Lactofol O Bungari, Phân Bón Lá Lactofol O Cho Hoa Lan

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Bón Lá Nano Thái
  • Giới Thiệu Về Công Nghệ Nano
  • Mua Phân Bón Lá Đầu Trâu 901 Npk 15
  • Phân Bón Đầu Trâu (Mk 901) Npk 15
  • Ý Mỹ Xô Organic Gold 22Kg
  • Lactofol O Bungari, Phân bón lá Lactofol O cho hoa lan

    Lactofol O tăng sức chống chịu các loại bệnh và các dạng thời tiết khắc nghiệt

    Thúc đẩy quá trình phát triển rễ, thân, lá để cho năng suất vượt trội.

    Sử dụng nhiều cách như tưới vào gốc, phun lên lá cây, ngâm hạt giống…

    Phân bón lá Lactofol O Bungari Thành Phần Chủ Yếu

    Thành phần:

    Nitơ …21%

    Nitrat…7%

    Amoni…4%

    Amide…10%

    Oxit Kali…10%

    Lân Peroxit…5%

    Ngoài ra còn có các chất dinh dưỡng, vi lượng, axitamin, vitamin, kháng sinh, các chất sinh học, chất bám dính…

    Khối lượng tịnh 100gram.

    Nhập khẩu và phân phối tại Công ty TNHH TH COM.

    Phân bón lá Lactofol O Bungari Công Dụng Chủ Yếu

    Tăng sức chống chịu sâu bệnh và các dạng thời tiết khắc nghiệt. Phát triển nhanh bộ rễ, sinh trưởng mạnh, thân củ to, lá dày, năng suất vượt trội.

     

    Kích thích ra rễ cho cây ăn trái, cây công nghiệp, vườn ươm cây cảnh, hoa lan…

    Tưới vào gốc để cây tăng cường phát triển bộ rễ, kích thích nảy rễ để nhánh cao.

    Phun lên trên và dưới bề mặt lá cây làm tác dụng lớn lá, chống rụng hoa…

    Thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi và tăng trưởng của cây trồng trong khi mới trồng hoặc bị ngập úng.

    Cách Dùng Phân bón lá Lactofol O Bungari

    Sử dụng cho việc phun lên trên mặt lá và trên chất trồng cây.

    Phun cho lúa, dung lần 1 cho giai đoạn đẻ nhánh, lần 2 giai đoạn làm đòng, lần 3giai đoạn trổ bong.

    Phun cho cà chua, lần 1trước khi ra hoa, lần 2 sau khi ra quả, lần 3 tiếp theo sau từ 10-15 ngày.

    Phun cho cà pháo, cà tím, lần 1lúc cây ra hoa, tiếp theo phun đều sau 10-15 ngày.

    Phun cho cải bắp, súp lơ, lần 1 khi cây bắt đầu tạo bắp, lần sau từ 10-15 ngày.

    Phun cho hoa hồng, hoa cúc, khi hình thành lá, lần sau hình thành bong.

    Phun cho hoa lan, phun đều tỉ lệ từ 7-15 ngày. Khi vào dịp thay đổi thời tiết thì nên pha tỉ lệ thuốc 3ml cho 1 lít nước. Dịp bình thường pha tỉ lệ 2ml cho 1 lít nước sạch.

    Pha tỉ lệ 2-3 cho 1lít nước sạch phun khi cây mới nảy mầm ra đọt, khi cây ra hoa, đậu trái. Gíup cây phát triển nảy mầm mới, chống rụng hoa…

    Chú ý: khi sử dụng cho các cây phun lên trên thân lá, sử dụng tưới vào gốc nên sử dụng lại sau 30 ngày để đảm bảo cây hấp thụ được tốt nhất. Có thể sử dụng cho tỉ lệ phân bón pha loãng hơn để cây đảm bảo phát triển đồng đều, tránh bị sốc.

    Phân bón lá Lactofol O Bungari Dùng Hiệu Qủa

    Phân bón lá, kích thích nảy mầm và ra rễ khi sử dụng đủ liều lượng sẽ thấy có sự phát triển đồng đều, tránh hiện trạng lạm dụng thuốc khiến cây ảnh hưởng.

    Đọc kĩ hướng dẫn trước khi sử dụng, trước khi dùng.

    Cẩn thận để xa tầm tay trẻ em, bảo quản thuốc nơi khô, mát, tránh ánh nắng trực tiếp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Bón Lá Npk Sinh Học K
  • Phân Bón Lá Ra Rễ Cực Mạnh, Hàng Chất Lượng Tốt.
  • Chế Phẩm Phân Bón Lá K
  • Phân Bón Lá Hỗn Hợp Npk
  • Phân Bón Lá – Mỹ Phẩm Làm Đẹp Cho Hoa Hồng
  • :: D O N A

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Sầu Riêng Ri
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Cam Vinh Cho Năng Suất Vượt Trội Kiếm Tiền Tỷ Mỗi Năm
  • Chăm Sóc Cây Nhãn Chín Muộn Sau Khi Thu Hoạch
  • Cây Giống Nhãn Hương Chi
  • Kỹ Thuật Trồng Nhãn Hương Chi
  • KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC GIỐNG CÂY SẦU RIÊNG DONA

    ĐẶC TÍNH CỦA GIỐNG SẦU RIÊNG DONA

    Sầu riêng DONA có hương vị phù hợp với đa số người tiêu dùng nên có thị trường rộng nhất hiện nay, chủ yếu được xuất khẩu. Tỉ lệ ăn được lớn (lớn hơn 30%) nên giá cũng cao nhất. Mặt khác, năng suất của giống này rất cao, trung bình từ 30 – 40 tấn/ha. Đó là những yếu tố đem lại hiệu quả kinh tế thuộc hàng bậc nhất hiện nay.

    Sầu riêng DONA thích hợp với khi hậu miền nam có 2 mùa mưa nắng rõ rệt.

    Sầu riêng DONA không kén đất nên có khả năng phát triển rộng rãi thành vùng sản xuất lớn để thuận lợi cho chế biến, vận chuyển. Yêu cầu tầng canh tác thoát nước tốt trong mùa mưa và có nguồn nước tưới trong mùa khô.

    PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH GIỐNG SẦU RIÊNG DONA

    2 yếu tố quyết định cây giống phát huy tối đa hiệu quả kinh tế, đó là nguồn gen và phương pháp nhân giống.

    Phương pháp ghép ngọn

    Nguồn gen: là cây tác giả được đánh giá qua nhiều năm và tuyển chọn nhân giống thành cây đầu dòng. Cây đầu dòng được đánh dấu, công nhận bởi cơ quan chức năng và được chăm sóc đặc biệt, không sử dụng các loại phân và thuốc kích thích tăng trưởng để tránh hiện tượng thoái hóa giống.

    Phương pháp ghép: cách ghép ngọn (ghép nêm) được nghiên cứu áp dụng để cây giống có sức sinh trưởng tốt nhất, cho quả sớm hơn, năng suất cao nhất và tuổi thọ dài nhất. Đây là phương pháp ưu việt hơn rất nhiều so với cách ghép cũ có gốc ghép già, tuổi thọ bị rút ngắn, sức sinh trưởng kém vì rễ bị khống chế trong một thời gian dài.

    Cây giống sau khi ghép xong sẽ được nhổ ra khỏi giá thể để loại bỏ các gốc ghép bị dị tật, mất rễ cọc, rễ cọc mọc thành chùm… Cây hoàn chỉnh được cấy vào bầu đất và dưỡng trong vườn ươm. Tỉ lệ cây đạt chuẩn sau khi sàng lọc còn lại khoảng 30%.

    Cây đạt chuẩn sẽ được xuất vườn đem trồng có các đặc điểm sau đây:

    – Cây có sức sống tốt, từ 3 cặp lá trở lên, lá dày cứng, xanh bóng. Chiều cao của cây không phải là yếu tố quan trọng.

    – Bộ rễ cây còn đang phát triển trong bầu, chưa bị quấn hoặc bó lại với nhau. Nếu bộ rễ bị quấn lại sẽ phải cắt bỏ phần rễ dư thừa, khi đó sẽ làm mất sức của cây khi trồng.

    TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY CON

    Cần phải tạo điều kiện đất trồng đầy đủ dinh dưỡng, tơi xốp để cây con thích nghi khi đặt cây xuống trồng.

    Vì vậy, khâu làm đất là rất quan trọng.

    1. Chuẩn bị hố trồng

    Đất càng mềm thì hố trồng có kích thước càng nhỏ. Tuy nhiên, trung bình hố trồng có kích thước 60cm x 60cm x 60cm để lót phân hữu cơ và tạo độ tơi xốp.

    Rải đều 0,1 – 0,2kg vôi trong hố trồng. Trộn đều hỗn hợp gồm: 5 – 10 kg phân hữu cơ hoặc phân chuồng ủ hoai mục + 0,2 kg phân lân + 10g Vibasu phòng ngừa mối. Cho tất cả xuống hố trồng rồi nén chặt. Cào đất xung quanh lấp lên tạo thành mô cao hơn mặt đất từ 10 – 20cm. Sau đó tưới đẫm nước cho hỗn hợp được phân hủy nhanh.

    Hố trồng cần được chuẩn bị trước khi trồng ít nhất là 15 ngày.

    2. Trồng cây

    a. Xử lý cây giống: Trong trường hợp chưa kịp trồng cây thì nên để cây tập trung và dùng lưới che nắng 50% cho cây. Tưới cây mỗi ngày để giữ ẩm và có thể phun thuốc Agri-fos 400 phối trộn với Mancozeb nồng độ 0,5% để phòng ngừa bệnh thối thân lá từ vết thương trong quá trình vận chuyển.

    b. Đào lỗ: sau ít nhất 15 ngày khi chuẩn bị hố trồng, cần đảm bảo rằng mô đất vẫn còn cao hơn so với mặt đất khoảng 10 cm. Đào một lỗ giữa mô đất có độ sâu 20 cm.

    c. Thao tác trồng: dùng dao cắt bỏ phần đáy của bầu đất. Dùng kéo cắt đứt phần rễ thừa quấn quanh đáy (nếu có) . Đặt cây xuống lỗ cho ngay ngắn rồi cắt 1 đường dọc túi nilon. Từ từ tháo túi ra sao cho đất trong bầu không bị vỡ.

    Dùng tay lấp và nén nhẹ đất đến 2/3 chiều cao của bầu thì rải đều 5 – 10g phân lân nung chảy hoặc Super lân xung quanh. Sau đó, lấp đất cho đầy lỗ rồi nén nhẹ sao cho đất vừa ngang mặt bầu. Làm bồn xung quanh để giữ nước tưới khi cần thiết.

    d. Đỡ cây: cắm 1 cọc thẳng dọc theo thân chính rồi cột dây giữ cho cây thẳng đứng.

    3. Chăm sóc cây con

    a. Tưới nước: Nên thiết kế hệ thống tưới phun, mỗi cây con có 1 béc tưới. Nếu thấy đất khô thì phải tưới nước giữ ẩm cho cây.

    b. Bón phân:

    +) Phân hữu cơ: Mỗi năm vào đầu mùa mưa, bón phân hữu cơ đã ủ hoai mục. Lượng bón khoảng 5 kg/gốc cho cây 1 năm tuổi. Sau một năm thì bón tăng lên 5 – 10 kg.

    +) Phân đa lượng: Sau khi trồng xong, bón 10g phân NPK 16-16-8-13S cho mỗi cây. Bón những lần tiếp theo khi cây chuẩn bị ra đọt non. Nếu đường kính tán cây tăng gấp 2 lần thì lượng bón cũng tăng gấp 2 lần.

    +) Phân trung vi lượng: cây hấp thụ chủ yếu ở dạng lỏng. Dưới rễ, dùng trung lượng KPMGC + vi lượng KP-COMBI tưới vào bộ rễ mỗi khi cây chuẩn bị ra đọt non. Trên lá, dùng trung lượng KP-BOOSTER + vi lượng KP-COMBI phun lên lá kèm với thuốc trừ sâu mỗi khi cây ra đọt non.

    c. Tỉa cành tạo tán: Chỉ để 1 thân chính phát triển. Khi cây đạt chiều cao 3 – 4 mét thì tiến hành tỉa bỏ các cành mọc sát đất để cây được thông thoáng. Có trường hợp cây phân bố cành không đều (thiếu 1 bên), khi cây cao được khoảng 1 mét thì bấm ngọn để cây nảy ra 1 thân khác thay thế, khi đó cành sẽ phân bố đều hơn.

    PHÒNG TRỪ SÂU RẦY

    Rày phấn

    Nhiện đỏ

    Ấu trùng bọ xòe

    1. Rầy phấn:

    Xuất hiện khi cây ra đọt non làm lá quăn cháy, khi lá già để lại nhiều đốm vàng dị dạng. Cần chủ động phun hoạt chất Imidacloprid hoặc Abamectin khi đọt non chuẩn bị nở.

    2. Nhện đỏ – rầy lửa:

    Xuất hiện trong mùa khô nóng gây bạc lá, rụng lá trưởng thành. Luân phiên phun các loại thuốc trừ nhện theo định kỳ mỗi tuần.

    3. Sâu đục thân, cành:

    xảy ra quanh năm. Cần thăm vườn thường xuyên, nếu thấy vỏ cây bị xì mủ có bã màu nâu đỏ thì nhanh chóng dùng dụng cụ đục bắt sâu bên trong. Định kỳ phun các loại thuốc diệt trứng vào vỏ cây để phòng ngừa.

    PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI

    Bệnh nguy hiểm nhất là xì mủ thân, vàng lá, thối cổ rễ, thối rễ, thối quả. Nên thăm vườn vào lúc sáng sớm, trên thân, cành có những vết nhựa chảy ra làm ướt đốm nâu đen hoặc vỏ cây bị nứt, chảy mủ. Dùng thuốc AGRIFOS 400 (phosphonate) đặc trị nấm Phytophthora trên sầu riêng để phòng trị:

    Héo rũ – Thối rễ

    Xì mủ thân

    Thối quả

    1. Phòng bệnh:

    Phun ướt đều vào lá, quả (nồng độ 0,5%) định kỳ mỗi tháng. Bổ sung định kỳ 60-75 ngày, dùng 1 trong 2 phương pháp sau:

    a. Tưới vào cổ rễ: nồng độ 1% (2 lít/200 lít), tưới 1-20 lít dung dịch/cây tùy theo độ rộng của tán cây. Nếu cổ rễ nằm sâu trong đất thì dùng tia nước xoi đất xung quanh gốc hoặc dùng cần sục chuyên dụng để đưa thuốc vào.

    b. Tiêm thân: áp dụng với cây có đường kính thân từ 15 cm trở lên:

    Bước 1: Pha thuốc với nước sạch theo tỉ lệ 1 thuốc : 1 nước. Mỗi cm đường kính thân tiêm 2 ml dung dịch thuốc đã pha.

    Bước 2 – Chọn vị trí tiêm thuốc: là vùng vỏ trên thân cây có ít cành nhánh ở bên trên theo chiều thẳng đứng.

    Bước 3 – Khoan lỗ tiêm thuốc: dùng mũi khoan số 6,5 mm. Lỗ khoan có hướng xiên 45o vào dát (tránh chạm vào lõi cây), chếch lên khoảng 5o, sâu từ 3 – 4 cm.

    Bước 4 – Khoan lỗ tiêm thuốc: gắn ống tiêm chuyên dụng gắn thật khít với lỗ khoan và kéo dây nén thuốc vào.

    Lưu ý: không khoan vào vùng có vết bệnh, nơi có cành hoặc lỗ tiêm cũ.

    Giữ đất ẩm trong suốt giai đoạn xử lý thuốc.

    2. Trị bệnh trên thân cây:

    Phun ướt đều tán lá (nồng độ 0,5%). Kết hợp với tưới vào cổ rễ (nồng độ 1%) hoặc tiêm thân 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 15 ngày.

    3. Trị bệnh thối quả:

    Phun kỹ vào quả, cuống quả (nồng độ 1%). Phun 2 lần liên tiếp cách nhau 3 – 5 ngày.

    Khi đã phòng trị bệnh như quy trình thì cũng phòng và trị được các loại bệnh khác như nấm hồng, thán thư, tảo xanh, tảo đỏ (rỉ sắt)…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Giống Cây Sầu Riêng Phần 1
  • Nhà Vườn Chia Sẻ ‘bí Kíp’ Chăm Sóc Mai Sau Tết
  • Cây Xương Rồng Tai Thỏ
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Xà Cừ
  • Cách Xác Định Lương Nhân Công Dịch Vụ Công Ích Đô Thị: Duy Trì Cây Xanh Đô Thị Theo Thông Tư Số 01/2015/tt
  • Giam Ngheo Thong Tin Ninh Binh

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Trồng Cây Trà Hoa Vàng
  • Kỹ Thuật Trồng Rừng Thâm Canh Cây Keo
  • Cây Lan Bạch Chỉ Cây Hoa Đẹp Có Tác Dụng Làm Sạch Không Khí
  • Cây Cỏ Bạch Chỉ Trồng Diềm
  • Cây Cỏ Lan Chi
  • MENU

    THỜI TIẾT NINH BÌNH

    Nhiệt độ trung bình: 31°C

    Cao nhất: 32°C

    Thấp nhất: 26°C

    Độ ẩm: 70 %

    THỐNG KÊ TRUY CẬP

    Số người truy cập:

    839133

    Số người trực tuyến:

    1

    KHUYẾN LÂM

    Kỹ thuật trồng cây Cẩm lai Bà Rịa

     

    Mô tả:

     Cây gỗ to, có tán hình ô, thường xanh, cao đến 20-25cm, chiều cao dưới cành 5-10m, đường kính thân 0,5 – 0,6m.Vỏ màu xám, điểm đốm trắng hay vàng, không nứt nẻ; thịt vỏ có mùi sắn dây, lá kép lông chim một lần, dài 15-18cm; có 11-13 lá chét, hinh mac thuôn, tù ở 2 đầu, nhẵn. dài 3-5cm;  rộng 1,5-2,5cm. Cụm hoa chùy ở nách lá và đầu cành, không lông. Hoa nhỏ, màu lam nhạt, quả đậu dẹt, dài 12cm hay hơn, rộng 2,5cm, hơi thắt eo ở chỗ có hạt. Hạt 1, ít khi2 , hình thận, dẹt, dài 9mm, rộng 6mm, màu đen nhạt

                   Đậc điểm sinh vật học: Mùa hoa tháng 12 – 1, mùa quả chín tháng 2 – 4. Cây sinh trưởng rất chậm đến trung bình. Tái sinh rải rác do hạt, khó nảy mầm.

         Đặc điểm sinh thái: Mọc rải rác hoặc thành từng đám 5 – 10 cây trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh hay rừng nửa rụng lá mưa mùa với các loài cây như Bằng lăng (Lagerstroenia sp.) chiếm ưu thế. Ở độ cao dưới 800m – 900m. Thương mọc chỗ ẩm, ven sông, suối đất bằng hoặc có độ đốc nhỏ, cùng với Sao đen (Hopea odorata),Vên vên (Anisoptera cochinchinensis), Chiêu liêu (Teraminalia sp), Dầu đồng (Dipterccapus tuberculatus),…Cây ưa đất feralit nâu đỏ hay nâu vàng phát triển trên đá bazan và feralit xám trên cát kết hay phù sa cổ có tầng dày, thoát nước.

          Phân bố: Loài đặc hữu của Đông Dương. Việt Nam : Gặp ở nhiều tỉnh thành phía Nam như : Kon Tum (Sa Thầy), Gia Lai, Đắk Lắk (Ea Súp, Lắk), Dawsk Nông (Gia Nghĩa, Đắk Mil), Khánh Hòa (Ninh Hòa), Lâm Đồng (Bảo Lộc),Ninh Thuận (Ninh Sơn), Bà Rịa – Vũng Tàu (Xuyên Mộc), Đông Nai (Thống Nhất; Trảng Bom; Tân Phú; Vĩnh An; Vĩnh Cửu), Sông Bé (Phước Long, Đức Phong), Tây Ninh (Tân Biên).

         Thế giới: Lào, Campuchia

          Giá trị: Gỗ rất quý, cứng, thớ mịn, khá giòn, dễ gia công, mặt cắt nhẵn, dễ đánh bóng, ăn venci, được dùng để đóng đồ đạc cao cấp như giường, tủ, bàn ghế, đồ làm mĩ nghệ, trang trí và đồ tiện khảm.

          Tình trạng: Cây gỗ quý, ngoại hạng, nên Cẩm lai bà rịa đang bị khai thác kiệt và môi trường sống cũng bị thu hẹp nhanh chóng. Ngày nay, ngay ở các vùng trước đây có nhiều như Đồng Nai, Đắk Lắk… Cũng khó tìm được cây có đường kính trên 30cm. Mức độ đe dọa: Bậc V. Đề nghị biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt tại các vườn quốc gia ở Cát Tiên (Đồng Nai), Chư Đôn (Ea Súp – Đắk Lắk), Mom Rây (Sa Thầy – Kon Tum) và gây trồng.

         Kỹ thuật nhân giống

        *Nguồn hạt giống: Cẩm lai có thể được thu hái từ các cây phân tán ở rừng tự nhiên. Việc đầu tiên trong kỹ thuật thu hái hạt giống là phải chọn cây giống phù hợp, đảm bảo các chỉ tiêu: là cây sinh trưởng phát triển tốt, cây có nguồn hạt phong phú, cây có phẩm chất tốt, tuổi cây mẹ từ 10 tuổi trở lên và đã ra quả ít nhất là 3 vụ.

         – Nhận biết quả chín: Loài Cẩm lai ra hoa vào đầu tháng 12 đến cuối tháng 1, chín vào khoảng tháng 3 đến tháng 4 dương lịch. Khi chín quả chuyển từ màu xanh sẫm sang màu nâu hay đen. Vì vậy cần theo dõi để thu hái kịp thời và đúng lúc để dảm bảo chất lượng hạt giống được tốt hơn.

         – Thu hái hạt giống: Việc hái quả giống cần đảm bảo những yêu cầu:

        + Cần phải thu hái hết những quả giống tốt ở những cây mẹ đủ tiêu chuẩn để đảm bảo số lượng hạt.

        + Khi thu hái không được làm tổn thương cây mẹ

        +Việc thu hái có thể thu hái ở trên cây, cũng có thể thu hái bằng cách quét dọn dưới tán cây thật sạch để thu nhặt quả rơi rụng, nhưng chủ yếu thu hái quả trên cây. Do số lượng cây giống còn hạn chế nên có thể thu hái nhiều lần để tận dụng tối đa nguồn hạt giống.

        *Sơ chế hạt giống: Quả sau khi thu hái xong, tiến hành phơi trong bóng đến khô, loại bỏ cành khô, tạp vật sau đó tiến hành bảo quản.

        *Bảo quản hạt giống: là nhằm mục đích duy trì khả năng nảy mầm của hạt càng lâu càng tốt. Trong điều kiện chúng ta chưa thể cung cấp được hạt giống mới thu hái, hoặc nơi thu hái cách xa nơi trồng rừng, hoặc đã có hạt giống nhưng phải chờ đến thời vụ thích hợp mới gieo ươm. Bảo quản hạt giống nhằm biết được thời gian hạt có thể nảy mầm kể từ ngày thu hái quả giống. Riêng đối với hạt Cẩm lai nếu sau khi thu hái không xử lí ngay rất dễ dẫn đến mất sức nảy mầm, hỏng hạt. Việc bảo quản cần tiến hành khẩn trương tránh trường hợp để hạt bị nấm mốc xâm nhập. Quả/ hạt khi đã phơi đủ khô tiến hành cất trữ kín. Có thể dùng chum, lọ có nắp kín, đáy rải một lớp tro nguội, sau đó dùng bông không thấm nước lót một lớp dày khoảng 3-5 cm, dùng báo hút ẩm trải ở lớp trên, cho quả vào, ở trên mặt cũng bố trí tương tự rồi đậy kín nắp.

        *Phương pháp xử lí hạt giống: Đối với hạt Cẩm laido cấu tạo vỏ hạt mỏng dễ thấm nước chọn phương pháp xử lí hạt bằng nước ấm. Phương pháp xử lý hạt bằng nước ấm (2 sôi: 3 nguội) là phương pháp cơ bản và dễ tiến hành nhất. Ủ hạt trong túi vải, giữ ẩm thường xuyên. Sau khi nứt nanh, chuyển vào túi bầu hoặc gieo lên luống.

        *Tạo luống cát để gieo hạt: Tạo luống rộng 80-120cm, nền cao khoảng 10 – 15cm, dài tùy kích thước vườn. Tạo gờ cao 10 – 15cm, sau đó dùng cát sạch đã khử trùng vào bên trong luống, tạo mặt bằng cho luống. Trước khi gieo hạt cần tưới nước cho ướt đẫm cát trong luống trước khoảng 30 phút. Sau đó tạo từng rãnh nhỏ sâu khoảng 2cm, rộng 1,5cm, khoảng cách giữa các rãnh là khoảng 3cm. Rồi tiến hành gieo hạt đã xử lí xuống rãnh, xong phủ kín bằng hạt cát.

        Sau khi gieo hạt lên luống cát thì ta dùng các loại thuốc diệt côn trùng chống kiến, mối… để phun lên luống, rồi che bóng và giữ ẩm cho luống. Khi hạt nảy mầm lên khỏi mặt đất và có 1 – 2 lá kép thì bứng để cấy vào bầu, không nên để muộn hơn vì rễ mầm ra dài khi cấy đễ bị tổn thương, làm chột cây ươm.

        Hạt giống sau khi xử lý, đem ủ, hàng ngày mang ra rửa chua và chọn những hạt đã nảy mầm đem gieo trực tiếp vào bầu hoặc gieo trên luống. Việc làm này sẽ tránh tổn thương so với việc gieo trên cát nên tỉ lệ sống cũng cao hơn.

        Kỹ thuật trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng rừng

       * Kỹ thuật trồng:

       + Phương thức trồng: Cẩm lai có đặc tính chịu bóng nhẹ trong thời kì đầu nên hạn chế đưa Cẩm lai ra trồng thuần loài ngoài đồi trọc. Phương thức trồng tốt nhất là hỗn giao theo hàng hay theo băng hẹp. Nông lâm kết hợp cũng là một lựa chọn tốt đối với trồng rừng Cẩm lai. Trồng phân tán nhằm tận dụng đất đai ven đường, cổng nhà, góc vườn, bờ ao, cũng rất thích hợp với cây Cẩm lai và hiệu quả cũng thường rất cao.

        + Xử lý thực bì: Theo băng, áp dụng đối với trồng Cẩm lai ở rừng hay các khu vực có thảm thực bì nhiều. Trong băng trồng tiến hành phát sát gốc, để một thời gian cho khô rồi đốt hay dọn sạch để thuận tiện cho việc đào hố và chăm sóc rừng sau này.

        + Mật độ trồng: Trong điều kiện hiện nay nguồn giống khá khan hiếm và đắt, nên trồng xen dưới tán với mật độ thấp. Trên cơ sở sự phân hóa về hình thái tỉa thưa cây để tạo ra các cá thể phẩm chất tốt để giữ lại.

        + Kích cỡ hố: Kích cỡ hố trồng cây phụ thuộc vào kích cỡ bầu, và kích cỡ bầu lại phụ thuộc quy cách cây mang đi trồng, cây càng lớn thì bầu càng to. Cây có chiều cao từ 20cm đến 50cm thì dùng bầu có kích thước 15 x 8 cm. Cây có kích thước vượt quá kích thước trên thì người ta tiến hành đảo bầu. Thông thường trồng cây có kích thước 20-30cm. Khi đó kích thước hố được đào là 30x30x30cm. Khi trồng cây có chiều cao khoảng 50cm trở lên thì kích thước hố khoảng 50x50x50 cm.

        + Bón lót: Phân bón trong kỹ thuật trồng cây là một phần quan trọng, phân bón cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây, bổ sung một lượng khoáng chất mà môi trường cung cấp không đủ, với mục đích để cho cây phát triển tốt hơn bình thường. Trong kĩ thuật bón phân thì không nên bón nhiều quá vì có thể gây lãng phí hay gây chết cây,  nhất là đối với phân hóa học. Có thể sử dụng các loại phân sau: phân chuồng, phân vi sinh, phân hóa học. Thông thường mỗi hố bón khoảng 1 kg phân chuồng, 0,1-0,2 kg phân NPK. Cũng có thể dùng duy nhất một loại phân vi sinh, phân chuồng hay vi sinh. Ở những nơi đất chua nên kết hợp bón thêm vôi khoảng 0,1-0,3kg/ hố.

        + Quy cách cây trồng: Cây mang đi trồng phải đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật nhất định. Đối với cây trồng thành rừng thì cây phải cao tối thiểu 30cm, đường kính cổ rễ từ 3mm trở lên, do cây trồng ở rừng thì thảm thực bì dày, nhanh phát triển lại thêm điều kiện vệ sinh rừng thường xuyên không có. Nhưng nếu cây trồng ở vườn nhà, điều kiện chăm sóc tốt thì cây cao khoảng 20cm là có thể trồng được.

        + Thời vụ trồng: Trong trường hợp nắng nóng thì khi mới trồng và sau khi trồng khoảng 1 tuần thì phải tưới nước. Đối với trồng thành rừng đại trà, trồng trên đồi cao thì thời gian trồng tốt nhất là vào đầu mùa mưa.

        * Kỹ thuật chăm sóc:

         Cây sau khi trồng nếu trời nắng liên tiếp dài ngày thì nên tưới nước cho cây. Trong 2 năm đầu ta phải phát dọn thực bì, cỏ dại. Khoảng 3 lần/năm.Kết hợp với việc này là bón phân nếu có thể.

         Bón phân cho cây sau khi trồng có thể dùng các loại phân khác nhau, nhưng cần bón phân đủ cho cây. Trong thực tế, người dân thường đào xung quanh gốc cây theo hình chiếu vuông góc của tán cây để bón phân xuống, hoặc theo cách nhanh hơn là người ta dùng xà beng chọc các lỗ xung quanh gốc cây để bón phân, xong lấp đất lại.

        *Kỹ thuật nuôi dưỡng rừng:

        Sau khi rừng đã khép tán, nếu muốn cây phát triển thêm chiều cao dưới cành với hình thân thẳng thì vẫn tiếp tục dựng cọc làm điểm tựa cho thân cây đến chiều cao mong muốn (khoảng 4 – 6m) và tiả cành tạo tán cho cây.

        Hiện nay, người dân địa phương ở một số tỉnh đang tiến hành trồng Tiêu và sử dụng trụ sống là cây Cẩm lai đã cho thấy một số hiệu quả rõ rệt so với các mô hình sử dụng trụ Tiêu cao và khả năng sinh trưởng của cây Cẩm lai rất tốt.

    Nguồn: XBN Nông nghiệp

                         

     CÁC TIN KHÁC

    Người dân vùng biên Quan San giảm nghèo nhờ trồng cây luồng

    Hướng đi đúng của HTX sản xuất và tiêu thụ dược liệu Yên Sơn

    Kỹ thuật trồng khoai tây năng suất

    Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây xà cừ

    Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cẩm lai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trồng Và Chăm Sóc Cây Cẩm Lai
  • Cây Bưởi Đỏ Luận Văn – Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Bưởi Đỏ Luận Văn
  • Cây Giống Bưởi Đỏ Tân Lạc
  • Kỹ Thuật Trồng Giống Bưởi Đỏ Hoà Bình
  • Dịch Vụ Chăm Sóc Sân Vườn Tại Bình Thạnh Chi Phí Cực Thấp, Uy Tín Cao.
  • Cách Trồng Hoa Cẩm Chướng Lùn By Diu Duong

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ 3 Gói Hạt Giống Hoa Cẩm Chướng Lùn Nhiều Màu
  • Bất Ngờ Với Cách Trồng Hoa Hướng Dương Đỏ Cực Đơn Giản Và Hiệu Quả Tại Nhà
  • Kỹ Thuật Trồng Hoa Loa Kèn Chịu Nhiệt
  • Cách Trồng Hoa Nhài Tại Nhà Bằng Phương Pháp Giâm Cành
  • Cách Giâm Cành Hoa Nhài Hiệu Quả, Cho Cây Khỏe Mạnh
  • by Diu Duong Web Designer

    Không giống như các loại cẩm chướng khác, cẩm chướng lùn thường được nhiều người trồng trong chậu để trang trí ở ban công, hoặc tại phòng khách trong ngôi nhà của mình. Vậy, cách trồng hoa cẩm chướng lùn như thế nào?

    Khi trồng hoa cẩm chướng lùn bạn có thể trồng bằng cách chọn cây giống hoặc gieo hạt giống hoa. Tuy nhiên, cách phổ biến nhất chính là sử dụng hạt giống. Khi trồng, cần chú ý những điều kiện sau đây

    Điều kiện môi trường

    Nhiệt độ thích hợp nhất để trồng ho cẩm chướng là từ 18 đến 20 độ C. Loài hoa này ưa các loại đất nhiều mùn, tơi, xốp và nhiều chất dinh dưỡng với độ PH từ 6 đến 7.

    Độ ẩm tốt nhất là từ 60 đén 70%, nếu trồng vào mùa hè thì nên để ở rơi râm mát, tránh quá nhiều ánh nắng trực tiếp.

    Kỹ thuật trồng

    Cẩm chướng lùn bạn có thể trồng bằng cách giâm chồi hoặc gieo hạt. Nếu trồng bằng cách giâm chồi thì nên chọn những cây khoẻ mạnh, không có sâu bệnh. Nếu trồng bằng hạt giống thì chọn những hạt giống mẩy, đồng đều, cho tỉ lệ nảy mầm cao.

    Đất trồng hoa cẩm chướng lùn phải được làm mịn và lên luống đàng hoàng. Thường mỗi luống sẽ rộng khoảng 80cm, mặt luống cao 60cm và đất phải được khử sạch mầm bệnh bằng Foocmalin 40% pha với 3 đến 5 lít nước để phun cho đất, tiếp đến đậy nilon ủ từ 7 đến 10 ngày.

    Phân bón: 10kg phân chuồng mục, 1kg Tecmo phốt phát, 1kg vôi bột, 0,5kg kali sunphát, trộn đều rải trên đất, xới nhẹ để trộn. Có thể rạch hàng nông hay gieo trên mặt luống, nếu rạch hàng cách nhau 5 -1 0cm, hạt trước khi gieo trộn với tro hay cát rắc cho đều. Hạt rắc xong phủ 1 lớp đất bột mỏng, phủ một lớp rơm rạ mỏng, sau khi gieo 4 – 6 ngày, hạt sẽ mọc, tưới nhẹ đủ ẩm 2 lần trong 1 ngày.

    Khi cẩm chướng lùn có chiều cao từ 2 đến 3cm thì tiến hành nhổ tỉa để trồng thưa trên các luống vườn ươm với khoảng cách là 5x5cm, khi cây đã cao được từ 10 đến 12m thì đánh ra trồng ở những nơi cố định.

    Thời vụ để cẩm chướng lùn phát triển tốt nhất là vào vụ đông xuân. Nếu muốn hoa nở vào đúng dịp tết thì nên trồng từ tháng 8 hoặc tháng 9 như các loại hoa khác.

    Nếu sử dụng cây non ở vườn ươm thì phải đợi từ 20 đến 17 ngày mới được đưa ra trồng ở luống. Mật độ trồng thích hợp là từ 25 đến 30cm.

    Ngoài cẩm chướng lùn, cách này bạn có thể áp dụng khi gieo hạt giống hoa cẩm chướng chùm.

    Sponsor Ads

    About Diu Duong Web Designer

    271 connections, 1 recommendations, 991 honor points.

    Joined APSense since, April 1st, 2014, From hanoi, Vietnam.

    Created on Oct 28th 2022 23:04. Viewed 192 times.

    Comments

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bán Giống Hoa Cẩm Chướng Đơn Nhiều Màu, Giá Rẻ, Uy Tín
  • Hướng Dẫn Trồng Hoa Cẩm Chướng Đơn Giản Tại Nhà Cây Nhanh Ra Hoa
  • Bí Quyết Trồng Hoa Giấy
  • Hướng Dẫn Cách Trồng Rau Trong Chậu Ngoài Ban Công ⋆ Trang Trí Ban Công Nam Phong
  • Cách Trồng Một Số Loại Địa Lan Có Củ
  • Sop): K2O = 52%; S = 18%

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Bón Kali Silic 61%
  • Công Ty Cp Vbm Việt Nam, Đơn Vị Phân Phối
  • ( Kali Sữa ) Phân Bón Npk Bổ Sung Vi Lượng
  • Phân Bón Lá Hữu Cơ Khoáng Hi
  • Phân Bón Lá Kali Nitrate
  • 1. Giới thiệu về sản phẩm Kali Sunphat (K2SO4 – SOP)

    - Tên khác: Kali Sulfat, Sulfate of Potash (SOP), Potassium Sulphate

    – Hàm lượng dinh dưỡng: K2O = 52%; S = 18%; Độ tinh khiết cao: Không chứa clo, natri và kim loại nặng.

    – Ngoại quan: Bột tinh thể màu trắng

    – Độ tan: Bột tinh thể mịn hòa tan nhanh trong nước mà không có bất kỳ dư lượng.

    – Phù hợp để áp dụng cho tất các các hệ thống tưới: tưới nhỏ giọt, hệ thống vòi phun sương, phun lên lá.

    Kali tồn tại trong khoáng vật ở dạng ion dương K+. Kali sunfat – K2SO4 ít tồn tại ở dạng nguyên chất trong tự nhiên, thay vào đó, nó thường hỗn hợp với các muối chứa Mg, Na và Cl. Các khoáng vật này cần chu trình để tách được thành phần K2SO4. Trong lịch sử, kali sulphat được tạo ra từ phản ứng KCl với axit sulfuric hoặc phản ứng tổng hợp phân hủy KCl với Natri sunphat. Tuy nhiên, sau đó người ta tìm thấy rất nhiều khoáng vật có thể khai thác để sản xuất K2SO4.  Khoáng vật chứa K như Kainite hoặc Schoenite được khai thác và được sục rửa cần thẩn bằng nước và dung dịch muối để loại bỏ phụ phẩm và sản xuất K2SO4. Ở New Mexico (Mỹ), K2SO4 được tách từ quặng langbeinite nhờ phản ứng với KCl.

    2. Tác dụng của Kali Sunphat (K2SO4 – SOP) đối với cây trồng

    – Kali Sunphat (K2SO4) là loại là loại phân bón cao cấp vừa chứa hàm lượng Kali (K2O = 52%) vừa giúp cung cấp lưu huỳnh (S = 18%) cho cây trồng, rất phù hợp với cây có nhu cầu lưu huỳnh cao hoặc cây kỵ gốc Clo như: Sầu riêng, cà phê, mía, ngô, đậu phộng, các loại rau màu…

    – Kali Sunphat (K2SO4​) giúp cây ra hoa sớm, chín sớm, làm cho trái cây ngon ngọt hơn, màu sắc đẹp hơn và tăng năng suất.

    – Kali Sunphat (K2SO4​) giúp chống đổ ngã, giảm tỉ lệ lép, làm vàng, sáng và hắc hạt lúa.

    – Kali Sunphat (K2SO4​) làm lớn củ, rau màu xanh tươi lâu hơn, bảo quản tốt trong vận chuyển.

    Quy cách đóng gói và lượng bán tối thiểu

    – Quy cách đóng gói chuẩn của Kali Sunphat (K2SO4​): bao dứa 25kg

    Liên hệ Hotline: 0362.180036 để có giá bán sỉ tốt nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Bón Kali – Kcl – Kali Clorua, Potassium Cloride
  • Phân Kali Clorua Là Gì Và Tác Dụng Của Phân Kali Clorua Mop? Cách Sử Dụng?
  • Phân Biệt Muối Diêm (Kcl) Và Kali Trắng (K2So4, Kno3)
  • Kali Nitrat, Potassium Nitrate, Kno3, Phân Bón Kali Nitơ 13
  • Phân Bón Lá, Rễ Cao Cấp Mkp 0
  • Borax.5H2O – B2O3: 48.6% – Phân Vi Lượng Bo Nhập Khẩu Từ Mỹ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Thực Hành Sử Dụng Phân Vi Lượng Bo (Borax, Boric)
  • Thị Trường Phân Bón Quốc Tế Tuần Từ 07/04
  • Phân Tan Chậm Hạt Bàng Nhật Bản Dùng Cho Các Loại Hoa, Bonsai
  • Tại Sạo Cây Trồng Hay Bị Vàng Lá Do Nghẹt Rễ ?
  • Cách Xử Lý Hiện Tượng Cây Có Múi Bị Vàng Lá, Thối Rễ
  • Thông tin sản phẩm

    Borax.5H2O – B2O3: 48.6%

    Phân vi lượng Bo nhập khẩu từ Mỹ

    Phân vi lượng Bo rất quan trọng trong cây trồng . Phân vi lượng Bo làm cây trồng có khả năng chống rụng trái…

    – Qui cách: 25kg/bao

    – Xuất xứ: Mỹ

    – Ứng dụng : Ngành sản xuất phân bón, sử dụng phun lá, tưới gốc cho cây ăn trái, giúp tăng tỷ lệ ra hoa, đậu trái.

    Contact: Greenfarm JSC.

    – Office: 97 Le Quoc Hung St, 12 Ward, 4 Dist. HCMC 

    – Tel: 0903.865035

    – Email: [email protected] – www.greenfarmjsc.com

    Thông tin tham khảo 

    Borax là muối borat natri, Borax.5H2O – B2O3: 48.6%, dạng bột mầu trắng, ko mùi, vị ngọt và tương đối cay, hòa tan trong nước.

    Borax sử dụng rất rộng rãi trong công nghiệp, nông nghiệp, dược phẩm, thực phẩm, nghiên cứu công nghệ, cũng như cuộc sống hàng ngày.

    Lĩnh vực công nghiệp:

    Borax được sử dụng trong công nghệ luyện kim, chế tác vàng bạc. Bột borax được dùng đánh bóng bề mặt kim khí, men sứ, kính chống nấm, một số vật liệu chịu nhiệt, xà phòng giặt cùng các loại chất tẩy rửa.

    Borax dùng trong luyện kim: Borax nóng chảy làm sạch bề mặt của kim loại nóng bằng bí quyết hoà tan nhiều oxide kim khí.

    Borax luyện thủy tinh chịu sức nóng, với cho vào đồ sành sứ trước khi nặn thành hình.

    Borax xử lý gỗ: Borax quét vào mặt ngoài gỗ, ngăn dự phòng sâu khoét đục mòn gỗ.

    Lĩnh vực nông nghiệp:

    Yếu tố vi lượng Bo trong Borax thúc đẩy quá trình phát triển của cây trồng, nhất là quá trình ra hoa, kết quả, đâm chồi, cùng tiến triểu ra rễ của cây. Borax còn được dùng để diệt công trùng: chất lỏng này với chứa 5.5% borax dùng để xịt kiến đen, kiến khoang. Có thể rắc bột Borax ở nhưng nơi muốn ngăn ngừa và diệt kiến và các loại côn trùng khác. Ở nhiều phòng thí nghiệm, borat natri với dùng làm chất đệm phân tách gen (ADN), phân tích dung nhan phổ, hoặc tạo dung dịch nhũ tương nhằm hòa tan những chất hóa học khác trong nước.

    Lĩnh vực y tế: Borax dùng trong 1 số dung dịch diệt khuẩn ngoài da hoặc ở niêm mạc, thuốc tẩy uế, cùng hóa chất diệt sâu bọ (kiến, bọ chét, gián).

    Trong thực phẩm: Borax, một dạng hàn the được sử dụng với lượng ít, cho phép, làm dẻo dai sợi bánh phở, sợi bún, sợi mì , giò lụa,…. Tuy nhiên, sự hiểu biết và việc bỏ ít hay nhiều Hàn the vào thực phẩm hoàn tất cả tùy ở người làm thực phẩm, bởi thế cần thận trọng khi sử dụng các thức ăn có Hàn the.

    Khuyên bạn không sử dụng borax han the trong chế biến thực phẩm, Hãy mua hóa chất borax hàn the đúng cách trong các lĩnh vực khác, an toàn cho người sử dụng.

    Cây trồng hút vi lượng Bo chủ yếu ở dạng ion B4O2-7, HBO32- và BO3-3. Vi lượng Bo trong cây không nhiều lắm, chỉ tính loại 1/van trong chất khô.

    * Vi lượng Bo ảnh hưởng đến quá trình sinh lý sinh hóa sau đây:

    Do ảnh hưởng đến sự hình thành nhiều nhóm chất: đường bột, protit, chất béo, sắc tố, vitamin và auxin.

    * Các trường hợp cây và đất có thể xảy ra hiện tượng thiếu vi lượng bo:

    Người ta cho rằng vi lượng bo đóng vai trò xúc tác trong các phản ứng tổng hợp các nguyên tố tạo ra vách tế bào do đó bệnh thiếu vi lượng bo thường xuất hiện ở cây củ. Các mô bên trong củ bị thối tạo thành các vùng đen hay nâu. Đó là bệnh rỗng ruột và đến ruột thường bắt gặp ở củ cải, cà rốt. Một số loại rau cũng rất nhạy cảm với sự thiếu vi lượng bo. Cây Sulơ hay bị nâu là do thiếu vi lượng bo. Sự khô ruột quả táo, thối củ khoai tây nhiều trường hợp cũng là do sựu biểu hiện của thiếu vi lượng bo. Hiện tượng thiếu bo còn nhận xét thấy ở một số cây ăn quả có chiều dài không đều, quả ăn sần sùi và có nhựa chảy ra ở cuống. Bo còn ảnh hưởng đến cây họ đậu làm tăng sự cố định N, tăng sự hút nước cho cây họ đậu. Các kết quả nghiên cứu ở Nga còn cho thấy rằng thiếu bo còn giảm lượng RNA ở đỉnh cây và đỉnh rễ, cây họ đậu, giảm DNA ở cây hướng dương. Sự ảnh hưởng này còn làm rối loạn trao đổi chất của cây.

    Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng bón quá nhiều vi lượng bo cũng gây ngộ độc cho cây. Liều lượng thích hợp cho cây này sẽ không thích hợp với cây khác. Liều lượng thích hợp cho cây chẻ ba có thể gây ngộ độc cho các cây họ đậu khác.

    Nguồn vi lượng Bo cung cấp cho đất thường là từ phân chuồng và nước mưa. Khoảng 20 g/ha một năm. Số lượng mất đi hàng năm rất lớn: 100-200 g/ha/năm do rửa trôi, 50-300 g/ha do sản phẩm thu hoạch (theo Gros ở Pháp). Các nước nhiệt đới số lượng mất đi còn nhiều hơn.

    Hàm lượng bo trong đất khá cao: 0,5-10 mg/1kg chất khô, trong đó số lượng bo dễ tiêu chiếm 1-10% bo tổng số. Lượng bo dễ tiêu thường thay đổi theo pH. Vì vậy chỉ xảy ra thiểu bo trong 2 trường hợp sau:

    – Đất kiếm hoặc đất chua bón quá nhiều phân.

    – Đất trồng trọt lâu ngày bị rửa trôi và thoái hóa.

    – Những cây có yêu cầu về bo rất cao có thể liệt kế như sau: thuốc phiện, củ cải trắng, xà lách, củ cải tím, su lơ, bắp cải, đổ tương, lượng bo trong chất khô cao hơn 35 mg/100g chất khô.

    – Các cây có lượng bo trung bình carốt, khoai tây, thuốc lá, đậu trắng Hà Lan, cà chua, cần tây.

    – Cây họ hòa thảo, lúa, ngô cần bo cấp thấp nhất

    Bón cầng nhiêu đạm và kali nhu cầu vi lượng bo tăng, nhưng bón lân nhu cầu bo giảm. Tuy nhiên người ta lại nhận thấy bón vi lượng bo làm tăng hiệu quả phân lân nên trong thương trường thường hay có loại phân lân có chứa bo. Cách làm này có hai mặt lợi: tăng hiệu quả phân lân và tăng khả năng sử dụng bo của cây.

    * Các nguyên liệu để sản xuất phân có bo

    Các loại phân có chứa bo thường được sản xuất từ axit boric, H3BO3 ở dạng bột có chứa 17.5% bo và các muối natri borat như: decahidrat natri tetrabonat (Na2B4O7.10H2O) ở dạng bột có chứa 11,3%B, pentahydrat natritetrabonat (Na2B4O7.5H2O) ở dạng bột và viên có chứa 14,9% B, natri tetraborat (Na2B4O7) ở dạng bột và viên có chứa 20,5 B, bột datôlitôbo (2CaO.B2O3.SiO2.H2O) có chứa 1,2-2% axit boric tan trong nước. Colemanhit (Ca2B6O11.5H2O) là dạng hợp chất không tan trong nước chỉ tan trong axit xitric ở dạng bột viên có chứa 14%B, ulexit (N.CaB5O9.8H2O) cũng là dạng hợp chất không tan trong nước chỉ tan trong axit xitric có chưa 9-10% B ở dạng bột viên. B thủy tinh (Frit) có chứa 2-10% B tan trong axit xitric.

    Từ các hợp chất này người ta điều chế các loại phân đá lượng có chứa bo. Người ta có thể trộn với phân lân, kali hoặc phân đạm Nitrat thành các loại phân đạm Nitrat có chứa bo, phân đạm lân có chứa bo và phân lân – kali có chứa bo, phân đạm kali có chứa bo. Người ta còn trộn magiê với bo tạo thành bo magiê.

    Tỉ lệ bo trong thành phần phân phức hợp thay đổi tùy theo nhu cầu của cây và vùng đất sử dụng thường được ghi ró trong các bao bì bán trên thương trường. Quy tắc tính có thể dùng các chỉ số oxy + boric B2O3 hay B nguyên tố. Hệ số chuyển đổi giữa B2O3 và B là 6,44.

    * Sử dụng phân có Bo

    Điều trước tiên cần lưu tâm là không phải lúc nào cũng có nhu cầu bón bo. Chỉ bón bo trong trường hợp đất không cung cấp đủ cho nhu cầu của cây. Thông thường chú ý đến nhu cầu của các cây sau đây: cây lấy củ họ thập tư (củ cải, su hào, cà rốt), cây lấy dầu, cây họ đậu, các loại rau họ thập tư và họ đậu.

    Đối với đất, sự thiếu bo thường gặp ở các loại đất trung tính và kiềm hoặc sau khi bón vôi.

    Người ta cho rằng nên bón đều đặn bo vào đất 15-20 kgB/1 ha hàng năm cho các lọa cây họ đậu, cây họ thập tự, cây lấy củ và rau, hoặc 3-4 năm 1 lần cho cây ăn quả. Tuy nhiên cần chú ý rằng, bo có thể gây ngộ độc cho cây trồng khi tích lũy đến liều lượng nhất định. Ion borat có thể được keo đất phu mà tích lũy lại trong đất đến mức gây độc. Cũng vì lý do này mà một số nước như Mỹ yêu cầu ghi rõ trên các bao bì hàm lượng bo trong phân với chữ cẩn thận (Warning hay Cotion) nếu hàm lượng bo trong phân vượt quá 0,03%.

    Có 2 cách sử dụng phân có bo:

    – Bón vào đất ở dạng muối hoặc dưới dạng các loại phức hợp có chứa các đa lượng. Lượng bo thường được sử dụng là 20-25kg/ha.

    – Trong trường hợp cấp bách cần bón để chữa thiếu vi lượng bo thì phun lên lá dung dịch muối Bo 2,2% liên tiếp 2-3 lần.

    * Chọn lại phân bo: Như đã nói trên bo ở dạng tan trong nước nếu được bón vào đất có khả năng hấp thu yếu và ở vùng mưa nhiều có thể bị rửa trôi mà mất đi. Vì vậy ở các vùng đất cát nên chọn các loại phân không hòa tan trong nước mà chỉ hòa tan trong axit xitric.

    Từ tài liệu:

    GS Võ Minh Kha, Hướng dẫn thực hành sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp, Hà Nội,1996.

    Mùa mưa đến, ngoài việc đối phó với hạt giống bị mưa trôi, cây mới lên mầm bị mưa lớn tàn phá. Thì đàn kiến trong vườn cũng là mối nguy cơ tha hết hạt giống và ăn phá cây non.

    Do vậy, bạn có thể dùng Axit Boric, borax một loại  dinh dưỡng có thể dùng bình thường cho cây trồng cứng cáp, đậu hoa quả.  Khi kiến ăn phải borax nó sẽ bị đầu độc dạ dày và chết.

    Axit boric, borax không phải là một loại thuốc trừ sâu độc hại, nhưng nó không nên dùng cho con người hoặc vật nuôi. Tránh xa tầm tay trẻ em. Axit boric là không độc hại cho côn trùng có ích, chim, bò sát và cá.

    Trộn hỗn hợp đường, bột axit boric, borax hoặc axit boric với bột ngô rắc ở gần tổ kiến, hoặc nơi kiên đang bò qua lại. Hoặc ở khu vực ươm hạt giống. Bột Boric Acid bán trên thị trường dưới hình thức bột Borax. Làm thành một thứ mồi khoái khẩu dụ kiến. Kiến ăn mồi này rồi, thì hệ thống tiêu hóa sẽ rối loạn. Quan trọng là kiến không chết ngay, nó vẫn còn sống để tha mồi về tổ chia sẻ miếng ngon với cả bầy… và hoàn tất cái kế hoạch lâu dài của bạn. Chừng 5, 7 ngày sau, bạn sẽ thấy vắng bóng kiến, bởi vì, chúng đã chết sạch trong tổ rồi còn đâu.

    Phương pháp này sẽ không tiêu diệt toàn bộ tổ kiến, nhưng nó sẽ làm giảm đáng kể quân số của loài kiến xung quanh vườn, hoặc kiến sẽ di tản đến nơi khác, cần thiết để làm những nhiệm vụ mà mình mong muốn, như canh gác, diệt trừ sâu bọ.

    www.nongtrangxanh.net

    Thông tin sản phẩm

    Bo là vi lượng quan trọng trong cây trồng . Bo làm cây trồng có khả năng chống rụng…

    – Qui cách: 25kg/bao

    – Xuất xứ: Mỹ

    – Ứng dụng : Ngành sản xuất phân bón.

    Boron is one of seven essential micronutrients vital to fertilization, fruit and seed production. But it’s a micronutrient with macro effects. Boron deficiency is the most widespad of all crop deficiencies, affecting almost all major crops grown around the world.

    Borax is the world’s leading supplier of borates into the agricultural industry. We’ve been at the forefront of crop research since 1940, and offer the best product quality, technical expertise, supply reliability and customer service the world has to offer.

    Boron is an essential element for all plants, and vital to maximizing crop quality and yield. Application methods, amounts and schedules vary for each crop. Boron should be psent in all soils in trace amounts, but boron deficiency is very widespad. Contact your local Borax repsentative to determine boron needs in your geographic region.

    Borax is the acknowledged world leader in borate handling and processing, as well as research into boron’s properties and applications.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chăm Sóc Bón Phân Cho Cây Bon Sai
  • Các Yêu Cầu Kỹ Thuật Trong Khâu Bón Phân Cho Cây Bonsai
  • Phân Bón Lá Đậm Đặc Cao Cấp Hvp Vitamin B1 250Ml
  • Phân Bón Lá Đậm Đặc Cao Cấp Hvp Vitamin B
  • Vitamin B12 Cho Lan – Vị Cứu Tinh Cho Ngộ Độc, Sốc Phân
  • T E C H N O ::

    --- Bài mới hơn ---

  • Lâm Đồng: Giải Pháp Mới Cho Cà Phê Già Cỗi
  • “trẻ Hóa” Vườn Cà Phê Già Cỗi!
  • Ghép Cải Tạo Vườn Cà Phê Già Cỗi: Hiệu Quả Gấp Đôi
  • Trong Mùa Mưa Lũ Phải Chăm Sóc Và Thiết Kế Vườn Cây Có Múi Ra Sao ???
  • Chăm Sóc Vườn Cây Ăn Quả Mùa Mưa
  • KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC GIỐNG CÂY SẦU RIÊNG DONA

    ĐẶC TÍNH CỦA GIỐNG SẦU RIÊNG DONA

    Sầu riêng DONA có hương vị phù hợp với đa số người tiêu dùng nên có thị trường rộng nhất hiện nay, chủ yếu được xuất khẩu. Tỉ lệ ăn được lớn (lớn hơn 30%) nên giá cũng cao nhất. Mặt khác, năng suất của giống này rất cao, trung bình từ 30 -

    40 tấn/ha. Đó là những yếu tố đem lại hiệu quả kinh tế thuộc hàng bậc nhất hiện nay.

    Sầu riêng DONA thích hợp với khi hậu miền nam có 2 mùa mưa nắng rõ rệt.

    Sầu riêng DONA không kén đất nên có khả năng phát triển rộng rãi thành vùng sản xuất lớn để thuận lợi cho chế biến, vận chuyển. Yêu cầu tầng canh tác thoát nước tốt trong mùa mưa và có nguồn nước tưới trong mùa khô.

    PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH GIỐNG SẦU RIÊNG DONA

    2 yếu tố quyết định cây giống phát huy tối đa hiệu quả kinh tế, đó là nguồn gen và phương pháp nhân giống.

    Phương pháp ghép ngọn

    Nguồn gen: là cây tác giả được đánh giá qua nhiều năm và tuyển chọn nhân giống thành cây đầu dòng. Cây đầu dòng được đánh dấu, công nhận bởi cơ quan chức năng và được

    chăm sóc đặc biệt, không sử dụng các loại phân và thuốc kích thích tăng trưởng để tránh hiện tượng thoái hóa giống.

    Phương pháp ghép: cách ghép ngọn (ghép nêm) được nghiên cứu áp dụng để cây giống có sức sinh trưởng tốt nhất, cho quả sớm hơn, năng suất cao nhất và tuổi thọ dài

    nhất. Đây là phương pháp ưu việt hơn rất nhiều so với cách ghép cũ có gốc ghép già, tuổi thọ bị rút ngắn, sức sinh trưởng kém vì rễ bị khống chế trong một thời gian dài.

    Cây giống sau khi ghép xong sẽ được nhổ ra khỏi giá thể để loại bỏ các gốc ghép bị dị tật, mất rễ cọc, rễ cọc mọc thành chùm… Cây hoàn

    chỉnh được cấy vào bầu đất và dưỡng trong vườn ươm. Tỉ lệ cây đạt chuẩn sau khi sàng lọc còn lại khoảng 30%.

    Cây đạt chuẩn sẽ được xuất vườn đem trồng có các đặc điểm sau đây:

    – Cây có sức sống tốt, từ 3 cặp lá trở lên, lá dày cứng, xanh bóng. Chiều cao của cây không phải là yếu tố quan trọng.

    – Bộ rễ cây còn đang phát triển trong bầu, chưa bị quấn hoặc bó lại với nhau. Nếu bộ rễ bị quấn lại sẽ phải cắt bỏ phần rễ dư thừa, khi đó sẽ làm mất sức của cây khi trồng.

    TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY CON

    Cần phải tạo điều kiện đất trồng đầy đủ dinh dưỡng, tơi xốp để cây con thích nghi khi đặt cây xuống trồng.

    Vì vậy, khâu làm đất là rất quan trọng.

    1. Chuẩn bị hố trồng

    Đất càng mềm thì hố trồng có kích thước càng nhỏ. Tuy nhiên, trung bình hố trồng có kích thước 60cm x 60cm x 60cm để lót phân hữu cơ và tạo độ tơi xốp.

    Rải đều 0,1 – 0,2kg vôi trong hố trồng. Trộn đều hỗn hợp gồm: 5 – 10 kg phân hữu cơ hoặc phân chuồng ủ hoai mục + 0,2 kg phân lân + 10g Vibasu phòng ngừa mối. Cho tất cả xuống hố

    trồng rồi nén chặt. Cào đất xung quanh lấp lên tạo thành mô cao hơn mặt đất từ 10 – 20cm. Sau đó tưới đẫm nước cho hỗn hợp được phân hủy nhanh.

    Hố trồng cần được chuẩn bị trước khi trồng ít nhất là 15 ngày.

    2. Trồng cây

    a. Xử lý cây giống:Trong trường hợp chưa kịp trồng cây thì nên để cây tập trung và dùng lưới che nắng 50% cho cây. Tưới cây mỗi ngày để giữ ẩm và có thể phun thuốc Agri-fos 400 phối trộn với Mancozeb nồng độ 0,5%

    để phòng ngừa bệnh thối thân lá từ vết thương trong quá trình vận chuyển.

    b. Đào lỗ: sau ít nhất 15 ngày khi chuẩn bị hố trồng, cần đảm bảo rằng mô đất vẫn còn cao hơn so với mặt đất khoảng 10 cm. Đào một lỗ giữa mô đất có độ sâu 20 cm.

    c. Thao tác trồng: dùng dao cắt bỏ phần đáy của bầu đất. Dùng kéo cắt đứt phần rễ thừa quấn quanh đáy (nếu có) . Đặt cây xuống lỗ cho ngay ngắn rồi cắt 1 đường dọc túi nilon. Từ từ

    tháo túi ra sao cho đất trong bầu không bị vỡ.

    Dùng tay lấp và nén nhẹ đất đến 2/3 chiều cao của bầu thì rải đều 5 – 10g phân lân nung chảy hoặc Super lân xung quanh. Sau đó, lấp đất cho đầy lỗ rồi nén nhẹ sao cho đất vừa ngang mặt

    bầu. Làm bồn xung quanh để giữ nước tưới khi cần thiết.

    d. Đỡ cây: cắm 1 cọc thẳng dọc theo thân chính rồi cột dây giữ cho cây thẳng đứng.

    3. Chăm sóc cây con

    a. Tưới nước: Nên thiết kế hệ thống tưới phun, mỗi cây con có 1 béc tưới. Nếu thấy đất khô thì phải tưới nước giữ ẩm cho cây.

    b. Bón phân:

    +) Phân hữu cơ: Mỗi năm vào đầu mùa mưa, bón phân hữu cơ đã ủ hoai mục. Lượng bón khoảng 5 kg/gốc cho cây 1 năm tuổi. Sau một năm thì bón tăng lên 5 – 10 kg.

    +) Phân đa lượng: Sau khi trồng xong, bón 10g phân NPK 16-16-8-13S cho mỗi cây. Bón những lần tiếp theo khi cây chuẩn bị ra đọt non. Nếu đường kính tán cây tăng gấp 2 lần thì lượng bón cũng tăng gấp 2 lần.

    +) Phân trung vi lượng: cây hấp thụ chủ yếu ở dạng lỏng. Dưới rễ, dùng trung lượng KPMGC + vi lượng KP-COMBI tưới vào bộ rễ mỗi khi cây chuẩn bị ra đọt non. Trên lá, dùng trung lượng KP-BOOSTER + vi lượng KP-COMBI phun lên lá kèm với thuốc trừ sâu mỗi khi cây ra đọt non.

    c. Tỉa cành tạo tán: Chỉ để 1 thân chính phát triển. Khi cây đạt chiều cao 3 – 4 mét thì tiến hành tỉa bỏ các cành mọc sát đất để cây được thông thoáng. Có trường hợp cây phân bố cành

    không đều (thiếu 1 bên), khi cây cao được khoảng 1 mét thì bấm ngọn để cây nảy ra 1 thân khác thay thế, khi đó cành sẽ phân bố đều hơn.

    PHÒNG TRỪ SÂU RẦY

    Rày phấn

    Nhiện đỏ

    Ấu trùng bọ xòe

    1. Rầy phấn:

    Xuất hiện khi cây ra đọt non làm lá quăn cháy, khi lá già để lại nhiều đốm vàng dị dạng. Cần chủ động phun hoạt chất Imidacloprid hoặc Abamectin khi đọt non chuẩn bị nở.

    2. Nhện đỏ – rầy lửa:

    Xuất hiện trong mùa khô nóng gây bạc lá, rụng lá trưởng thành. Luân phiên phun các loại thuốc trừ nhện theo định kỳ mỗi tuần.

    3. Sâu đục thân, cành:

    xảy ra quanh năm. Cần thăm vườn thường xuyên, nếu thấy vỏ cây bị xì mủ có bã màu nâu đỏ thì nhanh chóng dùng dụng cụ đục bắt sâu bên trong. Định kỳ phun các loại thuốc diệt trứng vào vỏ cây để phòng ngừa.

    PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI

    Bệnh nguy hiểm nhất là xì mủ thân, vàng lá, thối cổ rễ, thối rễ, thối quả. Nên thăm vườn vào lúc sáng sớm, trên thân, cành có những vết nhựa chảy ra làm ướt

    đốm nâu đen hoặc vỏ cây bị nứt, chảy mủ. Dùng thuốc AGRIFOS 400 (phosphonate) đặc trị nấm Phytophthora trên sầu riêng để phòng trị:

    Héo rũ – Thối rễ

    Xì mủ thân

    Thối quả

    1. Phòng bệnh:

    Phun ướt đều vào lá, quả (nồng độ 0,5%) định kỳ mỗi tháng. Bổ sung định kỳ 60-75 ngày, dùng 1 trong 2 phương pháp sau:

    a. Tưới vào cổ rễ: nồng độ 1% (2 lít/200 lít), tưới 1-20 lít dung dịch/cây tùy theo độ rộng của tán cây. Nếu cổ rễ nằm sâu trong đất thì dùng tia nước xoi đất xung quanh gốc hoặc dùng cần sục chuyên dụng để đưa thuốc vào.

    b. Tiêm thân: áp dụng với cây có đường kính thân từ 15 cm trở lên:

    Bước 1: Pha thuốc với nước sạch theo tỉ lệ 1 thuốc : 1 nước. Mỗi cm đường kính thân tiêm 2 ml dung dịch thuốc đã pha.

    Bước 2 – Chọn vị trí tiêm thuốc: là vùng vỏ trên thân cây có ít cành nhánh ở bên trên theo chiều thẳng đứng.

    Bước 3 – Khoan lỗ tiêm thuốc: dùng mũi khoan số 6,5 mm. Lỗ khoan có hướng xiên 45o vào dát (tránh chạm vào lõi cây), chếch lên khoảng 5o, sâu từ 3 – 4 cm.

    Bước 4 – Khoan lỗ tiêm thuốc: gắn ống tiêm chuyên dụng gắn thật khít với lỗ khoan và kéo dây nén thuốc vào.

    Lưu ý: không khoan vào vùng có vết bệnh, nơi có cành hoặc lỗ tiêm cũ.

    Giữ đất ẩm trong suốt giai đoạn xử lý thuốc.

    2. Trị bệnh trên thân cây:

    Phun ướt đều tán lá (nồng độ 0,5%). Kết hợp với tưới vào cổ rễ (nồng độ 1%) hoặc tiêm thân 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 15 ngày.

    3. Trị bệnh thối quả:

    Phun kỹ vào quả, cuống quả (nồng độ 1%). Phun 2 lần liên tiếp cách nhau 3 – 5 ngày.

    Khi đã phòng trị bệnh như quy trình thì cũng phòng và trị được các loại bệnh khác như nấm hồng, thán thư, tảo xanh, tảo đỏ (rỉ sắt)…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cây Sen Đá Thạch Lan
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Hoa Sỏi (Thạch Lan, Lipthop), Cách Trồng Và Chăm Sóc Hoa Sỏi (Thạch Lan, Lipthop).công Nghệ Nông Nghiệp, Phụ Kiện Xe, Thú Cưng
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Bồ Đề
  • Cách Xử Lý Rễ Cây Mai Bị Suy Yếu Do Thối Rễ
  • Những Hạng Mục Công Việc Cần Có Trong Chăm Sóc Cảnh Quan Sân Vườn
  • Tổng Hợp Lan Dendrobium Amabile Thủy Tiên Tím (Lour.) O’ Brien

    --- Bài mới hơn ---

  • Cây Lan Hài Hen-Ry (Paphiopedilum Henryanum) Braem
  • Hoàng Thảo Nghệ Tâm (Dendrobium Loddigesii)
  • Thủy Tiên (Dendrobium Farmeri) Paxton
  • Trồng Lan Phượng Vĩ (Renanthera) Lour.
  • Báo Hỷ (Dendrobium Secundum) Bl. Lindl.
  • Trong cuốn Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ cây lan này tên Việt là Thủy tiên hường, còn sách Phong Lan Việt Nam của Trần Hợp gọi là Hoàng thảo duyên dáng, nhưng nhiều người gọi là Thủy tiên tím. Cùng một cây lan mà tên gọi khác nhau, khi nói chuyện cũng mất khá nhiều thì giờ mới hiểu.

    Tổng hợp lan Dendrobium amabile Thủy tiên tím (Lour.) O’ Brien

    Đó là trong nhà, còn bên ngoài có nguồn khác lại nói là cây này có mọc tại đảo Hải Nam. Trung quốc. Theo cuốn The Orchids of Indochina do Gunnar Seidenfaden ấn hành vào năm 1992 và cuốn Phong Lan của Trần Hợp năm 1998, cây này là đặc hữu của Việt Nam. Gunnar Seidenfaden cho rằng cây mọc ở Hải Nam là một nghi vấn. Tra cứu trong danh mục hoa lan đã được quốc tế công nhận trong bản CITES Orchid Checklist Online Version Volumes 1, 2 & 3, do viện Thảo Mộc Kew, Anh quốc soạn thảo vào năm 2002, không thấy có tên cây Dendrobium amabiletrong danh sách của Trung Hoa.

    Trong cuốn Dendrobium and its relatives do Bill Lavarack, Wayne Harris và Geoff Stocker xuất bản tại Úc lại nói rằng cây Dendrobium amabile Schltr. lại là đồng danh với cây Den. furcatum Reinw. ex Lindl. mọc ở Sulawesi, Nam Dương. Nhưng cây Den. furcatum cây thấp hơn (45 cm) lá nhỏ hơn nhiều (ngang 2 cm, dài 5 cm) hoa mầu trắng hồng và nở hoa từ tháng 5 đến tháng 10.

    Dendrobium amabilecòn có đồng danh (synonym) Callista amabilisLour. 1790,Dendrobium bronckartiiDe Wild 1906. Lan mọc từ Khánh Hòa tới Quảng Trị, thân cao tới 90 cm các đốt có rãnh, lá mọc đối cách, dài chừng 12 cm rộng 5-7 cm, xanh tốt quanh năm. Dò hoa mọc từng chùm dài 30 cm ở gần ngọn, hoa thưa mầu hồng tím nhạt to 4-5 cm, lưỡi mầu vàng cam. Hoa nở vào cuối Xuân đầu Hạ hơi thơm.

    Tại Hoa Kỳ, lần đầu tiên chúng tôi thấy cây này trong cuộc triển lãm của Hội hoa lan San Diego tại Del Mar vào năm 1998-1999 gì đó. Gian hàng của Ontaria Orchids do mấy cô thiếu nữ người Hoa đứng bán, trong số các cây Dendrobium bầy bán chỉ có một cây duy nhất có hoa.

    Biết rằng việc: “Treo đầu heo bán thịt chó” là lẽ thường tình trong việc bán hoa lan dù rằng ở tại Hoa Kỳ. Hỏi mua cây có hoa, họ không bán dù là trả gấp 3 lần giá thường: $35/một cây trơ rễ, nên đành phải mua 2 cây với hy vọng sẽ có một cây có hoa. Nhưng 2 năm sau một cây là Dendrobium thyrsiflorum Dendrobium densiflorumvà phải tới năm 2004 tôi mới mua được 2 cây với giá 40-50$ một cây.

    Ngày nay cây lan Dendrobium amabilebán đầy rẫy tại miền Nam California, tùy theo cây to hay nhỏ, tốt hay xấu, giá từ 15$ đến 100$ và gần như người Việt nào cũng có. Hỏi ra, được biết Taida Orchids Inc. tại Đài Loan (có chi nhánh tại New Jersey) nhân giống quy mô và hàng năm bán ra cả trăm ngàn cây. Không biết có phải những cây này là con cháu cây lan Việt được vơ vét sau những đợt thu mua rồi sinh sôi nẩy nở trong các phòng thí nghiệm Đài Loan hay không?

    Hai cây lan của tôi, tuy rằng nuôi cùng một chỗ, nhưng một cây cao, một cây thấp. Năm nào củng vậy, cây cao hoa nở trước, cây thấp nở sau. Cây cao chừng 80 cm dò hoa dài tới 45 cm và hoa ngang tới 6 cm có thể đoạt giải của hội Hoa Lan Hoa Kỳ. Nhưng đường xa, ngại chầu chực và Ban Giám khảo họp vào ban đêm, vả lại đã không màng Danh & Lợi nên để ở nhà ngắm chơi cho đỡ nhớ quê hương.

    Cây lan này rất dễ trồng, ánh sáng vừa phải để cùng một chỗ với các cây Dendrobium và Cattleya nơi có chút nắng vào buổi sáng đến 11 giờ trưa hay vào buổi chiều.

    Nơi chúng tôi ở nhiệt độ trung bình khoảng 80°F (26.7°C) ban ngày cao nhất có khị trên 100°F (37.8°C) và lạnh nhất khoảng 38°F (3.3°C)

    Độ ẩm trung bình 40%, mùa hè tưới 2 lần một tuần, mùa Xuân và Thu mỗi tuần một lần, mùa Đông từ 15 -20 ngày.

    Phân bón 20-20-20 mỗi tuần một lần vào Xuân, Hạ và mỗi tháng 1 lần vào mùa Thu. và ngưng hẳn vào mùa đông.

    Biết rằng cây này ưa chậu chật hẹp và không ưa thay chậu cho nên trồng trong châu đất với vỏ thông cỡ trung bình và đá.

    Hy vọng rằng trong tương lai sẽ có câu giải đáp chính thức là cây này có phải là đặc hữu của Việt Nam hay không? Nhưng dù rằng đặc hữu hay không, ngày nay cây lan này và khá nhiều cây lan Việt cũng như người Việt đã có mặt trên khắp 5 châu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thanh Ngọc Cymbidium Ensifolium (L.) Sw
  • Lan Việt: Bạch Phượng Pecteilis Susannae (Linnareus)
  • Lan Việt: Dã Hạc, Phi Diệp Denrobium Anosmum (Lindl.)
  • Hài Hê Len Paphiopedilum Helenae Avery.
  • Nhất Điểm Hồng Dendrobium Draconis Rchb. F.
  • Tính Toán Lượng Phân Thương Phẩm Từ Khuyến Cáo Bón Phân Theo Hàm Lượng Nguyên Chất (N, P2O5, K2O…)

    --- Bài mới hơn ---

  • Ủ Ốc Bưu Vàng Làm Phân Bón Sinh Học
  • Cách Làm Và Sử Dụng Phân Bón Sinh Học
  • Tìm Hiểu Cách Sử Dụng Phân Bón Lá Sinh Học Cho Cây Mít
  • Phân Bón Lá Sinh Học
  • Phân Bón Sinh Học Và Những Ưu Điểm Vượt Trội Của Loại Phân Này
  • 1. Quy đổi dạng phân nguyên chất sang thương phẩm và ngược lại

    Bảng chuyển đổi từ phân nguyên chất sang phân thương phẩm và ngược lại đối với các loại phân bón thông dụng

    – Lượng phân urê = 200 x 100/46 = 435 kg (quy tròn)

    – Lượng lân nung chảy = 70 x 100/15 = 467 kg (quy tròn)

    – Lượng kali clo rua = 170 x 100/60 = 283 kg (quy tròn)

    – Lượng đạm nguyên chất (N) = 150 x 21/100 = 31,5 kg

    – Lượng lân nguyên chất( P 2O 5) = 500 x 16/100 = 80 kg

    – Lượng kali nguyên chất (K 2 O) = 130 x 50/100 = 65,0 kg

    2. Tính toán phân thương phẩm từ các khuyến cáo ở dạng nguyên chất

    (i) Phân thương phẩm là các loại phân đơn

    Tài liệu đề nghị bón phân cho cà phê vối kinh doanh với lượng sau: N = 280, P 2O 5 = 80, K 2 O = 270, (kg/ha):, trong đó có 15% lượng đạm phải bón ở dạng SA để cung cấp lưu huỳnh cho cà phê và 5 kg Zn. Vậy cần phải mua bao nhiêu urê, SA, lân nung chảy, kali clo rua và kẽm sun phát để bón cho cà phê?

    Cách thực hiện theo từng bước sau:

    – Tính lượng đạm dùng ở dạng SA = (280 x 15%) x 100/21= 200 kg

    (đạm SA chứa 21 % N).

    – Tính lượng đạm dùng ở dạng urê = (280 – 280 x 15%) x 100/46= 517 kg

    (đạm urê chứa 46 % N).

    – Tính lượng lân nung chảy = 80 x 100/15= 533 kg

    – Tính lượng kaliclorua = 270 x 100/60 = 450 kg

    – Tính lượng kẽm sun phát cần mua: 5 x 100/23 = 22 kg

    Vậy để bón theo tài liệu hướng dẫn ở trên ta cần phải dùng 517 kg urê, 200 kg phân SA, 533 kg lân nung chảy, 450 kg kali clorua và 22 kg kẽm sun phát.

    (ii) Phân thương phẩm là các loại phân hỗn hợp

    Về nguyên tắc chung cần nhớ 3 bước:

    16 8 16

    Giá trị của các tỷ số trên là: 16,9; 10,0; 15,6. Giá trị nhỏ nhất trong trường hợp này là 10. Vậy dùng 10,0 để làm cơ sở tính toán tiếp theo.

    – Lấy 10,0 x 100 = 1.000 kg NPK:16-8-16. Đây là lượng phân hỗn hợp cần phải mua để bón.

    – Tính toán tiếp để xác định cần phải mua thêm bao nhiêu đạm và kali để bón cho đủ theo tài liệu đã hướng dẫn.

    Trong 1.000 kg phân hỗn hợp 16-8-16 có:

    1.000 kg x 16 % = 160 kg N.

    Đối với đạm thì còn thiếu cần phải mua thêm: 270 kg N – 160 kg N= 110 kg N.

    Số phân trên chuyển sang phân đơn để bón nhằm đảm bảo đầy đủ lượng dinh dưỡng theo khuyến cáo.

    Đối với đạm: Dùng urê thì cần: 110 x 100/46 = 239 kg.

    Đối với kali: + Nếu dùng kali clorua thì cần: 90 x 100/60 = 150 kg.

    + Nếu dùng kali sun phát thì cần: 90 x 100/50 = 180 kg.

    * Trường hợp dùng phân 15-5-15

    15 5 15

    Giá trị của các tỷ số là: 18; 16; 16,7

    Giá trị nhỏ nhất trong trường hợp này là 16

    – Vậy lượng phân NPK: 15-5-15 cần dùng là: 16 x 100 = 1.600 kg

    Trong 1.600 kg phân 15-5-15 có chứa:

    1.600 x 15 % = 240 kg N

    Lượng lân vừa đủ, chỉ cần mua bổ sung thêm đạm, kali để bón:

    + Lượng đạm cần mua: 270 kg N – 240 kg N = 30 kg N

    Dùng đạm urê thì cần: 30 x 100/46 = 65 kg

    (i) Nếu dùng kali clorua thì cần: 10 x 100/60 = 17 kg.

    (ii) Nếu dùng kali sun phát thì cần: 10 x 100/50 = 20 kg.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vi Sinh Xử Lý Nước Thải Là Gì? Mua Ở Đâu Và Giá Bao Nhiêu?
  • Ống Hút Sinh Học Giá Bao Nhiêu? 4 Ưu Điểm Nổi Bật?
  • Ống Hút Sinh Học Giá Bao Nhiêu? 4 Điểm Nổi Bật Với Ống Hút Thông Thường
  • Phân Hữu Cơ Sinh Học: Lợi Ích, Phân Loại, Giá Bán Tại Việt Nam
  • Phân Bón Sinh Học Nông Nghiệp Công Nghệ Cao
  • Trồng Rau Sạch Ở Hội An, Trong Rau Sach O Hoi An

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Giàu Ở Nông Thôn: Bỏ 10 Tỷ Trồng Rau Xanh, Cả Làng “phát Sốt”
  • Xanh Làng Rau Sạch Đông Sơn
  • Giàn Trồng Rau 48*34*16 ( 3 Tầng, 36 Chậu)
  • Rủ Nhau Trồng Rau An Toàn, Cả Làng Khấm Khá
  • Huế: Gượng Dậy Làng Rau Sạch Quảng Thành
  • Xưa nay, Trà Quế (Hội An, Quảng Nam) vẫn nổi tiếng như một làng nghề cung cấp nhiều loại rau sạch, đặc biệt là rau thơm cho Hội An và các địa phương lân cận. Không chỉ giữ được nghề trồng rau sạch lâu đời, Trà Quế ngày nay còn là một trong những địa phương triển khai được nhiều tour du lịch hấp dẫn nhất ở Hội An.

    Xưa nay, Trà Quế (Hội An, Quảng Nam) vẫn nổi tiếng như một làng nghề cung cấp nhiều loại rau sạch, đặc biệt là rau thơm cho Hội An và các địa phương lân cận. Không chỉ giữ được nghề trồng rau sạch lâu đời, Trà Quế ngày nay còn là một trong những địa phương triển khai được nhiều tour du lịch hấp dẫn nhất ở Hội An. Với những sản phẩm rau xà lách, diếp cá, răm, húng, quế, hành, ngò…thường có mặt trong các món ăn đặc sản Quảng Nam như cao lầu, mì Quảng, tôm hữu, thịt heo cuốn bánh tráng, bánh xèo, bê thui…

    Cả làng hiện có khoảng 100 hộ gia đình trồng rau trên diện tích 40 ha với gần 30 loại rau các loại được thu hoạch theo mùa. Một trong những điểm đặc biệt của làng Trà Quế là rau ở đây được gieo trồng theo cách tự nhiên, rất sạch. Bà Lê Thị Bình cho biết: Ở đây không bao giờ dùng thuốc tăng trưởng mà chỉ dùng rong dưới sông là chính. Đem rau ở nơi khác về đây trồng thì rau cũng thơm hơn trước.

    Với diện tích đất trồng rau chỉ khoảng vài chục hécta nhưng trồng rau đã trở thành một nghề chính của cư dân trong làng qua nhiều thế hệ. Kể từ khi du lịch Hội An bắt đầu khởi sắc, cũng là lúc làng rau phát triển thịnh vượng nhất. Ngoài việc trồng rau để phục cho các nhà hàng, khách sạn và các chợ đầu mối trên địa bàn Quảng Nam, Đà Nẵng với doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm, người dân Trà Quế cũng tham gia vào các hoạt động du lịch. Đến với làng quê thôn dân dã này, du khách sẽ được hướng dẫn cuốn đất, vun luống, bón phân, gieo hạt, trồng rau và học chế biến các món ăn từ sản phẩm rau tại làng nghề như những người nông dân thực sự.

    Du khách sẽ được nghe người dân nơi đây tự hào kể về những bí quyết khiến rau ở đây có vị đặc trưng hơn bất cứ nơi đâu. Anh Hồ Xuân Thành, một người dân nói: Rau này có hương thơm mà các vùng khác không có do vị trí địa lý kết hợp với nguồn đất tự nhiên và rong, tảo từ con sông Cổ Cò. Rau ở đây nhỏ nhưng mùi hương, tinh dầu rất cao. Nếu cùng mang một giống rau ra khỏi làng này đi làng khách trồng thì không còn được vị như thế.

    Nhờ hương vị đặc biệt ấy mà rau Trà Quế đã góp phần tạo nên các món ăn dân dã chỉ có riêng tại Hội An. Rau hành, ngò thì kết hợp với món gỏi sứa, canh chua; cải bằng, ngổ điếc… dùng để nấu lẩu; rau răm, húng, hành lá dùng trong món hến trộn khoái khẩu ở vùng Cẩm Nam. Còn món mì Quảng thì phải ăn với rau sống Trà Quế mới thấy được cái hương vị rất riêng. Rau xanh Trà Quế trước hết phải “sạch” từ khâu chọn đất và hệ thống nước tưới không bị ô nhiễm. Đất được tăng độ mùn và tơi xốp bằng các loại phân chuồng để hoai, phân vi sinh chế biến từ thảo mục.

    Bà Nguyễn Thị Lự, bật mí bí quyết: Cách trồng và chăm sóc truyền thống được người làng rau Trà Quế áp dụng với tiến bộ khoa học kỹ thuật để sản xuất rau sạch theo quy trình khép kín. Nhờ vậy mà không ảnh hưởng đến môi trường, đến người trồng rau và đặc biệt là không ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng.

    Ông Nguyễn Văn Dũng- Phó chủ tịch UBND TP. Hội An cho biết, từ 2004 đến nay Hội An đã đầu tư 3 tỷ đồng cho làng rau Trà Quế. Bởi đây là một trong những thương hiệu rau có từ ngàn xưa. Đây không phải là vấn đề khai thác mà là giữ gìn văn hóa truyền thống của cha ông để lại”.

    Mới đây, Làng rau Trà Quế – Hội An vừa chính thức đăng ký bảo hộ nhãn hiệu độc quyền với Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam qua thương hiệu “Trà Quế – Hội An”. Làng rau này đã được ngành chức năng cấp Giấy chứng nhận rau an toàn cho nhân dân và tập thể. Thạc sĩ Nguyễn Thị Minh Lý – PGĐ Trung tâm chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn (Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng) nhận xét: Làng rau Trà Quế có ưu điểm về nguồn nước, môi trường, phân bón tự nhiên, cách ly KCN nên đáp ứng các yêu cầu về an toàn chất lượng và du lịch.

    Để phòng ngừa sâu bệnh cũng như giúp các loại rau phát triển nhanh hơn, bà con có thể tham khảo sản phẩm Chế Phẩm Sinh Học Vườn Sinh Thái Cho Rau sản phẩm đã được cấp phép lưu hàng từ 2006.

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Ty Tnhh Cảnh Quan Quốc Bảo
  • Nở Rộ Dịch Vụ Cho Nhu Cầu Rau Sạch
  • Bật Mí Địa Chỉ Bán Đất Trồng Rau Uy Tín Tại Hcm
  • Đất Sạch Trồng Rau
  • Viên Đất Nung (Sỏi Nhẹ) Hay Đất Sét Nung Là Gì?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100