phải có đường nứt ở giữa và đóng ngang cựa. Nếu không có đường nứt ở giữa hoặc đóng nơi khác thì không phải là Nhật Thần.

Chiến kê có vảy Nhật Thần ra đòn long trời lở đất. Ðường nứt ở giữa của vảy tựa như một lời cảnh cáo cho những địch thủ chán sống.

137. Nhật thần hổ khẩu khai vương,

Vảy Nhật Thần và Hổ Khẩu đều là Liên Giáp Nội đóng tại cựa. Liên Giáp Nội là hai vảy ở hàng Quách dính liền nhau không có đường đất ngăn đôi.

Vảy Hổ Khẩu không có đường nứt chia đôi.

137. Nhật thần hổ khẩu khai vương,

Vảy Khai Vương là 4 vảy vấn đóng ở giữa chậu và có một đường khai (nứt) chạy băng qua vảy thứ hai và ba. Ðường nứt tạo ra chữ Vương 王

Kê Kinh viết:

Khai vương giữa chậu hai bên

Chẳng sớm thì muộn không quên đòn tài.

Vảy Khai Vương phải đóng dưới cựa và càng sát chậu càng tốt. Vảy Khai Vương mà đóng trên cựa thì thất cách.

Có sách mô tả vảy Khai Vương đựơc tạo ra bởi hai vảy vấn chứ không phải 4 vảy vấn. Mộng lang chọn dùng loại 4 vảy vấn vì bản thân đã từng đựơc xem qua, loại 2 vảy vấn bị trùng tên với vảy Gạc Thập.

Có một số Sư Kê không thích vảy Khai Vương vì tuy rằng vảy này là vảy tài nhưng gà lại ít gặp may.

VỪa đọc qua thấy ML giải thích về vẩy đâu đầu , nói thực thì tên vẩy mình không biết nhiều , chỉ nhìn thì mới biết thôi, nhưng theo mấy tay chơi gà ngoài này nói thì vẩy đâu đầu như ML nói khác cơ, đâu đầu là 1 chùm vẩy chụm đầu vào nhau , đâu đầu vào nhau (khác với các vẩy chụm vào nhau hình hoa thị , hình hoa thị xoáy trên gối , hay dính vào nhau hình chữ vương thì lại là gà tài) , vẩy đâu đầu là 4 vẩy hoặc 8 vẩy hay nhiều hơn đâm đầu sát vào nhau cơ, nếu đóng trên gối thì lại càng chán hơn.

nếu nói đến đường nứt không thì có 4 loại nứt:

– nứt ngang : 1 vẩy quấn có thêm 1 đường nứt lõm xuống như vết chém ngang

– nứt dọc : 1 vẩy quấn có thêm 1 đường nứt lõm xuống như vết chém dọc

– nứt hình chữ thập : 1 vẩy quấn có thêm 2 đường nứt lõm xuống như dấu cộng ấn vào.

– nứt hàng nội (vết chém dọc vào 2 vẩy hàng nội, hay vết rạch hình chữ chi trên 1 vẩy to) , nếu nứt hàng ngoại thì phá cách , ít dùng.

cả bốn loại nứt trên thì gà hay đặc biệt là nứt hình chữ thập là tốt nhất, nhưng tất cả chỉ nứt trên 1 vẩy to thôi hoặc vết chém dọc trên 2 vảy hàng nội.

Như vậy vẩy khai vương không phải là 1 vẩy to có vết chém hình chữ vương, mà là 6 vẩy riêng rẽ dính lại (dính lại khác với đâu đầu lại hay khác với vết chém trên một vẩy lõm xuống) tạo thành vẩy to hình chữ vương (nhìn qua như 1 vẩy to nhưng là 6 vẩy dính lại nhưng cũng không phải là 1 vẩy to thực có vết chém chữ vương), gà cực hay, ngoài này gọi là vương giáp , đứng đầu các vẩy tài , cực quý vì không dễ gì người đời lại gọi là vương giáp đâu, các cụ ngày xưa đã gọi cái gì là vương thì không phải thứ vừa.

Còn nhật thần thì cũng có cả nhật thần chỉ nữa phải không? đã là mắt trời thì chắc phải có 2 mắt tròn to và đẹp nữa chứ…. tôi cũng chưa nhìn thấy con gà nào có vẩy này cả, nên cũng không biết hay thế nào, tôi đang nuôi con ô chân xanh , có vẩy phủ địa 1 chân, đang hi vọng vào nó nhiều mà không biêt thế nào..

Đa số sách kinh kê QNC đọc thì đa số là nói về mặt tiền ít nói về hàng vảy độ.

-Vảy Tam Tần: có 3 hàng vảy độ (cả 2 chân) chạy dài từ gối xuống chốt cựa. Theo QNC được biết thì những con gà này rất khôn (thuờng thì loại gà tránh né), và rất may độ.

-Hoa Mai: o hàng vảy độ có một vảy ở giữa 5 cái vảy nhìn giống bông hoa. Những con gà có bông mai thường thì có chân hiểm đá chết địch thủ.

Bác Mông Lang có thể nào vẽ giúp em được không. Tại vì em không biết vẽ minh hoạ.

Khi tìm được đến đây thì thầy Mộng Lang đã quảy gánh ngao du sơn thủy rồi hả ! BaLoi đọc bài Đạo Kê được thầy ML diễn nghĩa rất tài tình. Lấy làm phục lắm vì BaLoi chơi gà cũng đã lâu, ngày còn bên VN cũng có nghe mấy tay Sư Kê nói về cuốn sách Đạo Kê này nhưng chưa hề thấy qua. BaLoi nghe mấy sư phụ chơi gà nói lại là ông chủ gà Mai Lĩnh, một tay chơi gà rất nổi tiếng ở miền Nam trước 1975. Mai Lĩnh là tên của Mai Lĩnh Ấn Quán, nhà xuất bản , in sách. Tay Mai Lĩnh này chơi gà cũng là bậc sư, có con gà mái lưỡi đen đúc ra nhiều con gà chinh chiến ăn nhiều trận nổi tiếng, dân Sài gòn, Biên Hòa đều biết tiếng. !!!

Có 1 trận gà của Mai Lĩnh thua gà BaLoi rất độc đáo !!!

Vảy Nhật Thần là do chữ “Nhật” (日) tức mặt trời đóng ngay cựa. Vảy này là một liên giáp có dạng hình chữ nhật như chữ Hán. và có đường nứt ở giữa giống như chữ “Nhật”. Nhật Thần có nghĩa là Mặt trời mọc buổi sớm.

Vảy Hổ Khẩu (miệng cọp) là do chữ Hán “Khẩu” (口) là miệng. Đây cũng là vảy liên giáp đóng ngay cựa. Tuy nhiên ít khi nào chúng ta có thể tìm thấy gà có lọai vảy này đóng vuông vức vì còn phụ thuộc vào đường chia của vảy bên hàng “Thành”. Do đó không phải bắt buộc là vuông góc hòan tòan như hai chữ “Nhật” và “Khẩu” trong chữ Hán.

139. Đao kia vảy đóng hoa cà, 

Ấy là đao độc chết thà chẳng khinh. 

141. Gặp tên song phủ giáp kinh, 

Nhất thời đâm chết nhì thời bất dung. 

Trong câu 139 nói đến gà có 6 vảy đóng ngay tại cựa như hình Hoa cà. Hoa cà có 6 cánh và ở giữa một vảy xem như là đài hoa. Lọai gà có vảy Hoa cà đâm rất độc hại, nếu đâm là gà đối phương không mù thì khó mà thóat chết. Thường là gà ba hàng vảy chạy xuống dễ tạo thành hình Hoa cà nhưng không đúng lắm. Nếu gà có 2 hàng trơn mà ở ngay cựa chẽ thảnh 3 hàng vảy thì mới tạo ra vảy Hoa cà.

Trong câu 141 nói đến lọai gà có vảy “Song Phủ” như hình hai cái búa giao nhau. Trong kê Kinh cũng có nhắc đến lọai vảy tương tự như “Song Phủ” là “Nguyệt Phủ”, các hành giả chư tôn hay lầm lẫn giữa hai loại vảy này:

Nguyệt phủ là vảy buá trăng, 

Thân nội cái vảy dường chưng buá hình. 

Hai hàng vảy đóng rành rành, 

Hai bên đâu lại hiệu danh giao đầu.

Trong Hán Văn, chữ “phủ” có nghĩa là cái búa có dạng như sau 斧 do đó mỗi chân từ hàng quách (thân nội tính ra) có vảy chạy chéo lên như hình lưỡi búa. Trong sách “Giáp Kinh” của Nhất Phẩm Đường cũng có nói đến lọai vảy kinh thiên động địa này. Gà có vảy “Song Phủ” hay “Nguyệt Phủ” mỗi lần ra trận là có cảnh “máu chảy đầu rơi”, phải lấy mạng gà đối phương.

{Hình Vẽ của ĐCCH về Song Phủ Đao}

Nếu đọc lại câu trong Kinh Kê thì thấy chữ “Nguyệt Phủ” là hai vảy có hình như lưỡi búa nhưng đóng hoành ngang sang hàng Thành. Trong Hán tự chữ Nguyệt là 月, do đó phải là vảy vấn liền từ hàng quách sang hàng thành ( Hai hàng vảy đóng rành rành). Nếu chỉ có 1 vảy vấn đóng ngay cựa được gọi là vảy “Nguyệt tà” hay “Xuyên Đao”. Nếu hai vảy vấn đóng ngay cựa có hình dạng hơi loe rộng ra như hình đầu búa rìu (bên hàng thành) thì đó là vảy “Nguyệt Phủ”.

Nếu hai chân đều đóng vảy “Nguyệt Phủ” như trong câu “Hai bên đâu lại hiệu danh giao đầu” thì thật là vảy độc hại. Gà có vảy “Nguyệt Phủ” hay “Song Phủ” không những có tài đâm mà còn dùng cựa để chém như lưỡi búa !!!

{Hình vẽ của ĐCCH về Nguyệt Phủ Đao – giống như song phủ đao nhưng là hai vảy vấn như hình búa đóng ngay cựa }

143. Xem đao phải biết hãi hùng, 

Cựa kim đóng thấp vòng cung vẹn toàn. 

Phòng đao “giáp thới” truy hoan, 

146. Ửng tâm nhật nguyệt mưu toan hổ rừng. 

Câu 143 và 144: Gà mà có cựa hình dạng nhỏ và nhọn lễu như cây kim đóng thấp phía sau chân. Hơn thế nữa là có hình hơi cong như hình cây cung là giòng gà giỏi về đâm cựa. Gà cựa nhọn hình cung thì có tài lấy mắt gà đối phương nhấp nháy.

Câu 145 và 146: Gà có vảy (nứt như chữ thập) mang hình chữ Giáp 甲 đóng ở đầu ngón thới cũng là một lọai gà sở trường về dùng cựa như đao để đâm gà đối phương. Trong phần này Đạo Kê đang bàn về “đao” nên nói đến “Nhật Nguyệt” là một bên cựa màu trắng, một bên cựa màu đen. Lọai gà có cựa Nhật Nguyệt thường được xem như là lọai Linh kê ra đòn dữ như cọp. Trong Kê Kinh có bổ túc thêm như sau :

“Ðôi chơn nhựt nguyệt anh linh chẳng vừa.”

Tuy nhiên Kê Kinh lại nói đến đôi chân chứ không riêng gì cựa, vì thế nhiều sư kê đã diễn rộng ra cựa Nhật Nguyệt không chỉ gói gọn trong màu của cựa mà còn nói đến màu sắc của cả cặp chân nữa. Thí dụ như một chân trắng và một chân đen (rất híêm thấy), hay chân trắng cựa đen, hay chân đen cựa trắng đều được xếp vào lọai gà “Nhật Nguyệt”.

Một điểm khác tiện đây xin được bàn thêm cùng các tôn gỉa, các bậc sư kê và nghệ nhân chơi đá gà là hầu hết đều dùng chữ “anh linh” để diễn đạt là gà Linh Kê. Theo thiển ý của BaLoi thì chữ “Linh” được hiểu theo Việt Ngữ là “linh thiêng” và huyền bí ở đây không hẳn đúng lắm. Tuy nhiên hai chữ “anh linh” hiểu theo nghĩa tiếng Hán Việt thì đó chỉ là một lọai tài giỏi, nhanh nhẹn hơn bậc thường tình thôi. Cho nên gà “Nhật Nguyệt” ra trường đụng phải gà hay hơn cũng bị thảm tử như thường. Các tôn giả không nên hiểu theo hai chữ “Linh Kê” là gà linh nên không thể thua và không thể bị đá bại.

147. Thới mà cao thấp không chừng, 

Án bên cánh tả đoản đừng phải phân. 

Phủ hoành song giáp là trân, 

150. Đòn luôn khép chặt đôi chân phải tường.

Câu 147 và 148: Gà mà có ngón thới, là ngón nằm phía sau gần cựa mà một bên cao, một bên thấp không đều nhau, các chư vị nên cẩn trọng nếu đụng phải. Nếu gà mà có ngón thới bên chân trái ngắn hơn chân phải thì đó là con gà dùng móng để ra chiêu “Hổ Trảo Cầm Nã Thủ” để ra đòn độc hạ thủ gà đối phương khi lâm trận.

Câu 149 và 150: “Phủ Hòanh Song Giáp” tương tự như vảy “Nguyệt Phủ” mô tả trong Kê Kinh đã diễn giải ở câu 141 – Đạo Kê. “Phủ hòanh” là vảy có hình cái búa đóng ngang (hòanh) từ hàng quách kéo qua hàng thành. Vảy này phải được đóng cả hai chân thì mới gọi là vảy của quý kê.

Gà có lọai vảy “Phủ Hoành Song Giáp” có hình dạng như chiếc búa này ra đòn rất khôn lanh, mưu lược và khống chế gà đối phương, gài thế đưa vào tử lộ để dứt điểm trận đấu.

151. “Nhím kê” nó thật cao cường, 

“Mỵ kê” mà có ngũ thương tử hình, 

Dung nhan ấy thật là tinh, 

154. Ngưỡng qua thời biết anh linh cả đời.

Câu 151 và 152: Những con gà có lông mã chỉa ra tua tủa cứng như lông nhím, còn được gọi là gà “lông thép”. Đây là một trong những lọai gà có đặc điểm dị kỳ như “qúai kê” ẩn tướng. Lọai gà lông nhím này có tài nghệ rất cao cường nếu ra trường gà mà các hành gỉa đụng phải lọai gà này phải đề phòng.

“Mỵ Kê” đây là “Tử Mỵ Kê” mà có “ngũ thương” (伍 鎗) tức là cái kiềng hay cái vạc có 3 chân xếp bằng nhau. Ở đây ý nói đến thế ngủ của “Tử Mỵ Kê” khi nằm ngủ đầu xỏai ra phía trước và mỏ chấm xuống đất làm thành 1 điểm, hai điểm phía sau là hai đầu cánh xòe ra chống xuống đất tạo thành 3 điểm chống đỡ trong lúc ngủ trông vững chãi như cái vạc 3 chân.

Câu 153 và 154: Hai câu này chỉ diễn giải thêm về Tử Mỵ Kê. Lọai gà Tử Mỵ Kê dấu tướng rất khó lòng khám phá ra. Nó chỉ lộ hình tướng trong khi ngủ mê mệt mà thôi, cho nên chư vị chơi gà phải tinh ý cho lắm mới khám ra con gà mình có phải là “Tử Mỵ Kê” hay không ? Nếu đúng là Tử Mỵ Kê thì thật là gà quý hiếm và tài giỏi, cả đời chưa dễ dầu gì gặp được một.

155. “Án thiên” gối phủ an nơi, 

Gà hay kiếm đặng mà chơi mà chiều. 

“Ám long” vảy ấy mĩ miều, 

158. Một là “quái kiệt” hai là “linh kê”. 

Gà nếu có vảy vấn đầu tiên đóng ngang ngay gối thì đó chính là “Án Thiên”. Dựa theo luật bất thành văn của Đạo Kê là nếu gà có 3 vảy liền nhau gọi là “Tam Tài”. Do đó vảy “Án Thiên” đóng tại gối theo thứ tự từ trên xuống là Đệ Nhất Án Thiên, Đệ Nhị Án Thiên và Đệ Tam Án Thiên thì là gà có quý tướng. Tuy nhiên nếu không có Đệ Nhất mà chỉ có Đệ Nhị hay Đệ Tam Án Thiên thì không phải là gà hay, chỉ trung bình thôi. Một số dịch gỉa diễn nghĩa gà có “Án Thiên” là gà của Trời e không đúng lắm. Quản gà được chia 2 phần Thượng và Hạ, phần gần sát gối gọi là Thiên (trời cao) và phần sát chậu nơi vảy bắt đầu phân nhánh ra các ngón gọi là Địa (đất thấp). Chữ “Án Thiên” có nghĩa là vảy đóng nơi cao nhất trên quản gà.

{Hình vẽ của ĐCCH}

Con gà có vảy “Án Thiên” là loại gà có khí phách quân tử anh hùng ra trận không dễ gì thua. Những con gà có vảy kém hơn thường “soi” vảy “Án Thiên” để biết mặt gà “chính danh quân tử” và biết tài cao thấp mà chịu thua trước. BaLoi có kinh nghiệm qua và từng chứng kiến con gà thường “soi vảy” Án Thiên của quý kê và khiếp đảm bỏ chạy ở hiệp 3 trong khi nó vẫn còn tỉnh táo và khỏe không có dấu hiệu gì là thua.

Trong các loại vảy có liên hệ đến rồng trong Đạo Kê có nhắc đến 3 loại. Đó là Giáp Long, Giao Long và Ám Long.

Gà có Giáp Long là có vảy tròn cạnh và xếp hình như chữ Nhân (人) được xếp lớp như vảy rồng xếp từ đầu đến cuối ngón thới như đã được thầy Mộng Lang giải thích ở câu 2.

“Giao Long Chi Tự’ là loại gà có vảy nhữ chữ “Chi” (之) do hai hàng thành và quách giao nhau từ trên gối xuống chậu đa xéo qua xéo lại như chữ chi (Chi tự).

Riêng “Ám Long” là gà có vảy tròn như vảy rồng nhưng không lộ hình tướng (Ám là ngầm, ẩn đi) mà mọc ở những nơi khó thấy như dưới đế chậu hay những nơi khác trong mình gà. Trong Kê Kinh có câu:

Ẩn tinh to nhỏ không cùng, 

Nó ẩn dưới chậu danh đồng ẩn long

Theo BaLoi thì chữ “Án” ở đây có nghĩa là “chắn ngang” (theo định nghĩa của Tự điển Việt Nam). Hai chữ Thiên và Địa là thuật dùng từ của cổ nhân để phân biệt nơi cao thấp trong quản gà một cách thi vị hóa mà thôi. Do đó Án Thiên được hiểu là vảy đóng và chắn ngang ở vảy cao nhất trên quản gà.

Còn nếu dịch theo Hán Việt thì chữ “Án” có nghĩa là : Đè xuống – vảy Án Thiên ở trên cao nhất đè các vảy khác bên dưới (quản gà).

159. Khai tiền vảy đóng một bề, 

Vàng son đã hết gà chê gà thường. 

Gà thường gối vảy ngũ tu, 

162. Hoặc chân rọc chậu sinh ngu đui mù. 

Câu 159 và 160 : Hai câu này nói đến những vảy xấu của gà. Gà nếu có vảy khai ở mặt tiền, bất kể ở hàng thành hay hàng quách đều là bị chê không còn gì để “vớt vát”. Duy chỉ có một điểm son cuối cùng là nếu gà bị khai tiền và khai luôn cả hậu thì 2 điểm xấu trấn áp nhau thành ra điểm tốt. Khai tiền ở bên hàng quách (bên hàng gần cựa) mà có khai hậu thì thật là quý tướng kê, còn được gọi là “cậu gà nòi” !

Câu 161 và 162 : Gà có vảy “ngũ tu” là vảy nhỏ xếp thành hàng ngang từ gối trở xuống, còn được gọi là “gà nát gối”. Câu 162 nói về lọai gà có đường nứt hay đường đất của vảy như bị cắt thắng (rọc) 1 đường chạy từ vảy trổ xuống kẽ móng chúa (giữa) và móng ngọai. Lọai gà này nuôi chỉ “ăn hại thóc lúa” và nếu đem ra trường chỉ là “bị thịt” cho gà người ta đá chứ không có tài cán gì hết ! Rọc chậu hơi giống “Áp Khẩu” chỉ khác là Áp Khẩu thì chạy từ gối gà xuống kẽ của 2 ngón chân.

Gà có những lọai vảy này thương được sư kê lọai bỏ vào đợt đầu tuyển lựa khi gà được 2 hay 3 tháng.

Baloi có nghe đến vảy “Tứ Vi” tức là 4 vày giao đầu nhau. Trong hình con gà này có vảy “Tứ Vi” đóng ngay cựa bên chân trái.

Các cao thủ võ lâm có biết vảy “Tứ Vi” có công dụng và đặc điểm gì không ?

Hình như còn một tên nữa cho lọai vảy này được gọi là vảy “Gạc Thập”.

Gà có vảy gạc thập thì hay đâm cựa và có đòn độc, tôi biết một con gà ô chân vàng có vảy này. Từ khi nó khai mỏ tôi đã được xem con gà này, nó có đòn chui thông vỉa, đánh mé mu lưng sập gà luôn. Tôi xem 5, 6 kỳ vần thì trận nào cũng thì con gà đối phương bị đánh 1 đòn nằm bệt dưới chân luôn. Sau ra sới ăn được 2 độ đều chì có hơn 3 ho

【#7】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Địa Lan

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây địa lan. Về hình thái bên ngoài, lan Cymbidium là những loài thân thảo, đa niên, đẻ nhánh hàng năm tạo thành những bụi nhỏ.

I. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC & YÊU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH

1. Đặc điểm thực vật học

– Rễ: Có loài rễ mọc bám trên vỏ cây, mặt đất (bì sinh hay phụ sinh); có loài rễ ăn sâu trong bọng cây, trong đất mùn (địa sinh hay thực sinh). Rễ mới thường chỉ mọc ở cây con, cây mẹ khó ra rễ mới mà chỉ thấy phân nhánh từ củ rễ.

– Thân ngầm (căn hành) thường ngắn, nối những củ lan với nhau. Các củ lan thực chất là những cành ngắn của căn hành. Củ già, khi bị tách khỏi căn hành cũ, có thể mọc ra đoạn căn hành mới, từ đó mọc lên những cây con. Do đó người ta xếp Cymbidium vào nhóm lan đa thân cây (sympodial).

– Củ lan (giả hành) thường có dạng con quay hay dạng hột xoài, đường kính từ 1 cm đến 15 cm, củ thường tươi và được bọc trong các bẹ lá.

– Lá thường có hai dạng: dạng vảy đính theo một đoạn căn hành và dạng thực đính trên giả hành. Lá thực có cuống lá, giữa bẹ lá và cuống lá có một tầng phân cách. Khi phiến lá rụng, vẫn còn đoạn bẹ ôm lấy giả hành. Vài loài không có cuống lá.

Lá có dạng dải, dạng mũi mác, dạng phiến. Đầu lá nhọn hay chia thành 2 thùy. Kích thước của bản lá biến động từ 0,5 cm đến 6 cm. Chiều dài lá thay đổi từ 10 cm đến 150 cm. Một số loài ít chịu rợp có phiến lá màu xanh vàng, còn lại thường là xanh đậm.

– Chồi hoa thường xuất hiện bên dưới giả hành, trong các nách lá, tách các bẹ già, đâm ra bên ngoài. Thông thường, mỗi giả hành chỉ cho hoa một lần. Chồi hoa thường xuất hiện đồng thời với chồi thân, những chồi hoa no tròn hơn, còn chồi thân hơi dẹp.

– Chiều dài của phát hoa từ 10 đến hơn 100 cm. Cành hoa mang từ vài đến vài chục búp hoa xếp luôn phiên theo đường xoắn ốc. Thoạt nhìn, hoa Cymbidium có 5 cánh gần giống nhau, thực ra chỉ có 2 cánh hoa ở bên trong, còn lại là 3 lá đài ở bên ngoài, có cấu trúc và màu sắc giống cánh hoa.

Cánh hoa thứ 3 chuyên hóa thành cánh môi, màu sắc rực rỡ hơn, xẻ thành 3 thùy tạo ra dạng nửa hình ống. Hai thùy bên ôm lấy trụ, thùy thứ ba có dạng bầu hay nhọn tạo thành hình đáy thuyền, làm chỗ đậu cho côn trùng khi đến hút mật và thụ phấn cho hoa.

Giữa cánh môi có hai gờ dọc song song màu vàng. Tận cùng bên trong có dĩa mật và đôi khi có những tuyến tiết mùi hương.

– Hoa Cymbidium lưỡng tính, nhị đực và nhụy cái cùng gắn chung trên một trụ nhị – nhụy (hay trục hợp nhụy) hình bán trụ hơi cong về phía trước.

– Quả lan là một nang có 3 góc, bên trong có chứa hàng trăm ngàn hạt. Khi chín, quả mở theo 3 đường góc và gieo vào không khí những hạt như bụi phấn màu vàng lụa. Khi rơi vào nơi có điều kiện ẩm độ, ánh sáng thích hợp và có nấm cộng sinh tham gia, hạt sẽ nẩy mầm phát triển thành cây mới.

2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh

– Nhiệt độ: Từ 7-27oC, tối thích ở 13-24oC. Nhiệt độ thấp hơn 6oC hay cao hơn 30oC, cây có thể chịu đựng được trong một thời gian ngắn. Một vài giống cho hoa không đều đặn ở các vùng thấp có nhiệt độ cao hơn, phần lớn chỉ phát triển thân lá, hay chỉ ra hoa một vài vụ rồi ngưng hẳn.

– Ánh sáng: 50-70% ánh sáng trực tiếp với với độ chiếu sáng trên dưới 20.000 lux (khoảng 1/5 độ chiếu sáng của mặt trời vùng Đà Lạt trong tháng 4 và tháng 8, từ 11-14 giờ).

– Độ ẩm: từ 60-70% độ ẩm tương đối của không khí và khoảng 70-80% độ ẩm của giá thể là điều kiện tốt cho Cymbidium.

II. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Chuẩn bị vườn, giá thể

* Vườn

– Vườn có một lớp mái che mưa: có chiều cao 3,0 – 3,5m, mái lợp bằng nhựa nylon trong suốt. Cần đảm bảo sự thông thoáng, không giữ nhiệt và cho ánh sáng đi qua

– Vườn có 2 lớp mái che mưa và nắng: lưới che nắng nên nằm ngoài mái che mưa nhằm làm giảm nhiệt độ trong vườn. Phải đảm bảo ánh sáng trong vườn khoảng 3.000-4.500 lux.

– Nền vườn phải có rãnh thoát nước, có thể phủ bạt nylon chống cỏ, chiều cao đặt chậu cây từ 0,4-0,6 m. Nền vườn luôn giữ khô ráo và thông thoáng đó là điều kiện tốt cho địa lan phát triển.

– Vườn cần có khu cách ly để tiêu hủy nguồn bệnh (dưới nguồn gió, dưới nguồn nước). Có khu vực đệm khử trùng tại cửa vườn. Kho phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, và vật dụng làm vườn.

*Giá thể:

Gồm các vật liệu như vỏ cà phê nung, vỏ trấu nung, vỏ đậu phộng, dớn, vỏ thông, xơ dừa được sử dụng dạng đơn hoặc phối trộn. Việc chọn giá thể cần đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Giữ ẩm tốt: độ ẩm giá thể từ 40-60% trong mùa khô

+ Thoát nước tốt: không tích nước trong mùa mưa, sau tưới 15 phút không còn nước đọng trong chậu.

+ Chậm phân hủy: giữ được cấu trúc giá thể, không quá mục nát gây tích nước và kém thoáng khí.

Nếu dùng:

+ Phân hữu cơ thì chiếm không quá 20% thể tích giá thể, bón 1 lần.

+ Phân hữu cơ không dùng trong giá thể địa lan <6 tháng tuổi

*Phối trộn giá thể: kích thước giữa vật liệu không giống nhau sẽ tạo khó khăn khi phối trộn cho giá thể đồng nhất. Có 2 hình thức chuẩn bị giá thể thường được sử dụng:

+ Vật liệu được trộn trong lúc trồng thường giữ được cấu trúc nhưng có thể gây hại cho hệ rễ bởi một số tạp chất ( xơ dừa, ….) gây hại rễ còn trong vật liệu.

* Chuẩn bị vật liệu: gồm khay ươm cây con, túi nylon, chậu nhựa, chậu đất nung, chậu sành với kích thước được chọn tùy thuộc vào tuổi cây và mức đầu tư của nhà vườn.

Chậu trồng phải được rửa sạch , phơi khô (2-4 tuần) hoặc xử lý trong dung dịch khử trùng chlorox, thuốc trừ nấm gốc đồng khoảng 10-20 phút, phơi khô. Đáy chậu, túi trồng, phải có ít nhất 3 lỗ thoát nước, và được lót vật liệu có kích thước lớn như sạn, mảnh gốm, vỉ xốp, gạch vụn, khi vào giá thể nhằm tăng sự thoát nước.

Khay ươm cây con nên dùng khay gỗ với đáy có khe hở cho không khí đi qua và thoát nước.

Bảng 1. Giá thể trồng địa lan đang được sử dụng tại Đà Lạt và tỉ lệ vật liệu phối trộn tạo giá thể

Tuổi cây

(tháng)

Vật liệu giá thể

Tỉ lệ

vật liệu (%)

Tỉ lệ

phân hữu cơ (%)

< 12

dớn, vỏ trấu nung, vỏ cà phê nung

<20

dớn, vỏ trấu nung, vỏ cà phê nung

dớn-vỏ trấu nung

dớn-vỏ thông

dớn-vỏ cà phê nung

80

60:20

60:20

60:20

20

20

20

20

dớn-vỏ trấu nung-vỏ thông

dớn-vỏ cà phê nung-vỏ trấu nung

60:20:10

60:20:10

10

10

2. Chuẩn bị giống và cách trồng

* Cây giống: gồm cây con từ nuôi cấy mô và cây tách chiết (1 đơn vị trồng) từ chậu địa lan nhiều năm tuổi.

– Tiêu chuẩn cây giống: Cây giống khi trồng cần có các tiêu chuẩn không thấp hơn các tiêu chuẩn quy định tại quyết định số 07/2010/QĐ-UBND ngày 10/02/2010 của UBND tỉnh Lâm Đồng vv quy định tiêu chuẩn cây giống xuất vườn ươm của một số loại rau, hoa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Cụ thể tại bảng

Bảng 2. Tiêu chuẩn cây giống địa lan theo QĐ số 07/2010/QĐ-UBND

TT

Loại cây

Độ tuổi

CCC

(cm)

Số lá

thật

Số chồi

Tình trạng sâu bệnh

1 Cây nuôi cấy mô 5 tháng 6 – 7 4 -6

1

Cây khỏe mạnh, ngọn phát triển, rễ không bị thương tổn.Không có biểu hiện về sâu bệnh, không có triệu chứng virus, vi khuẩn, thối gốc.
2 Cây nuôi cấy mô 1 năm 8 – 10 7 – 10

1

Cây khỏe mạnh, ngọn phát triển, rễ không bị tổn thương, tỷ lệ lá bị bệnh đốm/cây < 10 %, không bị rệp và bệnh thối củ.
3 Cây nuôi cấy mô 2 năm 15 – 20 12 – 14

2 – 3

Cây khỏe mạnh, ngọn phát triển, rễ không bị tổn thương, tỷ lệ lá bị bệnh đốm/cây < 15 %, không bị rệp và bệnh thối củ
4 Cây nuôi cấy mô 3 năm 30 – 35 20 – 24

4 -5

Cây khỏe mạnh, ngọn phát triển, rễ không bị tổn thương, tỷ lệ lá bị bệnh đốm/cây < 20 %, không bị rệp và bệnh thối củ.
5 Cây nuôi cấy mô 4 năm tuổi 60 – 70 25 – 30

6 – 7

Cây khỏe mạnh, ngọn phát triển, rễ không bị tổn thương, tỷ lệ lá bị bệnh đốm/cây < 25 %, không bị rệp và bệnh thối củ.

+ Cây con từ bình mô được rửa sạch thạch bám vào rễ, đặt trên khay ươm có hoặc không có lót giấy, giữ 3-4 tuần trong mát, tưới phun sương nhẹ nhưng không được dư nước, hạn chế dùng thuốc trừ nấm để xử lý rễ, loại bỏ triệt để cây bệnh. Không dùng phân bón và thuốc hóa học trong thời gian này.

+ Cây tách chiết, 1 đơn vị, gồm ít nhất 1 cây con, 1 giả hành trẻ, và 2 giả hành già không có triệu chứng bệnh. Cắt bỏ rễ hư, bỏ giá thể cũ, nhúng rễ trong dung dịch thuốc trừ nấm. Mắt mầm ở phần gốc giả hành sẽ tạo chồi khỏe mạnh tránh gây tổn thương quá lớn phần gốc khi tách giả hành.

* Cách trồng: Sang chậu và trồng mới ngay sau khi cắt phát hoa nhằm giúp cây nhanh bước vào chu kỳ sinh trưởng và phát triển mới.

* Sang chậu: khi chậu cũ không còn khoảng trống cho cây phát triển, rễ lồi lên giá thể và bám vượt ra thành chậu, khi giá thể bị phân hủy hết hoặc có hiện tượng ứ nước trong chậu.

+ Chuyển cả cây từ chậu nhỏ sang chậu có kích thước lớn. Cắt bỏ rễ hư, bỏ giả thể cũ, thêm giá thể mới cho tới 1/4-1/3 giả hành, tưới đẫm 1 lần. Đặt trong mát 5-7 ngày không tưới, giúp cây thích nghi và hạn chế hư rễ. Sau 2-3 tuần tiến hành chăm sóc theo quy trình.

* Trồng mới: thường tiến hành vào tháng mùa khô.

+ Cây con cấy mô sau khi huấn luyện 4 tuần, chuyển sang khay ươm với giá thể là dớn sợi nhỏ hoặc xơ dừa được loại bỏ chất mặn và chát. Cây được phủ ½ chiều dài rễ trong giá thể, tưới nước vừa đủ, loại bỏ cây bệnh.

+ Cây con được đặt trung tâm chậu, túi trồng, và rễ được dàn đều ra các phía, giá thể mới được phủ đến ngang gốc rễ, nén giá thể giúp cây đứng vững, tưới nước đẫm 1 lần. Đặt cây nơi mát 5-10 ngày, không tưới giúp giảm sự hư rễ. Sau 2-3 tuần, rễ mới sẽ phát triển và cây phục hồi màu xanh. Tiến hành chăm sóc theo quy trình.

+ Cây tách chiết được đặt trung tâm chậu và rễ được dàn đều ra các phía, giá thể mới được phủ đến 1/4-1/3 giả hành, nén giá thể giúp cây đứng vững, tưới nước đẫm 1 lần. Đặt cây nơi mát 5-10 ngày, không tưới nước giúp giảm sự hư rễ. Sau 2-3 tuần, rễ mới sẽ phát triển và cây phục hồi màu xanh. Tiến hành chăm sóc theo quy trình.

Thành phần và tỉ lệ vật liệu trong giá thể mới phải gần tương đương với giá thể cũ, sự khác biệt quá lớn sẽ gây tổn hại rễ. Vệ sinh dụng cụ và tay chân sau mỗi lần trồng thật kỹ. Vi rút gây bệnh cho địa lan dễ lây nhiễm trong thời điểm trồng vì vậy phải loại bỏ cây bệnh triệt để.

* Đặt cây:

Khay ươm được đặt cách mặt đất 0,8 mét, trong mát với ánh sáng tán xạ

Bầu (chậu) cây con được đặt trên giàn cao 0,6 mét theo luống là tốt nhất. Một số nhà vườn đặt bầu trên luống mô có lót màng phủ. Bầu cây đặt sát nhau với chiều ngang luống đặt khoảng 10 bầu cây là hợp lý. Chỉnh chiều của cây theo ánh sáng, giảm sự che bóng lẫn nhau, tạo sự thông thoáng trong luống

Chậu được kê cao khoảng 0,4 mét thành hàng đôi với khoảng cách các cây sao cho có 1/3 chiều dài lá giao nhau, giữa các hàng sao cho có 1/2 chiều dài lá giao nhau. Khoảng cách giữa các hàng đôi rộng đủ cho việc đi lại chăm sóc, không làm gãy lá, làm đổ cây.

Điều chỉnh khoảng cách chậu 3 tháng/1 lần giúp cho vườn thông thoáng, cây nhận đủ ánh sáng, duy trì độ ẩm, và hạn chế bệnh. Chậu trồng không kê cao sẽ giảm sự thoáng khí và thoát nước. Giống có tán lá xòe ngang cần nhiều khoảng không hơn giống lá đứng.

3. Phân bón và cách bón phân

– Phân bón: địa lan cần nhiều dinh dưỡng vì trong một chậu có cả chồi non, giả hành già và trẻ, phát hoa. Cần dựa vào số cá thể trong chậu và giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây để điều chỉnh lượng phân và loại phân hợp lý.

– Bón phân qua gốc: thường sử dụng các loại phân chậm tan, cung cấp dinh dưỡng từ từ, kích hoạt rễ phát triển. Cần bón theo rìa trong của chậu (Bảng 3).

Bảng 3. Thành phần NPK đề nghị bón vào giá thể cho địa lan

Tháng

1-3

4-6

7-9

10-12

Cây < 24 tháng tuổi

30-20-10

30-20-10

30-20-10

30-20-10

20-20-20

20-20-20

20-20-20

20-20-20

20-20-20

20-30-20

20-30-20

20-20-30

Số lần bón/tháng

1

1

1

1

Liều lượng 1 lần Dùng 3 – 5 g/chậu theo tuổi cây
Cách bón Rải phân vào mép trong của thành chậu hoặc túi

(Nên sử dụng các loại NPK tổng hợp có dạng lâu tan, chậm tan quy đổi theo liều lượng nguên chất như trên)

– Bón phân qua lá: vì các giống địa lan hiện nay đều có bộ lá và giả hành lớn, phát hoa cao, nên cần thiết cung cấp dinh dưỡng đầy đủ, kịp thời, và cân bằng đặc biệt các khoáng chất, trung và vi lượng (Bảng 4).

– Cung cấp trung và vi lượng: cho cây địa lan bằng 2 cách:

+ Phun phân trung, vi lượng 1 lần/tháng thay thế 1 lần dùng NPK

+ Phun phân hữu cơ dạng lỏng 1 lần/tháng thay thế 1 lần dùng NPK

(ví dụ: Super Humic, Komix, Agostim, Humat)

+ Sử dụng vôi dạng dolomite rải 2-4gram/chậu vào tháng 4 và 9 trong năm, nhằm cân bằng pH và cung cấp can-xi, ma-giê cho cây.

Bảng 4. Phân phun lên lá với NPK tổng hợp có trung vi lượng

Tháng 1-3 4-6 7-9 10-12
Cây <1 năm tuổi 30-10-10 30-10-10 30-20-10 30-20-10
Cây 1-2 năm tuổi 30-20-10 30-20-10 20-20-20 20-20-20
20-20-20 20-30-20 10-30-20 10-20-30
Số lần phun/tháng 2 3-4 3-4 3-4
Liều lượng Chỉ dùng 1/5-1/4 lượng ghi trên nhãn bao bì/lần phun
Cách phun Vào buổi chiều, vừa dư nước trên lá, giọt mịn

(Có thể tham khảo sử dụng các loại phân như: KH 20-20-20+TE, HK 10-55-10+TE, Growth more các loạii tương ứng,… quy đổi theo hàm lượng nguên chất như trên)

4. Tưới nước:

nhằm duy trì ẩm độ giá thể cung cấp nước cho cây, rửa sạch lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trên cây và giá thể.

+ Tưới thực hiện vào buổi sáng từ 9-10 giờ, không tưới vào lúc chiều tối.

+ Lượng nước tưới cho cây 1 năm tuổi khoảng 0,4 lít/chậu, cây 2 năm tuổi khoảng 0,6 lít/chậu, sau khi tưới 15 phút phải không còn nước dư trong chậu.

Tháng mùa khô cần tưới 2-3 lần/tuần, tháng mùa mưa có thể không cần tưới, hoặc 1 lần/tuần khi vườn có mái che mưa.

+ Tưới đẫm (rửa cây) cho toàn cây và giá thể trong chậu nhằm rửa sạch dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật và phân bón tích lũy. Thực hiện tưới 2 vòng trong vườn cho một lần, 3 tháng tưới rửa một lần.

Dựa vào sức căng giả hành, màu sắc và sức trương của vỏ rễ để xác định thời điểm tưới. Thiếu nước làm giả hành bị biến dạng, rễ bị khô héo, ảnh hưởng sự ra hoa trong các năm sau.

5. Vệ sinh vườn:

giúp cây phát triển tốt, hạn chế sâu bệnh hại, ngăn ngừa các tác động bất lợi khác xảy ra trong vườn.

+ Thu nhặt các lá già, lá bệnh tiêu hủy

+ Cách ly cây bệnh, chậu bệnh

+ Điều chỉnh lượng ánh sáng theo mùa vụ.

Trên địa lan, vi rút gây bệnh thường lây nhiễm qua vết thương, vết cắt khi chăm sóc, vì vậy dụng cụ làm vườn, dao kéo, cần khử trùng thương xuyên trong lúc làm việc.

III. SÂU BỆNH HẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Lưu ý: Hiện nay, các thuốc BVTV đăng ký trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam để phòng trừ sâu bệnh hại trên cây hoa địa còn rất ít, một số đối tượng sâu bệnh hại không có loại thuốc nào được đăng kí phòng trừ.

Chính vì vậy bà con nông dân có thể tham khảo một số loại thuốc bảo vệ phòng trừ đối tượng sâu bệnh hại tương tự trên cây trồng khác để sử dụng trên cây hoa địa lan. Tuy nhiên trước khi sử dụng đại trà, cần phun thử trên diện tích hẹp để tránh những rủi ro đáng tiếc xảy ra.

1. Sâu hại chính và biện pháp phòng trừ

1.1. Bọ trĩ : (Thrips)

Tập tính sinh sống và gây hại:

– Bọ trĩ màu vàng: Chích hút lá non tạo đốm vuông, vết bệnh chuyển từ màu vàng trắng sang nâu đen.

– Bọ trĩ màu đen: Gây hại trên hoa, tạo những đốm tròn trong như giọt dầu, ở giữa có một chấm vàng.

– Bọ trĩ di chuyển rất nhanh, khi trời nắng chúng chui nấp trong bẹ lá hoặc trong các lớp lá non ở ngọn. Sau khi bị hại, các chồi non, lá non, nụ hoa không phát triển, cánh hoa bị quăn lại. Bọ trĩ gây thiệt hại cho lan lúc đang ra hoa, chúng thường phát triển trong mùa khô.

Biện pháp phòng trừ:

– Nhà lưới luôn thoáng mát, dọn sạch cỏ rác xung quanh khu vực nhà lưới, tưới mát cho nhà lưới trong những ngày nắng nóng.Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất sau để phòng trừ:Imdacloprid, Abamectin, Cypermethrin, Dinotefuran, Emamectin benzoate…- Khi thấy có triệu chứng trên lá non, phun thuốc liên tiếp 3 ngày, sau đó phun phòng ngừa 2-3 tuần một lần.

1.2. Nhện đỏ (Tetranychus tricatus)

Đặc điểm gây hại:

Nhện đỏ sống giữa bẹ lá, thân và cả mặt dưới lá. Nhện đỏ phá hại lan bằng cách đeo ở dưới lá rồi chích hút diệp lục tố của lá, tạo ra những chấm nâu nhỏ dưới mặt lá làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của lá, làm cho nụ hoa và hoa bị hư hỏng và kém chất lượng.

Nhện đỏ phát triển trong điều kiện khô và nóng. Vòng đời của nhện đỏ khoảng 15 ngày và mỗi con có thể đẻ đến hàng trăm trứng.

Nhện đỏ là tác nhân truyền virus trên hoa lan

Biện pháp phòng trừ:

– Giữ nhà lưới luôn thoáng mát, tưới phun tăng độ ẩm cho nhà lưới trong những ngày nắng nóng để hạn chế nhện phát triển.-Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất sau để phòng trừ:Diafenthiuron, Hexythiazox, Propargite, Abamectin, Fenpyroximate, Emamectin benzoate…

1.3. Rầy mềm: (Myzus persicea)

Tập tính sinh sống và gây hại:

Chúng thường bám và chích hút ở đọt non, mầm hoa và nụ hoa. Rệp sáp và rệp nâu thường hay bám ở mặt dưới lá dọc theo 2 bên mép. Rệp chích hút làm lá, hoa bị lốm đốm nâu, lá dị dạng và không phát triển được hoàn toàn.

Chúng còn là tác nhân gây bệnh virus

Biện pháp phòng trừ:

Có thể tham khảo sử dụng các thuốc có hoạt chất sau để phòng trừ: Emamectin benzoate, Abamectin,Cypermethrin, Dinotefuran…

1.4. Ốc sên, nhớt: Zonitoides arboreus, Achatina fullica Deroceras laeve

Tập tính sinh sống và gây hại:

Sên, nhớt cắn phá rễ non, chồi non và nhất là các phát hoa.

Biện pháp phòng trừ:

Để phòng trừ, tốt nhất nên kết hợp các biện pháp sau:

– Rải vôi bột trên mặt đất, trên kệ kê chậu, trên mặt chậu gần gốc cây (khi hoa bắt đầu xổ bao), và rải quanh vườn lan 2-3 tháng một lần.

– Bắt giết khi sên nhớt ra ăn vào khoảng 8 giờ tối và vào lúc sáng sớm. Có thể dùng vài loại rau xanh hay cám đặt ở những vị trí có nhiều sên, nhớt để dẫn dụ chúng.

– Để bảo vệ cành hoa, khi hoa sắp xổ bao, dùng 1 túm bông gòn cột chặt quanh gốc cành hoa, có thể dùng 1 tờ giấy cứng quấn quanh gốc cành hoa thành 1 cái phễu với phần đáy quay lên trên, dùng kim ghim tờ giấy cho chặt.

Sên, nhớt bò lên theo cành hoa và lọt vào đáy phễu, chúng không thể tìm được cách bò qua thành phễu để lên phía trên nụ hoa.

* Trong việc dùng thuốc trừ sâu, cần chú ý dùng đúng liều lượng, nồng độ đã khuyến cáo cho mỗi loại thuốc. Nên phun vào buổi chiều, sáng hôm sau phải tưới rửa lá, không nên phun vào lúc trời nắng gắt vì dễ làm cháy lá và nhất là các phát hoa. Có thể phun phối hợp thuốc phòng trừ sâu với thuốc phòng trừ nấm.

2. Bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ

2.1. Bệnh thối chồi non và hư giả hành do nấm Phytophthora sp.

Đặc điểm triệu chứng:

– Giả hành: Có bẹ lá gần ngọn bị hư với màu nâu đen. Khi xẻ dọc, mô bên trong giả hành bị thâm đen ở gần gốc, ranh giới giữa mô bệnh và mô khỏe khá rõ ràng, có mùi hôi nhẹ nhưng không thối nhũn.

– Chồi và phát hoa: Vết bệnh ban đầu là một điểm nhỏ dạng hình bất định, ủng nước màu nâu đen, bệnh có thể hình thành dịch trong điều kiện có ẩm độ cao (giọt nước, giọt sương, mưa phùn) và nhiệt độ thấp (trên dưới 200C), ở gốc phát hoa không nhày nhưng vẫn úng nước và ngửi có mùi hôi nhẹ.

Thời tiết khô, vết bệnh khô lại và có màu xanh đen, ranh giới giữa mô bệnh và mô khỏe được phân biệt khá rõ ràng.

Sự phát triển của bệnh theo qui luật: từ dưới lên trên và từ trong ra ngoài. Có thể dùng tay rút phát hoa hoặc chồi bệnh lên một cách dễ dàng.

– Biện pháp phòng trừ:

Hạn chế ẩm độ bằng chế độ tưới hợp lý, lợp mái che mưa làm giảm lượng mưa trực tiếp xuống chậu cây, không đặt cây quá dày, tiêu hủy cây bệnh, chậu bệnh triệt để.

Sử dụng thuốc Chitosan (Biogreen 4.5 SL) để phòng trừ bệnh. Ngoài ra có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất để phòng trừ: Matalaxyl + Mancozeb; Fosetyl –Aluminium, Metalaxyl

2.2. Bệnh thối chồi non và giả hành do nấm Fusarium sp.

Đặc điểm triệu chứng:

– Trên lá: Lá bị bệnh có sự chuyển màu trên các mô lá còn non từ xanh chuyển sang vàng nâu, cong queo, dị hình. Ranh giới giữa mô bệnh và mô khỏe không rõ ràng. Khi thời tiết ẩm, trên mô bệnh xuất hiện những sợi nấm trắng như tơ nhện.

– Trên giả hành: Vết bệnh xuất hiện ở gốc thân hoặc cổ rễ, bẹ lá ôm giả hành có màu nâu đen, ấn nhẹ giả hành bị nhiễm bệnh vẫn cứng, sau đó vết bệnh lớn dần làm khô tóp đoạn thân gần gốc và cổ rễ, thân gốc có màu đen.

Khi xẻ dọc giả hành, mô bệnh có màu vàng cam sũng nước, có mùi hôi nhẹ nhưng không thối nhũn. Cây con thường chết sau 2-3 tuần bị nhiễm bệnh.

Biện pháp phòng trừ:

Không dùng cây giống tách từ chậu có triệu chứng bệnh, xử lý cây giống trước khi trồng, tiêu hủy triệt để cây bệnh, không dùng lại giá thể cũ.

Các chậu cần được cách ly với mặt đất bằng màng phủ hoặc bạt có kê gạch, đá

Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất Iprodine, Thiophanate-Methyl, Metalaxyl + Mancozeb phun vào gốc theo liều lượng khuyến cáo.

2.3. Bệnh thán thư (Colletotrichum spp.)

Đặc điểm triệu chứng:

– Trên lá: Vết bệnh trên bản lá thường có hình elip hoặc ovan màu nâu xám đến đen, mặt dưới vết bệnh có những chấm đen nhỏ thấy rõ bằng mắt thường. Bệnh nặng các vết bệnh liên kết tạo thành mảng cháy khô, gây rách lá, và gây khô cả cây.

– Trên hoa và cuống hoa: Vết bệnh trên cuống hoa thường lõm xuống, vô định hình có màu nâu đen, mô bệnh thường bị hoại tử. Vết bệnh trên cánh hoa với nhiều đốm đen tại trung tâm và trong mờ tại viền. Hoa bị bệnh mau tàn, dễ rụng, cách hoa không cân đối.

– Trên đỉnh sinh trưởng: giả hành bệnh khi chẻ dọc với triệu chứng các lá ngọn, mầm lá bị thâm đen thành mảng, đỉnh sinh trưởng bị mềm với màu nâu sáng với ranh giới phần bệnh không rõ ràng.

Nấm lây lan bằng bào tử phát sinh từ ổ bệnh do nước mưa, nước tưới, do gió và dụng cụ cắt tỉa chăm sóc cây. Nấm tích lũy trong bẹ lá, đỉnh sinh trưởng theo thời gian dẫn đến gây chết giả hành. Nước dư trên lá, tại nách lá, ngọn cây là điều kiện lý tưởng cho nấm xâm nhiễm tấn công.

Biện pháp phòng trừ:

Cắt bỏ phần lá bệnh, điều chỉnh lượng nước tưới không để nước dư. Đối với các giống địa lan có bộ lá xòe ngang cần giảm vết thương tạo ra trong quá trình chăm sóc.Khoảng cách giữa các chậu, cây cần điều chỉnh hợp lý nhằm hạn chế sự lây nhiễm trực tiếp.

Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất để phòng trừ như: Carbendazim, Benomyl, Thiophanate-Methyl, Azoxytrobin

2.4. Bệnh thối vi khuẩn

Dựa vào màu sắc vết bệnh có thể chia thành 2 triệu chứng bệnh khác nhau: bệnh thối nâu đen và bệnh thối nâu vàng.

Bệnh thối đen nâu: do vi khuẩn (Pseudomonas gladioli)

– Trên thân: Bệnh lây lan từ trên xuống giả hành. Vết bệnh ban đầu có màu nâu nhạt, sau chuyển sang màu nâu đen, không có dịch nhầy, có mùi hôi.

– Trên giả hành: Ban đầu bộ lá chuyển vàng nhưng chậm, giả hành mềm ít đôi khi vỏ giả hành hơi nhăn, mô giả hành có màu nâu đen, nhày ít, có mùi hôi nhẹ. Bộ lá vàng và rụng dần, giả hành mềm rỗng ruột chỉ còn lại xơ bên trong.

Bệnh thối vàng: do vi khuẩn Erwinia

– Trên thân: Mô bệnh có màu nâu vàng, vết bệnh nhầy, sũng nước, lá ngọn dễ rút ra khỏi thân chính dễ dàng, ngửi có mùi hôi rất khó chịu. Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bị thối úng, thời tiết khô hanh mô bệnh khô tóp có màu trắng xám.

– Trên giả hành: Triệu chứng nhận biết là giả hành mềm nhũn, mô giả hành có màu nâu vàng, bị nhày, ướt, ngửi có mùi rất khó chịu, không phân biệt được phần bệnh và không bệnh. Vết bệnh ban đầu có thể từ gốc bẹ lá, gốc thân ngầm, và vết cắt của phát hoa cũ.

Biện pháp phòng trừ: Rửa sạch và xử lý dụng cụ làm vườn như dao, kéo thường xuyên trong dung dịch khủ trùng bề mặt. Trồng giống cấy mô qua xác nhận sạch bệnh vi rút, không dùng cây giống trong chậu có cây mang triệu chứng bệnh. Tiêu hủy cây bệnh triệt để.

Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất sau để phòng trừ: Thuốc gốc đồng, Kasugamycin,Bismerthiazol, Cytosinpeptidemycin,

IV. THU HOẠCH

1. Thời điểm cắt hoa thích hợp: Chiều dài phát hoa phụ thuộc vào đặc điểm giống và kỹ thuật chăm sóc bón phân. Các giống địa lan hiện nay đều có phát hoa cao và số hoa nhiều. Phát hoa cần được cắt khi hoa cuối cùng nở khoảng 7-10 ngày. Lưu phát hoa quá lâu sẽ làm cây yếu ảnh hưởng đến chất lượng hoa năm kế tiếp.

2. Tạo cây địa lan thương mại: Chậu địa lan (đơn vị) có nhiều phát hoa giá bán càng cao. Một số chậu ít phát hoa được ghép lại tạo nên những chậu hoa đẹp và nhiều màu sắc. Kỹ thuật ghép cây, lưu cây cần tham khảo từ các nghệ

3. Bảo quản phát hoa: Dùng túi lưới nhỏ bao mỗi hoa và dùng túi giấy có lỗ thông hơi bao cả phát hoa. Thường trong 1 chậu địa lan được bán có 3-4 phát hoa. Các phát hoa đều được cột neo vào que đỡ có chiều dài hơn chiều cao phát hoa. Lá và phát hoa phải được bao cột với nhau tạo độ cứng tránh gãy đổ.

【#8】Giá Cả Phong Lan Phần 2: Dendro Mini Đủ Màu, Ngọc Điểm – Đai Châu

Cập nhật giá cả phong lan phần 2 như Rhynchostylis retusa: Sóc trắng tuyền đột biến (cây nhập từ Thái Lan): cây con, Dendro Tím than (trồng ở VN): cây to hay Ngọc điểm – Đai châu – Nghinh xuân.

A-  Giá cả phong lan dendrobium

1- Dendro Mini đủ màu (cây nhập từ Thái Lan): cây trưởng thành

Mô tả: là dạng cây thấp đã có hoa, kích thước hoa trung bình, cây siêng hoa, màu hoa đang dạng.

Hiện trạng: theo hình, cây trong chậu là gồm 5 giò ghép lại, màu hoa về theo tuần, cây có hoa.

Chăm sóc: cây mua về có thể bỏ vào chậu men trưng bày một thời gian, sau đó trồng vào chậu, bỏ giá thể vào.

Đặc biệt: để bàn rất đẹp.

Giá tốt: 30k/1 giò. Mua 6 giò trở lên giá 25k/1 giò.

2- Dendro Tím than (trồng ở VN): cây to

Mô tả: cây cho hoa với màu sắc tím thật đậm rất sang trọng. Vòi hoa dài, cây khỏe mạnh. Trồng nắng tốt cây cho hoa với màu rất đẹp

Hiện trạng: Có hoa.

Chăm sóc: cây có thể để chậu chăm bình thường.

Đặc biệt: màu lạ, ít có.

Giá: 60k/1 giò. Mua 3 giò giá 50k.

3- Dendro nắng Dragon_Flyd đột biến lá và hoa (cây nhập từ Thái Lan): cây to.

Mô tả: là cây hiếm hoi đột biến lá (viền trắng) và hoa (viền tím), cây cho hoa với màu tím rất đẹp.

Hiện trạng: theo hình, cây khoẻ mạnh, cây cao khoảng 30cm (40-50cm sẽ cho hoa), chưa hoa.

Chăm sóc: cây cần bỏ chậu chậu nhựa nhỏ bên ngoài, trồng vào cậu to. Có thể bỏ cục sơ dừa hoặc không. Trồng bằng than hoặc sơ dừa hay các giá thể khác.

Đặc biệt: cây phát triển rất mạnh và sung sức. Hoa và lá có viền rất đẹp.

Giá: 130k/1 giò. Mua 3 giò giá 110k/1 giò.

4- Giả hạc Pháp (cây trồng thuần ở VN): cây đại

Mô tả: cây với giáng thòng xuống, thân khoẻ mạnh, lá xanh mượt. Hoa màu hồng có sọc. Siêng hoa, dễ trồng, thân đóm đen rất đẹp.

Hiện trạng: theo hình, dài khoảng 60-100cm.

Không hoa, cây đủ tuổi để năm nay có hoa.

Chăm sóc: ngày tưới nước 2 lần, ánh sáng bình thường.

Đặc biệt: cây và giò rất đẹp. Giá tốt.

Giá tốt: 120k/1 ngọn, bán theo giò, không bán lẻ. Một giò khoảng 6-10 ngọn.

5- Dendro. Parishii Var Alba và Blue (cây nhập từ Thái Lan): cây con và trung

Mô tả: đây là dòng cây không phát triển cao, thân rút gọn, trồng thẳng đứng được như Dendro thường; thân mập, phì nhìn dễ thương. Hoa siêng, có thể ra hoa từ gốc đến ngọn. Hoa dòng đột biến nên rất đẹp và ấn tượng. Hoa thơm.

Hiện trạng: theo hình, cây khoẻ mạnh. Dự kiến qua năm có hoa. Không hoa.

Chăm sóc: cây mua về có thể ghép gỗ hay trồng chậu đều được. Ngày tưới nước 2 lần, 50% ánh nắng.

Đặc biệt: giò có nhiều hướng, 2-4 hướng, nhiều hướng thì cây nhỏ hơn.

Giá tốt: 750k/1 giò. Mua 2 giò giá 700k/1 giò.

Hình cây Var Alba (trắng)

B- Giá cả phong lan các loại khác

6- Ngọc điểm – Đai châu – Nghinh xuân (cây nhập từ Thái Lan): cây con

Mô tả: có các màu sau: đỏ đóm, đỏ, trắng, cam (các màu về theo tuần, có thể không đầy đủ các màu). Cây khoẻ mạnh, lá căng, lá chân còn giữ.

Hiện trạng: theo hình. Không hoa.

Chăm sóc: cây cần cắt bỏ rể hư, gãy, bỏ vào chậu đất nung to hay chậu gỗ, bỏ than chung quanh để cây phát triển mạnh. Cây có chế độ chăm sóc bình thường.

Đặc biệt: giá tốt.

Giá: 30k/1 giò, mua 6 giò giá 25k.

7- Bò cạp (trồng ở VN): cây to

Mô tả: là dòng lan chịu được nắng (100%), phát triển rất mạnh. Sau khi trồng cao lớn cây siêng hoa, cho hoa liên tục.

Hiện trạng: theo hình cao từ 60-70cm, có các màu đóm, đỏ, vàng. Không hoa.

Chăm sóc: mới đầu trồng cây cần ánh sáng vừa phải, sau đó đem ra nắng nhiều (có thể 100%).

Tưới nước ngày 2 lần. Trồng tốt ở hàng rào, giá thể trồng là than hoặc vỏ đậu, sơ dừa, bột dừa.

Đặc biệt: cây dễ trồng. Màu vàng tươi hiếm gặp.

Giá: 50k/1 giò. Mua 3 giò giá 40k. Màu vàng giá 70k, mua 3 giò giá 60k.

8- Rhynchostylis retusa: Sóc trắng tuyền đột biến (cây nhập từ Thái Lan): cây con

Mô tả: là loại cây dòng Ngọc điểm (Đai châu), cây đột biến của Sóc rừng, hoa trắng tinh, khít, dài thành một chuỗi trong thật đẹp.

Cây rất siêng hoa, năm nào cũng ra hoa. Hoa thơm, tự động nở hoa vào dịp tháng 4 -5.

Hiện trạng: theo hình, cây khoẻ mạnh. Dự kiến qua năm có hoa. Không hoa.

Chăm sóc: sau khi mua về, có thể trồng vô chậu đất, chậu gỗ, ghép gỗ đều được. Ngày tưới nước 2 lần, tưới nhiều nước.

Đặc biệt: giá tốt.

Giá tốt: 60k/1 giò. Mua 3 giò giá 50k/1 giò.

9- Cữu bảo tiên (Aer. Lawrenceae) (cây nhập từ Thái Lan, trồng tại VN): cây con và cây đại.

Mô tả: cây rất nổi tiếng trong dòng Giáng hương hiện nay. Cây rất khoẻ mạnh, ăn phân bón tốt.

Trồng đạt cây có bộ lá khoẻ, bóng láng. Khi trưởng thành cây ra hoa trong mùa mưa ở khắp 3 miền. Cây cho hoa rất thơm.

Hiện trạng: Cây to có hoa.

Chăm sóc: cây cần trồng vào chậu lớn (gỗ hoặc chậu đất to) với giá thể than nhỏ hoặc sơ dừa.

Sau khi rễ cây phát triển, ta nên bón phân 2H cho cây, để cây phát triển vượt bật.

Đặc biệt: ra hoa ở miền Nam bình thường, cây khỏe mạnh 1 năm có thể cho vài lần hoa.

Giá: cây con giá 100k/1 giò. Mua 3 giò trở lên giá 90k/1 giò.

Cây đại loại 30cm giá 250k/1 giò. Loại 40-50cm giá 350k/1 giò.

Cây cao 40cm:

10- Vũ nữ Mật ngọt (nhập từ Thái Lan, trồng thuần ở VN): cây trung

Mô tả: là cây Vũ nữ có thân lớn nhất hiện nay, khi phát triển mạnh, thân to bề ngang gần 10cm, dài hơn 10cm, to chắc khoẻ. Vòi hoa dài 1-2m, hoa phân chi, màu hoa vàng mai rực rỡ. Rất đáng chơi trong các dòng Vũ nữ.

Hiện trạng: Không hoa.

Chăm sóc: sau khi mua về, sang chậu to, trồng bằng than nhuyễn hoặc các loại giá thể khác. Ánh sáng vừa phải. Tưới nước ngày 2 lần.

Đặc biệt: thân rất to, phát triển vượt bật.

Giá: 140k/1 giò. Mua 3 giò giá 120k.

11- Cattleya hoa màu vàng (cây nhập từ Thái Lan): cây to.

Mô tả: cây với màu hoa vàng rực lúc mới nở, lúc gần tàn màu cam rất đẹp. Hoa thơm nhẹ, cây khỏe mạnh cho nhiều hoa cùng lúc (4-5 hoa), hoa trung.

Hiện trạng: cây khoẻ mạnh, rất đẹp. Có hoa cho đến cây tàn hoa.

Chăm sóc: cây cần bỏ chậu chậu nhựa nhỏ bên ngoài, trồng vào cậu to. Trồng bằng than hoặc sơ dừa hay các giá thể khác.

Đặc biệt: cây siêng hoa, phát triển mạnh, rất đáng để chơi.

Giá: 180k/1 giò. Mua 3 giò giá 160k/1 giò.

12- Giáng hương lai Pink (cây nhập từ Thái Lan, trồng thuần ở VN): cây đại. Hết hàng.

Mô tả: giống hoa mới lạ, hoa rất thơm, màu hồng và cấu trúc hoa đẹp, ra hoa quanh năm. Cây dễ trồng như Vanda.

Hiện trạng: theo hình. Cây đại, rất to. Có vòi hoa.

Cách trồng: sau khi mua về, tươi nước ngày 2 lần và nhiều hơn (cho rể nhận được nhiều nước). Nếu cần sang chậu thì sau khi chơi hoa xong, khoảng 2 tuần, cắt ngắn rể, thay chậu mới (chậu sành), trồng giá thể nhỏ 1cm

(VD: than), để nơi mát, ẩm cao. Đặc biệt: cây dễ trồng, màu hoa đẹp.

Giá: giá tốt 180k/1 chậu, mua 3 chậu giá 160k/1 giò.

13- Neo Falcata vàng cam (cây nhập từ Thái Lan): cây to.

Mô tả: thì cây lan này có thể coi là đắt nhất Thế giới. Mời xem thêm tại Qua thời gian tìm hiểu thì mình thấy cây lan này có những đặc tính sau: dễ trồng, siêng hoa, thích nhảy con, ra hoa quanh năm, hoa rất rất thơm, và đặc biệt thơm ngày và đêm.

Cây trồng sau một thời gian thì đẻ con, phân nhánh, hoa nở đồng loạt rất đẹp. Cây trồng tốt ở cả 3 miền, chịu ẩm tốt, cần ít ánh sáng.

Hiện trạng: cây khoẻ mạnh. Có hoa

Chăm sóc: cây thích ghép gỗ nên về cứ để vậy mà chăm.

Đặc biệt: cây đẹp, có cây con.

Giá: 200k/1 giò. Mua 3 giò giá 180k/1 giò.

14 – Lan lọng chuột (Bulbophyllum) (nhập từ Thái Lan): cây to

Mô tả: cây có hoa đa dạng về cấu trúc và màu sắc. Cây dễ trồng, có giả hành mọc ra bò theo thân gỗ.

Hiện trạng: Có hoa hoặc đến lúc hết hoa.

Chăm sóc: sau khi mua về, do đang ghép gỗ nên để vậy treo, hoặc ghép vào thân cây khác. Ánh sáng bình thường, cần thông thoáng. Tưới nước ngày 2 lần.

Đặc biệt: rất thích ghép gỗ. Có bán nhiều loại khác từ Thái lan và Đài loan (theo dạng sưu tầm)

Giá: 200k/1 giò. Mua 3 giò giá 180k.

1- Cửu Bảo Tiên x Hải yến

Đặc biệt: rất siêng hoa (ra hoa quanh năm ), hoa tròn to, màu Blue đậm. Vòi hoa dài, phát hoa thẳng đứng khá duyên dáng so với thân cây, hoa nở đồng loạt và khít, hoa rất bền và thơm. Giá 220 ngàn/1 giò, mua 3 giò giá 200k.

Có bán giò to đại, giá xin liên hệ (dưới 2 triệu đồng).

2- Den. Moniliforme – Den Nhật

Giống này khi phát triển cao, hoa phát chùm trên thân rất ấn tượng, đẹp. Màu vàng trắng nhạt, họng hoa màu nâu đậm, hoa có mùi thơm nhẹ. Cây rất mới. Giá 250k/1 giò (size theo hình là size hoa bói).

3- Encyclia ( giống mới từ Cuba )

Là giống Encyclia mới phát hiện từ Cuba, hoa màu nâu nhạt, lưỡi to ửng hồng, hoa 7 cm, vòi hoa dài có thể nở 8 – 10 hoa. Đặc biệt là cây phát triển mạnh mẽ, dễ hoa va hoa rất rất thơm mùi Vani, thích hợp trưng bày tại phòng khách, làm việc. Gia 300 ngàn/ giò ( số lượng hạn chế ).

4- Hoàng Thảo Thái x D. Nobile:

Là dòng Den xuân vùng nóng, ra hoa cả 3 miền. Đây là giống lai thế hệ mới của Thái lan, hoa rất to, màu vàng họng nâu cam xuất sắc.

Mùa hoa từ tháng 11-4 năm sau. Giá 350 ngàn/1 giò.

5- Brassavola nodasa x Rhyncholaelia digbyana

– Đặc biệt: hoa màu xanh lá, họng màu trắng xanh, rất tinh khiết sang trọng.

Giống lai mới từ Nhật Bản, dễ hoa, hoa rất thơm về đêm. Giá 380 ngàn/ giò ( size hoa bói).

6- Onc. Karukera Beauty – giống Nhât Bản

Được lai từ 2 cây rừng nguyên thủy, vòi hoa dài hơn nữa mét, phân nhánh, rất nhiều hoa. Hoa to, váy màu Blue độc đáo ( cây vũ nữ duy nhất có màu Blue của thế giới), hoa thơm. Rất đáng để sưu tầm. Giá 400 ngàn/ giò ( chuẩn bị hoa ).

7- Onc. Sprutat

Giống vũ nữ mới từ Nam Mỹ – rất lạ – hoa phát thành chùm màu vàng sáng. Tuy là dòng vũ nữ nhưng cây có bộ lá nhọn cứng khá lạ và đẹp. Giá 500 ngàn/ giò ( size hoa bói )

8- Den. Dearei x Den. Suzuki

Vòi hoa hơi rũ mang từ 8-9 hoa to trắng, họng vàng chanh rất sang trọng. Cây rất siêng hoa. Giá 550k/1 giò.

9- Den. Ceasars ” Malaysia ” – Rồng Malai

– Den nắng, rất dễ hoa. Thân cao mạnh khỏe, phát hoa dài và nhiều hoa, hoa trắng phớt hồng với 02 anten xoán nhẹ rất duyên dáng. Giá 600 ngàn/ giò size cây theo hình.

10- Den. Frosty Dawn – 4N ( bàn tay vàng )

– Den Long – 4N xuất xứ từ Hawaii, độc đáo ( vừa đột biến lá có sọc vàng ở giửa và đột biến hoa).

Hoa to cánh sáp, 02 sepal có 02 bệt vàng như 02 bàn tay rất Art, lưỡi vàng chanh, bệt cam. Rất xuất sắc, giá 900 ngàn/ giò ( size hoa bói) – số lượng hạn chế.

11- Tóc tiên x Hải yến

– Lần đầu tiên giống mới này được triển lãm tại Thái Lan và đạt giải, hoa màu trắng phớt hồng nhẹ ( Blue hồng ), rất sang trọng.

Bộ lá rũ khá duyên dáng đối nghịch phát hoa thẳng đứng, hoa khít, vòi hoa dài, nở đồng loạt và rất thơm. Một năm nở 2 – 3 lần hoa. Giống mới rất đẹp. Giá 1 000 000 đ/ giò ( size hoa bói, có cây đã hoa).

12- Den. Anosnum var Coerulea – giống Nhat

– Lần đầu tiên người Nhật giới thiệu với thế giới cây ” Coerulea ” này – Giả hạt Blue. Hoa to hơn Giả hạc Blue khác, thân trắng đặc trưng của dòng Var Alba. Giống lạ mới, giá 3 500 000 đ/1 giò theo hình.

CÁC LOẠI LAN KHÁC:

1- Dendrobium Yellow HF (cây to nhập từ Thái Lan): giò to

Mô tả: giống mới với màu hoa vàng rực rỡ, cây khỏe mạnh, siêng hoa.

Hiện trạng: theo hình. Không hoa.

Chăm sóc: cây có thể để nguyên chậu chăm sóc hoặc trồng vào chậu to.

Đặc biệt: màu vàng rất đẹp.

Giá: 90k/1 giò. Mua 3 giò giá còn 80k.

Hình hoa sưu tầm và hình cây thực tế:

2- Dendro 3 màu xưa (cây to nhập từ Thái Lan): cây đại

Mô tả: cây còn có tên Pachia trên thị trường. Cây cho hoa với màu sắc rất sáng là trắng, hồng, tím đỏ nên gọi là 3 màu. Cây rất khỏe mạnh, siêng hoa, chịu nắng tốt, cho hoa to. Khi trồng nắng nhiều thân cây rắn chắc, khỏe mạnh, nổi màu đỏ rất đẹp. Cây rất dễ trồng, dễ chăm sóc, khi trồng cao lớn sẽ cho rất nhiều vòi hoa, rất đẹp!

Hiện trạng: theo hình, cây cao to cắt từ bành dừa. Có hoa.

Chăm sóc: do cây cắt từ bành dừa nên ta bỏ đi những sơ dừa mục nát, cho vào chậu trồng. Chất trồng mới có thể là lan, dớn, sơ dừa, đất nung,…

Đặc biệt: giá rất tốt.

Giá tốt: 100k/1 giò cao khoảng 40-50cm. Cao 70-90cm giá 150k/1 giò. Số lượng có hạn. Mua 3 giò giảm 20k/1 giò.

Hình hoa (sưu tầm) và hình cây thực tế:

3- Lan không khí thường (nhập từ Thái lan): giò to

Mô tả: cây phát triển rất mạnh, dễ thành bụi to tròn. Mỗi củ có khả năng tách ra thành 1 cây. Hoa màu tím rất đẹp hòa cùng lá màu đỏ. Muốn cho hoa nhiều có thể tưới nhẹ 30-10-10.

Hiện trạng: theo hình. Sắp có hoa.

Chăm sóc: khi mua về có thể ghép gỗ hoặc treo trên không (không cần ghép), cây thích sáng và nắng nhiều. Chăm sóc như các loại lan khác.

Đặc biệt: giò rất to

Giá: 250k/1 cụm to. Mua 3 cụm giá 220k.

Hình hoa và hình cây thực tế:

4- Thanh đạm Indonesia “Coel.Rochusseni” (được Thái lan xuất giống): giò trung.

Mô tả: dòng cây rất hiếm hoi hiện nay là cây có hoa thòng quyến rũ. Hoa rất thơm, dài khoảng 50cm. Cây rất dễ trồng, phát triển mạnh thành bụi to. Miền Bắc sau khi trồng được 3 năm thấy cây chịu lạnh và phát triển mạnh (phải chống rét cho cây).

Hiện trạng: cây trung, đủ tuổi ra hoa, hơn 5 giả hành. Không hoa.

Chăm sóc: có thể để chậu như vậy chăm sóc, hoặc có thể thay chậu to, trồng được tất cả giá thể khác nhau (giá thể không quá to,).

Đặc biệt: giá tốt.

Giá tốt: 200k/1 giò. Mua 3 giò giá còn 180k/1 giò.

Hình hoa (sưu tầm) và hình cây thực tế:

5- Dendrobium Lindleyi “Vẩy rồng” (cây to nhập từ Thái Lan): giò đại

Mô tả: cây lai tạo của Thái Lan nên rất dễ ra hoa, cây khỏe mạnh dễ trồng. Mùa hoa từ sau xuân đến đầu mùa mưa.

Hiện trạng:Không hoa.

Chăm sóc: cây nên ghép để cây phát triển mạnh và tạo giá trị nghệ thuật cao.

Đặc biệt: giống mới lạ.

Giá: 300k/1 giò. Mua 3 giò giá còn 280k.

6- Hồ điệp (giống Đài loan, trồng tại Tp.HCM): cây nhỏ 1.5 inch

Mô tả: tiếp nối thành công của phần bán Hồ điệp 2.5 inch, nay chúng tôi bán loại Hồ điệp nhỏ hơn, loại 1.5 inch. Sau khi ra chai 3-5 tháng, cây Hồ điệp rất khoẻ mạnh và cứng cáp, chịu được khí hậu bên ngoài. Sau thời gian trồng 4-6 tháng nữa cây sẽ ra hoa bói.

Hiện trạng: theo hình, lá cây to khoảng 2 ngón tay, đủ màu. Không hoa.

Chăm sóc: sau khi mua về cần thay chậu. Quy trình như sau: bỏ hết dớn mềm, cắt bỏ rể hư, gãy, sau đó trồng lại bằng than (to khoảng 2cm), tưới thuốc kích ra rễ, để nơi mát, nắng nhẹ.

Đặc biệt: cây rất khoẻ đẹp.

Giá: 25k/1 giò. Mua 5 giò trở lên giá 22k.

7- Vũ nữ mini Tolumnia (nhập từ Thái Lan): Cây to đã ra hoa.

Mô tả: là giống vũ nữ mini nên cây không phát triển về chiều cao mà cây nhảy bụi khá khoẻ. Cây trồng ít rụng lá, siêng hoa, màu sắc hoa đa dạng, nổi bật với các hoa văn trên bông hoa.

Hiện trạng: theo hình, cây khoẻ mạnh, có giò có hoa có giò không, màu sắc khoảng gần 10 màu. Bán cây có hoa trước, cây không hoa sau. Bán màu sắc ngẫu nhiên , không chọn lựa. Cây trồng trong chậu nhỏ.

Chăm sóc: sau khi mua về, trồng vào chậu, giá thể nhuyễn (vì rễ nhỏ), cố định cây chắc. Cho một ít đá xanh hoặc sỏi nhỏ vào giá thể. Ngày tưới nước 2 lần, tưới nhiều nước.

Đặc biệt: giá tốt. Màu sắc hoa nổi bật. Mỗi cây mỗi hoa văn khác nhau, không trùng lập.

Giá: 45k/1 giò. Mua 5 giò trở lên giá 40k/1 giò.

8- Vũ nữ Aloha vàng tuyền (cây giống Đài loan, trồng tại Việt Nam): Cây to đủ tuổi ra hoa.

Mô tả: cây ra hoa với vòi hoa cao vừa phải (30-40cm), cành hoa phân chi mang theo nhiều hoa. Hoa màu vàng chanh, không có các đóm đen trên các tai và cánh làm cho vòi hoa rất sáng

Hiện trạng: cây khoẻ mạnh, củ to mập, lá xanh mượt. Cây không hoa.

Chăm sóc: sau khi mua về vì trồng dớn mềm (giử rất nhiều nước) nên cần thay chậu.

Quy trình như sau: bỏ hết dớn mềm, cắt bỏ rể hư, gãy, sau đó trồng lại bằng than nhỏ (hoặc các giá thể nhuyễn khác như dớn cọng), tưới thuốc kích ra rễ, để nơi mát, nắng nhẹ. Ngày tưới nước 2 lần.

Đặc biệt: giá tốt. Màu sắc hoa tươi sáng.

Giá: 70k/1 giò. Mua 5 giò trở lên giá 60k/1 giò. Nhận cung ứng số lượng lớn cho các nhà vườn.

9- Cat Plen-pitch (Cat 2 lá): cây to.

Mô tả: hoa rất đẹp, vàng đóm tím, lưỡi tím sen. Cánh hoa dày, lâu tàn. Mùi thơm quyến rũ. Cây siêng hoa, hoa chùm nhiều hoa.

Hiện trạng: cây khoẻ mạnh, 5-6 thân. Có cây còn hoa, có cây tàn hoa.

Chăm sóc: sau khi mua về, bỏ chậu nhựa nhỏ ra, thay vào chậu to, bỏ giá thể vào (có thể bỏ đi các giả hành già ở cuối đi cho cây khoẻ). Ngày tưới nước 2 lần.

Đặc biệt: hoa lên màu sắc rất đẹp.

Giá: 150k/1 giò.

10- Dendro nắng đỏ cánh Pink (cây giống Thái Lan, trồng tại Tp.HCM): cây to.

Mô tả: cây khoẻ mạnh, thân đỏ, căng mập. Hoa to, đỏ có viền trắng.

Hiện trạng: theo hình, cây 3-4 giả hành, cao tầm 20-30cm. Có hoa hoặc vòi hoa.

Chăm sóc: sau khi mua về ngày tưới nước 2 lần, sau một thời gian cần thay chậu.

Đặc biệt: thân đỏ, hoa to.

Giá: 50k/1 giò. Mua 5 giò trở lên giá 40k.

11- Dendro nắng 4N New (cây giống Thái Lan, trồng tại Tp.HCM): cây to.

Mô tả: cây khoẻ mạnh, thân mập, xanh tốt. Hoa màu trắng tím tươi sáng. Hoa rất lâu tàn.

Hiện trạng: theo hình, cây 3-4 giả hành, cao tầm 30cm. Có hoa hoặc vòi hoa.

Chăm sóc: sau khi mua về ngày tưới nước 2 lần, sau một thời gian cần thay chậu.

Đặc biệt: loại giống mới nên màu sáng hơn, cánh hoa dày, lâu tàn.

Giá: 50k/1 giò. Mua 5 giò trở lên giá 40k.

12- Den. nắng Tangergianum (rừng New Guinea) – nhập từ Thái Lan: cây con.

Mô tả: là dòng Den nắng rừng với màu hoa vàng cam, lưỡi có đóm trắng, hai tai dựng đứng và vặn xoán rất ấn tượng. Cây sau này phát triển rất mạnh, khoẻ, cao lớn, siêng hoa.

Hiện trạng: theo hình. Cây nhỏ nhưng khoẻ mạnh. Không hoa.

Chăm sóc: sau khi mua về, thay vào chậu to, bỏ than nhuyễn hoặc sơ dừa chung quanh. Ánh sáng vừa phải, tưới nước khi thấy giá thể sắp khô.

Đặc biệt: màu sắc hoa nổi bật, tươi sáng.

Giá: 150.000 đ/1 giò, 120k/1 giò nhỏ hơn.

13-Dendro nắng đỏ Redbig (nhập từ Thái Lan): Có hàng lại, có hoa.

Mô tả: hoa màu đỏ tím rất đẹp, size hoa to, thân lá cành rể to, sức sống khỏe, vòi hoa dài, mập, nhiều hoa, siêng bông.

Cấu trúc hoa rất đẹp, viền trắng, 2 tai dựng, 2 đài hoa dưới cong móc lại giống như càng con Bò cạp. Nên gọi chung là Redbig.

Cây trồng lâu dài, phát triển mạnh, thân lá cành rất đẹp.

Hiện trạng: khoảng 4-5 giả hành. Cao khoảng 30cm, cây đang trồng chậu to, phát triển mạnh. Có hoa hoặc vòi hoa.

Giá tốt: 200k/1 chậu to. Ít hàng.

14-Dendro nắng Hồng lưỡi trắng (có nơi gọi là cây Gà mổ): cây to.

Mô tả: cây khoẻ mạnh, ít rụng lá. Vòi hoa dài, nhiều hoa, hoa thơm, lâu tàn.

Hiện trạng: theo hình, cây 4-5 giả hành, cao tầm 40-60cm. Có hoa hoặc không.

Chăm sóc: sau khi mua về cần thay chậu. Quy trình trồng như sau: nhổ cây ra khỏi chậu, bỏ đi giá thể cũ, rửa sạch bộ rễ. Cắt các rễ hư, già, gãy cho ngắn lại khoảng 30cm.

Sau đó trồng vào chậu, giá thể là than nhỏ, hoặc sơ dừa sau đó tưới thuốc kích ra rễ, để nơi mát, nắng nhẹ (sau 1-2 tháng đem ra nơi có nắng tốt). Ngày tưới nước 2 lần.

Đặc biệt: hoa thơm, màu sắc tươi sáng.

Giá: 400k/1 giò.

15- Rhynchostylis retusa: Sóc trắng tuyền đột biến (cây nhập từ Thái Lan): cây lớn đủ tuổi ra hoa. Có hàng lại.

Mô tả: là loại cây dòng Ngọc điểm (Đai châu) . Cây đột biến của Sóc rừng, hoa trắng tinh, khít, dài thành một chuỗi trong thật đẹp. Cây rất siêng hoa, năm nào cũng ra hoa. Hoa thơm, nở hoa vào dịp tháng 4.

Hiện trạng: có 7-8 lá mỗi bên. Có cây đang có vòi hoa, có cây không.

Chăm sóc: sau khi mua về, có thể trồng vô chậu đất, chậu gỗ, ghép gỗ đều được. Ngày tưới nước 2 lần, tưới nhiều nước.

Đặc biệt: giá sốc so với trước đây.

Giá: 400k/1 giò.

【#9】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Ấp Trứng Gà Chọi

Chọn trứng ấp

Trước khi đưa trứng vào ấp, phải chọn những trứng có khối lượng đặc trưng cho từng giống không to quá hoặc nhỏ quá, tròn quá hoặc dài quá. Cụ thể trứng gà Ri phải có khối lượng 41-43g, gà Tàu vàng 45-50g, gà Tre 20-22g, gà Mía 55-60g, gà Đông Tảo 52-62g, gà Hồ 50-53g, gà chọi 50-55g, gà Tam Hoàng 50-52g.

Vỏ trứng sạch, không rạn vỡ, buồng không khí (ở đầu to quả trứng) nhỏ, không có vệt máu hoặc dị vật ở trong.

Có 2 phương pháp ấp trứng: ấp trứng tự nhiên và ấp trứng nhân tạo.

Ấp trứng tự nhiên

Cho gà mẹ (hoặc dùng ngan) ấp trứng gọi là ấp trứng tự nhiên. Những điều cần chú ý khi dùng gà mẹ hoặc ngan ấp trứng.

a. Thời vụ ấp trứng

Đối với gà gia đình thả vườn, mỗi năm thường cho ấp vào 2 vụ: vụ xuân (tháng 2, 3, 4 dương lịch) và vụ thu (tháng 8, 9).

ấp vụ xuân thời tiết đã ấm áp, gà mẹ tìm kiếm thức ăn trong thiên nhiên như côn trùng, rau xanh, nên chất lượng trứng tốt, tỷ lệ ấp nở cao, gà con nở ra khỏe mạnh, lớn nhanh, gặp vụ thu hoạch lúa chiêm xuân sẽ dễ kiếm ăn thóc rơi vãi. Nhưng vì mùa xuân ở nước ta thời tiết nóng ẩm, độ ẩm cao, vi khuẩn có điều kiện sinh sôi nảy nở, nên gà con dễ mắc bệnh, đặc biệt là bệnh đậu (có nơi gọi là bệnh trái, bệnh hoa xoan vì nốt đậu cũng giống hoa xoan và bệnh thường phát sinh vào cuối xuân sang hè là mùa hoa xoan nở).

ấp vụ thu là sau lúa gà đã thay lông xong, sức khỏe gà mẹ được phục hồi, tiết trời khô ráo, mát dần. Gà con lớn lên đón vụ mùa đủ thóc ăn rơi vãi. ở nước ta nên tập trung vào vụ này vì tuy gà con không lớn nhanh bằng vụ xuân, nhưng ít bệnh tật, tỷ lệ nuôi sống cao. Tuy nhiên, nếu tạo được điều kiện và đảm bảo kỹ thuật, vẫn có thể cho ấp quanh năm, trừ những tháng nóng bức.

b. Chọn mái ấp

      Gà mái đã đẻ hết lứa trứng, nhưng còn sung sức, lông không xơ xác, đầu thanh nhỏ, chân thấp, lông tơ nhiều, thân hình vừa phải, không bé quá sẽ ấp được ít trứng, không nặng nề quá, dễ làm vỡ trứng.

      Gà có tính đòi ấp mạnh. Để kiểm tra tính đòi ấp có mạnh không, nên để vào ổ một vài quả trứng cho ấp trước. Nếu gà say ấp không bỏ ổ trong vài ba ngày là được.

      Tính ôn hoà, không bệnh tật, không có ký sinh trùng (ghẻ, mạt).

c. Các điều kiện trong quá trình ấp

      Số lượng trứng: 13-17 quả, tùy gà mẹ to nhỏ. Nên để số trứng lẻ, vì số chãn, thường bị lăn 1 quả ra ngoài, mất nhiệt, trứng phát dục không bình thường.

      Trứng để ấp bảo quản 5 ngày vào mùa hè, 7 ngày vào mùa đông. Hàng ngày gà đẻ xong, nhặt ngay trứng, xếp vào khay để vào nơi thoáng mát trong nhà, ổ gà đẻ chỉ để 1 quả làm mồi, quả này sau không ấp. Trứng cất giữ đến ngày thứ 3, hàng ngày nên đảo trứng.

      ổ ấp có thể dùng thúng rổ hoặc đóng hộp gỗ có diện tích 40cm x 40cm, lót rơm khô, để ở vị trí thoáng, khô ráo, nhưng không sáng quá, tránh gió lùa, yên tĩnh. Để tránh hiện tượng mạt gà phát sinh trong quá trình ấp, kinh nghiệm nhân dân lót dưới ổ lá cây “mần tưới” hoặc lá xoan (thầu đâu, sầu đông). Lúc trứng bị vỡ phải thay ngay rơm lót ổ.

      Nếu gà say ấp quá, không chịu xuống ăn thì cần phải định giờ cố định mỗi ngày 2 lần bắt gà xuống cho ăn và để gà bài tiết, tránh phóng uế phân vào ổ. Thức ăn của gà lúc này là các hạt ngũ cốc có nhiều bột đường (thóc, ngô) để cung cấp nhiều năng lượng và đồng thời tiêu hóa chậm, thời gian duy trì dài. Nên cho ăn thêm rau xanh để cung cấp vitamin. Mỗi lần cho gà xuống ổ khoảng 10-20 phút là vừa. Nếu xuống lâu quá sẽ làm mất nhiệt của trứng.

      Gần chỗ gà ăn nên có hố tắm cát (cát + tro bếp + 1% lưu huỳnh) để gà tranh thủ tắm, trừ mạt.

d. Soi trứng:

Nên tập trung mỗi lần ấp có 10 mái ấp. Ngày thứ 6 soi trứng để loại những trứng không có trống (không phôi) và trứng chết phôi. Sau đấy tùy số trứng còn lại nhiều hay ít, dồn lại cho 1 mái ấp 15-17 quả, số mái thừa ra cho ấp tiếp đợt mới.

Ngày 18 soi lần thứ hai trước khi gà nở (19-21 ngày). Loại những trứng chết phôi. Dồn trứng còn lại cho số gà ấp tốt, còn sung sức (15-17 trứng/1 mái).

Lúc gà bắt đầu nở, nhặt dần vỏ trứng. Dồn cho 1 mẹ nuôi độ 15-20 gà con.

Trường hợp dùng ngan hoặc gà tây ấp trưng, khi gà con nở, chuyển cho gà mẹ nuôi vì gà mẹ nuôi con khéo hơn. Ngan và gà tây chỉ chuyên dùng để ấp trứng và cho ấp đồng thời với gà mái mẹ để dễ dồn trứng ấp sau mỗi đợt soi trứng và dồn gà con sau khi nở cho gà mẹ nuôi.

Phải chú ý bổ sung thức ăn cho gà mẹ (thóc, ngô v.v…) và gà con (tấm, vừng, khô dầu đậu tương v.v…).

Ấp trứng nhân tạo

ấp trứng nhân tạo là dùng máy ấp để ấp trứng. Nguyên lý của máy ấp là tạo dựng chế độ nhiệt, độ ẩm và thoáng khí giống như trường hợp dùng gà ấp trứng. Nguồn nhiệt dùng cho máy ấp có thể là nguồn điện hoặc hơi nước. Một máy ấp mỗi đợt ấp có thể ấp được 1000 quả (thông thường 300-400 đến 600-700 quả) nếu ấp bằng hơi nước, hoặc ấp vài ba nghìn quả đến 10.000 quả nếu ấp bằng nguồn điện có rơ-le tự ngắt điện.

Trong máy ấp trứng có các bộ phận chính: nguồn nhiệt và quạt điều hòa nhiệt, quạt thông gió, khay đựng nước tạo độ ẩm, giá đỡ khay đựng trứng và thiết bị đảo trứng tự động.

Nếu dùng máy ấp trứng bằng hơi nước, cần theo dõi thường xuyên chế độ nhiệt, ẩm để kịp thời xử lý những trường hợp bất thường xảy ra như tăng giảm nhiệt độ, thiếu độ ẩm v.v….

Trường hợp dùng máy ấp để ấp trứng, cần thực hiện những điểm sau đây:

a. Khử trùng

Khử trùng máy ấp bằng formol và thuốc tím (mỗi 1m3 máy dùng 20cc formol và 16,6g thuốc tím). Đặt thuốc vào đĩa, để đĩa vào đáy tủ cho thuốc bốc hơi, đóng cửa và các lỗ thông khí của máy ấp lại trong vòng 45 phút. Sau đó mở cửa máy, quạt cho khí formol bay hết ra ngoài.

b. Các điều kiện cần thiết trong quá trình ấp

      Nhiệt độ là điều kiện quan trọng nhất trong quá trình ấp. Đối với gà nhiệt độ từ 37,5-37,8oC. Nếu to cao quá gà sẽ khai mỏ sớm, con nở ra thường hở rốn khoèn chân, có lúc quái thai. Nếu to lên đến 41-42oC kéo dài 1-2 giờ phôi sẽ chết. Nếu thiếu nhiệt phôi sẽ không phát triển được, ngày nở kéo dài.

      Độ ẩm: Trong giai đoạn ấp (1-18 ngày) độ ẩm thích hợp khoảng 55-65%. Giai đoạn nở (19-21 ngày) độ ẩm 80-85%. Nếu trong quá trình ấp, độ ẩm quá cao gà con nở ra sẽ nặng bụng, bên trong vỏ dính đầy chất nhớt. Nếu độ ẩm thiếu gà nở lông sẽ không bông, khối lượng thấp. Độ ẩm vừa đủ gà con nở ra chiếm khoảng 60-61% khối lượng trứng ấp.

      Thông gió: Giống như các sinh vật khác, phôi gà cũng cần oxy của không khí để thở, đồng thời thải thán khí (CO2) và hơi nước ra ngoài. Cường độ trao đổi không khí tăng lên vào thời gian cuối vì cùng với sự phát triển của phôi, yêu cầu về dưỡng khí (oxy) cũng tăng lên. Người ta đã thí nghiệm thấy trong thời kỳ ấp đến ngày 16 yêu cầu về không khí trong một ngày đêm cứ 500 trứng cần 1m3 không khí, đến thời kỳ nở cần 4m3. Trong các máy ấp đều có lỗ thông hơi. Các lỗ này mở rộng hẹp tùy từng giai đoạn ấp có ghi rõ trong quy trình của từng máy.

      Đảo trứng: Với máy tự động cứ 2 giờ đảo trứng một lần. Nếu máy tự tạo không có hệ thống tự động đảo trứng thì người điều khiển máy phải đảo bằng tay. Đảo trứng từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài. Lợi ích của việc đảo trứng là để cho to phân bố đều trên trứng và tránh trứng phải nằm nguyên một vị trí, phôi bị dính vào vỏ trứng không phát triển được, cuối cùng sẽ chết. Lúc trứng đã chuyển sang giai đoạn nở (18 ngày) thôi không đảo trứng.

      Soi trứng: trứng gà ấp đến 20-21 ngày sẽ nở. Thường soi 2 lần. Lần 1: (7 ngày) để loại những trứng không phôi hoặc chết phôi sớm. Trứng không có phôi lúc soi vẫn trong như trứng chưa ấp. Còn trứng chết phôi có đường máu đen hay chấm đen dính vào vỏ. Trứng phát triển tốt thì ở giữa có điểm đen, xung quanh có tia máu phát triển hình mạng nhện. Lần 2 (18 ngày) soi loại những trứng chết phôi hoặc phôi phát triển quá yếu.

      Làm lạnh: Đối với trứng thủy cầm thường có thêm quy trình làm lạnh trứng, kéo khay trứng ra ngoài một ngày 2-3 lần.

c. Chọn gà sơ sinh

Gà con nở ra, chọn gà loại 1 là những con nhanh nhẹn, mắt sáng, lông bông, không nặng bụng, chân mọng, không hở rốn, khoèn chân, vẹo mỏ. Gà nở ra đưa xuống chuồng nuôi không chậm hơn 24 giờ vì gà để lâu trong máy không ăn uống được sẽ khô chân khó nuôi. ấp tốt, gà con loại 1 chiếm 95-97%.