Phong Lan Dendro Tai Tho

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Phong Lan Dendro Tai Tho xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 20/01/2021 trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Phong Lan Dendro Tai Tho để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 1.881 lượt xem.

Có 268 tin bài trong chủ đề【Phong Lan Dendro Tai Tho】

【#1】Cách Trồng Và Chăm Sóc Các Loại Cây Lan Rừng Phổ Biến Hiện Nay

Phong lan – một loài hoa đẹp bậc nhất trong các loài hoa mang ý nghĩa đặc biệt tượng trưng cho sự thanh nhã, cao quý và mạnh mẽ được rất nhiều người ưa chuộng và yêu mến. Từ nổi bật rực rỡ cho đến thanh cao và mềm mại. Mỗi loại đều có những yêu cầu điều kiện sống và sinh trưởng khác nhau nhưng có chung nhiều điểm chỉ có ở các giống lan. Trong bài viết này chúng tôi xin chia sẻ đến bạn các loại hoa lan đẹp – Cách trồng và chăm sóc hoa lan đơn giản.

Mỗi một loại hoa lan đều mang trên mình một vẻ đẹp lôi cuốn riêng. Thế nhưng có rất ít loại lan thu hút người khác từ cái nhìn đầu tiên. Riêng lan móng rùa đã đem đến một vẻ đẹp độc mà lạ khiến ai nhìn 1 lần cũng phải ngắm nhìn thêm. Hiện nay, lan móng rùa được ưa chuộng rất nhiều nên có giá trên thị trường khá cao bởi ai cũng săn đón chúng. Có thể nói, lan móng rùa là loại lan rừng được chào đón nhất trong một vài năm trở lại đây.

Tên khoa học của lan móng rùa là Oberonia longibracteata Lindl. Chúng là cây thân thảo, mọc thành dạng bụi. Chiều cao của chúng khá thấp, chỉ khoảng 50cm. Lá cây có màu xanh và có kiểu dáng giống móng rùa nên được gọi là lan móng rùa. Lan móng rùa khác với các loại lan khác là chúng không mọc thành chùm dài mà mọc đơn lẻ. Hoa của chúng thường mọc ở giữa phần 2 lá hay ở phần ngọn. Hoa có màu vàng tươi ở bên ngoài môi còn phần trong thì lại có màu đỏ khá đẹp. Chúng cho hoa nở rộ vào mùa hè và mùa thu. Thời gian nở của chúng kéo dài khá lâu.

Nhiệt độ và độ ẩm: Chúng chỉ yêu cầu ở mức trung bình, không quá cao cũng không quá thấp. Nhiệt độ thích hợp trồng cây vào khoảng 20-32 độ C. Độ ẩm cần thiết cho cây khoảng 80%.

Ánh sáng: Ánh sáng mà cây lan móng rùa cần vào khoảng 60%. Nêu trong quá trình trồng cây bạn thấy lá cây thường có máu xanh thẫm thì tức là cây lan đang bị thiếu ánh sáng. Còn nếu bạn trồng cây lan ở nơi đón được quá nhiều ánh nắng mặt trời thì lúc này cây lan thường có hiện tượng vàng lá và héo úa. Trong trường hợp bạn trồng lan trong nhà thì tốt nhất nên đặt chậu lan ở gần cửa sổ nơi đón được nhiều ánh sáng.

Giá thể trồng: Chọn chậu trồng là chậu đất nung với nhiều lỗ thoáng trên chậu. Trong chậu có thể đặt than củi hay xơ dừa đều được. Phải chuẩn bị giá thể trồng kỹ càng thì sau nay cây mới sinh trưởng và phát triển tốt nhất được.

Giống cây trồng: Hiện nay, giống cây lan móng rùa được bán ở khá nhiều nơi. Bạn có thể tìm đến cửa hàng gần nhà để mua nhưng tốt nhất bạn vẫn nên tìm đến nơi có uy tín tránh tình trạng mua đúng cây lan nhưng không phải giống lan móng rùa.

Việc tưới nước cho lan là điều quan trọng nhất bởi chúng nếu không chịu được khô hạn cũng không chịu được ngập úng. Khi tưới nước cần chú ý tưới vừa đủ ẩm giá thể, nếu tưới quá nhiều nước sẽ đọng lại rễ cây, rễ rất dễ bị thối. Mùa hè thì tưới khoảng 2-3 lần. Sang tới mùa đông thì khoảng 10 ngày tưới 1 lần cho cây.

Khi tưới nên tưới vào buổi sáng sớm hay buổi trưa mát mẻ để tới tối thì lá khô rồi. Nếu tưới vào buổi tối lá cây có thể bị thối.

Trong giai đoạn sinh trưởng của cây cần bón phân để bổ sung thêm dưỡng chất nuôi cây. Theo một số nhà làm vườn chuyên trồng lan thì cây cần nhiều phân bón vào mùa hè hơn mùa đông. Dùng phân bón NPK (14-14-14) hòa tan với nước để bón cho cây. Tới giai đoạn cây ra hoa có thể bón thêm phân bón có photpho giúp hoa tươi và lâu tàn hơn.

Lan móng rùa là cây sống lâu năm nên định kỳ hàng năm thay chậu cho cây 1 lần bởi mỗi năm chúng sẽ lớn lên mà chậu không thể lớn theo cây được. Hơn nữa, qua mỗi năm giá thể trong chậu sẽ dần bị phân hủy hết sẽ không còn đủ sức để cây lan bám vào. Thời gian thích hợp để thay chậu lan là vào mùa xuân.

Lan long tu lào là loại cây thân thảo tròn thường cao khoảng từ 30-50cm. Thân được hình thành từ nhiều đốt ngắn bao bọc quanh thân thường có một lớp vỏ mỏng khá dễ bóc. Tại các đốt của thân thường có những nôt lõm sâu vào. Thân cây giai đoạn sinh trưởng khá mập và màu xanh thẫm. Lá của long tu lào thường dày xanh bóng với chiều dài khoảng 10cm. Điểm độc đáo của loại lan này chính là hoa của chúng. Hoa thường mọc ra từ những thân già lớn. Hoa mọc ra trên từng đốt một có màu trắng mỗi bông có 3 thùy với 3 sọc vàng khá đẹp. Một cây trưởng thành mỗi mùa hoa nở thường có từ 4-5 cành mỗi cành từ 15-20 bông hoa nở. Hoa thường nở vào mùa xuân đến đầu hè.

Nên tách riêng từng cây ra với nhau. Phải thật cẩn thận khi tách nếu không sẽ làm hỏng các mắt ngủ. Không nên xé các cây ra với nhau mà phải dùng dao nhẹ nhàng tách. Sau đó bạn tỉa các rễ già đi, để lại tầm 2-3cm rễ.

Pha thuốc Physan 20 theo tỷ lệ 1:1, sau đó cho toàn bộ chỗ lan long tu đã xử lý vào ngâm từ 5 đến 10 phút. Sau đó vớt ra để ráo.

Bạn nên chọn bảng dớn hoặc gỗ lũa để ghép. Đây là cách ghép lan long tu vào gỗ được nhiều người sử dụng nhất. Những cây cùng 1 tuổi nên ghép vào cùng 1 bảng hoặc có thể chia theo độ dài ngắn của cây để ghép. Sau đó bắn ghim để cố định cây vào bảng gỗ. Hãy dùng ít ghim sắt nhất có thể, sau đó treo bảng lên giàn để cây hấp thụ nắng. Nên có một tấm lưới để cây hấp thụ 60 – 70% nắng, treo cách lưới từ 1,2m đến 1,5m.

Ngoài ra bạn có thể sử dụng cách trồng lan long tu vào chậu đối với những cây con đã ra đủ rễ. Tách cây con và trồng trong chậu, chọn cây đã ra đủ rễ.

Sau khi trồng thì khoảng tháng 3 dương lịch các cây đã bắt đầu ra nụ. Thân mẹ lúc này cũng bật lên các chồi non. Lượng nước tưới ở mức ít để cho mầm non bên dưới phát triển mạnh. Dừng bón phân và các chất kích thích ra cành. Khi tưới nước chỉ nên tưới vào gốc. Việc tưới quá nhiều nước sẽ khiến cho cây con của bạn bị hỏng. Thời điểm khi cây phân nụ rõ ràng chòi ra ngoài thì mới tưới nước thường xuyên hơn.

Sau khi hoa mọc ra thì sẽ đến thời kì sinh trưởng của hệ thống mầm non bên dưới. Giai đoạn này bạn nên bón thêm phân cho cây. Loại phân thích hợp nhất thời kì này là phân NPK 30-10-10 và một chút B1 hòa đều với nước rôi tưới cho cây. Nếu như có sẵn các loại phân chuồng hữu cơ bạn cũng có thể bón cho cây. Chăm bón đủ dinh dưỡng trong mùa sinh trưởng giúp cho các thân con trở thành cây trưởng thành, to dài.

Thời kì nghỉ ngơi của long tu lào: Theo nhận xét của giới chơi lan thì loại long tu lào có thời kì nghỉ ngơi sớm hơn các loại lan cùng họ khác. Thường vào khoảng tháng 10 dương lịch hàng năm thì cây đã có hiện tượng thắt ngọn lại và lá bé dần đi chứ không to nữa. Lúc này giảm dần lượng nước đi cho đến đầu tháng 12 bạn dừng tưới nước để cây hoàn toàn nghỉ ngơi. Treo cây ra chỗ ánh sáng nhiều. Đến đầu tháng 2 dương lịch bạn cần tưới nước một lần ngày ngày để cho cây băt đầu đâm chồi mới.

Hoàng phi hạc có tên khoa học là Dendrobium signatum. Phân bố nhiều ở Việt Nam, Lào, Thái Lan. Là dòng lan được rất nhiều người ưa chuộng vì đặc tính rất dễ trồng. Dễ ra hoa, thơm và màu sắc bắt mắt.

Trong số vô vàn loại lan rừng có mặt tại Việt Nam. Hoàng Phi Hạc vẫn giữ được chỗ đứng riêng của mình trong giới yêu lan cảnh. Loại cây này có hình dáng đẹp với lá thuôn dài to xanh thẫm và hoa khi nở rất đẹp. Hoa của chúng có 2 loại là màu tím và hoáng phi hạc màu trắng. Nhiều người nhận xét hương thơm của loại lan màu tím thơm hơn loại màu trắng.

Hoàng phi hạc ưa nắng, không thích ẩm nhiều. Bạn có thể ghép vào gỗ, trồng trong giỏ treo nhưng cần giá thể thoát nước nhanh. Ghép gỗ thì chèn 1 cục than củi hoặc 1 cành cây nhỏ giữa gốc lan và giá thể. Trồng chậu thì dùng dớn cục to đặt vào chậu trước. Cho gốc lan vào rồi lấy dây buộc các cọng thân vòng quanh cho gốc cách giá thể 2-3 cm. Khi rễ mọc sẽ vươn bám xuống, tránh gốc lan tiếp xúc trực tiếp với giá thể.

Ngoài ra bạn có thể trồng trong chậu với dớn vụn hoặc vỏ thông. Tất nhiên các loại giá thể đều nên ngâm qua nước vôi khoảng 1 ngày sau đó rửa lại thật sạch. Rồi mới đem ghép cây vào giá thể. Giả hành của lan hoàng phi hạc rất cứng và mầm non luôn hướng lên phía trên. Do đó bạn nên trồng hướng dáng thẳng là tốt nhất.

Nếu muốn trồng tốt thì nên trồng trước khi mầm gốc nảy hoặc trước khi mầm gốc mọc rễ. Thời điểm trồng tốt nhất nên là những tháng cuối năm tháng 12 cho đến tận tháng 4 năm sau. Việc trồng khi đã có rễ thì hơi khó và dễ làm mầm bị chột và khó phát triển.

Nếu chọn giống mua về, bạn nên cắt tỉa sạch sẽ rễ và vặt bỏ lá vàng bị dập nát. Sau đó bạn tách từng cặp giả hành hoặc ba giả hành liền nhau làm một nhóm với nhau. Bạn tiến hành ngâm chìm phần giống trong dung dịch Physan với khoảng 1 lít nước. Ngâm trong khoảng 15 phút là được. Sau khi ngâm vào dung dịch bạn vớt ra và để ráo.

Kỹ thuật trồng lan Hoàng Phi Hạc khá đơn giản. Trồng Lan vào chậu hay vào ghép gỗ cũng phải đặt thẳng để ngọn cây hướng về phía ánh nắng. Giúp cây quang hợp tốt, giữ cho gốc thật chắc phòng khi va chạm vào gỗ rễ. Không bị lung lay khiến bị thui rễ. Thường thì trồng vào cục gỗ hoặc cây sống thì không giữ được độ ẩm tốt bằng trồng chậu. Thế nhưng loại này nên trồng vào cục gỗ hoặc cây vì loài này ưa thoáng gió nắng. Vậy cây sẽ phát triển tốt hơn.

Bạn chỉ cần có 1 khu vườn nhỏ với có ánh nắng khoảng 3h đồng hồ trở lên. Hoàng Thảo Phi Hạc là loại hoa lan ưa ẩm và thoáng gió, loại này rất cần nhiều gió. Ánh sáng từ 20-50%, độ ẩm trong không khí 70%-80% là cây phát triển tốt. Bạn có thể tạo ra độ ẩm phù hợp bằng cách đặt những khay nước phía dưới dàn. Nếu vườn không ít gió hoặc hoàn toàn không có thì nên lắp một chiếc quạt thông gió vừa giúp thông gió vừa làm mát cho cả vườn.

Vì điều kiện ánh sáng khoảng 60-70%, bạn có thể treo những giò lan dưới một lớp lưới Thái. Với những nơi thiếu ánh sáng thì lan dễ bị bệnh. Còn nếu quá nhiều nắng thì lá vàng sẽ không đẹp.

Bón cho cây vào thời điểm cây đã và đang phát triển bộ rễ. Có thể dùng phân tan chậm hoặc dùng phân bón qua lá. Bón phân cho cây quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa phát triển mạnh về lá và than. Giúp cho cây khỏe mạnh và nhanh lớn.

Chúng ta nên bón phân đều đặn vào đầu năm. Để tích lũy đủ lực để cây phát triển tốt và năm tới cho hoa đẹp. Những tháng mưa nhiều nên dừng bón. Vì nước mưa đã có rất nhiều chất thúc đẩy cây phát triển tốt.

Để cây hấp thụ thuốc tốt nhất thì nên phun vào buổi chiều mát và không có mưa. Mỗi tháng nên phun một lần để phòng bệnh cho lan. Vào những tháng mưa nhiều nên phun liên tục từ 10-15 ngày 1 lần. Khi thấy thời tiết sắp mưa dài ngày là phải phun trước phòng để tránh trường hợp cây bị bệnh.

Hoàng Thảo Kèn tên khoa học là Dendrobium Lituiflorum. Hoàng Thảo Kèn là một trong những loại lan tuyệt đẹp và quý hiếm. Cần có biện pháp bảo vệ và lời khuyên với người mới chơi lan là không nên trồng loại này, hãy để chúng nở hoa ở trên rừng trong môi trường tự nhiên của nó.

Hoàng thảo kèn hiện cũng được liệt kê vào 1 loại lan rừng thuộc loại “khó thuần” nên khi trồng và chăm sóc, chúng ta cần chú ý hơn để không bị bỏ học phí cao vì đây cũng là một trong những loại lan thuộc hàng đắt tiền hơn nhiều loại lan rừng khác.

Do tác giả bài viết này là người miền Bắc (tỉnh Cao Bằng) nên xin đưa ra những kinh nghiệm của cách trồng này áp dụng đối với khí hậu miền bắc có mùa đông với thời tiết giá lạnh, còn bác nào ở miền nam thì có thể áp dụng phương pháp cắt nước giống như phi điệp.

Hoàng thảo kèn – Dendrobium lituiflorum trồng tốt nhất khi cây đã đứng ngọn hoặc bắt đầu nẩy mầm non.

Khi các bạn đã có giống. Việc đầu tiên là để cây quen với môi trường mới từ 2-3 hôm (để nơi thoáng, mát, tránh ánh sáng mạnh, chỉ phun sương nhẹ). Sau đó các bạn cắt tỉa toàn bộ phần rễ hỏng. Chỉ để lại từ 2-3cm, để dễ dàng cho việc ghép, khi ghép các bạn có thể khoan lỗ và dùng đủa tre để định vị cây thay vì bạn đóng đinh (vì khi đóng đinh sau một thời gian sẽ bị rỉ sắt và sẽ gây đen đầu rể. Các bạn có thể ngâm phần gốc, hoặc toàn bộ cả cây vào nước vôi trong và được hòa loãng, hoặc ridomilgold. Việc làm này nhằm khử khuẩn và nấm bệnh từ 30 – 40 phút. Sau đó lấy cây ra để khô ráo ở nơi thoáng mát ít nhất từ 1- 2h. Tiếp theo các bank dùng B1+ Antonik (thuốc kích thích tăng trưởng thế hệ mới) hòa cùng nhau theo tỷ lệ hướng dẫn. Ngâm toàn bộ phần gốc hoặc toàn bộ cây cũng từ 30-45 phút. Sau đó các bạn lấy cây ra, để nơi khô thoáng. Đến khi nào cây ráo nước là có thể ghép lên giá thể

khi trồng cần lựa chọn giá thể sao cho phù hợp. Sự lựa chọn tốt nhất là thớt gỗ vú sữa, nhãn, đào đều được và tốt nhất thì dùng lũa là phù hợp. Trồng chậu ko phù hợp cho lắm vì mùa đông mưa nhiều và kéo dài, khí hậu nóng ẩm nên cây dễ bị thối gốc, rễ…) chỉ trồng chậu thoáng để tránh được ẩm và chế độ nước phải điều tiết được. Nếu trồng kèn thì chỉ làm 1 tầng, nếu làm giàn 2 tầng phải để kèn ở tầng trên.

Đa số kèn phát tán và phát triển tốt hơn ở vùng nóng.

Nhìn thân già kèn các bạn có thể hiểu, thân đều tím đậm đến cháy nắng.

Khi cây trưởng thành rất cần ánh sáng, và nước nhiều. Nếu thiếu anhs sáng cây sẽ còi, thân sẽ mảnh, nhỏ nhìn thiếu sự sống. Khi cây đã đứng ngọn nên cho ăn nắng từ 70-100% để cây khỏe. Kèn ko nên trồng dưới tán cây quá râm mát. Kèn thích môi trường thoáng gió và đảm bảo đủ ánh sáng. Tán cây sẽ làm cây thiếu nắng, dẫn đến cây yếu, bé, gầy và ko khỏe (cớm nắng), có thể cây sẽ kém phát triển hoặc chết do nấm bệnh, thối ngọn, gục thân……

Cần tránh ẩm ướt quá, ko nên tưới khi ánh sáng quá mạnh. Đợi khi mát như sáng sớm hoặc 5-6h chiều là ok. Thời kỳ phát triển cần rất nhiều nc để cây tích trữ chất dinh dưỡng cũng như kéo dài thân (nếu lượng nc ko đủ cây sẽ ngắn, teo tóp, gập thân và hoặc đứng ngọn sớm). Tùy vào thời tiết, độ ẩm, ngày có thể tưới nước từ 1-2 lần vào thời kỳ cây phát triển mạnh.

Hạn chế tưới nc vào những ngày mưa, độ ẩm trong không khí quá cao.

Có thể dùng thêm nước vo gạo hàng ngày để tưới cho cây (có nhiều b1 và vi chất tự nhiên)

Kèn rất thích phân hữu cơ, nên bón thêm NPK 30-10-10 + B1. Ở thời điểm sinh trưởng và phát triển. Thời kỳ trưởng thành dùng NPK 20-20-20. Để cây phát triển cân đối, dùng NPK 6-30-30 hoăc 10-55-10. Sau thời kỳ trưởng thành và chuẩn bị ra hoa. Nên bổ sung vi chất như Ca, Mg, bo. Để cây khỏe, tránh trường hợp bị tóp thân, gập gốc, gẫy ngang thân do thiếu nắng, nước và vi chất. Nếu có điều kiện các bạn có thể dùng thêm các chế phẩm sinh học, chất kích thích tăng trưởng cho phong lan để hỗ trợ.

Vào mùa hè, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều. Có thể dùng 1 số loại thuốc phòng bệnh định kỳ như Ridomil gold/ Antracol 70Wp, Aliette và các loại khác theo liều lượng và chỉ định của toa thuốc. Trị nấm bệnh thối nhũn thì dùng Stanner, Poner 40TB hoặc Physan 20SL theo liều lượng của toa thuốc.

Ở Việt Nam loại lan giả hạc này thường xuất hiện trong những cánh rừng trên các cành cây có cao độ khoảng 1000-1300 m tại một số tỉnh phía Nam và Bắc hiện nay như Vinh, Đà Lạt, Bảo Lộc, Đắc Lắc, vv.

Lan giả hạc có chiều dài thân lên đến 1,2m và buông thong xuống. Với những chiếc lá mọc đối cách nhau dài từ 8-12cm và có chiều rộng từ 4-7cm. Lan giả hạc nổi tiếng nhất là những chùm hoa dài to như những chú hạc chao nghiêng bay lượn trên bầu trời. Mỗi hoa có đường kính 10cm và thường mọc từ 1-3 chiếc ở các đốt đã rụng lá. Hoa thường có màu hồng và trắng cùng màu tím ở môi và lưỡi hoa. Mỗi khi hoa nở sẽ tỏa ra một hương thơm ngào ngạt và bay đi rất xa. Với những cây trưởng thành thì mỗi cây có thể cho ra đến 50-70 bông là chuyện bình thường. Lan Giả Hạc có đặc điẻm khá thú vị là khi hoa nở thì mùi hương lan tỏa khắp vườn, hoa nở 7-10 ngày mới tàn, khi hoa tàn vẫn còn mùi hương.

Lan giả hành thích hợp nhất khi được trồng vào mùa ngủ của giả hành. Đây là lúc giả hành tơ trụi hết lá cho tới khi sắp nảy mầm ở gốc.

Tuy nhiên lan giả hạc có thể trồng được bất cứ mùa nào trong năm và bạn có thể trồng được tuy nhiên mức độ sinh trưởng sẽ không thể bằng đúng mùa được.

Lan giả hạch có thể được thực hiện trồng trên nhiều loại giá thể khác nhau. Mỗi loại đều có được ưu và nhược điểm khác nhau.

– Lũa: Khi trồng trong gỗ lũa bạn sẽ có thể được những tác phẩm rất nghệ thuật. Cây phát triển tốt tuy nhiên chậm lớn và khó dài và mập.

– Chậu đất nung: Nếu như chất trồng chính là than thì sẽ khá kém. Tuy nhiên bạn nên phối trộn với những loại chất trồng như vỏ thông vụn sẽ tốt hơn lũa và cây sẽ mập mạp và phát triển dài hơn.

Để cây phát triển tốt nhất bạn nên nhẹ nhàng tách riêng từng giả hành ra. Riêng giả hành 1 và 2 tuổi bạn nên để dính vào nhau, như vậy sẽ đảm bảo nguồn chất dinh dưỡng đầy đủ nhất cho giả hành con sau này. Với những giả hành từ 3 năm tuổi trở nên tốt nhất là bạn chia nhỏ từng cọng ra để cho dễ trồng.

Sau khi tách riêng ra rồi, lúc này bạn mới bắt đầu tỉa rễ già và những phần gãy dập, nhớ để lại 2cm rễ để bắn ghim cố định giả hành vào giá thể.

Để ngâm lan giống giúp cây phát triển tốt hơn bạn nên pha 1 chậy chat Physan 20 nồng độ 1ml/ lít nước. Ngân toàn bộ số lan giống vào chauaj khoảng từ 5-10 phút. Sau đó bạn vớt ra và để ráo khoảng vài tiếng. Ngâm như vậy sẽ giúp lan được bổ sung nước và chất dinh dưỡng, đánh thức các mắt ngủ và tăng sức đề kháng.

Để ghép lan được thành công bạn tiến hành găm phần rễ vào bảng dớn hoặc bảng gỗ thật chẵc chắn. Để cây ghép phát triển tốt bạn nên tách riêng phần giả hành tơ và giả hành già ra hai bên. Giả hành dài ghép chung với dài thành 1 giò để được sự phát triển đồng đều hơn.

Nếu như bạn trồng ở trong chậu thì bạn cần cố định chắc chắn phần giả hành vào với móc treo sao cho phần gốc giả hành được giữ cố định và không bị lung lay. Khi mầm lan cao lên bạn có thể lấy dây mềm đỡ cọng lan khỏi gập hoặc vặn ngắn bớt 1 sợi móc lại làm nghiêng cái chậu để giả hành thòng xuống.

Sau khi ghép xong bạn treo lên giàn và đặt ở những nơi có ánh nắng chiếu khoảng 60-70%. Với những xứ nóng thì gốc lan cách lưới ít nhất 1.5m

Sauk hi lên giá thể bạn tiến hành phun một số chế phẩm như chế phẩm Hùng Nguyễn 1 lần nồng độ 1ml/1 lít (20 giọt) hoặc B1+Atonik

Sau khi phun chế phẩm tới khi thắt ngọn thì bạn ngừng lại. Các loại phân kích rễ khác như Terra Sorb 4 hoặc N3M. Sau khi sinh trưởng bạn tiến hành phun định kì khoảng từ 10 đến 20 ngày lần.

Khi lan được koảng tám tháng tuổi bạn nhớ phun cho cây một lượng 6-30-30 TE, phun 3-4 lần, 10 ngày 1 lần hoặc bón phân hữu cơ tan chậm 3-6-6TE.

Lan giả hạc là loại lan khỏe mạnh tuy nhiên vẫn gặp một số loại sâu bệnh cắn phá như các loại rầy, rệp non và bọ trĩ. Chính vì thế cần phải chăm sóc thăm nom thường xuyên để phát hiện kịp thời mầm bệnh từ đó có cách điều trị cho kịp thời hơn.

Cây lan tai trâu là loại cây thuộc nhóm đơn thân không giả hành. Cây có hệ lá dài từ 20-30cm và có chiều rộng từ 4-7cm. Lá non có màu xanh với những đường sọc trắng chấm tím. Trên thân của cây có nhiều rễ trên không mọc thẳng từ thân. Điểm đặc biệt và đẹp nhất chính là lúc cây ra hoa. Hoa của lan tai trâu mọc thành từng chùm lớn dài cong đến 30cm. Hoa nhỏ xòe xếp vào nhau có màu hồng nhạt với những chấm tím đẹp mắt. Một cây trung bình có thể cho ra tới 4 chùm hoa và sẽ thơm ngát cho đến 3 tuần sau đó.

Ngoài màu sắc đặc trưng là trắng hồng tím thì giờ đây loại lan tai trâu này còn được cho lai tạo để ra những màu khác như đỏ đậm, đỏ hung vv. Tùy thuộc vào nhiệt độ không khí trồng mà màu sắc có thể thay đổi đôi chút.

Do có màu sắc đẹp, cây khỏe mạnh và sinh trưởng tốt lại nở hoa đúng dịp tết nên được nhiều người chọn trồng trưng trong 3 ngày tết cạnh bàn thờ để tưởng nhớ người quá cố. Đây được coi là loại lan quốc hồn quốc túy của Việt Nam.

Lan tai trâu vốn là loại cây khỏe mạnh và sinh trưởng tốt. Cây có khả năng chịu hạn và nóng khá tốt. Nhiệt độ thích hợp nhất cho lan tai trâu từ 26-30 độ C. Lan tai trâu muốn nở to và đẹp thì chỉ cần chú ý đến một số đặc điểm cơ bản sau:

Cây ưa ánh sáng ở mức trung bình. Tốt nhất nên trồng ở dưới mái hiên hoặc dưới tán cây khác vì nếu để ra ngoài trời nắng trực tiếp có thể khiến lá cây bị cháy. Lan tai trâu nên trồng ở nơi thoáng gió và không khí trong lành. Nhiệt độ thích hợp cho cây vào khoảng 26-32 độ C. Nhiệt độ ngày đêm chênh lệch khoảng từ 10 độ C nếu chênh lệch quá lớn cây sẽ không thể ra hoa được. Cây trồng cần có độ ẩm không khí khoảng 70-80%. Ngoài mức này cây phát triển kém hoa nở không đẹp.

Chế độ nước: Cây lan tai trâu có yêu cầu về nước ở mức trung bình. Vào mùa hè cần tưới tăng lượng nước 2-3 lần một ngày nếu như bạn trồng trên giá thể gỗ. Nếu như trồng lan tai trâu trong chậu với giá thể vỏ cây hoặc than thì một tuần chỉ cần tưới 2-3 lần là đủ. Cây lan có đặc điểm không chịu được rễ ngập úng trong nước mà phải để thoáng khí và khô thì cây mới phát triển tốt. Vào mùa đông ngưng tưới nước và phải giữ cho lá và rễ được khô ráo trước khi trời tối.

Chế độ bón phân cho cây: Cây lan tai trâu chỉ nên bón phân khi lá bắt đầu mọc hoặc rễ có ra những mầu xanh. Loại phân phù hợp là phân chuồng hoai mục, phân NPK bón định kì hàng tuần mỗi lần ¼ thìa cà phê hòa với 4 lít nước tưới cho cây. Vào mùa đông ngừng bón phân.

Chú ý: Lan tai trâu thường mọc ở những nơi thoáng gió nên không chịu được ở những nơi u tối và hẹp. Lan cũng không ưa bị quấy nhiễu nên hạn chế thay chậu. Hiện nay thú chơi của nhiều người là trồng lan trên một giá thể gỗ hoặc trồng trong để phơi rễ ra ngoài. Nhưng trồng cách này cần phải có ẩm độ thật cao và mùa hè phải tưới tối thiểu mỗi ngày một lần, nhất là vào những ngày nóng nực hay khô ráo.

Hoa lan tai trâu thường nở hoa vào dịp cuối mùa đông đầu mùa xuân khoảng tháng giêng âm lịch. Khi có những dấu hiệu hoa lan ra nụ bạn tiến hành phun nước hoặc tăng cường độ ẩm hoặc tưới sơ qua. Để kích thích lan nở sớm hơn bạn tiến hành tăng nhiệt độ cho cây bằng cách mang vào trong nhà hoặc để dưới ánh đèn tuy nhiên cần để những nơi thoáng gió và có độ ẩm.

Để có một không gian tươi mới, thoáng mát nhiều màu sắc hơn cho ngôi nhà bạn, nhiều người đã lựa chọn lan hồ điệp để chơi và trang trí cho khu vườn ngôi nhà mình. Lan hồ điệp được mệnh danh là “nữ hoàng của các loài lan”, mang vẻ đẹp cao sang, tinh tế, quý phái và tao nhã. Cái đẹp của lan hồ điệp có thể thu hút bất cứ ai, từ những người trẻ thích rực rỡ nổi bật, những người chuộng sự đằm thắm, hay người tinh tế nhẹ nhàng.

Lan Hồ Điệp là một trong những loài hoa quý phái, lộng lẫy và sang trọng cho mọi không gian. Nếu biết cách chăm sóc thì lan Hồ Điệp sẽ nở rất lâu tàn, có thể kéo dài đợt hoa từ 3-4 tháng, thậm chí 6 tháng. Và sau khi hoa tàn, nếu được chăm sóc tốt thì lan Hồ Điệp sẽ khỏe mạnh và sớm ra đợt hoa mới.

Lan Hồ Điệp là loài cần ánh sáng để phát triển tốt. Những chậu lan khi mua về trưng bày trong nhà nên được để ở nơi có ánh sáng vừa phải như: vị trí ở gần cửa sổ, phòng khách có đèn chiếu sáng nhân tạo. Phải chú ý, tuyệt đối không được để chậu lan dưới ánh nắng trực tiếp, vì cây sẽ bị vàng lá, cháy thân lá và hoa nhanh tàn… Ánh sáng lý tưởng cho lan Hồ Điệp phát triển tốt chính là ánh mặt trời vào lúc sáng sớm hoặc chiều muộn.

Loài lan này cần nhiệt độ ban ngày là 18-29oC và nhiệt độ ban đêm là 13-18oC. Nhiệt độ tốt nhất cho hoa là ở 21-32oC. Trong suốt mùa thu, cần duy trì nhiệt độ dưới 16oC cho lan Hồ Điệp liên tục trong 3 tuần khi cụm hoa bắt đầu xuất hiện. Việc làm này sẽ giúp lan tránh được hiện tượng rụng nụ khi có sự thay đổi bất thường về nhiệt độ.

Lan Hồ Điệp cần 50-80% độ ẩm. Nếu độ ẩm thấp hơn cần cung cấp nước cho cây và môi trường xung quanh xung quanh chậu trồng. Ngược lại, nếu ẩm độ cao hơn mức quy định cần chú ý tăng độ thông thoáng cho cây lan Hồ Điệp.

Việc tưới nước cho lan Hồ Điệp là việc làm quan trọng và nên thực hiện một cách cẩn thận. Tùy vào từng mùa và điều kiện của môi trường mà cây có nhu cầu nước khác nhau, do đó lượng nước tưới cho cây phải phù hợp với từng mùa, đồng thời cũng xem xét nhu cầu nước và giá thể sử dụng.

Nguồn: sưu tầm


【#2】10+ Kinh Nghiệm Du Lịch Đảo Hoa Lan Nha Trang

Sở hữu cảnh sắc 3 trong 1 rừng vàng biển bạc thác cheo leo, Đảo Hoa Lan không ngừng được khen ngợi bởi du khách trong và ngoài nước. Là một trong những địa điểm tham quan, du lịch vui chơi bậc nhất Nha Trang.

Chiêm ngưỡng hàng trăm loài hoa lan đua nhau khoe sắc, thỏa sức đắm mình trong làn nước mát lạnh tại bãi tắm An Bình với bãi cát trắng mịn màng hay trải nghiệm hàng loạt các trò chơi, các buổi biểu diễn xiếc thú vô cùng hấp dẫn.

Đảo Hoa Lan ở đâu?

Khu du lịch (Đảo) Suối Hoa Lan cạnh Đảo Khỉ Nha Trang tọa lạc tại bán đảo Hòn Hèo, thuộc Vịnh Nha Phu. Cách trung tâm thành phố 18km về phía Đông Bắc, thuộc xã Ninh phú, thị xã Ninh Hòa, Khánh Hòa.

Đảo Hoa Lan được xây dựng thành khu du lịch sinh thái do Công Ty Cổ Phần du lịch Long Phú đầu tư, nâng cấp, phát triển với nhiều hạng mục mới. Tại đây có 4 khu chính đó là: khu bãi tắm An Bình, Khu tham quan hoa Lan, Khu thú (vui chơi + xiếc thú) và khu nhà hàng.

Du lịch đảo hoa lan thu hút du khách bởi nét đẹp hoang sơ của bãi tắm An Bình nổi tiếng, nhiều trò chơi giải trí thú vị, là địa điểm du lịch thích hợp cho cả người già và trẻ em. Hơn nữa nơi đây còn được tích hợp các trò chơi trên biển cao cấp như lặn biển Nha Trang, chèo thuyền Kayak hay chinh phục đỉnh núi Hòn Hèo cao gần 700m cho các bạn trẻ. Chắc chắn đảo Hoa Lan sẽ là địa điểm không thể thiếu trong hành trình du lịch Nha Trang của bạn.

Vì Sao có tên gọi là đảo Hoa Lan?

Nếu như hỏi người dân Nha Trang thì đều gọi nơi đây là Suối Hoa Lan. Bởi tên của đảo này được đặt theo tên của dòng suối chảy qua và nối liền bán đảo Hòn Hèo với Đầm Nha Phu. Dòng suối này sẽ chảy qua các ghềnh thác cheo leo rồi mới đổ vào Đầm Nha Phu, và nuôi dưỡng toàn bộ sự sống trên đảo.

Nối liền bán đảo Hòn Hèo và Đầm là khoảng đất trống rộng 20ha, khi thác chảy xuống tạo nên những cảnh quan rất kì vĩ. Cảnh sắc thiên nhiên lạ mắt từ triền núi xuống đồng bằng rồi tới bãi biển. Tuy nhiên, trải qua thời gian dòng suối nước ngọt duy nhất này dần cạn và không thể tham quan được. Do vậy để tránh hiểu lầm cho du khách nên công ty Long Phú Tourist đã thay đổi tên cho nơi này thành Đảo Hoa Lan Nha Trang.

Có nên đi khu du lịch suối Hoa Lan không?

Hơn nữa, xưa kia nơi đây mọc rất nhều loại hoa lan rừng quý hiếm. Từ Vũ Nữ, Đuôi Sóc, Tai Trâu, Phượng Hoàng đến Tiên Nữ, Đuôi Gà, Quế Hương, Đuôi Chồn, Nghinh Xuân… Lan mọc ra từ những cây cổ thụ, trên tảng đá hay vách đá cheo leo khoe sắc tuyệt đẹp.

Theo mình đây là địa điểm rất phù hợp cho gia đình có người già hoặc có con nhỏ. Vì là khu du lịch sinh thái nên trên đảo có nhiều bóng cây rất mát mẻ. Tàu đi nhanh không say sóng, nhiều hoạt động vui chơi, ăn uống ngay trên đảo và đặc biệt là giá vé khá rẻ. Sự nhẹ nhàng, yên tĩnh, hòa mình với thiên nhiên thật sự thú vị.

Giá vé đảo Hoa Lan Nha Trang 2021

Giá dịch vụ tại đảo Hoa Lan

0975.676.548 0981.211.948

Cách di chuyển đến đảo Hoa Lan

Để đến đảo Hoa Lan hay đảo khỉ bạn cần di chuyển đến bến tàu du lịch Long Phú hay còn gọi là bến Nha Phu. Tọa lạc tại quốc lộ 1A, thôn Cát Lợi, xã Vĩnh Lương, Nha Trang, Khánh Hòa, còn gọi là Cảng Đá Chồng – Vĩnh Lương. Lưu ý là mỗi đi tàu từ Cảng đến đảo phải mất 30-40 phút và khách tối thiểu phải từ 10 người trở lên. Nếu gia đình bạn ít hơn 10 người thì nên đi sớm trước 9h để xếp chỗ lên tàu.

Bạn có thể sử dụng xe máy để tự túc đi tới Cảng. Đi theo tuyến đường Trần Phú, qua cầu Trần Phú nhưng đi ngược lại hướng đến Vinpearl Land Nha Trang. Vừa qua cầu bạn rẽ trái theo vòng xuyến đi thẳng đến đường 2/4. Đến 2/4 rẽ phải và cứ thế đi thẳng theo quốc lộ 1A sẽ thấy bến tàu Long Phú.

Nếu đi bằng taxi đến Cảng thì chi phí dao động tầm 270-300k/lượt. Nhưng để tiết kiệm hơn bạn có thể chọn xe buýt là thuận lợi nhất.

Xe Buýt đi đảo Hoa Lan

Hiện nay có 2 chuyến xe buýt đi đến Cảng Đá Chồng để qua đảo Hoa Lan. Cụ thể là xe buýt Quyết Thắng chạy Nha Trang – Ninh Tây hoặc Nha Trang – Vạn Giã, có màu đặc thù là bus trắng xanh hoặc vàng xanh. Bạn chọn tuyến nào cũng được.

Lịch trình và trạm dừng của xe bus: 86 Trần Phú → Trần Quang Khải → chung cư Nguyễn Thiện Thuật → Ngã 7 Quang Trung → Thông tin, chợ Đầm → Đường 2/4 (ngân hàng Vietcombank, nhà thờ Anton (ĐH Nha Trang), nhà sách Vĩnh Phước, chợ Vĩnh Hải)→ Bến Xe Phía Bắc → Sao Mai Anh → Quốc Lộ I A → Chợ Lương Sơn → Cảng Long Phú (Đảo Hoa Lan).

Khi lên xe buýt chỉ cần nói bác tài là đến Cảng Long Phú để đi đảo Hoa Lan là họ sẽ biết. Giá cho mỗi tuyến đi dao động khoảng 18k/người.

Khung giờ tàu chạy

Thời gian di chuyển đến đảo Hoa Lan là 40 phút nên quy định tàu chạy cho khách lẻ là trước 9h15. Nếu sau 9h30 thì phải ít nhất 10 người mới đủ điều kiện xuất bến. Do đó hãy đến trước 9h để xếp hàng đi qua đảo. Bạn cũng có thể thuê cano riêng đi cho nhanh, chỉ mất 10 phút là đến được đảo rồi.

Chiều tàu đưa khách trở lại đất liền, lần lượt vào 13h, 14h và 15h30 đối với khách lẻ. Với khách đoàn hay đi tour hoa lan đảo khỉ thì về muộn hơn, thường là 16h30.

Cảnh đẹp trên đảo

1. Con đường Hoa Lan (vườn hoa lan)

Nếu bạn là tín đồ của hoa lan thì chắc chắn nơi đây là địa điểm tuyệt vời dành cho bạn. Vườn hoa lan được sưu tầm đầy đủ hàng trăm loại lan. Trong đó có nhiều loài quý hiếm trong và ngoài nước như: Hỏa Hoàng, Tiên Nữ, Quế hương, Nghinh Xuân, Mokara, từ Vũ Nữ, ngọc Điểm, Dendro, phượng Hoàng… Được mọc lên trên nhiều tiểu cảnh rất bắt mắt như thân cây, tảng đá thi nhau đua sắc bên tiếng suối chảy róc rách.

2. Con đường nón lá

Những chiếc nón lá đặc trưng dân tộc được treo trên những ngọn trúc dọc 2 bên đường. Hệt như đang đón chào du khách đến với đảo Hoa Lan. Những hàng nón đu đưa trưa gió, ngả bóng dưới đường đi tạo nên bức tranh phong cảnh nhẹ nhàng tuyệt đẹp. Đi trên con đường nón lá bạn như được hòa mình với thiên nhiên, đem lại cảm giác thanh bình tĩnh lặng nhưng không kém phần độc đáo. Nơi đây cũng là địa điểm check in nhiều nhất của các bạn trẻ.

3. Vườn Bướm

Khu vườn bướm “Butterfly Garden” lớn nhất Nha Trang được tích hợp trên đảo Hoa Lan với hơn 20 loài và hơn 1000 cá thể được nuôi thả hoàn toàn tự nhiên. Đội kỹ thuật bên đảo sẽ phân tích ánh sáng, nhiệt độ để có thể nuôi và thả bướm một cách tốt nhất và không làm mất cảnh quan của du khách đến check in. Đây là điểm tham quan vô cùng độc đáo chỉ có tại Đảo Hoa Lan Nha Trang.

4. Khu vườn Disney Land

Nếu muốn trở về tuổi thơ với những câu chuyện cổ tích Disney thì đừng quên ghé qua khu vườn Disney Land trên đảo Hoa Lan. Đây là địa điểm mà những em nhỏ cực ưa thích, tạo hình của các nhân vật hoạt hình sẽ được dựng lại. Bao gồm: vịt Donal, chuột Mickey, gấu Pooh…

Bên cạnh đó là những tiểu cảnh được thiết kế và làm bằng vỏ lốp xe đủ màu hay làm từ cây xanh cũng độc lạ hết mức. Không những là nơi thu hút trẻ nhỏ, hòa mình với thiên nhiên vui đùa mà còn là nơi ưa chuộng của giới trẻ check in và hóa thân thành nhân vật.

5. Hồ nghinh xuân

Những cây cầu khỉ được bắt qua Hồ Nghinh Xuân, dưới làn nước êm ả thơ mộng, bên ngọn đồi chong chóng hay vườn hoa bướm vàng ươm khoe sắc tạo nên một Hồ Nghinh Xuân trầm mặc tuyệt tác.

Đối với những bạn sợ độ cao thì những cây cầu khỉ cũng là một trải nghiệm và hành trình chinh phục gian nan. Bạn sẽ cảm nhận được niềm hạnh phúc khi có thể chinh phục được chúng và ngắm nhìn toàn cảnh Hồ Nghinh Xuân êm ái và bình lặng.

6. Khu vườn Hưu Sao, Đà Điểu

Một địa điểm mà em nhỏ rất thích nữa chính là khu vườn hưu sao, đà điểu. Bạn sẽ được tiếp xúc trực tiếp với chúng, được chạm tay vào bên đàn hưu hiền lành và những chú chim đà điểu khổng lồ. Nếu sở thú bạn chỉ có thể nhìn thì tại vườn thú Đảo Hoa Lan bạn được vuốt ve chúng và chụp hình trục tiếp với chúng.

7. Bãi Tắm An Bình

Một trong những nơi không thể thiếu khi nói đến Hoa Lan đó là bãi tắm thơ mộng An Bình. Sở hữu đường bờ biển dài 2km sóng êm vỗ nhẹ vào bờ, bên bờ cát trắng tinh sạch đẹp. Nép mình phía sau là dãy Hòn Hèo dựng đứng hùng vĩ, khiến cho nơi đây thanh bình đến lạ và vẻ đẹp hoang sơ không tỳ vết.

Nước biển nơi đây trong xanh ngọc bích, chỉ ngang tầm bụng nên khá an toàn cho các tín đồ bơi biển. Tại đây còn cung cấp các dịch vụ giải trí dưới biển như Chèo thuyền Kayak, mô tô nước, dù bay… tích hợp dịch vụ giải trí phục vụ nhu cầu của du khách.

Du lịch đảo Hoa Lan chơi gì? Những hoạt động vui chơi giải trí hấp dẫn

1. Xem biểu diễn xiếc Chim

Buổi biểu diễn xiếc Chim là một phần không thể thiếu trong kinh nghiệm du lịch đảo Hoa Lan Nha Trang mà mình muốn giới thiệu đến cho bạn. Thật sự rất thú vị và chắc chắn bạn phải há hốc mồm và cười thật to.

Những vũ công chân dài của các cô nàng Đà Điểu sẽ lắc lư theo điệu nhạc Sampa, cách thể hiện IQ cực cao của cô vẹt mắt xanh Lucky hay chiêm ngưỡng những đường bay điêu luyện của đại bàng tung cánh. Bên cạnh đó là sự dễ thương của những chú gà sao, vịt trời, bồ câu đã làm cho đảo Hoa Lan trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết. Thời gian diễn ra xiếc chim là 11h hằng ngày tại khu xiếc thú đảo Hoa Lan.

2. Cưỡi Voi

Hầu như các động vật tại đảo Hoa Lan đều rất thân thiện và hiền lành. Đặc biệt là những chú voi trên đảo rất hiếu khách. Con trẻ có thể sờ vào voi, đuôi voi, ngà voi và cưỡi lên lưng voi. Hơn nữa còn được biểu diễn xiếc cùng những chú voi khổng lồ này. Sau khi check in và cưỡi voi là màn trình diễn ảo thuật xiếc voi với những động tác rất khó như voi thăng bằng, thổi kèn, đá bóng hay nhào lộn rất chuyên nghiệp.

3. Xiếc Gấu

Xong xiếc voi là những màn trình diễn liên tục của những chú gấu được huấn luyện rất kỹ lưỡng. Với những động tác đi xe đạp, thăng bằng, bập bênh… Và tiết mục đặc sắc được nhiều du khách ưa thích nhất chính là màn biểu diễn gấu đi xe máy. Những cái chân đầy móng vuốt nhọn lại điều khiển được chiếc xe máy một cách thuần thục dưới những tràn pháo tay của khách du lịch. Chắc chắn chương trình xiếc này sẽ làm bạn thích thú vô cùng.

4. Cưỡi Đà Điểu

Ngoài cưỡi Voi bạn còn có thể lựa chọn cưỡi Đà Điểu với giá 50k/lượt và chụp hình với đà điểu có giá 20k/lần. Cảm giác ngồi trên Đà Điểu vừa sợ vừa vui giúp cho bạn có được trải nghiệm chưa bao giờ có được.

5. Khu vui chơi cho trẻ em

6. Các trò chơi trên bãi biển

Bạn có thể tự do tắm biển thoải mái trên bãi tắm An Bình và tham gia các trò chơi giải trí đặc sắc như chèo thuyền Kayak, dù bay, công viên phao nổi, mô tô nước…

Ăn uống tại nhà hàng trên đảo

Nhà nghỉ, khách sạn trên đảo Hoa Lan

Đối với những du khách đi tour đảo Hoa Lan 2 ngày 1 đêm thì cần lưu ý lựa chọn nhà nghỉ/khách sạn phù hợp. Tuy vẫn chưa phát triển và đầu tư kỹ lưỡng như các khách sạn nha trang 3 sao nhưng vẫn đảm bảo tiện nghi cũng như sự thoải mái đến du khách.

  1. Nhà Xây máy lạnh: bao gồm 6 nhà xây có sức chứa 2-4 người mỗi nhà. Giá dao động 500-600k/phòng
  2. Lều gỗ: bao gồm 10 nhà gỗ, mỗi nhà có sức chứa 2 người, chỉ có quạt và không có máy lạnh. Giá dao động 400-500k/lều. Phù hợp cho những cặp đôi thích lãng mạn và riêng tư.
  3. Lều di động: là lều để mình cắm trại, bao gồm 100 lều, mỗi lều 1 người. Giá dao động 100-150k/người. Thích hợp cho những đoàn tổ chức tour team building Nha Trang với sức chứa 50 – 100 người.

Tour đảo Hoa Lan đảo khỉ 1 ngày và 2 ngày 1 đêm

Có 2 cách để bạn đi du lịch đảo hoa lan Nha Trang. Cách 1 là đi theo tour trọn gói và cách 2 là đi tự túc đến cảng và qua đảo vui chơi.

Tuy nhiên có một vài lưu ý nhỏ cho bạn. Đầm Nha Phu có 2 địa điểm nổi tiếng đó là đảo hoa lan và đảo khỉ, 2 hòn đảo này cách nhau khoảng 7 phút đi tàu thôi. Do đó hầu như mọi người đều chọn cách tham quan cả 2 đảo trong 1 ngày cho tiện và cũng để tiết giảm chi phí.

Nếu bạn tự thuê tàu/cano tự túc đi 2 đảo hoặc mua vé đi từ đảo này qua đảo kia, mình tính ăn trưa luôn sẽ tốn kém hơn rất nhiều nếu bạn đặt tour trọn gói của công ty du lịch. Còn bạn muốn đi 1 đảo thôi thì nên mua vé trước rồi đến cảng, sau đó qua đảo tự túc là hợp lý nhất.

Tour hoa lan đảo khỉ Nha Trang đi trong ngày sẽ trọn gói tàu/xe, phí tham quan, ăn trưa, bảo hiểm… Bạn không cần phải lo lắng mà chỉ việc xách ba lô và đi thôi.

Lời khuyên dành cho du khách lần đầu tới suối Hoa Lan

  1. Tới cảng đá chồng trước 9h để xếp hàng lên tàu nếu đi tự túc
  2. Đặt phòng trước 3 ngày khi có nhu cầu ở lại qua đêm trên đảo. Với kinh nghiệm du lịch đảo hoa lan Nha Trang của tôi thì bạn nên đặt phòng có máy lạnh nếu đi vào mùa hè cho mát.
  3. Thoa kem chống nắng, mặc áo dài tay, mũ nón tránh nắng để chuyến đi được trọn vẹn.


【#3】Cách Trồng Hoa Lan Tại Nhà Chuẩn Vườn Ươm

Cách trồng hoa lan tại nhà chuẩn vườn ươm Trong thế giới các loài lan có vô vàn màu sắc và hương sắc khác nhau. Từ nổi bật rực rỡ cho đến thanh cao và mềm mại. Mỗi loại đều có những yêu cầu điều kiện sống và sinh trưởng khác nhau nhưng có chung nhiều điểm chỉ có ở các giống lan. Trong giá hạt điều rang muối 500g bài viết này chúng tôi xin chia sẻ đến bạn các loại hoa lan đẹp – Hướng dẫn trồng và chăm sóc hoa lan đơn giản Lan là giống cây có nguồn gốc từ rừng sâu. Tùy vào điều kiện môi trường rừng khác nhau mà giá hạt điều rang muối loại 1 các loại lan có sự thích nghi khác nhau. Để trồng và chăm sóc các loại lan nói chung được khỏe mạnh và ra hoa nở to đẹp bạn cần đảm bảo được các điều kiện thuận lợi cho lan phát triển. Với các yếu tố quan trọng nhất được nêu như ánh sáng, tưới nước, giá thể trồng, độ ẩm và chế độ bón phần cho cây. Chậu phong lan đặt trong phòng nên để ở nơi râm mát, không tưới quá nhiều nước. Hãy dùng rong rêu đã làm ẩm để phủ quanh gốc sẽ giúp chậu lan phát triển và cho nhiều hoa. Nhiều người than rằng dù rất yêu hoa nhưng lại không thể nuôi được một chậu lan trong nhà vì không biết chăm nó thế nào. “Ôi tôi không thể trồng được cây trong nhà vì tôi không biết cách. Tôi có thể làm chúng chết mất”, đó là nỗi lo chung. Tuy nhiên trồng cây trong nhà không phải là việc khó khăn, chẳng hạn như chăm sóc chậu lan hồ điệp – một loài hoa tượng trưng cho sự sang trọng, quý phái. Chú ý đến việc thiết kế vườn trồng lan Với việc trồng và chăm sóc lan dù nghiệp dư hay chuyên nghiệp hoặc để kinh doanh thì việc chọn và thiết kế vườn trồng là khâu đầu tiên cũng là quan trọng nhất. Với người chơi lan bình thường: bạn có thể chọn những nơi cao ráo thoáng mát như sân thượng, mái hiên hoặc trên lan can đều trồng được loại lan này. Một chú ý bạn nên cân nhắc là với những ngôi nhà có vị trí này thường sẽ nóng và khô hơn do ảnh hưởng của kết cấu nhà bê tông. Nếu có thể bạn nên đặt thêm những chậu cây khác cao to để che bớt nắng và cung cấp độ ẩm trong không khí cho lan. Lan hồ điệp có nguồn gốc phương Đông, tên tiếng Anh là Phalaenopsis hay Moth orchird. Loài lan này cho hoa nhiều màu sắc khác nhau: trắng, tím, vàng, hồng… màu từ nhạt tới đậm. Hoa lan có đến hơn 35.000 chủng loại. Khi đặt trong nhà, những nhánh lan thanh mảnh sẽ góp phần làm cho mái ấm của bạn trở nên sang trọng hơn. Khi bạn mua những lan từ cửa hàng, chúng thường được trồng sẵn trong chậu. Bạn sẽ thấy cây có những cái rễ nhỏ màu trắng, mập mạp và chắc khỏe. Trước hết phải đảm bảo cho thân cây được nương vào một chiếc que dựng đứng để cây không bị gãy. Chỉ nên tưới nước một tuần một lần là đủ, cũng có thể dùng những viên nước đá nhỏ đặt dưới rễ cây để giữ nước và đảm bảo đủ độ ẩm cho thân lan cũng như toàn bộ rễ. Đầu tiên, bạn phải nghĩ bố trí đặt hoa ở đâu trong nhà để luôn đảm bảo đủ ánh sáng. Không nên để chậu lan hướng trực tiếp ra ánh sáng mặt trời, bởi nếu bị ánh mặt trời hướng tây chiếu trực tiếp, chúng sẽ không thể sống lâu được. Lan chỉ thích hợp với bóng râm để hoa luôn giữ được màu sắc tươi tắn và sống lâu hơn. Chọn lựa giống lan phù hợp Nếu như mới trồng bạn nên trồng những loại lan dễ sống, phát triển mạnh và cho hoa nở lien tục. Một số loại lan dễ trồng bạn có thể cân nhắc chọn trồng đó chính là Lan vũ nữ, Lan Hồ Điệp, Lan Dendrobium vv. Những loại lan này dễ chăm sóc và ra hoa khá đẹp. Chọn lựa giá thể trồng cây Gía thể trồng lan hiện nay phổ biến nhất là từ gỗ lũa và chậu đát nung. Gía thể bên trong chậu có thể là than gỗ, xơ dừa, vỏ lạc hoặc dớn. vv. Khi chuẩn bị bạn cần đặt than gỗ chặt khúc với kích thước 1x2x3cm và phải ngâm rửa sạch rồi phơi khô. Xơ dừa xé nhỏ cho tơi bạn nên ngâm khoảng 1 tuần cho bớt lượng tannin và chất mặn đi. Vỏ dừa bạn nhớ chặt khúc nhỏ như than rồi ngâm qua nước vôi 5% để diệt sạch nấm bệnh. Kĩ thuật trồng lan nói chung Với mỗi loại lan khác nhau sẽ có những cách thức trồng khác nhau tuy nhiên sẽ có nhiều điểm chung. Nếu bạn sử dụng cây giống lan là loại cây cấy mô thì ngay sau khi mô lan đạt cao 4cm bạn nên chuyển ra ngoài và rửa sạch và để kê trên chậu nước mát cho cây con. Cách chăm sóc lan ra hoa nở đẹp Các loại lan nói chung nhiều loài dễ trồng dễ chăm sóc tuy nhiên cũng không hiếm loại cây khó trồng và tính khí khá đỏng đảnh. Đễ chăm sóc nếu chúng ta đảm bảo được các điều kiện thuận lợi cho lan phát triển. Các yếu tố quan trọng nhất đối với lan là ánh sáng, nước tưới, độ ẩm, chậu hay giá thể và dinh dưỡng. Chế độ chiếu sáng Có thể nói cường độ chiếu sáng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển và sinh sản của lan. Nếu thiếu nắng cây lan của bạn tuy vươn cao nhưng ốm yếu và nhỏ không mập và lá thường có màu xanh tối nên dễ bị sâu bệnh hại tấn công. Chế độ bón phân cho cây Trong việc trồng lan thì việc bón phân cho lan là điều cần thiết đôi khi là bắt buộc đối với hạt điều rang muối xuất khẩu một số loại lan khó tính ưa dinh dưỡng cao. Một khi cây lan đủ dinh dưỡng lan sẽ phát triển xanh tươi, lá và giả hành sẽ to mập đồng thời hoa nở nhiều đều và đẹp.


【#4】Tổng Hợp Những Loài Lan Đẹp Nhất Thế Giới Cùng Vẻ Đẹp Mê Hồn

Lan hồ điệp cánh bướm

Loài hoa lan hồ điệp cánh bướm là loài hoa có nguồn gốc nhiệt đới, thích sống trên cây (biểu sinh) hoặc trên đá, chỉ xuất hiện ở các nước châu Á như Indonesia, Malaysia, Myanmar, Việt Nam và Đài Loan. Hiện nay loại lan này đã được du nhập sang nhiều quốc gia khác thuộc châu Âu, châu Mỹ với nhiều loại được lai tạo đẹp mắt, hình dáng đa dạng hơn các loài thuần chủng.

Vẻ đẹp sang trọng của loại hoa lan hồ điệp đẹp lung linh đặc sắc của hoa lan hồ điệp cũng như chúng ta đang có cảm giác đi giữa thế giới hoa lan. Lan hồ điệp được tôn vinh là nữ hoàng của các loài hoa lan, sở hữu vẻ đẹp sang trọng, thanh tao, quý phái mà vẫn không kém phần kiêu sa, quyến rũ. Hình ảnh những chậu hoa lan hồ điệp trắng đẹp tuyệt vời, tươi xinh luôn thu hút và làm say đắm bất cứ ai mỗi khi ngắm nhìn.

Loài hoa lan hồ điệp cánh bướm vàng đẹp nhất

Hoa lan hồ điệp cánh bướm trắng cực kỳ tao nhã

Loài hoa lan hồ điệp cánh bướm tím sang trọng

Lan căn điệp phong lan

Lan Căn diệp hay Đại diệp Taeniophyllum glandulosum không có lá và thân thì cực kì ngắn. Tổng thể hình dạng là bộ rễ phát triển dài và hơi dẹt. Rễ bám sát vào vỏ cây, chứa diệp lục nên có màu xanh đục, đây là bộ phận thay lá làm nhiệm vụ quang hợp.

Hoa rất nhỏ, cuống hoa dài 1.25 cm đến 5 cm, hơi ngoằn ngèo, mang một vài hoa có kích thước khoảng 5 mm. Hoa màu xanh-vàng nhạt, có lá bắc hình tam giác. Mùa hoa vào cuối Xuân đến đầu Hạ.

Sinh cảnh phân bố của chúng là các thân cây mọc trên rừng núi thấp ở độ cao 500 đến 800 m, với kích thước nhỏ và mọc ở xứ nóng hoặc ấm. Ở Việt Nam, loài phong lan này được tìm thấy ở các khu rừng núi đá vôi nguyên sinh hoặc thứ sinh vùng Tây Bắc, nơi có độ ẩm không cao và nóng.

Loài hoa lan căn điệp mang vẻ đẹp độc đáo sống dựa trên thân gỗ

Hoa lan căn điệp trắng thanh nhã, tinh khiết

Loại hoa căn điệp độc đáo, lạ mắt nhất, nở nụ

Giả hạc trắng Đài Loan

Lan Giả Hạc có tên là Dendrobium Anosmum, đây là một trong những loài lan đẹp, có hương thơm nồng nàn và là giống lan quý của rừng nhiệt đới.

Lan Giả Hạc một trong các loài hoa lan đẹp không còn mới mẻ gì đối với những người trồng lan, nhưng không phải những ai mới chơi lan điều biết cách trồng Lan Giả Hạc, đặc biệt là giống Giả Hạc Di Linh đang được săn lùng nhiều nhất và có giá cao nhất hiện nay.

Ở nước ta Giả Hạc sống tại các rừng cây thuộc Đô Lương, Vinh, Krong Pha, Đà Lạt, Di Linh, Bảo Lộc, Đắk LắK, Sông Bé, Lộc Ninh, Gia Lai,… Chúng sống trên những thân cây cao và mọc rủ xuỗng dưới. Thân dài tới 3m, lá mọc đối cách, hoa nở to khoảng 7cm ở các đốt đã rụng lá. Giả Hạc thường ra hoa vào mùa xuân và hoa có mùi rất thơm, cũng như một số loài lan như Lan Kim Điệp, Long Tu, Giả Hạc cũng là hoa chơi tết.

Về màu sắc Giả Hạc có các màu chính là tím, hồng và trắng. Ngoài ra còn có hồng nhạt hồng thẫm hoặc cánh trắng lưỡi tím. Tuy nhiên thường thì Giả Hạc chỉ dài khoảng 1,2 – 1,5m và nở hoa kéo dài trong 3-4 tuần lễ là tàn. Đặc biệt, lan Giả Hạc là giống cây rất dễ bị tác động bởi điều kiện ngoại cảnh, vì thế cùng một dòng nhưng ở mỗi vùng khác nhau sẽ có thời kì sinh trưởng, phát triển cũng như đặc điểm cây, hoa không hoàn toàn giống nhau

Loài hoa lan giả hạc có hương thơm nồng nàn, ngây ngất

Giả hạc 5 cánh trắng hồng đẹp

Hoa lan giả hạc trắng tím sang trọng

Lan trầm tím

Hoa lan lan trầm tím là một loài hoa quý hiếm có giá trị kinh tế cao bởi nét đẹp quyến rũ và luôn rực rỡ. Kỹ thuật trồng và chăm sóc lan trầm tím hơi phức tạp nhưng nếu trang bị kiến thức đầy đủ sẽ trở nên đơn giản.

Lan Trầm tím hay còn gọi là Dendrobium Nestor là loài lan được lai tạo giữa hai loài lan khác là lan Giả Hạc và lan Hoàng Thảo tím. Chính bởi sự kết hợp giữa 2 loài hoa này mà Lan Trầm tím trở thành loài hoa có một nét đẹp rất đặc biệt. Hoa nở có hương thơm nhẹ nhàng dễ chịu vì thế trong những ngày Tết đến Xuân về loài hoa này luôn thu hút được nhiều người tìm mua.

Loài hoa lan trầm tím toát lên vẻ đẹp thanh tao, quyến rũ

Lan phi điệp tím

Hoa lan phi điệp tím (Dendrobium anosmum), miền Trung-Nam thường gọi Giả Hạc/Giã Hạc là loại lan thuộc chi Hoàng thảo, người chơi ở Việt Nam xếp nó thuộc vào lan thân thòng vì khi mọc dài ra thân nó mềm thòng hướng ngọn xuống đất chứ không dựng đứng như các loại đùi gà, các loại Kiều, Long Nhãn, Kim Thoa…

Phi Điệp Tím có rất nhiều mặt hoa, có thể nói là đa dạng nhất, nhiều như mặt người vậy, tùy vùng miền xuất xứ mà dáng hoa khác nhau, độ đậm nhạt khác nhau, độ bay của cánh, hình dáng môi hoa, phân bố màu sắc…khác nhau. Ngay cả các cây cùng xuất xứ mặt hoa cũng hơi khác nhau được. Loài này có mùi thơm đậm, ngào ngạt, bay hương xa.

Loại hoa lan phi điệp tím mang vẻ đẹp lung linh

Hoa lan phi điệp tím rực rỡ giữa sắc xanh

Quế lan hương

Nếu đã từng một lần thưởng thức mùi thơm của quế lan hương thì chắc chắn bạn sẽ nhớ mùi hương nồng nàn hương quế của loài hoa này đến suốt đời. Có thể nói loài hoa lan Quế lan hương là vua của loài hoa lan có mùi thơm. Loài hoa lan này cũng thuộc dòng giáng hương và có mặt trên nhiều vùng miền của nước ta.

Loại hoa lan được mong đợi nhất năm 2021

Lan chi Ngọc điểm

Loài hoa Lan Chi Ngọc Điểm này còn có tên gọi phổ biến khác là lan tai trâu, có lá dày, hẹp, khi ra hoa thường cong hay thòng xuống, dài bằng chiều dài của lá, có nhiều hoa điểm tím, có khi ra cả chục chùm hoa. Ngọc điểm có mùi hương dễ chịu, thường nở hoa vào dịp tết nên được ví là lan của Tết cổ truyền, cây dễ trồng và phát triển. Ngọc điểm tuy có kích thước lớn nhưng thân không vươn quá dài nên có thể vừa thích hợp cho trang trí sân vườn thích hợp cho trồng treo ở cửa sổ, ban công có diện tích hẹp hơn.

Loài hoa lan chi ngọc điễm tím được yêu thích nhất vì vẻ đẹp tạo hóa độc lạ

Mẫu hoa lan chi ngọc diễm độc đáo

Lan Hồ Điệp Ấn

Khá giống loài Lan mokara. Loài Lan sống phụ sinh, không thân, rễ nhiều, mảnh. Lá thuôn bầu dục, dài 15 – 20cm, rộng 3 – 5cm, hơi cong, có mũi dài ở đỉnh, phiến màu xanh bóng với các đốm tía ở mép. Cụm hoa chùm buông xuống, dài hơn lá. Hoa lớn 4 – 6 chiếc màu vàng nghệ, có vệt răn reo nâu. Cánh môi chia 3 thùy, hai thùy bên thuôn, màu vàng, trắng nhạt. Thùy giữa hình lưỡi liếm có đầu thuôn nhọn, màu vàng đậm có vệt đỏ. Cây mọc từ Quảng Trị lên Tây Nguyên (Gia Lai, Kontum), Đà Lạt (Lâm Đồng) và phân bố ở Ấn Độ, Mianma.

Lan hồ điệp ấn loài lan quý có nhiều vệt đỏ bắt mắt

Lan Hồ Điệp Cúc Phương

Đây là loài lan được lấy tên theo địa danh tìm thấy lần đầu loài lan này. Lan sống phụ sinh, thân ngắn gốc nhiều rễ, dày. Lá thuôn bầu dục, dài 15cm, rộng 5cm. Cụm hoa dài, hoa xếp thưa (6 chiếc) lớn, màu trắng hay vàng nhạt, cánh môi màu da cam nhạt, chia 3 thùy, hai thùy bên tam giác, thùy giữa hình bán nguyệt có 4 vạch sợi. Cây mọc ở Cúc Phương (Nình Bình), và Tây Nguyên (Gia Lai, Kontum) Bình Phước (VQG Bù Gia Mập) và phân bố ở Ấn Độ, Mianma.

Hồ điệp Cúc Phương loài lan mang vẻ đẹp độc lạ

Lan Hồ Điệp Chiba

Loài Lan Chiba nổi tiếng sống phụ sinh, thân ngắn có bẹ. Lá lớn, dài 30cm, rộng 10cm. Cụm hoa ngang thẳng hay chia nhánh. Hoa lớn, dài 12cm, cánh môi lớn. hai thùy bên hình chữ nhật, thùy giữa hình trái xoan có vạch màu nâu dọc ở giữa. Cây mọc ở Lâm Đồng (Đà lạt), Tây Nguyên (Gia Lai, Kontum), và phân bố ở Malaysia, Indonesia, Philippines. Loài hoa lan này được ví như loài hoa của hoàng tộc, những người có vị thế thời phong kiến, bởi chúng mang vẻ đẹp ngỡ ngàng và độ quý hiếm của chúng.

Loài lan hồ điệp Chiba chỉ tồn tại trong sách đỏ, hiện rất khó tìm thấy ở ngoài tự nhiên

Lan Hồ Điệp Sơ Pai

Lan sống phụ sinh, thân ngắn có bẹ. Lá lớn, dài 30cm, rộng 10cm. Cụm hoa ngang thẳng hay chia nhánh. Hoa lớn, dài 12cm, cánh môi chia 3 thùy, hai thùy bên hình chữ nhật, thùy giữa hình trái xoan có vạch dọc ở giữa. Vẻ đẹp đầy ấn tượng này khiến chúng lọt vào TOP những loài lan đẹp nhất thế giới. Cây mọc ở Tây Nguyên (Gia Lai, Kontum), và phân bố ở Malaysia, Indonesia, Philippines.

Lan Hồ Điệp Sơ Pai loài lan nổi tiếng thế giới về sắc đẹp và độ hiếm

Lan Hồ Điệp Trung

Là loài Lan sống phụ sinh hay sống trên đá, thân ngắn, rễ nhiều dẹt, màu xanh. Lá 2 – 3 chiếc, thuôn bầu dục, dài 8 – 18cm, rộng 3 – 6cm dày, gân phụ nhiều. Cụm hoa chùm, gẫy khúc dài hơn lá. Hoa màu trắng, cánh môi màu vàng, chia 3 thùy, hai thùy đứng, thùy giữa rộng và nhọn đầu. Đây là một trong những giống lan đẹp nhất thế giới ghi vào sách đỏ. Loài đặc hữu Đông Dương, mọc ở Hòa Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Hà Tây, Đà Lạt (Lâm Đồng) và phân bố ở Lào.

Màu sắc loài lan hồ điệp Trung này khiến nhiều người không ngớt khen ngợi

Chiêm ngưỡng ảnh chậu Lan Hồ Điệp tại Hoa Tươi 360

Hãy liên hệ với chúng tôi qua:

Điện thoại: (028)22 298 398 – 0936 65 27 27 – 0977 301 303


【#5】Nghiên Cứu Nhân Nhanh In Vitro Loài Lan Kim Tuyến (Anoectochilus Setaceus Blume) Nhằm Bảo Tồn Nguồn Dược Liệu Quý

Đặt vấn đề

Từ xưa đến nay, lan vẫn được biết đến như một loài hoa quý phái, hoa của bậc vua chúa vương giả. Lan được phát hiện đầu tiên vào những năm 40 của thế kỷ VIII, cho đến nay đã có hơn 15.000 loại lan trồng khác nhau trên trên thế giới.

Tại Việt Nam, hoa lan cũng vô cùng đa dạng phong phú, có khoảng hơn 1.000 loài hoa các loại, chúng sinh sản tại các vùng rừng, núi như Cao Bằng, Lào Cai, Huế, Quy Nhơn, Đà Lạt, Pleiku, … lan Việt Nam đẹp thanh cao lại chứa đựng nhiều ý nghĩa, có rất nhiều cây quý hiếm và có những cây trước kia chỉ thấy mọc ở Việt Nam (như lan nữ hài Paphiopedilum delenati).

Họ lan (Orchidaceae) là một trong số những họ thực vật đa dạng nhất của Việt Nam, với tổng số khoảng 865 loài thuộc 154 chi. Thông thường lan được sử dụng làm cảnh. Ngoài ra, có nhiều loài lan còn được sử dụng làm thuốc.

Chi lan Kim tuyến Anoectochilus ở Việt Nam hiện thống kê được 12 loài, trong đó có loài lan Kim tuyến Anoectochilus setaceus Blume, tên khác Anoectochilus roxburghii Wall. ex Lindl. phân bố rộng ở hầu hết các tỉnh trong cả nước, được biết đến nhiều không những bởi giá trị làm cảnh, mà bởi giá trị làm thuốc của nó. Do bị thu hái nhiều để bán làm thuốc từ rất lâu, nên loài lan Kim tuyến đang bị đe dọa nghiêm trọng, rất có thể sẽ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên nếu chúng ta không có biện pháp bảo tồn hữu hiệu. Hiện nay, lan Kim tuyến được cấp báo trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP thuộc nhóm IA, nghiêm cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại và nhóm thực vật rừng đang nguy cấp EN A1a,c,d, trong sách đỏ Việt Nam 2007. Vì vậy, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống loài lan Kim tuyến – Anoectochilus setaceus Blume được triển khai sẽ cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn để tạo ra hàng loạt những cây con ổn định về mặt di truyền nhằm bảo tồn và phát triển loài dược liệu nguy cấp, quí hiếm này.

Xuất phát từ những cơ sở đó, chúng tôi đã lựa chọn và thực hiện nghiên cứu đề tài:”Nghiên cứu nhân nhanh in vitro loài lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) nhằm bảo tồn nguồn dược liệu quý”.

I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giới thiệu chung về cây Lan Kim tuyến

Chi lan Kim tuyến (Anoectochilus) còn được gọi là lan trang sức vì vẻ đẹp hấp dẫn của nó, được Carlvon Blume mô tả đầu tiên năm 1810 thuộc phân họ Orchidoideae. Trên thế giới đã thống kê được 51 loài. Ở Việt Nam hiện thống kê được 12 loài, trong đó loài lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) được biết đến chủ yếu với công dụng làm thuốc.

Lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume)

Đồng danh là (Anoectochilus roxburghi Wall.)

Họ: Phong lan (Orchidaceae)

Bộ: Phong lan (Orchidales)

Đây là loài đơn thân, mọc ở đất, có thân rễ mọc dài; thân trên đất mọng nước và có nhiều lông mềm, mang 2 – 4 lá mọc xoè sát đất. Lá hình trứng, gần tròn ở gốc, chóp hơi nhọn và có mũi ngắn, cỡ 3 – 4 x 2 – 3 cm, mặt trên màu nâu thẫm có vệt vàng ở giữa và màu hồng nhạt trên các gân, mặt dưới màu nâu nhạt. Cuống lá dài 2 – 3 cm. Cụm hoa dài 10 – 15 cm, mang 4 – 10 hoa mọc thưa. Lá bắc hình trứng, dài 8-10 mm, màu hồng. Hoa thường màu trắng, dài 2,5 – 3 cm; môi dài đến 1,5 cm, ở mỗi bên gốc mang 6 – 8 dải hẹp, chẻ đôi thành 2 thuỳ hình thuôn tròn. Bầu dài 13mm, có lông thưa.

Mùa hoa tháng 2, tháng 4. Tái sinh bằng chồi từ thân rễ và hạt ít, sinh trưởng rất chậm. Là loại cây ưa bóng, kỵ ánh sáng trực tiếp thường mọc dưới tán rừng nguyên sinh, rừng rậm nhiệt đới ở độ cao 500 – 1600m. Mọc rải rác vài ba cây trên đất ẩm, giàu mùn và lá cây rụng.

Phân bố: Việt Nam: Lào Cai (Sapa), Hà Giang (Quản Bạ), Yên Bái, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hà Tây (Mỹ Đức: Chùa Hương), Quảng Trị (Đồng Chè), Kontum (Đắc Tô: Đắc Uy), Gia Lai (Kbang: Kon Hà Nừng)….Thế giới: Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông), Ấn Độ, Lào, Inđônêxia,…

Tác dụng dược lý: Lan Kim tuyến là loài cây thuốc rất đặc biệt có tác dụng tăng cường sức khoẻ, làm khí huyết lưu thông, có tính kháng khuẩn, chữa các bệnh viêm khí quản, viêm gan mãn tính, chữa suy nhược thần kinh. Loài lan này được dùng làm thuốc chữa bệnh trị lao phổi, phong thấp, đau nhức khớp xương, viêm dạ dày mãn tính (Nguyễn Tiến Bân, Dương Đức Huyến). Trước đó, lan Kim tuyến (A. setaceus) là một trong những dược thảo quý giá, giúp bổ máu, dưỡng âm, chữa trị nóng phổi và nóng gan (Tạ A Mộc và Trần Kiến Đào, 1958). Hơn nữa mới đây người ta đã phát hiện ra khả năng phòng và chống ung thư của loại thảo dược này.

Theo các tài liệu nghiên cứu của Trung Quốc công bố gần đây bằng kỹ thuật sắc ký lỏng, sắc ký cột và kỹ thuật quang phổ đã phân lập, xác định được cấu trúc hoá học và thử hoạt tính sinh học của một số hợp chất có trong loài lan Kim tuyến (Tạp chí “Sinh học thực vật tổng hợp Trung Quốc”, tập 48 số 3, tháng 3/2006, trang 359-363). Bằng các kỹ thuật quang phổ đã xác định được 8 hợp chất hoá học. Các hợp chất này đều có hoạt tính sinh học mạnh, có khả năng làm giảm các gốc tự do trong cơ thể, nên có khả năng phòng bệnh rất tốt. Đặc biệt có hai axít hữu cơ được phân lập là Olenolic acid và Ursolic acid có khả năng chống ung thư, giảm cholesterol máu, chống tăng huyết áp, kháng khuẩn…

1.1.1. Đặc điểm hình thái

Lan Kim tuyến là cây thảo, mọc ở đất, có thân rễ mọc dài; thân trên đất mọng nước, mang các lá mọc xòe sát đất.

a. Thân rễ

Lan Kim tuyến là cây thân rễ nằm ngang sát mặt đất, đôi khi hơi nghiêng, bò dài. Chiều dài thân rễ từ 5-12 cm, trung bình là 7,87 cm. Đường kính thân rễ từ 3-4 mm, trung bình là 3,17 mm. Số lóng trên thân rễ từ 3-7 lóng, trung bình là 4,03 lóng. Chiều dài của lóng từ 1-6 cm, trung bình là 1,99 cm. Thân rễ thường có màu xanh trắng, đôi khi có màu nâu đỏ, thường nhẵn, không phủ lông.

b. Thân khí sinh

Cây lan Kim tuyến có thân khí sinh thường mọc thẳng đứng trên mặt đất, ít khi mọc nghiêng. Chiều dài thân khí sinh từ 4-8 cm, trung bình 6 cm. Đường kính thân khí sinh từ 3- 5 mm, trung bình là 3,08 cm. Thân khí sinh mang nhiều lóng, các lóng có chiều dài khác nhau. Số lóng trên thân khí sinh thay đổi từ 2-4 lóng, trung bình là 2,87. Chiều dài mỗi lóng từ 1-4 cm, trung bình 2,23 cm. Thân khí sinh thường mọng nước, nhẵn, không phủ lông; thường có màu xanh trắng, đôi khi có màu hồng nhạt.

c. Rễ

Rễ lan Kim tuyến được mọc ra từ các mẫu trên thân rễ. Đôi khi rễ cũng được hình thành từ thân khí sinh. Rễ thường đâm thẳng xuống đất. Thông thường mỗi mẫu chỉ có một rễ, đôi khi có vài rễ cùng được hình thành từ một mấu trên thân rễ. Số lượng và kích thước rễ cũng rất thay đổi tuỳ theo cá thể. Số rễ trên một cây thường từ 3 – 10, trung bình là 5,4. Chiều dài của rễ thay đổi từ 0,5 – 8 cm, rễ dài nhất trung bình là 6,07cm và ngắn nhất trung bình là 1,22 cm, chiều dài trung bình của các rễ trên một cây là 3,82 cm.

d. Lá

Lá lan Kim tuyến mọc cách xoắn quanh thân, xoè trên mặt đất. Lá hình trứng, gần tròn ở gốc, đầu lá hơi nhọn và có mũi ngắn, thường dài từ 3 – 5 cm, trung bình là 4,03 cm và rộng từ 2 – 4 cm, trung bình là 3,12 cm. Lá có màu nâu đỏ ở mặt trên và phủ lông mịn như nhung. Hệ gân lá mạng lưới lông chim, thường có 5 gân gốc. Các gân này thường có màu hồng ở mặt trên và nổi rất rõ. Đôi khi gân ở giữa có màu vàng nhạt. Mặt dưới lá có màu nâu đỏ nhạt, nhẵn với 5 gân gốc nổi rõ. Các gân bên ở phía rìa lá nổi rõ, gân ở giữa lá ở mặt dưới không rõ. Cuống lá dài 0,6 – 1,2 cm, thường nhẵn và có màu trắng xanh, đôi khi hơi đỏ tía ở bẹ lá. Bẹ lá nổi rõ và nhẵn. Số lá trên một cây thay đổi từ 2 – 6, thông thường có 4 lá. Kích thước của lá cũng thay đổi, các lá trên một cây thường có kích thước khác nhau rõ rệt.

e. Hoa, quả

Hoa lan Kim tuyến dạng cụm, dài 10 – 20 cm ở ngọn thân, mang 4 – 10 hoa mọc thưa. Lá bắc hình trứng, dài 6 – 10 mm, màu hồng. Các mảnh bao hoa dài khoảng 6 mm; cánh môi màu trắng, dài đến 1,5 cm, ở mỗi bên gốc mang 6 – 8 dải hẹp, đầu chẻ đôi. Mùa hoa tháng 10 – 12. Mùa quả chín tháng 12 – 3 năm sau.

1.1.2. Đặc điểm phân bố

1.1.2.1. Phân bố theo kiểu rừng: Kết quả điều tra đã chỉ ra rằng, hiện nay lan Kim tuyến hầu hết phân bố ở kiểu rừng kín lá rộng thường xanh á nhiệt đới núi thấp, cấu trúc rừng thường có 2 tầng cây gỗ. Đôi khi có thể gặp lan Kim tuyến ở kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới.

– Tầng ưu thế sinh thái A2: Độ tán che thường từ 85-90%, với các loài cây gỗ chủ yếu như: Chắp tay bắc bộ (ExbuckLandia tonkinensis), Chắp tay (ExbuckLandia populnea), Thích các loại (Acer spp.), Trương vân (Toona surenii), Gội nếp (Aglaia spectabilis), Trám trắng (Canarium album), Kháo thơm (Machilus odoratissima), Sồi phảng (Lithocarpus cerebrinus), Dẻ gai bắc bộ (Castanopsis tonkinensis), Trâm trắng (Syzygium chanlos), Côm tầng (Elaeocarpus griffithii), Trâm tía (Syzygium sp.), Vỏ sạn (Osmanthus spp.), Thừng mực mỡ (Wrightia laevis), Máu chó (Knema spp.), v.v. Chiều cao của tầng A2 từ 15-25 m.

– Tầng cây gỗ A3: Bao gồm các loài cây của tầng trên còn nhỏ và các loài cây của tầng dưới như: Hoa trứng gà (Magnolia coco), Trứng gà 3 gân (Lindera sp.), Phân mã tuyến nổi (Archidendron chevalieri), Phân mã (Archidendron balansae), Mắc niễng (Eberhardtia tonkinensis), Nanh chuột (Cryptocarya lenticellata), Re hương (Cinnamomum iners), Re bầu (Cinnamomum bejolghota), Mò roi (Litsea balansae), Trà hoa vàng (Camelia spp.), Xoan đào (Prunus arborea), Trọng đũa (Ardisia spp.), v.v. Chiều cao của tầng A3 từ 815m.

– Tầng cây bụi B: Gồm các loài thực vật như Mua đất (Melastoma sp.), Ớt sừng lá nhỏ (Kibatalia mycrophylla), Lấu (Psychotria rubra), Ớt rừng (Clausena sp.), Bọt ếch (Glochidion hirsutum), v.v…

– Tầng cỏ quyết: Bao gồm chủ yếu các loài Thường sơn (Dichroa febrifuga), Cao cẳng (Ophiopogon spp.), Gừng một lá (Zingiber monophyllum), Giềng tàu (Alpinia chinensis), Sẹ (Alpinia tonkinensis), Mía dò (Costus speciosus), Mía dò bắc bộ (Costus tonkinensis), Râu hùm (Tacca spp.), Cỏ lá tre (Centosteca latifolia), Rớn đen (Adiantum flabellulatum), Hèo (Calamus rhabdocladus), Lòng thuyền (Curculigo gracilis), Móc (Caryota mitis), v.v…

– Thực vật ngoại tầng: Bao gồm các loài thuộc chủ yếu các họ Mã Tiền (Loganiaceae), họ Cau (Arecaceae), họ Na (Annonaceae), họ Kim cang (Smilacaceae), họ Củ nâu (Dioscoreaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae), họ Ráy (Araceae), họ Thiên lý (Asclepiadaceae), họ Bòng bong (Schizaeaceae). Điển hình như: Dây hoa dẻ (Desmos chinensis), Dây dất na (Desmos spp.), Dây kim cang các loại (Smilax spp.), Củ nâu (Dioscorea cirrhosa), Móc câu đằng (Uncaria sp.), Ráy leo (Pothos scandens), Dây sưa (Dalbergia candenatensis), Dây móng bò (Bauhinia sp.), Bòng bong các loại (Ligodium spp.), Dây thèm bép (Tetrastigma rupestre), v.v…

– Mật độ phân bố: Của Lan Kim tuyến ở đây là rất thấp, trung bình khoảng 20 cây/ha. Chúng phân bố rải rác ở một số điểm thuộc khu vực nghiên cứu.

1.1.2.2. Phân bố lan Kim tuyến theo trạng thái rừng và sinh cảnh

– Theo trạng thái rừng: Kết quả điều tra đã khẳng định, lan Kim tuyến phân bố tập trung chủ yếu ở trạng thái rừng IIIA2, thuộc vùng lõi của Vườn quốc gia. Độ tán che của trạng thái rừng này từ 85-90%. Đặc điểm của cây bụi và thảm tươi ở khu vực Lan Kim tuyến phân bố là thưa thớt, độ che phủ thấp thường vào khoảng từ 15-30%, với độ cao của lớp cây bụi và thảm tươi khoảng từ 0,1-0,5m tuỳ từng khu vực. Lan Kim tuyến thường ít phân bố ở những nơi cây bụi thảm tươi dày đặc. Chúng có thể nằm ngay trên lớp thảm mục của rừng đang bị phân huỷ.

– Về sinh cảnh: Lan Kim tuyến chủ yếu phân bố trên đất, chúng mọc sát ngay bề mặt đất, nơi đất giàu mùn, độ ẩm và độ xốp cao, thoáng khí; thậm chí ngay trên lớp thảm mục của rừng đang phân huỷ. Đôi khi chúng mọc trên các tảng đá ẩm, trên các đoạn thân cây gỗ mục, trong gốc cây. Có thể bắt gặp lan Kim tuyến ở trong rừng nơi ẩm ướt, ven các khe suối, dưới tán rừng cây gỗ lớn, hoặc dưới rừng trúc, rừng sặt, trên đường mòn đi lại trong rừng.

1.1.2.3. Phân bố lan Kim tuyến theo địa lý, địa hình và đai cao

– Về địa lý, địa hình: Có thể gặp chúng ở hầu hết các dạng địa hình, như chân núi, sườn núi, đỉnh núi.

– Về đai cao: Lan Kim tuyến thường phân bố ở đai cao trên 735m, tập trung chủ yếu ở độ cao trên 970m, quanh núi Rùng Rình.

1.2. Nhân giống cây lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus)

1.2.1. Nhân giống bằng hạt

Nhân giống bằng hạt hay con gọi là nhân giống hữu tính, trong thiên nhiên sự thụ phấn của lan do côn trùng thực hiện, cấu trúc hoa hoàn toàn thích ứng với sự thụ phấn đó. Hoa lan là một loại hoa lưỡng tính, nhưng do cấu trúc của hoa và sự chín của các cơ quan sinh dục trong hoa không đều nên sự giao phấn nhờ sâu bọ có tính bắt buộc đối với tất cả các loài setaceus. Sự thụ phấn của hoa trong môi trường tự nhiên được côn trùng thực hiện trên cơ sở của mùi thơm, mật, màu sắc sặc sỡ và những cấu tạo của hoa là những nhân tố chính để thu hút các tác nhân thụ phấn từ khoảng cách xa.

Ở vườn nuôi trồng lan để đảm bảo kết quả của sự giao phấn cao và tạo ra các giống lai theo ý muốn, con người phải tiến hành thụ phấn nhân tạo. Sự thụ phấn có thể cùng cây, có thể khác cây.

Phương pháp này có nhiều ưu điểm: Dễ làm, giá thành hạ, thu được nhiều cây khoẻ, không bị bệnh, ngoài ra do đặc điểm giao phấn chéo có thể thu được những dòng biến dị cho vật liệu chọn tạo giống. Tuy nhiên trong thực tế hạt Lan Kim tuyến rất hiếm, số lượng hạt rất nhiều nhưng tỉ lệ nảy mầm ít, hơn nữa thời gian khá lâu để cây ra hoa có chất lượng tốt.

1.2.2. Nhân giống bằng cây con

Khi rễ cây con tương đối nhiều, cây có từ 3-5 lá, cây cứng cáp có thể tách để trồng riêng. Đây là cách nhân giống đơn giản và dễ làm nhất.

1.2.3. Phương pháp giâm cây

Lấy một giả hành cắt ra làm nhiều đoạn, mỗi đoạn có nhiều mấu. Đặt các đoạn này vào một nơi ẩm; chỉ cần cát và rêu. Sau vài tuần sẽ xuất hiện những cây con có thể đem trồng vào các chậu mới.

Phương pháp này là phương pháp cổ điển, dễ làm, quen với tập quán, kinh nghiệm của người lao động, giá thành thấp. Tuy nhiên phương pháp này cũng có một số trở ngại như: chậm (tăng khoảng 2-4 cây/năm), chất lượng giống không cao, cây hoa trồng lâu bị thoái hoá, bệnh virus có nhiều khả năng lan truyền và phát triển, từ đó làm giảm phẩm chất hoa (Nguyễn Xuân Linh, 1998)[5a].

1.2.4. Nhân giống in vitro

Nhân giống in vitro là một trong 4 lĩnh vực ứng dụng chính của công nghệ tế bào thực vật và đã mang lại hiệu quả kinh tế lớn nhất (Lê Trần Bình,

1997)

Kỹ thuật nhân nhanh in vitro nhằm phục vụ các mục đích sau:

Duy trì và nhân nhanh các kiểu gen quý hiếm và làm vật liệu cho công tác tạo giống.

Nhân nhanh và duy trì các cá thể đầu dòng tốt để cung cấp hạt giống các loại cây trồng khác nhau như cây lương thực có củ, các loại cây rau, cây hoa, cây cảnh, cây dược liệu thuộc nhóm thân thảo.

Nhân nhanh và kinh tế các kiểu gen quý của giống cây lâm nghiệp và gốc ghép trong nghề trồng cây ăn quả, cây cảnh thuộc nhóm cây thân gỗ.

Nhân nhanh ở điều kiện vô trùng và cách ly tái nhiễm kết hợp với làm sạch virus.

Bảo quản các tập đoàn giống nhân vô tính và các loại cây giao phấn trong ngân hàng gen.

1.2.4.1. Cơ sở khoa học của nhân giống in vitro

Tính toàn năng của tế bào (totipotency), từ năm 1902 nhà khoa học người Đức HaberLandt đã đề xướng ra phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật để chứng minh cho tính toàn năng của tế bào thực vật. Theo ông, mỗi tế bào được lấy từ bất kỳ cơ quan sinh vật đa bào đều có khả năng tiềm tàng phát triển thành một cơ thể hoàn chỉnh. Khả năng này do mỗi tế bào đều chứa bộ gen mang thông tin di truyền của toàn bộ cơ thể, khi được đặt vào môi trường thích hợp tế bào này sẽ có khả năng giống như một hợp tử ban đầu.

Một đặc tính quan trọng khác, làm cơ sở cho nuôi cấy mô tế bào thực vật là khả năng biệt hóa và phản biệt hóa của tế bào. Khả năng biệt hóa là sự biến đổi của tế bào từ tế bào phôi thành toàn bộ các tế bào chức năng trong các cơ quan của cơ thể. Ngược lại, khi được đặt vào môi trường thích hợp, các tế bào chuyên hóa của cơ thể có thể trở lại trạng thái của tế bào đầu tiên sinh ra nó – tế bào phôi. Tuy nhiên, thực tế nghiên cứu đã chứng minh, khả năng phản biệt hóa của các tế bào là khác nhau, các tế bào chuyên hóa sâu như tế bào của hệ thống mạch dẫn thực vật, tế bào thần kinh động vật, khả năng biệt hóa rất khó xảy ra. Đối với thực vật, khả năng hình thành cơ quan hay cơ thể giảm dần theo chiều từ ngọn xuống gốc (Galson, 1986; Murashige, 1974).

Trong tự nhiên, tất cả các loài sinh vật đều tồn tại trong mình tiềm năng sinh sản dù là vô tính hay hữu tính, như thế các loài mới có thể duy trì được kiểu gen của mình, chiến thắng trong quá trình tiến hóa. Nhưng ngay từ khi ra đời, công nghệ nuôi cấy mô đã trở thành công cụ đắc lực phục vụ mục đích nhân giống của con người. Vậy tại sao lại phải tiến hành nhân giống in vitro? Chúng ta hãy xem xét những ý nghĩa to lớn mà nó mang lại cho nhân loại.

1.2.4.2. Ý nghĩa của nhân giống in vitro

Nuôi cấy mô tế bào thực vật, thực chất là một phương pháp nhân giống vô tính. Đối với nhiều loại thực vật quý hiếm, có giá trị kinh tế và ý nghĩa sinh học cao, gặp khó khăn trong vấn đề nhân giống hữu tính thì nhân giống vô tính in vitro là công cụ vô cùng hữu ích. Nhưng trên thực tế có nhiều loại thực vật nhân giống hữu tính bằng hạt có hệ số nhân cao nhưng vẫn tiến hành nhân giống vô tính in vitro là do:

Các phương pháp nhân giống hữu tính bằng hạt mặc dù cho hệ số nhân giống cao, dễ bảo quản và vận chuyển nhưng với một số cây trồng, khi nhân giống bằng hạt sẽ cho các cây con không hoàn toàn giống bố mẹ cả về hình thái và thành phần hóa học (Calson, 1964). Sự không đồng nhất này gây ra khó khăn trong việc đưa cây vào sản xuất theo dây truyền công nghiệp, vì các cây có chất lượng sản phẩm không đồng đều, làm giảm giá trị thương phẩm. Đặc biệt, đối với các cây thuốc thì việc không đồng nhất về chất lượng hay chính là hàm lượng các chất hoạt tính sẽ dẫn đến hậu quả là nguyên liệu không ổn định, không đáp ứng được nhu cầu sản xuất. Ví dụ: đối với các cây lấy tinh dầu, việc nhân giống bằng hạt dẫn tới sự phân ly không đều về hàm lượng các thành phần hoạt chất. Theo Nilov (1936), cây Lavanda khi nhân giống bằng hạt, hàm lượng tinh dầu ở cây con phân ly từ 0,5 đến 11,3 %, hàm lượng lynalylacetat từ 11 đến 78 %; cây bạc hà nhân giống hữu tính có sự phân ly rất lớn về hàm lượng và thành phần tinh dầu (Bùi Thị Hằng, Popov, 1975; Bogonina, 1969; Murray, 1960)…

Để khắc phục những nhược điểm trên, phương pháp nhân giống vô tính được áp dụng đã mang lại nhiều hiệu quả kinh tế và ý nghĩa sinh học lớn. Phương pháp nhân giống vô tính đã khắc phục được nhiều nhược điểm của nhân giống hữu tính, ưu điểm lớn nhất của nhân giống vô tính là các cây con đồng đều về mặt di truyền do duy trì được các tính trạng của cây mẹ (Petrop, 1989), nên có thể áp dụng sản xuất đại trà cho sản phẩm có chất lượng ổn định; rút ngắn thời gian từ khi trồng đến thu hoạch tạo điều kiện cho tăng vụ, tăng sản lượng đối với những cây có thời gian nảy mầm của hạt kéo dài… Mặc dù vậy, phương pháp nhân giống vô tính truyền thống (chiết, giâm, ghép) vẫn còn nhiều nhược điểm như sự lây nhiễm bệnh qua nguyên liệu thường phổ biến và phức tạp, hệ số nhân thấp: cam thảo là 5 – 7 (Shah, Dalal, 1980), bạc hà piperita là 2-3 (Foldeli, Havas, 1979), … hơn nữa, việc sử dụng chính các bộ phận làm thuốc để nhân giống rất lãng phí, tốn kém.

Để khắc phục các nhược điểm của phương pháp nhân giống vô tính truyền thống, một phương pháp nhân giống khác đã áp dụng rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đó là phương pháp nhân giống in vitro, phương pháp này có nhiều ưu điểm nổi trội như:

– Hệ số nhân giống cao, từ một cây trong vòng một năm có thể tạo thành hàng triệu cây. Hệ số nhân giống ở các loại cây khác nhau nằm trong phạm vi 36 đến 1012 / năm, cao hơn bất cứ phương thức nhân giống nào. Ví dụ: từ một củ khoai tây, sau 8 tháng nhân giống người ta thu được 2000 triệu củ đồng nhất di truyền, được trồng trên một vùng rộng 40 ha, có nghĩa là tốc độ nhân giống vô tính lớn hơn 100.000 lần so với sinh sản hữu tính (Senez, 1987).

– Tính đồng nhất và ổn định di truyền cao: Các cây con được tạo ra giống hệt với cây bố mẹ ban đầu. Theo lý thuyết từ bất kỳ một cây chọn lọc ưu việt nào đều có thể tạo ra một quần thể với độ đồng đều cao, số lượng không hạn chế.

– Nâng cao chất lượng giống do tạo được các giống sạch bệnh, loại bỏ được các nguồn vi khuẩn, virus, nấm bệnh. Trong công tác nhân giống, vấn đề được quan tâm hàng đầu là số lượng và chất lượng giống. Bằng phương pháp nuôi cấy đỉnh sinh trưởng, người ta đã tạo được những giống cây hoàn toàn sạch virus. Limasset và Cornel (1949) đã chứng minh được rằng, số lượng virus được giảm dần ở các bộ phận gần đỉnh sinh trưởng, riêng đỉnh sinh trưởng thì hoàn toàn sạch virus (Morel and Martin, 1952). Phương pháp nuôi cấy đỉnh sinh trưởng thường kết hợp với việc xử lý nhiệt độ cao để tạo ra nguyên liệu giống sạch bệnh. Bằng cách này, ở khoai tây, virus A, X và Y đã bị loại trừ còn virus M và S được giảm đi một cách đáng kể (Kassanis, 1950; Thomson, 1956-1958; Wang and Huang, 1975).

– Nhân giống in vitro có thể nhân nhanh cây không kết hạt hoặc kết hạt kém trong những điều kiện sinh thái nhất định. Như ở cây cọ dầu, phải mất 1015 năm mới cho thu hoạch, việc chọn, tạo và nhân nhanh được một giống mới rất khó khăn. Nhưng bằng phương pháp nhân nhanh in vitro, người ta có thể cung cấp được 500000 cây con giống hệt nhau trong vòng một năm (Staritsky, 1970).

1.2.4.3. Các phương thức nhân giống vô tính in vitro

Quá trình thực hiện nhân giống in vitro tạo ra các dòng vô tính, theo Shull (1912) dòng vô tính là một nhóm cá thể có kiểu gen tương tự nhau, chúng được nhân bằng sinh sản vô tính, các dòng vô tính này sẽ được tạo ra theo các phương thức sau:

– Tái sinh cây trực tiếp từ đỉnh sinh trưởng, phôi, ngọn chồi, chồi nách.

– Tái sinh cây gián tiếp thông qua giai đoạn hình thành mô sẹo.

* Tái sinh cây trực tiếp từ mẫu nuôi cấy là quá trình phát động những điểm tồn tại sẵn có trong mô nuôi cấy, phân chia và tái sinh thành cây. Các cây con này được phát sinh từ các đỉnh sinh trưởng có bộ nhiễm sắc thể 2n, hoàn toàn đồng nhất về mặt di truyền và duy trì được các tính trạng của cây mẹ (Hu and Xang, 1983). Tái sinh trực tiếp cũng có thể xuất phát từ những tế bào không nằm trên đỉnh sinh trưởng, đó là các đoạn thân, mảnh lá, cuống lá, mảnh hoa… Trong trường hợp này, các tế bào thường phân chia nhưng không hình thành các tế bào mô sẹo mà tạo thành các điểm sinh trưởng cao hơn ở trường hợp nói trên.

* Con đường tái sinh gián tiếp, mẫu cấy khi nuôi trong môi trường thích hợp, thường là với auxin, có thể đem lại sự gia tăng thành khối tế bào không tổ chức, đó chính là các tế bào mô sẹo. Trong nuôi cấy, sự tăng sinh này có thể được duy trì nhiều hay ít là không hạn định, chỉ cần mô sẹo được cấy chuyển sang môi trường mới theo chu kỳ. Tuy nhiên, tế bào mô sẹo khi cấy chuyển nhiều lần sẽ không ổn định về mặt di truyền. Để tránh tình trạng này nên sử dụng các loại mô sẹo vừa mới phát sinh. Nuôi cấy mô sẹo có vai trò vô cùng quan trọng trong công nghệ sinh học thực vật. Tỷ lệ auxin và cytokinin trong môi trường có thể dẫn tới sự phát triển của ngọn, rễ hay phôi soma; từ đó có thể tạo thành cây hoàn chỉnh. Nuôi cấy mô sẹo cũng có thể được sử dụng để mở đầu nuôi cấy tế bào dịch huyền phù, tạo ra hạt nhân tạo.

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi cấy

1.3.1. Ảnh hưởng của điều kiện khử trùng mẫu cấy

Việc khử trùng mẫu trước khi đưa vào nuôi cấy là một ấn đề cần thiết, vì mẫu cấy ở trong tự nhiên tiếp xúc với môi trường xung quanh nên mang rất nhiều vi khuẩn, nấm… Nhưng, do mức độ nhiễm của mỗi loại mẫu là khác nhau và đặc điểm của từng loại mẫu cũng khác nhau nên cần có sự thử nghiệm về khử trùng mẫu cấy nhằm thu được lượng mẫu vô trùng nhiều mà tốn ít nhiên liệu ban đầu.

Khả năng tiêu diệt nấm và khuẩn của hóa chất khử trùng phụ thuộc vào nồng độ, thời gian xử lý và mức độ xâm nhập của chúng vào các ngõ ngách trên bề mặt của mô cấy.

Thời gian khử trùng là một điều kiện quan trọng, nó phụ thuộc vào từng loại dung dịch khử trùng và đặc điểm của từng loại mẫu cấy. Với hypoclorite, người ta thường khử trùng trong thời gian 15-30 phút, HgCl2 thường có thời gian ít hơn. Thời gian quá lâu, dung dịch khử trùng xâm nhập vào mẫu có thể gây chết mẫu, thời gian quá ngắn sẽ không loại bỏ hết nấm và vi khuẩn nên mẫu dễ bị nhiễm.

Sau khi khử trùng, mẫu cây được đặt vào các môi trường nuôi cấy, từ đây giai đoạn nuôi cấy in vitro bắt đầu. Thành phần của môi trường nuôi cấy có ảnh hưởng quyết định tới nuôi cấy.

1.3. 2. Ảnh hưởng của các thành phần hóa học

Trong nuôi cấy in vitro, cả yếu tố hóa học và yếu tố vật lý của cây trong các bình nuôi đều phải được cung cấp đầy đủ. Môi trường dinh dưỡng phải cung cấp tất cả các ion khoáng cần thiết, nguồn chất hữu cơ bổ sung như amino acid và vitamin, nguồn cacbon cố định, và một thành phần cần cho sự sống cũng phải được cung cấp đó là nước. Các nhân tố vật lý như nhiệt độ, pH, môi trường khí, ánh sáng và áp lực thẩm thấu, cũng phải được duy trì trong giới hạn chấp nhận.

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều môi trường được sử dụng như môi trường Murashige và Skoog (1962), môi trường Gamborg (1968), môi trường Knop (1974), môi trường Anderson, Went, Knudson, Lindemann…Trong đó môi trường MS được đánh giá là phù hợp rộng rãi nhất với nhiều loại cây trồng, bao gồm cả cây hai lá mầm và cây một lá mầm. Thông thường trong một môi trường nuôi cấy phải đảm bảo các thành phần hóa học sau:

Các nguyên tố khoáng

Tùy theo nồng độ sử dụng, các nguyên tố khoáng được chia vào hai nhóm là nguyên tố đa lượng và nguyên tố vi lượng.

* Nguyên tố đa lượng: Các nguyên tố này thường chiếm 0,1 % khối lượng khô của thực vật. Nitơ, phốt pho, kali, magiê, canxi, và lưu huỳnh là các muối vô cơ. Chúng có mặt trong các hợp chất quan trọng (diệp lục. protein, acid nucleic, acid amin…), tham gia vào các quá trình như điều chỉnh áp suất thẩm thấu tế bào, vận chuyển năng lượng trong hô hấp, quang hợp, thực hiện vai trò tín hiệu tế bào,…

* Nguyên tố vi lượng: Được cung cấp với lượng rất thấp cho thực vật sinh trưởng, phát triển và có nhiều vai trò khác nhau. Mangan, iốt, đồng, coban, bo, mo, sắt và kẽm là các nguyên tố vi lượng, ngoài ra niken và nhôm cũng được tìm thấy trong một số công thức. Nguyên tố vi lượng thường có mặt trong thành phần của một số coenzyme, vitamin; tham gia vào các phản ứng trao đổi điện tử, sinh tổng hợp diệp lục,…

Chất hữu cơ bổ sung

* Các vitamin là những chất hữu cơ tham gia vào cấu trúc enzyme và cofactor trong nhiều phản ứng sinh hóa (Vũ Văn Vụ, 2006). Các loại vitamin B1, B6, PP và myoinositol là cần thiết cho nuôi cấy tế bào thực vật in vitro. Tuy nhiên, vì lý do lịch sử các loại vitamin khác nhau cũng được thêm vào để nuôi cấy.

* Các amino acid có vai trò quan trọng trong việc phát sinh hình thái, amino acid, aLanine, glutamic acid, glutamine và proline cũng được sử dụng nhưng trong nhiều trường hợp là không cần thiết.

Nguồn cacbon

Các mô và tế bào thực vật nuôi cấy nói chung, không thể tự quang hợp hoặc quang hợp yếu do thiếu clorophin và các điều kiện khác…do đó phải bổ sung thêm cacbon. Saccharose thường được sử dụng làm nguồn cacbon do đó những đặc tính như rẻ, dễ kiếm, đồng hóa triệt để và tương đối ổn định. Ngoài ra, các loại đường khác như glucose, maltose, galactose và sorbitol cũng có thể được sử dụng và trong những trường hợp đặc biệt có thể cung cấp tốt hơn đường saccharose.

Đường vừa là nguồn cacbon cung cấp cho mẫu nuôi cấy, đồng thời còn tham gia điều chỉnh áp suất thẩm thấu của môi trường. Đường đóng góp khoảng 50-70 % vào khả năng thẩm thấu của môi trường (Trigiano and Gray, 2000). Thông thường đường saccharose được sử dụng ở nồng độ 0,2-0,3 %, nhưng nồng độ này có sự thay đổi ở từng đối tượng khác nhau và mục đích nuôi cấy khác nhau, có khi xuống tới 0,2 % (tạo dòng), có khi tăng lên đến 12 % (gây cảm ứng stress nước).

Sự hình thành rễ đòi hỏi một lượng đường được cung cấp từ quang hợp hoặc ngoại sinh. Theo George (1993) hầu hết các loại thực vật khi ra rễ thích hợp với lượng đường 20-30 g/lít. Tuy nhiên, cũng có loài yêu cầu nguồn carbohydrate ngoại sinh cao hơn. Ví dụ theo Sharma (1993) cây Gentiana kurroo chỉ có thể ra rễ tốt khi bổ sung 60 g/lít saccharose trong môi trường.

Thí nghiệm áp dụng phương pháp quang tự dưỡng cho thấy các cây in vitro đã phát triển tốt trên môi trường không có đường và vitamin, độ thoáng khí cao. Tỷ lệ nhiễm nấm giảm đáng kể. Cây có diện tích lá lớn hơn và sự đóng mở của lá theo quy luật tự nhiên ngay khi gặp điều kiện thay đổi của môi trường. Trong khi đó cây nuôi cấy theo điều kiện truyền thống (có đường và vitamin) có diện tích lá nhỏ, khí khổng luôn luôn ở trạng thái mở trong nhiều giờ khi chuyển từ điều kiện in vitro ra vườn ươm. Tỷ lệ sống 95-100 % sau một tháng ở vườn ươm đối với cây nuôi cấy trên môi trường không có đường, trái lại chỉ từ 70-80 % theo phương pháp truyền thống (Nguyễn Thị Quỳnh và cộng sự, 2005).

Chất điều tiết sinh trưởng

Chất điều tiết sinh trưởng thực vật là thành phần môi trường khắt khe trong việc xác định con đường phát triển của tế bào thực vật. Các chất điều tiết sinh trưởng được sử dụng thông thường là các hormome thực vật hoặc các chất tổng hợp tương tự chúng, phổ biến là auxin và cytokinin, gibberellins, abscisic acid, ethylene. Trong đó auxin và cytokinin là hai nhóm được sử dụng phổ biến nhất.

* Nhóm auxin gồm một số hợp chất có chứa nhân idol trong phân tử. Trong nuôi cấy in vitro, auxin thúc đẩy sinh trưởng của mẫu do hoạt hóa sự phân chia và giãn nở của tế bào, kích thích các quá trình tổng hợp và trao đổi chất, tham gia điều chỉnh sự phân hóa của rễ, chồi…(Bhojwani and Razdan, 1983).

Các auxin được sử dụng với nồng độ thấp từ 10-6 – 10-1 M tùy theo từng chất, mục đích và đối tượng nghiên cứu. Hàm lượng auxin thấp sẽ kích thích sự phân hóa rễ, hàm lượng cao kích thích hình thành mô sẹo.

Auxin được chia thành hai nhóm có nguồn gốc khác nhau: trong các auxin tự nhiên, quan trọng nhất là IAA. Nhưng IAA chỉ được dùng trong một số môi trường nuôi cấy do có đặc tính không ổn định với nhiệt độ và ánh sáng. Vì vậy, các amino acid kết hợp với IAA ổn định hơn được sử dụng phổ biến hơn làm giảm bớt liên kết khi sử dụng IAA. Nhóm auxin tổng hợp tương tự IAA được sử dụng rộng rãi hơn trong các môi trường nuôi cấy như 2,4-D, IBA. NAA.

* Cytokinin kích thích sự phân chia và ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của tế bào, cảm ứng hình thành chồi phụ và loại bỏ ưu thế ngọn (Nguyễn Như Khanh, 2002). Trong nuôi cấy mô thực vật cytokinin được dùng để kích thích sự phát sinh chồi, sử dụng kết hợp với auxin kích thích phân chia tế bào. Nồng độ cytokinin cao kìm hãm sự hình thành và phát triển của rễ (Narayaswamy, 1994). Trong các cytokinin tự nhiên có hai nhóm được sử dụng trong môi trường nuôi cấy, đó là zeatin và 2iP (2-isopentyl adenine). Nhưng chúng không được dùng phổ biến vì rất đắt (đặc biệt là zeatin) và không ổn định. Các chất tổng hợp tương tự như kinetin và BAP được sử dụng phổ biến hơn. Các chất hóa học không có based purin và thay thế bằng phenylureas, cũng được sử dụng như cytokinin trong môi trường nuôi cấy tế bào thực vật.

Trong cây có sự cân bằng nội hoocmone (Vũ Văn Vụ, 2007). Do vậy, khi sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng trong nuôi cấy cần đặc biệt lưu ý để sử dụng nồng độ thích hợp đạt hiệu quả cao. Nhiều tác giả đã tổng kết, tỷ lệ auxin/cytokinin nếu nghiêng về phía auxin sẽ kích thích hình thành rễ; nghiêng về phía cytokinin sẽ thúc đẩy hình thành chồi; ở tỷ lệ trung gian sẽ hình thành mô sẹo.

Than hoạt tính

Than hoạt tính ban đẫu được bỏ sung vào môi trường nuôi cấy để cố gắng mô phỏng điều kiện trồng trọt, sau đó nó được sử dụng rộng rãi trong nhiều môi trường nuôi cấy. Nhiều nghiên cứu cho thấy tác dụng của than hoạt tính trong môi trường nuôi cấy mô thực vật. Đó là: sự hấp thụ các chất màu, các hợp chất phenol, các sản phẩm trao đổi thứ cấp, ảnh hưởng tới pH, xúc tác bẻ gãy đường saccharose trong khử trùng (S.C. Van Winkle et al, 1995). Ngoài ra than cũng hút các chất hữu cơ như phytohormone, vitamin, sắt, kẽm, … (Nissen & Sutter, 1990).

Điều tra tác dụng của than hoạt tính, sự khử trùng, và môi trường nuôi cấy trong thủy phân đường cho thấy, sự thủy phân của đường trong môi trường nuôi cấy phụ thuộc vào cả ion H+ và sự khử trùng và thành phần than hoạt tính. Sau khử trùng, ở môi trường MS + 5 % saccharose bổ sung than hoạt tính cho tỷ lệ đường thủy phân là 70 %, tỷ lệ tương ứng ở môi trường Gamborg là 56 %, còn ở môi trường không có than hoạt tính là 20 % (Pan and Staden, 1999).

Như vậy than hoạt tính có ảnh hưởng rõ ràng tới môi trường nuôi cấy, nhiều nghiên cứu đã cho thấy tác dụng kích thích của mô in vitro như kích thích tạo củ của hoa Lili (Nhut et al, 2001), tác dụng hình thành rễ ở Pawlownia (Lê Thị Kim Đào, 2001)…

Các chất hữu cơ bổ sung

Ngoài các thành phần dinh dưỡng bắt buộc kể trên trong môi trường nuôi cấy mô tế bà thực vật in vitro, người ta còn bổ sung thêm một số thành phần hỗn hợp tự nhiên khác như nước dừa, dịch chiết nấm men, nước ép cà chua, khoai tây, chuối… Các thành phần này thường chứa nguồn dinh dưỡng và chất điều hòa sinh trưởng đa dạng như amino acid, đường, vitamin, nucleic acid, auxin, cytokinin.

Nước dừa là thành phần khá phổ biến trong nhiều môi trường nuôi cấy. Tất cả phân tích thành phần của nước dừa từ non tới già của Tulecke et al.,(1961) cho thấy trong nước dừa có: amino acid, acid hữu cơ, đường, RNA, DNA, Inositol, auxin, cytokinin,… Hàm lượng sử dụng của nước dừa từ 10-20 %.

Tác nhân làm đặc môi trường

Tùy thuộc vào loại sinh trưởng, môi trường nuôi cấy cần được sử dụng ở dạng lỏng hoặc đặc, nhiều loại môi trường nuôi cấy đòi hỏi tế bào hoặc mô thực vật phải sinh trưởng trên bề mặt, agar là tác nhân làm đặc môi trường được sử dụng phổ biến nhất. Agar được sản xuất từ tảo biển, loại tinh khiết hay agarose có thể cũng được sử dụng, nhưng có thể khác nhau về độ đặc.

1.3.3. Ảnh hưởng của các yếu tố vật lý

Các yếu tố vật lý chính là ánh sáng, nhiệt độ, độ pH, trạng thái môi trường,…

Nhiệt độ trong phòng nuôi cấy mô thường được điều chỉnh ổn định từ 220C đến 250C. Tuy nhiên tùy từng loại nuôi cấy và đối tượng nuôi cấy mà có sự điều chỉnh nhiệt độ phù hợp. Theo nhiều nghiên cứu trong nuôi cấy mô sẹo, huyền phù tế bào với mục đích sản xuất các hợp chất thứ sinh thì sự điều chỉnh nhiệt độ rất có ý nghĩa, cảm ứng cho tế bào sinh trưởng, phân chia và tiết các hợp chất thứ sinh. Nhiệt độ còn ảnh hưởng tới nuôi cấy thông qua tác đông tới cấu trúc của các chất điều hòa sinh trưởng như IAA, GA3,… pH môi trường pH của môi trường cũng là một yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới trạng thái lý hóa của các chất trong môi trường, do đó ảnh hưởng tới khả năng điện ly của các muối, sự thủy phân hóa các chất… Thông thường pH được điều chỉnh ở mức 5,5 – 5,8.

Sự phát triển của mô có thể bị thay đổi hoàn toàn nếu chúng nuôi cấy trên một môi trường đặc, lỏng hoặc nửa lỏng. Các mô nuôi cấy thường sinh trưởng tốt hơn trong môi trường lỏng, tuy nhiên môi trường lỏng cũng gây ra hiện tượng thủy tinh hóa, các mô nuôi cấy bị mọng nước gây khó khăn cho cấy chuyển và ra cây.

1.3.4. Ảnh hưởng của điều kiện ra cây

Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất một cây giống in vitro. Mục đích của giai đoạn này nhằm đưa cây giống in vitro trong phòng nuôi ra ngoài tự nhiên; huấn luyện cây thích nghi với các điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng tự nhiên và chuyển từ chế độ dị dưỡng sang chế độ tự dưỡng.

Mỗi loài cây có đặc điểm khác nhau, do đó để đạt tỷ lệ cây sống cao cần nghiên cứu để tìm giá thể phù hợp cho cây. Giá thể trồng cây có thể là cát, đất mùn hoặc các hỗn hợp nhân tạo không chứa đất, mùn cưa và bọt biển…

Cây nuôi cấy in vitro có đặc điểm là các khí khổng luôn mở. Vì vậy, khi chuyển cây ra vườn ươm, cây thường bị mất nước rất nhanh, do đó cần phải che phủ cẩn thận và cung cấp đủ độ ẩm cho cây bằng cách phun sương. Cần cung cấp cho cây lượng nước vừa đủ, lượng nước quá ít hoặc quá nhiều đều có ảnh hưởng không tốt cho cây.

Ngoài ra, ở giai đoạn đầu đưa ra ngoài vườn ươm, bộ rễ của cây nuôi cấy in vitro thường chưa có khả năng hấp thụ các chất ding dưỡng từ giá thể. Để tăng chất lượng của cây giống, có thể sử dụng các dung dịch dinh dưỡng để tưới cho cây.

1.4. Quy trình sản xuất cây cấy mô

Theo Debergh (1991) thì quy trình nhân giống được chia làm 5 giai đoạn: a) Lấy mẫu và xử lý mẫu

Đây là giai đoạn đầu tiên trong quy trình, cần đặc biệt chú ý vì những đặc tính của mẫu cấy sẽ được duy trì và nhân lên ở tất cả các cây giống sau này. Cần chọn lọc cây mẹ ưu việt, khỏe, có giá trị kinh tế cao; trên cây mẹ tiến hành chọn cơ quan, mô để lấy mẫu, thường là chồi non, đoạn thân có chồi ngủ, hoa non, lá non…

Khả năng nhiễm bệnh của mẫu phụ thuộc vào cách lấy mẫu, xử lý mẫu và điều kiện khử trùng. Mỗi loài cây có ngưỡng nhiệt độ và độ ẩm phù hợp khi bảo quản và xử lý mẫu. Với các cây cận nhiệt đới và nhiệt đới thì nhiệt độ 250C, độ ẩm 75 % là điều kiện giữ mẫu thích hợp, tỷ lệ nhiễm bệnh thấp (Deborgh and Zimmerman, 1991).

b) Tái sinh mẫu nuôi cấy

Mục đích của giai đoạn này là tái sinh các cơ quan từ mẫu nuôi cấy. Khả năng thành công của nuôi cấy mô tế bào thực vật phụ thuộc vào trạng thái tuổi của tế bào mẫu nuôi cấy, càng gần trạng thái phôi sinh thì khả năng tái sinh càng lớn. Sau một thời gian nhất định, từ mẫu nuôi cấy bắt đầu xuất hiện các cụm tế bào hoặc cơ quan (chồi, cụm chồi, rễ) hoặc các phôi vô tính có đặc tính gần như phôi hữu tính.

c) Nhân nhanh chồi

Cần tạo ra tốc độ nhân nhanh cao nhất trong điều kiện nuôi cấy, vì vậy thành phần và điều kiện môi trường phải được tối ưu nhằm đạt được mục tiêu nhân nhanh. Môi trường ở giai đoạn này cần bổ sung các hormone sinh trưởng (cytokinin, auxin), tăng thời gian chiếu sáng lên từ 16 giờ/ ngày, cường độ ánh sáng tối thiểu là 1000 lux, nhiệt độ thích hợp là từ 20 – 300C.

Quy trình cấy chuyển nhân nhanh chồi thông thường diễn ra trong khoảng 1-2 tháng tùy từng loại cây. Tỷ lệ nhân nhanh sau mỗi lần cấy chuyển đạt khoảng 2 – 8 lần/ 1 lần cấy chuyển. Giai đoạn nhân nhanh chồi từ một vài chồi ban đầu không nên kéo dài quá lâu để tránh biến dị soma. Ví dụ từ một chồi cây chuối chọn lọc ban đầu người ta chỉ nên nhân lên khoảng 2000 – 3000 chồi cây sau 7 – 8 lần cấy chuyển, đối với các cây khác như mía, cúc, hoa phong Lan sau một năm có thể nhân được trên 1 triệu chồi từ một cây mẹ ban đầu.

d) Tái sinh rễ

Các chồi hình thành trong quá trình nuôi cấy có thể phát rễ tự sinh, nhưng thông thường các chồi này phải được cấy chuyển sang một môi trường khác để kích thích tạo rễ. Môi trường tái sinh rễ thường được bổ sung auxin (NAA, IBA, 2,4-D) ở liều lượng thích hợp. Tuy nhiên, một số cây như chuối thì sự hình thành rễ tốt hơn ở môi trường không có chất sinh trưởng.

e) Chuyển cây ra vườn ươm

Các cây nuôi cấy in vitro sau khi đã tái sinh hoàn chỉnh sẽ được chuyển ra ngoài vườn ươm. Cây chuyển từ trạng thái dị dưỡng sang tự dưỡng. Vì vậy, cần huấn luyện cho cây thích nghi với sự thay đổi của môi trường.

1.5. Tình hình nghiên cứu cây lan Kim tuyến

1.5.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Chi lan Kim tuyến (Anoectochilus) đã được nghiên cứu chủ yếu ở Trung Quốc một cách toàn diện cả về đặc điểm hình thái, kỹ thuật nhân giống, khả năng trồng, thành phần hóa học và công dụng phòng, chữa bệnh (Lai Wan Yu, Lai Wan Nian, 2005).

Chow và CS (1982) đã nghiên cứu về nguồn vật liệu sử dụng cho nhân sinh khối in vitro loài Anoectochilus formosanus rất đa dạng. Năm 1987, Liu và CS đã chọn chồi đỉnh để nuôi cấy mô. Cũng năm 1987, Ho và CS, năm 1992, Lee và CS đã sử dụng phôi hạt để làm nguồn vật liệu nuôi cấy.

Năm 2001, các tác giả Yih-juh Shiau, Abhay Psagare, Uei-Chin Chen, Shu-Ru Yang và Hsin-Sheng Tsay đã nghiên cứu thành công loài Lan Kim tuyến (Anoectochilus formosanus Hayata) từ hạt với công thức môi trường vào mẫu là: 1/2MS + 0,2% than hoạt tính + 8% dịch chiết chuối. Môi trường được sử dụng để nhân nhanh chồi là: 1/2MS + 0,2% than hoạt tính + 8% dịch chiết chuối + 2mg/l BAP + 0,5 mg/l NAA.

Năm 2002, Tsay và CS đã cắt các mắt đốt thân lấy từ cây Anoectochilus Formosanus Hayata 2 năm tuổi cấy vào môi trường MS lỏng dung tích 500 ml + 2mg/l BAP + 0,5mg/l NAA + 2% than hoạt tính.

1.5.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Hiện nay, lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) được xếp trong nhóm IA trong sách đỏ Việt Nam, cần bảo tồn các quần thể nhỏ còn sót lại ở các Vườn Quốc gia và Khu Bảo tồn thiên nhiên, cũng như cần nghiên cứu nhân giống tạo hàng hóa xuất khẩu và bảo vệ nguồn gen. Ở Việt Nam do bị người dân thu hái tự phát để bán làm thuốc nên loài lan Kim tuyến đang bị đe dọa nghiêm trọng, rất có thể sẽ bị tuyệt chủng ngoài tự nhiên nếu chúng ta không có biện pháp bảo tồn hữu hiệu. Mặc dù vậy cho đến nay, ở nước ta vẫn chưa có bất kì công trình nghiên cứu nào về kỹ thuật nhân giống, gây trồng cho loài cây quý này được công bố. Do vậy, có thể nói việc nghiên cứu nhân nhanh loài lan Kim tuyến Anoectochilus setaceus Blume bằng phương pháp nhân giống in vitro vừa có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa về mặt thực tiễn.

Những năm gần đây, đã có một số đề tài nghiên cứu về đặc điểm hình thái, phân bố và kỹ thuật nhân giống in vitro loài lan Kim tuyến này như:

Năm 2004, Nguyễn Văn Kiệt cũng đã đưa ra quy trình nhân giống in vitro thành công cho loài lan Kim tuyến Anoectochilus formosanus với vật liệu ban đầu là từ chồi đỉnh tại đại học Chungbuk, Hàn Quốc. Môi trường tạo vật liệu khởi đầu là H3 (Hyponex: 6,5N-4,5P-19K 1g/l + 20N-20P-20K 1g/l) + 2g/l peptone. Môi trường nhân nhanh là: H3 + 1mg/l BAP (hoặc 1-2mg/l TDZ) + 1% than hoạt tính.

Năm 2010, Phùng Văn Phê, Nguyễn Thị Hồng Gấm, Nguyễn Trung Thành. Đã đạt được những kết quả bước đầu trong nhân nhanh chồi in vitro loài Lan kim tuyến – Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl.

Năm 2010,Phan Ngọc Khoa, Trường Đại học Khoa học Huế đã nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến nhân giống in vitro lan Kim tuyến.”.

Các tác giả trên đã bước đầu tiến hành thăm dò ảnh hưởng của các chất điều tiết sinh trưởng và bước đầu tiến hành nhân giống thử nghiệm lan Kim tuyến nhưng chưa tác giả nào đưa ra quy trình hoàn chỉnh để nhân giống loài lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume). Do đó, trong nghiên cứu này, chúng tôi đặc biệt chú trọng đến nghiên cứu nhân nhanh và quy trình ra cây hoàn chỉnh cho loài thảo dược quý hiếm này.

II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1. Đối tượng nghiên cứu

Cây lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume)

Mẫu chồi được tái sinh từ thân ngầm, thân khí sinh của cây lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) được thu từ Vườn quốc gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc.

2.1.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

+ Địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành tại Viện Sinh học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội và Phòng công nghệ tế bào Thực vật, Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Sự sống, Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.

+ Thời gian: từ tháng 11/2011 – 12/2012

2.2. Mục tiêu nghiên cứu

– Xác định điều kiện khử trùng mẫu nuôi cấy thích hợp, tìm ra các môi trường thích hợp cho việc nhân nhanh in vitro.

– Xác định điều kiện ra cây và bước đầu đưa cây ra vườn ươm.

2.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

2.3.1. Ý nghĩa khoa học

– Đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học về loài lan (Anoectochilus setaceus Blume), chi Lan Kim tuyến.

– Cung cấp những cơ sở khoa học về quy trình nhân giống in vitro lan Anoectochilus setaceus Blume.

– Các kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung thêm tài liệu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học về loài lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume).

2.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

– Đề xuất được quy trình nhân giống in vitro cho lan Anoectochilus setaceus Blume.

– Góp phần bảo tồn, thúc đẩy sản xuất cây Anoectochilus setaceu Blume như một nghề trồng lan mang lại giá trị kinh tế cao.

2.4. Nội dung nghiên cứu

2.4.1. Nghiên cứu xác định chất khử trùng, thời gian khử trùng và cơ quan vào mẫu thích hợp.

2.4.2. Nghiên cứu xác định môi trường khởi động và nhân nhanh thích hợp.

+ Xác định môi trường nền thích hợp.

+ Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhóm chất điều tiết sinh trưởng đến sự phát sinh hình thành và hệ số nhân.

2.4.3. Nghiên cứu môi trường thích hợp cho sự ra rễ, tạo cây hoàn chỉnh.

2.4.4. Nghiên cứu điều kiện ra cây thích hợp cho loài lan Kim tuyến (Anoectochilus Setaceus Blume).

2.5. Phương pháp nghiên cứu

Điều kiện nuôi cấy

– Mẫu được cấy trên môi trường đã được khử trùng ở 1,4 atm, 1210C

– pH của môi trường là: 5,4.

– Nhiệt độ phòng nuôi: 25±20C

– Cường độ ánh sáng: 2000 lux

– Thời gian chiếu sáng: 16 giờ chiếu sáng/ngày đêm

2.5.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

A. Xác định các phương pháp khử trùng tạo mẫu sạch

Thí nghiệm 1. Xác định chất khử trùng thích hợp

Chồi và mắt đốt ngang thân cây lan Kim tuyến sau thu hái, được rửa sạch bằng xà phòng, sau đó được thử nghiệm khử trùng bằng cồn 70o và H2O2 0,01% trong các khoảng thời gian khác nhau. Sau đó được rửa sạch lại nhiều lần bằng nước cất vô trùng rồi cấy vào môi trường vào mẫu là: 1/2MS + 0.2% than hoạt tính + 0,8% dịch chiết chuối. Thí nghiệm được tiến hành với các công thức khử trùng:

CT1: Ngâm trong cồn 70⁰ trong 10s. CT2: Ngâm trong cồn 70⁰ trong 20s.

CT3: Ngâm trong cồn 70⁰ trong 30s.

CT4: Ngâm trong NaClO 2% trong 5 phút (300s).

CT5: Ngâm trong NaClO 2% trong 10 phút (600s).

CT6: Ngâm trong NaClO 2% trong 15 phút (900s).

CT7: Ngâm trong cồn 70⁰ trong 10s rồi ngâm trong NaClO 2% trong 5 phút.

CT8: Ngâm trong cồn 70⁰ trong 10s rồi ngâm trong NaClO 2% trong 10 phút.

CT9: Ngâm trong cồn 70⁰ trong 10s rồi ngâm trong NaClO 2% trong 15 phút.

Thí nghiệm 2. Xác định cơ quan vào mẫu thích hợp nhất cho việc tạo mẫu sạch

Các cơ quan khác nhau là: Chồi đỉnh, chồi nách, mắt đốt ngang thân được khử trùng bằng công thức khử trùng hiệu quả nhất (rút ra ở Thí nghiệm 1).

Theo dõi số mẫu sống, số mẫu bị nhiễm.

Thí nghiệm 3. Xác định cơ quan vào mẫu thích hợp đến hệ số nhân chồi in vitro

Cấy mẫu vào môi trường nhân cơ bản là MS + 0,5 mg/l BAP + 0,3 mg/l Kinetin + 100 ml/l ND + 100 g/l dịch chiết khoai tây + 20 g/l sucrose + 7 g/l agar.

Mỗi loại vật liệu (chồi đỉnh, chồi nách, mắt đốt ngang thân) được bố trí 3 lần lặp lại, mỗi lần 7 mẫu.

B. Xác định môi trường khởi động và nhân nhanh thích hợp

Khi các mẫu sạch bệnh được chuyển sang môi trường nhân nhanh. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện nuôi trồng khác nhau đối với quá trình nhân nhanh. Mỗi công thức được bố trí 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 7 mẫu, mỗi công thức là 21 mẫu.

Thí nghiệm 4. Xác định môi trường nền thích hợp cho nuôi cấy mô cây Lan Kim tuyến (A. setaceus)

Thí nghiệm được tiến hành dựa trên ba môi trường nền được sử dụng phổ biến hiện nay là MS, Knudson C và Knudson C cải tiến (Knud*). Các công thức được tiến hành trên nền môi trường chung là:

Nền môi trường = 20g/l Sucrose + 100ml/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar.

CT1: Knud* + Nền môi trường

CT2: MS + Nền môi trường

CT3: Knudson C + Nền môi trường

Thí nghiệm 5. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm chất cytokinin (BAP và kinetin) đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân

Sau khi tìm ra môi trường nền thích hợp trong thí nghiệm 4, thí nghiệm 5 tiếp tục tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm chất cytokinin tới khả năng phát sinh chồi lan Kim tuyến. Trong đó, môi trường nền sử dụng chung cho các công thức là:

Nền môi trường = Môi trường nền (TNo4) + 20g/l Sucrose + 100ml/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar.

CT1: ĐC

CT2: Nền môi trường + 0,1mg/l BAP

CT3: Nền môi trường + 0,5mg/l BAP

CT4: Nền môi trường + 1,0 mg/l BAP

CT5: Nền môi trường + 2,0 mg/l BAP

CT6: Nền môi trường + 0,1mg/l Kinetin

CT7: Nền môi trường + 0,5mg/l Kinetin

CT8: Nền môi trường + 1,0 mg/l Kinetin

CT9: Nền môi trường + 2,0 mg/l Kinetin

Thí nghiệm 6. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm chất Auxin (IBA và α-NAA) đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân

Thí nghiệm tiếp tục được tiến hành trên nền môi trường trên và thăm dò ảnh hưởng của auxin với các nồng độ khác nhau

Nền môi trường = Môi trường nền (TNo4) + 20g/l Sucrose + 100ml/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar.

CT1: ĐC

CT2: Nền môi trường +0,5 mg/l IBA

CT3: Nền môi trường +1,0 mg/l IBA

CT4: Nền môi trường +1,5 mg/l IBA

CT5: Nền môi trường +2,0 mg/l IBA

CT6: Nền môi trường +3,0 mg/l IBA

CT7: Nền môi trường +0,5 mg/l α-NAA

CT8: Nền môi trường +1,0 mg/l α-NAA

CT9: Nền môi trường +1,5 mg/l α-NAA

CT10: Nền môi trường +2,0 mg/l α-NAA

CT11: Nền môi trường +3,0 mg/l α-NAA

Thí nghiệm 7. Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phối hợp 2 nhóm chất là cytokinin và auxin đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân

Qua các kết quả thực nghiệm cho thấy, nồng độ BAP và Kinetin khi sử dụng phối hợp là 0,5mg/l và 0,3mg/l do đó thí nghiệm sẽ tiếp tục thăm dò ảnh hưởng của sự phối hợp 2 nhóm chất trên dựa trên nền môi trường:

Nền môi trường = Môi trường nền (TNo4) + 0,5mg/l BAP + 0,3mg/l Kinetin + 20g/l Sucrose + 100ml/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar.

CT1: Nền môi trường +0,1mg/l IBA

CT2: Nền môi trường +0,3mg/l IBA

CT3: Nền môi trường +0,5mg/l IBA

CT4: Nền môi trường + 0,1mg/l α-NAA

CT 5: Nền môi trường +0,3mg/l α-NAA

CT6: Nền môi trường +0,5mg/l α-NAA

C. Nghiên cứu ra rễ tạo cây hoàn chỉnh

Khi các chồi lan Kim tuyến có chiều cao 3-4 cm, có 3-4 lá được cấy chuyển sang môi trường ra rễ. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường nền (không có chất điều tiết sinh trưởng) và than hoạt tính đến sự ra rễ. Mỗi công thức được bố trí 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 6 mẫu, mỗi công thức là 18 mẫu.

Thí nghiệm 8. Ảnh hưởng của môi trường nền (môi trường dinh dưỡng cơ bản) đến sự ra rễ

CT1: MS + 20g/l Sucrose + 7g/l agar

CT2: MS/2 + 20g/l Sucrose + 7g/l agar

CT3: Knud* + 20g/l Sucrose + 7g/l agar

CT4: Knud*/2 + 20g/l Sucrose + 7g/l agar

Thí nghiệm 9. Nghiên cứu ảnh hưởng của than hoạt tính đến sự ra rễ

Các thí nghiệm được tiến hàn trên nền môi trường nghèo dinh dưỡng

CT1= ĐC= Nền = MS + 20g/l Sucrose + 0% than hoạt tính + 7g/l agar

CT2: Nền + 1% than hoạt tính

CT3: Nền + 3% than hoạt tính

CT4: Nền + 5% than hoạt tính

D. Nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện chăm sóc tới khả năng sinh trưởng của loài lan Kim tuyến (Anoectochilus Setaceus Blume) in vitro ngoài vườn ươm.

Cây cao 3-4cm, mọc 3-4 lá và có 3-4 rễ đủ tiêu chuẩn đưa ra ngoài vườn ươm. Cây in vitro cho ra khỏi môi trường tạo rễ, rửa sạch agar bám trên rễ, rồi trồng trong giá thể ngoài vườn ươm.

* Cách bố trí thí nghiệm:

– Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên, mỗi công thức lặp lại 3 lần, mỗi chậu trồng 3 cây.

– Định kì theo dõi: 7 ngày/1lần, chúng tôi đo chiều cao cây, đến rễ lá, số nhánh trong mỗi lần đo định kì.

– Số cây theo dõi

– Cách tưới: Phun mù dưới dạng sương mù vào lúc sáng sớm

Thí nghiệm 10. Nghiên cứu giá thể phù hợp cho việc ra cây loài Lan Kim tuyến (Anoectochilus Setaceus Blume) in vitro Giá thể:

CT 1: Giá thể 100% dớn

CT 2: Giá thể 50% Dớn + 50% xơ dừa

CT 3: Giá thể 100% xơ dừa

CT 4: Giá thể 100% bột dừa

Thí nghiệm 11. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian huấn luyện cây trong bình đến tỷ lệ sống của lan Kim tuyến khi trồng lên giá thể

Thí nghiệm được bố trí với thời gian huấn luyện cây khác nhau:

ĐC: 0 ngày CT1: 4 ngày CT2: 8 Ngày

CT3: 12 Ngày CT4: 16 ngày

Cây sau khi huấn luyện sẽ được trồng vào giá thể là dớn và xơ dữa trộn lẫn trong nhà lưới được che kín bằng lưới đen.

Thí nghiệm 12. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian che phủ ở nhà lưới đến tỷ lệ sống của lan Kim tuyến khi trồng lên giá thể

Cây Lan in vitro sau khi huấn luyện, đủ tiêu chuẩn đem ra trồng, sẽ được rửa sạch thạch và trồng lên giá thể ở nhà lưới. Luống cây sau khi trồng sẽ được che kín bằng nilon trắng, phía trên che bằng lưới đen có độ che sáng 50%. Thí nghiệm được bố trí với các khoảng thời gian che kín nilon khác nhau:

ĐC: 0 ngày CT1: 5 ngày CT2: 10 Ngày CT3: 15 Ngày

2.5.2. Phương pháp đánh giá kết quả và xử lý số liệu

Các chỉ tiêu theo dõi

12. Chỉ tiêu thu thập: Tỷ lệ sống của cây con, đặc điểm của cây con

13. Thời gian thu thập: cứ 1 tuần quan sát và ghi số liệu 1 lần.

III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Nghiên cứu phương pháp khử trùng mẫu sạch và xác định cơ quan vào mẫu phù hợp cho việc nhân nhanh in vitro

Nhân giống in vitro có hệ số nhân giống cao, cây con tạo ra đồng nhất và sạch bệnh. Muốn vậy, trong bất kỳ quy trình nhân giống nào thì việc chọn vật liệu khởi đầu và việc tạo mẫu sạch in vitro chính là điều kiện tiên quyết để quyết định thành công của toàn bộ quá trình. Bởi vì đây chính là giai đoạn cung cấp nguồn mẫu sạch cho các giai đoạn tiếp theo của quá trình nhân giống.

Mẫu sạch in vitro được tạo ra từ nhiều nguồn, có thể là từ các bộ phận sinh dưỡng (thân, lá, rễ, phát hoa…) hoặc từ cơ quan sinh sản (quả). Trong nghiên cứu này các loại vật liệu đã sử dụng là thân khí sinh, thân ngầm được cắt đoạn và cho vào mẫu để lựa chọn loại mẫu cấy phù hợp.

3.1.1. Xác định chất khử trùng thích hợp

Khử trùng mẫu là khâu quan trọng nhằm loại bỏ các nguồn nấm, vi khuẩn, virus khỏi mẫu, thu được nguồn mẫu vô trùng cho các nghiên cứu tiếp theo. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới kết quả khử trùng như phương pháp lấy mẫu, thời điểm lấy mẫu, thời gian khử trùng, hóa chất khử trùng… Trong thí nghiệm này hóa chất được sử dụng là cồn 70⁰ và NaClO 2% bố trí ở các khoảng thời gian khác nhau. Sau khi khử trùng mẫu được cấy vào môi trường vào mẫu, sau một khoảng thời gian nhất định, thường là từ sau 2-3 tuần những mẫu sạch bắt đầu tái sinh. Đánh giá khả năng tái sinh là bước tiếp theo để tìm ra công thức khử trùng tốt nhất. Kết quả thu được sau 15 ngày thể hiện ở Bảng 3.1.

Bảng 3.1. Ảnh hưởng của chất khử trùng và thời gian khử trùng đến hiệu quả tạo mẫu sạch cây lan Kim tuyến (kết quả theo dõi sau 15 ngày)

    Với chất khử trùng là cồn 70⁰ :

Cồn 700 là chất có tác dụng sát khuẩn và phá hủy thành cellulozo của tế bào thực vật nên khi kéo dài thời gian khử trùng thì tỷ lệ sống của mẫu giảm đồng thời tỷ lệ nhiễm cũng giảm. Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy, thời gian khử trùng với cồn 70⁰ trong 10s (CT1) cho tỷ lệ mẫu sống cao nhất (47,62%) do thời gian ngắn thành tế bào ít bị phá hủy là nhưng tỷ lệ nhiễm cũng cao (52,38%) do chưa đủ để dung dịch khử trùng giết chết các nguồn bệnh. Khi tăng thời gian khử trùng lên 20s (CT2) thì tỷ lệ sống và tỷ lệ nhiễm giảm là 28,57% và 47,62%. Tiếp tục tăng thời gian khử trùng lên 30s (CT3) thì tỷ lệ sống tiếp tục giảm còn 14,29% và 38,1%.

    Với chất khử trùng là NaClO 2%

NaClO 2% là hóa chất có tính sát khuẩn cao nên khi tăng thời gian khử trùng thì tỷ lệ nhiễm sẽ giảm nhưng nếu thời gian khử trùng lâu thì dung dịch có thể xâm nhập vào bên trong gây độc với mẫu. Kết quả ở bảng 3.1 cho thấy, khi khử trùng trong thời gian 5 phút (CT4) thì tỷ lệ nhiếm cao (23,81%) do thời gian chưa đủ để diệt các nguồn bệnh. Khi tăng thời gian khử trùng lên 10 phút (CT5) thì tỷ lệ nhiễm thấp nhất (9,52%), tỷ lệ sống cao (57,14%). Tiếp tục tăng thời gian khử trùng lên tới 15 phút(CT6) dung dịch đã gây độc cho mẫu nên tỷ lệ sống thấp hơn (33,33%), tỷ lệ nhiễm tăng lên. Như vậy, thời gian khử trùng bằng NaClO 2% tốt nhất là trong 10 phút, cho tỷ lệ sống cao và tỷ lệ nhiễm thấp. Khử trùng bằng phương pháp kết hợp giữa cồn 70⁰ và NaClO 2%

Khi kết hợp cả hai chất khử trùng trên với thời gian khử trùng thích hợp đã khắc phục được các nhược điểm của từng chất nên cho tỷ lệ sống cao hơn và tỷ lệ nhiễm giảm. Kết quả thí nghiệm cho thấy, phương pháp khử trùng là ngâm cồn 70⁰ trong 10s rồi ngâm trong NaClO 2% trong 10 phút (CT8) cho tỷ lệ sống cao nhất đạt 90,48% và tỷ lệ nhiễm thấp (28,57%).

Như vậy, thời gian khử trùng mẫu có ảnh hưởng khá lớn tới tỷ lệ sống của mẫu cấy. Công thức khử trùng CT8 (ngâm trong cồn 70⁰ trong 10s rồi ngâm trong NaClO 2% trong 10 phút) là vừa đủ, vừa có khả năng tiêu diệt mầm bệnh mà lại tác động nhẹ đến thành tế bào nên cho tỷ lệ sống cao và kích thích mẫu tái sinh.

3.1.2. Xác định cơ quan vào mẫu thích hợp để tạo mẫu sạch và tăng hệ số nhân chồi in vitro

Mục tiêu đặt ra của quy trình khử trùng cho bất kỳ loài cây nào đều là tạo được tỷ lệ mẫu sạch cao đồng thời có khả năng tái sinh mạnh. Một trong các yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng này là bản chất vật liệu làm mẫu cấy. Mẫu cấy tiếp xúc với nước, đất như rễ thường có lượng vi sinh vật rất cao và khó loại bỏ hoàn toàn chúng khỏi nguồn mẫu. Mẫu mọng nước, có lông thường khó khử trùng hơn những mẫu không mọng nước, bề mặt nhẵn.

Trong nghiên cứu này các vật liệu được khử trùng được khử trùng theo công thức khử trùng tốt nhất suy ra từ kết quả nghiên cứu phần 3.1.1

3.1.2.1. Ảnh hưởng của loại vật liệu đến tỷ lệ tạo mẫu sạch

Qua kết quả thí nghiệm 1 cho thấy, điều kiện khử trùng hiệu quả nhất đối với loài Lan Kim tuyến là: Ngâm trong cồn 70o trong 10s sau đó ngâm trong NaClO 2% trong 10 phút. Do đó, để xác định cơ quan vào mẫu phù hợp nhất thí nghiệm tiếp tục áp dụng điều kiện khử trùng trên với các vật liệu khác nhau của cây lan Kim tuyến là: Chồi đỉnh, chồi nách, mắt đốt ngang thân. Kết quả thu được sau 15 ngày được thể hiện ở Bảng 3.2.

Bảng 3.2. Ảnh hưởng của loại vật liệu đến tỷ lệ tạo mẫu sạch (Kết quả thu được sau 15 ngày)

Qua kết quả nghiên cứu ở thí nghiệm này cho thấy, cơ quan vào mẫu thích hợp cho việc tạo mẫu sạch là mắt đốt ngang thân.

3.1.2.2. Ảnh hưởng của cơ quan vào mẫu đến hệ số nhân chồi in vitro

C

ơ quan vào mẫu có ảnh hưởng rõ rệt đến hệ số nhân chồi. Ở một số loài, cơ quan vào mẫu có tỷ lệ mẫu sạch bệnh cao nhất nhưng lại cho hệ số nhân chồi thấp nhất. Do đó, để đạt hiệu quả nhân nhanh chồi in vitro loài lan Kim tuyến, chúng tôi tiến hành thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của cơ quan vào mẫu đến hệ số nhân chồi lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume). Kết quả thí nghiệm thu được thể hiện qua Bảng 3.3.

Bảng 3.3. Ảnh hưởng của cơ quan vào mẫu đến hệ số nhân chồi in vitro (kết quả theo dõi sau 8 tuần).

Phân tích phương sai một nhân tố với 3 lần lặp của tỷ lệ mẫu sạch, hệ số nhân và chiều cao chồi đều được hiệu của trung bình mỗi công thức lớn hơn

LSD0,05 chứng tỏ cơ quan vào mẫu có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ tạo chồi, hệ số nhân và chiều cao TB chồi ở độ tin cậy 95%.

Qua kết quả ở Bảng 3.3 cho thấy, khi cấy các vật liệu là chồi đỉnh, chồi nách, mắt đốt ngang thân vào môi trường nhân nhanh phù hợp, kết quả theo dõi sau 8 tuần cho thấy mắt đốt ngang thân là cơ quan tái sinh và phát triển tốt nhất với tỷ lệ tạo mẫu là 100%, hệ số nhân 4,56 lần, chồi dài 3,2 cm. Cơ quan nhân kém nhất là chồi đỉnh với tỷ lệ tạo chồi chỉ đạt 33,33%, hệ số nhân là 2,11 lần và chiều dài chồi là 2,6 cm. Chồi nách cho tỷ lệ tạo mẫu là 44,44%, hệ số nhân 3,5 lần và chiều dài chồi 2,95 cm.

Như vậy, cơ quan vào mẫu thích hợp nhất để tăng hệ số nhân chồi in vitro lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus) là mắt đốt ngang thân.

3.2. Nghiên cứu môi trường khởi động và nhân nhanh thích hợp

Trong nuôi cấy in vitro, môi trường nuôi cấy đóng vai trò quan trọng. Vừa phải cung cấp chất dinh dưỡng cho mẫu vừa phải biệt hoá mẫu theo những hướng xác định. Do đó nghiên cứu lựa chọn môi trường nuôi cấy phù hợp nhất sẽ cho hệ số nhân cao, chất lượng chồi tốt.

3.2.1. Xác định môi trường nền thích hợp cho nuôi cấy mô Lan Kim tuyến (A. setaceus)

Những nghiên cứu về nuôi cấy Phong lan in vitro cho thấy có một số môi trường thích hợp để nuôi cấy Phong lan như: MS; môi trường Knudson C cho Cattleya, Cymbidium (Adirti, 1993), môi trường Knudson cải tiến (Knud*), môi trường Hyponex (Lou and Kako,1995; Nakano et al, 2000…), môi trường Vaccin &Went… Trong đề tài này chúng tôi nghiên cứu nuôi cấy loài Lan Kim tuyến trên ba loại môi trường cơ bản: MS, Knudson C và Knud*.

Thể chồi 4 tuần tuổi từ môi trường vào mẫu được cấy vào các môi trường khác nhau là MS, Knud*, Knudson có bổ sung thêm 20g/l sucrose + 100ml/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar. Sau 8 tuần nuôi cấy ta thu được kết quả sau:

Bảng 3.4. Ảnh hưởng của môi trường nền đến khả năng nhân nhanh chồi, mắt đốt lan Kim tuyến

Kết quả phân tích phương sai cho thấy, môi trường nền có ảnh hưởng tới khả năng nhân nhanh chồi, mắt đốt lan Kim tuyến.

Theo kết quả ở Bảng 3.4 thấy rằng môi trường Knud* cho số lượng chồi (3,67 chồi/mẫu) và số lá (4,12 lá/chồi) nhiều hơn ở môi trường MS (số lượng chồi 2,11 chồi/mẫu và số lá 1,55 lá/chồi) và Knudson (số lượng chồi 2,06 chồi/mẫu và số lá 2,35 lá/chồi). Đồng thời, trong môi trường Knud* thì chiều dài chồi (3,57cm) dài hơn hẳn so với hai môi trường còn lại (MS là 1,33 cm và Knudson là 2,22 cm) và chất lượng chồi cũng tốt hơn chồi mập, xanh. Như vậy, môi trường nền thích hợp nhất cho nuôi cấy mô lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus) là nuôi trường có nguồn gốc Knud*.

3.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của nhóm chất điều hòa sinh trưởng riêng rẽ và phối hợp đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân

Chất điều hoà sinh trưởng không những là công cụ hữu ích giúp chúng ta nghiên cứu sâu hơn về sự phát sinh hình thái thực vật mà còn giúp ta chủ động định hướng cho sự phát triển của thực vật trong ống nghiệm. Đặc biệt với mục đích nhân giống tạo số lượng lớn trong thời gian ngắn thì việc sử dụng các loại chất điều tiết sinh trưởng ở nồng độ khác nhau cho tỷ lệ mẫu tái sinh lớn nhất là tất yếu.

3.2.2.1. Ảnh hưởng của nhóm chất Cytokinin đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân

Cytokinin được biết đến là nhóm chất điều hòa sinh trưởng có tác dụng kích thích sự phân chia tế bào, sự hình thành và sinh trưởng của chồi in vitro (Miller, 1961). Để tăng hệ số nhân giống, người ta tăng nồng độ cytokinin trong môi trường nuôi cấy ở giai đoạn tạo chồi in vitro (Nguyễn Quang Thạch, 2007). Các loại cytokinin thường được sử dụng trong nuôi cấy như: BAP, Kinetin, TDZ, Zeatin…

Trong thí nghiệm này, hai loại cytokinin là BAP và Kinetin được dùng với các nồng độ khác nhau là 0,1; 0,5; 1,0 và 2,0 mg/l trên môi trường (Knud* + 20g/l Sucrose + 100ml/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar). Kết quả thu được ở Bảng 3.5.

Bảng 3.5. Ảnh hưởng của nhóm chất Cytokinin đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân (kết quả theo dõi sau 8 tuần)

    Ảnh hưởng của BAP đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân chồi

Kết quả xử lý thống kê hàm Anova một nhân tố cho thấy, giữa các công thức có sự khác biệt rõ rệt về số lượng chồi, số đốt và chiều cao chồi ở độ tin cậy 95% và khác biệt so với đối chứng.

Theo kết quả thu được ở Bảng 3.5 cho thấy, môi trường có bổ sung 1,0 mg/l BAP cho số chồi và số đốt cao hơn nhất (5,22 chồi/mẫu và 2,93 đốt/chồi), chiều cao chồi cũng lớn nhất (3,23 cm). Ở các môi trường có nồng độ BAP khác thì thấp hơn, số lượng chồi khi sử dụng nồng độ 0,1 mg/l BAP là 2,44 chồi/mẫu, ở nồng độ 0,5 mg/l BAP là 3,94 chồi/mẫu, ở nồng độ 2,0 mg/l là 4,22 chồi/mẫu và đối chứng là 1,22 chồi/mẫu, số đốt khi sử dụng các nồng độ 0,1; 0,5; 2,0 mg/l BAP lần lượt là 2,16; 2,33; 2,35 đốt/chồi và đối chứng là 1,54 đốt/chồi. Về chất lượng chồi thì ở nồng độ 1,0 mg/l BAP cũng cho chất lượng chồi tốt nhất chồi to khỏe, xanh đậm còn ở nồng độ 0; 0,1 và 2,0 mg/l thì do nồng độ quá cao và quá thấp nên chồi nhỏ và yếu, xanh nhạt.

Như vậy, việc bổ sung BAP ở nồng độ 1,0 mg/l là thích hợp nhất cho sự phát sinh hình thái và hệ số nhân chồi lan Kim tuyến.

    Ảnh hưởng của Kinetin đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân chồi

Kết quả xử lý thống kê hàm Anova một nhân tố cho thấy, giữa các công thức có sự khác biệt rõ rệt về số lượng chồi, số đốt và cả chiều cao chồi ở độ tin cậy 95% và khác biệt so với đối chứng.

Theo kết quả thu được ở Bảng 3.5 cho thấy, môi trường có bổ sung 1,0 mg/l Kinetin cũng cho số chồi và số đốt cao hơn nhất (4,91 chồi/mẫu và 2,68 đốt/chồi), chiều cao chồi cũng lớn nhất (3,23 cm). Ở các môi trường có nồng độ Kinetin khác thì thấp hơn, số lượng chồi dao động từ 2,33 – 4,22 chồi/mẫu, số đốt dao động từ 1,98 – 2,45 đốt/chồi. Về chất lượng chồi thì ở nồng độ 1,0 mg/l BAP cũng tốt nhất chồi to khỏe, xanh đậm còn ở nồng độ 0; 0,1 và 2,0 mg/l thì chồi nhỏ, xanh nhạt.

Như vậy, bổ sung Kinetin cũng ở nồng độ 1,0 mg/l là thích hợp nhất cho sự phát sinh hình thái và hệ số nhân chồi lan Kim tuyến.

3.2.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của IBA và αNAA đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân lan Kim tuyến (A. setaceus)

Tác dụng rõ nét nhất của auxin đối với sự phân hóa tế bào là khả năng phát sinh rễ đã được kiểm chứng từ năm 1934 (Went, Skoog, Thimann). Nhiều nghiên cứu đã cho thấy vai trò của IBA và αNAA tác động đến quá trình phát sinh rễ trên nhiều đối tượng nghiên cứu như cây lát hoa Côn Đảo, tram Úc… (Trần Văn Minh và Cộng sự, 2003; Nguyễn Văn Nghi và Cộng sự, 2003).

Để kiểm tra ảnh hưởng của auxin (IBA và NAA) tới sự phát sinh hình thái và hệ số nhân, thí nghiệm này được tiến hành trên môi trường Knud* và bổ sung riêng rẽ IBA và αNAA với các nồng độ khác nhau 0,5; 1,0; 1,5; 2,0; 3,0mg/l + 20g/l Sucrose + 100ml/l ND + 7g/l agar. Kết quả thu được ở Bảng 3.6.

Bảng 3.6. Ảnh hưởng của auxin (IBA và αNAA) tới sự phát sinh hình thái lan Kim tuyến

Sau 8 tuần nuôi cấy trong môi trường có bổ sung auxin IBA và αNAA với các dải nồng độ từ 0,5-3,0 mg/l thu được kết quả trong Bảng 3.6. Kết quả cho thấy, IBA và αNAA có hiệu quả sản sinh rễ bất định, αNAA có hiệu quả sản sinh rễ lớn hơn IBA nhưng hiệu quả sản sinh rễ không rõ ràng ở cả 2 loại phytohormon trên. Số lượng rễ và chiều dài rễ không khác biệt nhiều giữa các công thức. Trái lại, hai loại auxin này lại có hiệu quả rõ rệt trong việc sản sinh chồi bất định và đạt kết quả lớn và khác biệt hẳn giữa các công thức. Cụ thể là IBA ở nồng độ (1,5mg/l) cho 4,87 chồi/mẫu và αNAA (1,0mg/l) cho 4,55 chồi/mẫu. Lá cây có màu xanh đậm nhưng kích thước lá nhỏ hơn so với cytokinin. Trong rất nhiều các thí nghiệm và tài liệu nghiên cứu, các loại auxin như IBA, αNAA, 2,4 D, IAA được sử dụng để sản sinh rễ cho hầu hết các loại cây nhưng trong thí nghiệm này, đối với cây lan Kim tuyến (A. setaceus) IBA và αNAA không có hiệu quả sản sinh rễ bất định.

3.2.2.3.Ảnh hưởng của sự phối hợp 2 nhóm chất là auxin và cytokinin đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân

Nhiều tác giả đã tổng kết rằng sự biệt hóa cơ quan thực vật in vitro là kết quả tác động qua lại giữa hai nhóm auxin và cytokinin. Tỷ lệ auxin/cytokinin cao sẽ kích thích sự ra rễ, trái lại sẽ đẩy mạnh sự biệt hóa chồi, ở tỷ lệ trung bình thì hình thành mô sẹo. Để nghiên cứu nhân nhanh nhằm thu được các chồi có chất lượng tốt cho các giai đoạn tiếp theo, chúng tôi tiến phối hợp giữa BAP, Kinetin và αNAA, IBA với các nồng độ khác nhau kết thu được từ thí nghiệm trên, BAP và kinetin khi sử dụng phối hợp theo tỷ lệ 0,5mg/l BAP + 0,3mg/l kinetin cho hiệu quả nhân nhanh tốt. Do đó, thí nghiệm được tiến hành trên nền môi trường trên phối hợp với IBA và α-NAA với các dải nồng độ từ 0,1 – 0,5 mg/l + 20g/l Sucrose + 20g/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar. Kết quả thí nghiệm được thể hiện qua Bảng 3.6.

Bảng 3.6. Ảnh hưởng của sự phối hợp 2 nhóm chất là auxin và cytokinin đến sự phát sinh hình thái và hệ số nhân (kết quả theo dõi sau 8 tuần)

Theo kết quả ở Bảng 3.6: Mẫu cấy trên môi trường chứa tổ hợp 0,5 mg/l BAP + 0,3 mg/l Kinetin + 0,3mg/l α-NAA cho số chồi cao nhất đạt (6,56 chồi/mẫu) nhiều hơn so với môi trường chứa tổ hợp 0,5 mg/l BAP + 0,3 mg/l Kinetin + 0,5mg/l IBA (4,85 chồi/mẫu) nhưng số đốt và chiều cao chồi thì lại thấp hơn. Sự phối hợp giữa cytokinin và auxin cho số chồi, số đốt và chiều cao chồi cao nhất (6,56 chồi/mẫu, 2,77 đốt/chồi và chiều cao trung bình chồi đạt 3,52 cm).

Như vậy, qua kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các chất điều hòa sinh trưởng tới sự phát sinh hình thái và hệ số nhân chồi thấy rằng công thức môi trường thích hợp nhất để nhân nhanh là: Knud* +0,5mg/l BAP + 0,3mg/l Kinetin + 0,3 mg/l α-NAA + 20g/l Sucrose + 20g/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar cho hệ số nhân cao, chất lượng chồi tốt, xanh, lá khỏe.

3.3. Nghiên cứu ra rễ tạo cây hoàn chỉnh

Cây nuôi cấy mô in vitro trước khi chuyển ra vườn ươm thường phải có bộ rễ hoàn chỉnh. Nếu rễ kém phát triển sẽ làm cho quá trình hút nước cũng như khả năng bám đất của cây bị ảnh hưởng nhưng ngược lại, bộ rễ phát triển mạnh sẽ làm ảnh hưởng tới chất lượng của các cơ quan khác. Do đó cần nghiên cứu để tìm ra môi trường ra rễ thích hợp cho cây.

Khi các chồi đạt tiêu chuẩn cho ra rễ, có chiều cao 3 – 5 cm , có 3 – 4 rễ, chồi mập khỏe, lá to, xanh thì được chuyển sang các môi trường ra rễ để tạo cây hoàn chỉnh.

Qua thí nghiệm trên, hai loại auxin là IBA và α-NAA đã được tiến hành nghiên cứu và cho kết quả là không có khả năng sản sinh ra rễ bất định đối với lan Kim tuyến (A. setaceus). Do đó trong nghiên cứu tạo cây hoàn chỉnh chúng tôi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện nghèo dinh dưỡng và than hoạt tính đến sự ra rễ ở cây lan Kim tuyến (A. setaceus).

3.3.1. Ảnh hưởng của môi trường nền (môi trường không có chất điều tiết sinh trưởng) đến sự ra rễ

Lan Kim tuyến là một loại cây có yêu cầu về dinh dưỡng thấp, khi sống ở các môi trường nghèo dinh dưỡng thì rễ lan Kim tuyến sẽ kéo dài hơn để lấy dinh dưỡng cho cây. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu cho cây ra rễ trên môi trường nền nghèo dinh dưỡng, không có chất kích thích sinh trưởng để đánh giá môi trường nền ra rễ thích hợp và đánh giá khả năng ra rễ của mẫu Lan Kim tuyến trong điều kiện nghèo dinh dưỡng. Kết quả được trình bày ở Bảng 3.7.

Bảng 3.7. Ảnh hưởng của môi trường nền (môi trường không có chất điều tiết sinh trưởng) đến sự ra rễ (kết quả theo dõi sau 8 tuần)

Theo kết quả ở Bảng 3.7 cho thấy, môi trường Knud*/2 cho tỷ lệ tạo rễ cao nhất (100%), số lượng rễ nhiều nhất (2,17 rễ/chồi) và chiều dài rễ cũng cao nhất (2,47 cm), chồi mập và dài. Các môi trường khác đều cho các chỉ tiêu này thấp hơn, tỷ lệ tạo chồi dao động từ 66,67 – 83,33%; số lượng rễ dao động từ 1,25 – 1,87 rễ/chồi; chiều dài rễ đao động từ 1,6 – 2,3 cm; chồi ngắn hơn.

Như vậy có thể thấy rằng môi trường nghèo dinh dưỡng sẽ kích thích bộ rễ Lan Kim tuyến phát triển mạnh hơn và phát triển theo hướng phát triển chiều dài rễ.

3.3.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của than hoạt tính đến sự ra rễ

Vai trò tích cực của than hoạt tính đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu trên các đối tượng khác nhau. Theo đó, than hoạt tính có tác dụng hấp thụ các chất màu, các hợp chất phenol, các sản phẩm trao đổi thứ cấp… Và đặc biệt, than hoạt tính làm thay đổi môi trường ánh sáng do làm cho môi trường sẫm màu, nên có thể kích thích sự hình thành và sinh trưởng của rễ (Vũ Văn Vụ, 2006). Vì vậy, trong thí nghiệm này chúng tôi sử dụng than hoạt tính với các nồng độ khác nhau bổ sung vào môi trường Knud* + 20g/l Sucrose + 7g/l agar để xác định vai trò của than hoạt tính đối với sự ra rễ của cây Lan Kim tuyến.

Kết quả trình bày ở Bảng 3.8.

Bảng 3.8. Ảnh hưởng của than hoạt tính đến sự ra rễ (kết quả theo dõi sau 8 tuần)

Kết quả xử lý thống kê hàm Anova một nhân tố cho thấy, nồng độ than hoạt tính khác nhau rõ ràng có ảnh hưởng đến tỷ lệ tạo rễ và chiều dài rễ và số lượng rễ của Lan Kim tuyến nuôi cấy mô.

Kết quả ở Bảng 3.8 cho thấy, bổ sung than hoạt tính vào môi trường nuôi cấy rõ ràng là có ảnh hưởng tích cực hơn đến sự hình thành của rễ cây lan Kim tuyến. Ở tất cả các môi trường bổ sung than hoạt tính đều cho tỷ lệ tạo rễ là 100%. Bổ sung than hoạt tính ở nồng độ 5% cho số lượng rễ nhiều nhất (4,22 rễ/chồi) và chiều cao rễ là 3,5 cm. Trong khi đó ở các nồng độ khác thì số lượng rễ thấp hơn dao động từ 2 – 3,83 rễ/chồi, đối chứng chỉ có 1,25 rễ/chồi, chiều cao dao động từ 2,89 – 3,2 cm, đối chứng là 1,6 cm. Chất lượng rễ của mẫu cấy ở môi trường có bổ sung 5% than hoạt tính là dài, mập và rất khỏe, ở cá nồng độ khác thì rễ ngắn và yếu hơn.

Căn cứ vào các chỉ tiêu đánh, chúng tôi cho rằng, than hoạt tính ở nồng độ 5% là có tác dụng kích thích sự hình thành và phát sinh rễ lan Kim tuyến tốt nhất

3.4. Nghiên cứu điều kiện ra cây thích hợp cho loài lan Kim tuyến (A. setaceus Blume) in vitro

3.4.1. Nghiên cứu giá thể phù hợp nhất cho việc ra cây loài lan Kim tuyến (A.

setaceus Blume) in vitro

CT 1: Giá thể 100% dớn

CT 2: Giá thể 50% Dớn + 50% xơ dừa

CT 3: Giá thể 100% xơ dừa

CT 4: Giá thể 100% bột dừa

Các giá thể được làm sạch, sấy khô và được ngâm nước trước khi đưa vào sử dụng. Sau 2 tuần đưa cây ra ngoài giá thể chúng tôi thu được kết quả theo Bảng 3.9

Bảng 3.9. Ảnh hưởng của giá thể tới sinh trưởng và tỷ lệ sống của cây lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume)

Từ Bảng kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy trên các giá thể khác nhau, tỷ lệ sống sót, khả năng sinh trưởng, phát triển của cây cũng rất khác nhau. Tỷ lệ sống sót và khả năng sinh trưởng tốt nhất của các cây con đạt được ở giá thể gồm 50% Dớn và 50% xơ dừa (CT2). Ở giá thể này, cây thích ứng rất nhanh, chỉ sau 7 -10 ngày trồng cây đã có biểu hiện sinh trưởng rõ rệt. Cây to, mập, lá có màu xanh đậm và cho tỷ lệ sống cao nhất đạt 66,32% và thấp nhất ở giá thể bột dừa đạt 33,76%.

Tuy Dớn và xơ dừa là giá thể phù hợp nhất cho loài lan Kim tuyến Anoectochilus setaceus Blume nhưng tỷ lệ sống thu được không cao do đó chúng tôi tiếp tục tiến hành các thí nghiệm nhằm nâng cao tỷ lệ sống cho giống lan in vitro này.

3.4.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian huấn luyện cây trong bình đến tỷ lệ sống của lan Kim tuyến khi trồng lên giá thể

Mục đích của giai đoạn huấn luyện là tạo điều kiện cho cây trong môi trường in vitro dần làm quen với môi trường tự nhiên bên ngoài. Sau khi được huấn luyện, cây con sẽ cứng cáp, khoẻ mạnh hơn và đạt tỷ lệ sống cao khi đưa ra trồng ngoài nhà lưới, vườn ươm… Có thể coi giai đoạn này như giai đoạn thuần hoá cây trước khi tách khỏi điều kiện in vitro.

Trong điều kiện in vitro, cây con được nuôi cấy trong môi trường dinh dưỡng, ánh sáng nhân tạo và vô trùng, tức là đã quen sống dị dưỡng. Khi đưa cây con ra trồng trên giá thể ở ngoài tự nhiên, cây con phải sống tự dưỡng, xung quanh là môi trường không vô trùng, ánh sáng tự nhiên. Do vậy, huấn luyên cây in vitro cũng giúp cây chuyển từ trạng thái dị dưỡng sang trạng thái bán tự dưỡng, để khi đưa cây ra trồng ngoài vườn ươm cây có thể tự dưỡng ngay mà không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng. Thời gian huấn luyện khác nhau giúp cây có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường bên ngoài bình khác nhau, do đó có ảnh hưởng đến tỷ lệ sống cảu cây con khi đưa ra trồng ngoài vườn ươm.

3.4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ huấn luyện cây ở nhà lưới đến tỷ lệ sống của lan Kim tuyến khi trồng lên giá thể

Bảng 3.11. Ảnh hưởng của chế độ huấn luyện cây ở nhà lưới đến tỷ lệ sống của lan Kim tuyến khi trồng lên giá thể

Công thức CT2 và CT3 có tỷ lệ cây sống cao nhất (99%) và thấp nhất là công thức ĐC (80,33%). Sức sống của cây con ở các thời gian che bóng khác nhau cũng khác nhau khá rõ. Công thức CT2 cây phát triển tốt nhất, cây mập, lá dày và xanh non, rễ phát triển và bám giá thể tốt. Công thức CT5 rễ bám giá thể khá tốt nhưng cây mảnh và lá mỏng mang màu xanh nhạt hơn ở công thức CT2.

Công thức ĐC cho tỷ lệ cây sống thấp nhất. Tuy cây phát triển khá tốt nhưng độ bám của rễ vào giá thể rất kém nên không đạt tiêu chuẩn.

Những ngày đầu đưa cây ra trồng ở nhà lưới/vườn ươm, luống cây được phủ kín nilon để giúp cây con tránh bị mất nước do bay hơi. Nếu luống cây không được che kín bằng nilon, cây con sẽ bị mất nước khi trời nắng hoặc gió lùa khiến cho cây bị héo và chết. Tuy nhiên, thời gian che kín luống cây bằng nilon kéo dài sẽ khiến cây bị quá thiếu ánh sáng dẫn đến bị “ớm”, cây cao nhưng mảnh và lá xanh nhạt làm khả năng quang hợp kém, hay ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây con.

Như vậy, khi đưa lan Kim tuyến ra trồng ở vườn ươm thì nên che bóng trong vòng 10 ngày là thích hợp.

IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

4.1. Kết luận

Dựa vào kết quả thu được từ các thí nghiệm chúng tôi rút ra các kết luận sau:

1. Phương pháp khử trùng tạo mẫu sạch in vitro và cơ quan vào mẫu thích hợp:

Rửa sạch bằng xà phòng rồi đem ngâm trong cồn 70o trong 10s sau đó ngâm trong NaClO 2% trong 10 phút.

Cơ quan vào mẫu thích hợp nhất là mắt đốt ngang thân, cho tỷ lệ sống cao đạt khoảng 72%, tỷ lệ tạo chồi là 100% và hệ số nhân đạt 4,56 lần

2. Môi trường khởi động và nhân nhanh thích hợp:

– Môi trường nền thích hợp để nhân nhanh Lan kim tuyến (A. setaceus) là môi trường Knud* + 20g/l sucrose + 100ml/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar

– Môi trường: Knud* + 1,0 mg/l BAP hoặc 1,0 mg/l Kinetin + 20g/l Sucrose + 100ml/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar.

– Môi trường nhân nhanh phù hợp nhất: Knud* + 0,5mg/l BAP + 0,3 Kinetin + 0,3mg/l αNAA + 20g/l sucrose + 100ml/l ND + 100ml/l dịch chiết khoai tây + 7g/l agar.

3. Xác định môi trường ra rễ tạo cây hoàn chỉnh:

– Môi trường phù hợp nhất cho sự ra rễ ở loài Lan kim tuyến là Knud*/2 + 5% than hoạt tính.

4. Xác định điều kiện ra cây thích hợp với loài Lan Kim tuyến

– Giá thể phù hợp nhất với loài Lan Kim tuyến là: 50% Dớn + 50% xơ dừa.

– Thời gian huấn luyện cây trong bình phù hợp nhất là 8 ngày – Thời gian che luống cây phù hợp nhất là 10 ngày cho tỷ lệ cây sống là 99%

4.2. Đề nghị

Do thời gian quá ngắn nên cây lan Kim tuyến vẫn chưa được đưa vào sản xuất trên quy mô công nghiệp nên chúng tôi đề nghị tiếp tục nhân và sản xuất ra với số lượng lớn nhằm bảo vệ nguồn dược liệu quý và đáp ứng nhu cầu sử dụng lan Kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume) hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Tiến Bân (chủ biên), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, Tập 3, Nxb. Nông nghiệp, Hà Nội, 2005.

2. Bộ Khoa học và Công nghệ, Sách Đỏ Việt Nam (phần thực vật), Nxb. Khoa học Tự nhiên & Công nghệ, Hà Nội, 2007.

3. Chính Phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP, 2006.

4. Lê Thị Kim Đào, “Nghiên cứu thử nghiệm nhân một số giống cây trồng rừng bằng phương pháp nuôi cấy mô (Bạch đàn, cây Hông, Giổi xanh, Trầm hương)”, Tạp chí sinh học, 23, 3, tr.46-50, 2001.

5. Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam, Quyển 3, Nxb. Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2000.

6. Dương Công Kiên, Nuôi cấy mô thực vật, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2002.

7. Nguyễn Thị Hồng Gấm, Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống Lan Ngọc Điểm Tai Trâu (Rhynchostylis gigantea) bằng phương pháp nuôi cấy trong ống nghiệm, Báo cáo khoa học Trường Đại học Lâm nghiệp, 2007.

8. Phùng Văn Phê và nnk, Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống In vitro loài Lan kim tuyến (Anoectochilus setaceus Blume), Báo cáo khoa học Trường Đại học Lâm nghiệp, 2009.

9. Phùng Văn Phê, Nguyễn Thị Hồng Gấm, Nguyễn Trung Thành, Nghiên cứu kỹ thuật nhân nhanh chồi In vitro loài Lan Kim tuyến (Anoectochilus roxburghii (Wall.) Lindl)”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 26(4), 248-253, 2010.

10. Phùng Văn Phê, Nguyễn Trung Thành, Vương Duy Hưng. “Đặc điểm hình thái, phân bố của loài Lan Kim tuyến Anoectochilus setaceus Blume ở Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, 26(2), 104-109, 2010.

11. Nguyễn Thị Quỳnh (2005), “Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên sự tăng trưởng của một số cây thân gỗ nhiệt đới và cận nhiệt đới trong điều kiện nuôi cấy in vitro”, Hội nghị tổng kết NCCB trong KHTN, tr. 42-44, 2005.

12. Nguyễn Đức Thành, Nuôi cấy mô, tế bào thực vật, Nghiên cứu ứng dụng, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, 2000.

13. Vũ Văn Vụ, Vũ Thanh Tâm, Hoàng Minh Tấn, Sinh lý học thực vật, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2007.

Tài liệu từ Internet:

53. Kim Sinh (2011). “Đua nhau vào rừng sâu “săn”…cỏ !”, http://baoxuan.giadinh.net.vn/30635p0c1000/dua-nhau-vao-rung-sau-san-co.htm.

54. http://congnghexanhviet.com/San-pham/Giong-cay-trong/28/GIONG-CAYCHAT-LUONG-CAO.html

55. http://caythuocviet.com.vn/cay-thuoc-vi-thuoc/Lan-kim-tuyen.html

Tác giả

Phí Thị Cẩm Miện. LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC. NGHIÊN CỨU NHÂN NHANH IN VITRO LOÀI LAN KIM TUYẾN (ANOECTOCHILUS SETACEUS BLUME) NHẰM BẢO TỒN NGUỒN DƯỢC LIỆU QUÝ


【#6】Lan Dendro Nắng Xưa Bộ Sưu Tập Các Cây Quý Hiếm Giá Trị Cao

Giới thiệu tổng quan về lan dendro nắng cho người chơi có hiểu được lịch sử hình thành và phát triển các cây thuộc dòng lan dendro nắng cực đẹp theo thời gian.

Mô tả lan Dendro nắng

Lan Dendro nắng dễ trồng, chịu được nắng cực tốt, một số nơi trồng được trực tiếp ngoài nắng mà không cần che lưới. Cây sống khỏe mạnh theo thời gian, ít bị rớt lá, cây phát triển cao lớn, có cây cao tới hơn mét

Lan Dendro nắng cực siêng hoa, ra hoa đồng loạt, ra hoa quanh năm, một số cây có hương thơm dễ chịu, cây trồng thành bụi to trong chậu lớn trưng bày rất đẹp và sang trọng

Dendro nắng thường được mang dự thi

Trong hàng ngàn chậu lan triển lãm tại Festival hoa Đà Lạt cuối năm 2013, có chậu lan dendro nắng Hawai Gem được đặt ở vị trí khiêm tốn. Dáng cây mảnh, hoa nhỏ và có phần kém nổi bật so với các chậu lan cao lớn, rực rỡ khác, nhưng anh Nguyễn Quốc Thanh tự hào rằng đây là điểm đặc sắc mà các gian trưng bày khác không có.

Khoảng 10 năm trước, dòng lan này từng được dân chơi lan ưa chuộng, nhưng sau đó hết thời vì sự cạnh tranh của nhiều giống lan mới với hoa to, màu rực rỡ hơn. Tuy nhiên, trào lưu chơi các giống lan cũ mà người chơi gọi là lan xưa đang trỗi dậy.

Dendro nắng xưa Việt hóa

Đầu tháng 3-2014, chúng tôi tìm gặp anh Thanh tại vườn Thăng Long Orchids của anh ở huyện Củ Chi, chúng tôi Từng chơi và kinh doanh hoa lan dendro nắng mười năm nay, anh chỉ mê và sưu tầm lan xưa từ khoảng ba năm trở lại đây. Hiện vườn của anh có 12 loại lan xưa như: ăng-ten, rồng đỏ, an-bin, nhện đen, samurai…

Từ khi tình cờ thấy rồi tìm hiểu và mê lan xưa, anh Thanh đã không quản đường sá xa xôi để đi tìm những dòng lan dendro nắng được ưa chuộng một thời. Công việc sưu tầm bao giờ cũng kỳ công, có khi tìm được nhờ cơ duyên. Chỉ vào một cây lan dòng dendrobium vừa đậu bốn trái, anh Thanh giới thiệu: “Đây là cây đắt nhất trong vườn. Hồi tết có người trả giá 7 triệu đồng nhưng tôi không bán”.

Cây lan này còn đặc biệt ở chỗ chính anh Thanh cũng không biết tên của nó là gì. Một lần đến Cần Thơ, anh được bạn bè giới thiệu rồi tìm gặp một người chơi lan. Cây lan xưa này lọt ngay vào “mắt xanh” của anh và cuối cùng anh cũng được người kia chia lại, đem về gây giống.

Người chia lại cho anh là Vũ Thanh Tùng, ở phường Hưng Thịnh, quận Cái Răng, TP Cần Thơ. Dĩ nhiên anh Tùng cũng không biết hoa này tên gì. Đến bây giờ, anh Tùng và anh Thanh vẫn lân la dò hỏi những người chơi lan từ xưa để biết rõ hơn về loài lan đặc biệt này. Anh Tùng tự nhận chơi lan theo kiểu “tài tử”, chỉ chơi vì mê chứ không nặng chuyện buôn bán. Một lần tình cờ đi ngang một căn biệt thự cũ, anh tò mò vì vườn của biệt thự này trồng rất nhiều lan mà chỉ duy nhất một loại có hoa màu trắng, cánh sẻ, dáng mảnh rất đẹp. Anh lân la hỏi rồi cuối cùng được chủ nhà chia lại cho vài cây.

Tìm hiểu anh mới biết đó là lan dendro nắng Caesar White , từng được ưa chuộng từ trước năm 1975. Chăm sóc một thời gian thì cây trổ bông, anh Tùng đem đi triển lãm thì cây caesar white đoạt liền hai giải vàng tại Cần Thơ và Bến Tre năm 2011. Cũng từ đó, loại lan này trở nên có giá ở khu vực các tỉnh thành Tây Nam bộ.

Anh Tùng và anh Thanh đều có điểm chung trong những lý do tìm đến loài lan xưa: thường ra bông, dễ chăm sóc hơn các loại lan “tân thời”. Hiện hai anh đang gây giống theo kiểu tách nhánh con từ cây mẹ.

Anh Tùng cho biết một số đơn vị của Thái Lan nhận thấy trào lưu chơi lan xưa ở nước ta nên đã nhân giống lại, cho cấy mô đại trà và xuất sang Việt Nam. Tuy nhiên, điều kỳ lạ là dù giống lan ở Việt Nam hiện tại có xuất xứ từ Thái Lan, lan thương nhân Thái Lan xuất sang không đẹp bằng dù cùng dòng.

Như lan dendro nắng Dazang – loại lan vốn được chơi từ khoảng năm 1945 và có nguồn gốc từ Thái Lan, hoa cánh sẻ, màu tím dịu và hiện không còn nhiều ở Việt Nam. Nay thương nhân Thái Lan gầy giống lại và xuất qua nhưng vẫn không được ưa chuộng vì màu sắc và kết cấu hoa không đẹp bằng những chậu hoa được gầy dựng “thủ công” theo cách tách cành ở nước ta.

Điều này thể hiện ngay ở giá bán: nếu như một chậu dazang Thái Lan mới xuất qua bán khoảng 250.000 đồng thì một chậu dazang xưa ở Việt Nam có giá từ 2-3 triệu đồng. Anh Tùng cho rằng có lẽ do cây đã sinh trưởng, phát triển ở Việt Nam lâu nên có những đặc tính khác, có thể nói là đã được “Việt hóa”.

Lan dendro nắng hấp dẫn từ những cái tên

Gặp gỡ những người chơi lan xưa, thỉnh thoảng lại được nghe giới thiệu về một loại lan mà ngay cả người sở hữu và người chơi lâu năm cũng không biết tên của chúng.

Ông Phan Châu Nhuận, chủ vườn lan Thu Ngân ở xã Tân An Hội, huyện Củ Chi, được biết đến nhiều với cái tên Dũng “cà phê”. Trước đây ông Nhuận là chủ cơ sở sản xuất trà, cà phê, nhưng lại có sở thích đặc biệt với theo kiểu trồng chơi chứ không bán.

Năm 1996, một nhóm thương nhân từ Đài Loan sang khảo sát nhu cầu lan của thị trường Việt Nam và đem theo vài mẫu cây. Khi ấy, ông Nhuận đã làm một việc mà đến bây giờ nhiều người chơi lan vẫn còn nhắc lại như một sự nể phục niềm đam mê của ông: ông quyết định bán sạch đàn heo 20 con rồi bù thêm tiền cho đủ quy đổi thành 800 đôla Mỹ (thời điểm năm 1996) để mua chậu lan chialin shinshu, dòng cattleya, có năm cành và hai hoa.

Lịch sử hình thành tên Việt những cây lan Dendro nắng

Đến năm 2005, ông Nhuận bỏ nghề sản xuất trà, cà phê và chuyển hẳn sang nghề trồng và kinh doanh hoa. Hiện trong vườn của ông có khoảng 10.000 chậu, chủ yếu là lan xưa. Ông cho biết đang sở hữu 17 loại lan xưa quý và hiếm.

Dẫn tôi đến trước một chậu lan dòng dendro nắng thân cao, hoa tím, cánh sẻ, ông Nhuận bảo ” đây là lan Dương Văn Minh “. Thấy chúng tôi thắc mắc, ông Nhuận giải thích: “Ông Dương Văn Minh là tổng thống cuối cùng của Việt Nam cộng hòa. Trước đây, chỉ ông này mới có loại lan này. Sau năm 1975 thì giống lan này được dân chơi lan nhân ra, tôi chơi lan từ sớm nên được anh em chia cho đem về trồng đến bây giờ. Mọi người đặt tên Dương Văn Minh là vì vậy, còn tên khoa học của nó là Caesar king”.

Chỉ tiếp một chậu lan khác, ông bảo “đây là cây Tám Lý”. Không đợi chúng tôi hỏi, ông diễn giải: “Cây này trước của cha Nghị (người Công giáo), hồi đó chỉ có ông này có. Sau này cha Nghị để lại cho ông Tám Lý nhưng ông Tám Lý chăm sóc không tốt nên cây ngày một héo hắt, tôi đem về trồng và giữ đến bây giờ”.

Nhiều loại lan xưa được gắn với những tên người, tên địa điểm như vậy bởi người chơi không tìm ra được tên khoa học của chúng, có thể kể đến như king Hóc Môn, king Mười Bích, king Củ Chi…

Một lần làm giám khảo cuộc thi hoa lan năm 2009, ông Nhuận vô cùng thích thú với cây lan đoạt giải nhất. Ban giám khảo không truy được phả hệ của cây lan này nên nó càng đặc biệt hơn. Vì thích quá nên ông Nhuận đã bỏ ra gần 20 triệu đồng để mua cây lan có hoa và bốn lá. Để nói về độ đắt tiền của cây lan, nhiều người nói vui là mỗi chiếc lá của nó có giá đến 5 triệu đồng.

Thời điểm đó, ông Barack Obama vừa trúng cử tổng thống Mỹ nên ông Nhuận đã đặt tên cho nó là lan Obama giờ được mọi người biết đến.

Khi biết giá của loại “lan tổng thống” này, chúng tôi không giấu nổi sự kinh ngạc trước cả ngàn chậu lan Obama mà ông Nhuận đang chăm sóc, bởi lẽ nếu cứ bán theo giá mà ông Nhuận đã mua thì chúng tôi đang đứng trước một triệu phú đôla.

Cầm một chậu lan Obama nhỏ có tám lá, ông Nhuận cho biết giá 250.000 đồng. Thấy chúng tôi ngạc nhiên, ông Nhuận cười: “Trước đây nó đắt là vì hiếm, nhưng về tay tôi, tôi đã gầy giống ra chừng này thì tất nhiên phải hạ nhiệt đi chứ”.

Cũng với suy nghĩ “hạ nhiệt” lan xưa mà ông Nhuận sử dụng phương pháp cấy mô để nhân giống cây. Với phương pháp này, mỗi lần nhân giống sẽ cho ra hàng chục ngàn cây giống, và đương nhiên giá thành của lan sẽ giảm, người chơi lan dễ có cơ hội sở hữu hơn. Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần như vậy thì lan xưa sẽ không còn đặc biệt nữa. Một số nhà vườn và ngay cả ông Nhuận cũng hạn chế việc nhân giống vài loại lan xưa quý hiếm để giữ giá trị của cây.

Ông Phạm Anh Dũng, hội viên Hội Sinh vật cảnh Củ Chi (bố vợ của anh Nguyễn Quốc Thanh), lại cho rằng nhân giống bằng phương pháp cấy mô sẽ cho ra cây con có phẩm chất và kết cấu hoa không bằng cây mẹ, muốn cây con có tối ưu như cây mẹ thì phải sử dụng phương pháp tách nhánh. Phương pháp này rất chậm vì phải đợi nhánh mới ra rồi mới tách, nhưng bù lại hoa cây mẹ như thế nào thì hoa cây con cũng sẽ y chang.

Để giới thiệu và quảng bá lan xưa, ông Dũng đã cùng anh Thanh đem lan đi triển lãm ở nhiều nơi, từ Đà Lạt đến Đồng Tháp, Cần Thơ, Nghệ An, Hà Nội… Kinh phí cho các chuyến đi hầu hết là tự túc. Như đợt kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, ông Dũng và anh Thanh thuê hẳn một chiếc xe tải chở lan từ chúng tôi ra Hà Nội triển lãm và bán hoa trong suốt hơn chục ngày.

Dù đã bán sạch cả một xe tải hoa nhưng tính toán chi phí vẫn lỗ 28 triệu đồng. Tuy lỗ nhưng ông Dũng rất vui. “Một số người mê lan, mới chơi lan nên họ không biết. Khi được giới thiệu về lan xưa, người ta mới bắt đầu tò mò và tìm thấy sự thú vị trong các dòng lan này. Mình đi triển lãm là để người ta biết và yêu lan xưa hơn” – ông Dũng nói.

Sưu tầm

Hình ảnh Dendro Nắng đẹp

Một số cây dendro nắng nổi tiếng

Tên những cây lan dendro nắng xưa người chơi hay tìm

dendro bà liễu

hoa lan urawan

dendro nắng xưa

lan dendro nắng

lan dendro nang

hoa dendro nắng

dendro nắng thơm

dendro nắng alba

dendro nắng mini

dendro chớp chuồn

trồng dendro nắng

dendro nắng dazang

lan dendro bà liễu

dendro bà liễu xưa

dendro nắng banana

lan dendro nắng 4n

lan dendro tai thỏ

hoa lan dendro nắng

dendro nắng bà liễu

dendro nắng rồng đỏ

lan dendro nang thom

lan dendro nắng chớp

lan dendro nắng thơm

thanh lý dendro nắng

lan dendro nắng alba

chăm sóc dendro nắng

các loại dendro thơm

phong lan dendro nắng

trồng lan dendro nắng

dendro bà liễu lá tre

cách trồng dendro nắng

dendro nắng caesar red

dendro nắng cánh chuồn

dendro nắng xưa pensoda

lan dendro nắng bà liễu

dendro nắng bà liễu xưa

dendro nắng lưỡi bò tím

chăm sóc lan dendro nắng

cách chăm sóc dendro nắng

lan dendro nắng cây giống

các loại dendro nắng thơm

cách trồng lan dendro nắng

lan dendro nắng caesar red

hoa lan dendro nắng bà liễu

lan dendro nắng trắng bà liễu

cách chăm sóc lan dendro nắng

kỹ thuật trồng lan dendro nắng

cách chăm sóc hoa lan dendro nắng

cách trồng và chăm sóc lan dendro nắng


【#7】Anh Nông Dân Làm Giàu Từ Hoa Phong Lan Dendro Nắng

(Thanhuytphcm.vn) – Trong những năm gần đây, xu thế chơi lan Dendro nắng phát triển rất mạnh. Những giống hoa lan xưa cũ ngày càng được người chơi lan săn lùng. Với niềm đam mê hoa phong lan, anh Đặng Văn Tài (46 tuổi, ấp 3A, xã Bình Hưng, huyện Bình Chánh) đã có một vườn lan Dendro nắng cực khủng cho thu nhập khá ổn định.

Với kinh nghiệm gần 10 năm trồng hoa lan, đến nay diện tích vườn của nhà anh Tài là 2.000m2 với khoảng 500 chậu lan Dendro nắng (được trồng bán luân phiên). Nhận thấy đất và khí hậu của địa phương rất hợp để loại lan này phát triển, anh Tài học hỏi kinh nghiệm từ bạn bè, trên mạng và các lớp tập huấn do Hội Nông dân xã Bình Hưng tổ chức, anh vay 1 tỷ đồng từ Quyết định 655 của UBND TPHCM quy định về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị giai đọan 2021-2019 trên địa bàn TPHCM, qua đó đầu tư nhà vườn, chọn lan giống nhập từ Thái Lan với chất lượng đảm bảo.

Có tận mắt nhìn thấy anh chăm sóc lan mới thấy được nghề trồng lan cũng lắm công phu. Cách mà anh chăm sóc lan như chăm sóc đứa con tinh thần của mình vậy. Với trên 500 giỏ lan các loại được khéo léo sắp xếp theo tầng, hàng đẹp mắt, anh Tài cho biết: vườn của anh trồng hơn 100 loại lan nắng: như Den, Mesangnil còn được dân chơi hoa lan đặt tên là Dendro nắng… Cấu trúc hoa trung bình, nhưng lại có hương thơm và rất đẹp, cây phát triển khỏe, cao lớn, ra hoa quanh năm, cánh hoa màu trắng, lưỡi tím đậm làm cho vòi hoa nhìn rất nổi bật. Hay như Dendro Rồng vàng có vẻ đẹp mĩ miều, cây rất nổi tiếng với hoa màu vàng tuyền, hoa to, 2 cánh hoa dựng đứng rất đẹp, vòi hoa dài. Song song đó là Dendro Urawan cây rất to khỏe và rất siêng ra hoa; một cây có thể cho ra nhiều phát hoa cùng một lúc. Điểm đặc biệt là hoa này vừa cho ra hoa vừa đẻ chồi, màu hoa sáng, hoa to, môi có hoa văn rất đẹp…

Tham quan vườn lan nhà anh Tài với hương thơm hoa lan tỏa ra sẽ khiến cho bất kỳ ai cũng bị lôi cuốn, mê đắm, không nhất thiết phải đứng gần mới ngửi được. Đặc điểm của các giống lan nắng xưa và mới của vườn nhà anh Tài là đã được thuần hóa, thân cao khỏe mạnh, rất siêng ra hoa, có nhiều chậu cao từ 1m-2m nên thương lái hay đặt cho vườn lan anh Tài là vườn lan Dendro khủng.

Với uy tín của mình, các thương lái TPHCM và các tỉnh chỉ đến vườn lan anh Tài xem một lần, các lần sau mọi việc trao đổi, mua bán đều tiến hành qua điện thoại, bởi uy tín và chất lượng được anh Tài đặt lên hàng đầu nên thương lái rất yên tâm. Cũng chính nhờ được chăm sóc tỉ mỉ, công phu nên vườn lan nhà anh Tài phát triển tươi tốt, cho ra hoa đẹp, được khách hàng ưa chuộng, thương lái đến tận vườn thu mua sản phẩm nên anh phải không lo về đầu ra. Vào mỗi dịp Tết, hoa lan của gia đình anh Tài gần như đã được các thương lái đặt hết, hàng năm gia đình anh thu nhập khoảng 250 triệu đồng.

Phong trào chơi hoa lan phát triển mạnh mẽ tại TPHCM và các tỉnh những năm gần đây. Số người chơi hoa lan ngày càng đông đảo, kiểu chơi cũng rất phong phú. Nhiều người thích chơi những giò lan “khủng”, một số người lại mê các giống lan cổ, có người lại ưa những loài lan đột biến gen, “độc”, lạ hoặc nhập từ nước ngoài… Từ nhu cầu đa dạng đó, mà anh Tài đã gây dựng được vườn lan lai tạo quy mô tương đối lớn; đồng thời cấy ghép được nhiều giống lan độc đáo, thay đổi không ngừng để theo được nhu cầu của khách hàng và đem lại giá trị kinh tế cao. Nắm bắt được xu thế thị trường anh Tài còn đầu tư mở rộng sang loại hình trồng lan nghệ thuật trong chậu xi măng, lan ghép với gốc cây cổ thụ, kết hợp với các giống lan nắng có giá trị cao làm nâng giá trị thẫm mĩ của hoa và tạo nên một tác phẩm nghệ thuật sống động, lan nghệ thuật có giá từ 5 – 30 triệu đồng/chậu, cao gấp nhiều lần so với lan thường.

Phát triển có hiệu quả với mô hình trồng lan mang lại giá trị kinh tế cao, anh Đặng Văn Tài 5 năm liền đạt danh hiệu Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi cấp huyện (2014-2019). Với mức thu nhập hơn nhiều lần so với trồng các loại cây khác, nghề trồng hoa lan Dendro nắng hiện đã và đang trở thành xu hướng mới trong phát triển nông nghiệp đô thị, mang lại thu nhập cao cho người dân, đồng thời góp phần tạo mỹ quan đô thị, giảm ô nhiễm môi trường.


【#8】Trồng Địa Lan Trang Trí Vườn. Tại Sao Không?

Trồng địa lan tại nhà

Trồng địa lan: Ngoài những loài phong lan, còn có một số loài địa lan chúng ta có thể trồng dưới đất. Có nhiều loài trong số đó có thể trồng thành công trong vườn ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, và có một số loài có kiểu lá trông rất bắt mắt.

Một số thích nghi với điều kiện phơi nắng hoàn toàn, một số khác thì ưa bóng râm nhẹ, song tất cả đều có thể trồng thành luống hoặc trong chậu, cho ta chất lượng tốt, song lưu ý dù trồng trên luống hay trên đất thì cũng cần phải thoát nước tốt. Ở Hoa kỳ có một vài thương hiệu về loại đất trồng như MetroMix, ProMix và các nhãn hiệu khác nên chọn cho việc trồng địa lan.

Đối với những luống mà có nhiều ánh sáng mặt trời thì bạn có thể trồng spathoglottis, enpidendrum có thân màu đỏ và arunda (người ta gọi lan tre – baboo orchid). Nếu như bạn cắm cọc cho một số lan leo như terete Vanda thì cũng phát triển tốt trong điều kiện này. Đối với những luống có chút bóng râm, thì loài phaius là một lựa tốt. Loài sobralias trông cũng đẹp lắm mặc dù hoa của chúng mau tàn, chì được một hai ngày thôi. Tất cả các loài lan này cần phải được bón phân thường xuyên. Loại phân chậm tan như Osmocote cũng là một lựa chọn thông minh.

Loài Brassavola nodosa (còn có tên là “thiếu phụ đêm”) có thể cho chúng ta hương thơm trong vườn về ban đêm. Xin nhớ là không đặt chúng nơi có ánh sáng khi mặt trời đã lặn, bởi vì còn ánh sáng là chúng không tỏa hương. Nhiều loài lan ra hoa vào mùa xuân như những loài Dendrobium rụng lá (khi chuẩn bị ra hoa) như Den. superbum, Den. pierardii, Den. primulinum, Den. parishii và những cây có họ với nó, đó là những loài có hương rất thơm. Một số loài lan lớn, chẳng hạn như dendrobium, grammatophyllum và các loài khác có thể gây ấn tượng tốt một khi trình bày chúng trong những cái tủ kính mỹ thuật.

Khi đêm trở lạnh, cần phải lưu ý bảo vệ các cây lan. Một số loài CattleyaDen drobium có thể không gặp vấn đề gì, ngay cả khi nhiệt độ xuống còn 50 o F, nhưng nếu ở nhiệt độ đó mà kèm theo gió thì các bạn phải tìm cách mà bảo vệ cây lan. Một số loài lan ưa khí hậu ấm cần phải được bảo vệ, bằng cách phủ hoặc quấn quanh nó những vật liệu kiểu như áo khoác cũ, khăn tắm chẳng hạn. Cũng có thể bạn dùng nhiều lớp giấy báo để chống rét cho nó, bên ngoài quấn một lớp ny-lon, nhớ cột lại để gió không thổi bay lớp chắn gió cho chúng.

Những người trồng lan ở vùng khí hậu lục địa (đặc biệt như nam California chẳng hạn), cần phải lựa chọn loài lan một cách cẩn thận; nhiều loài lan lai tạo trồng ở nam Florida không thích hợp với vùng có khí hậu mát, ẩm ướt vào mùa đông. Tốt nhất là chọn loài lan không có kỳ nghỉ dài và khô vào mùa đông, trừ phi bạn đặt cây lan vào trong một cái tủ (dùng để trồng lan) hoặc trồng bằng cách treo, dễ di chuyển vào mùa đông ẩm ướt. Những loài lan cần ẩm độ quanh năm (như hầu hết các loài Vanda), sẽ dễ xử lý cho thích hợp với sự chênh lệch nhiệt độ lớn./.

KHUYẾN CÁO VỀ MỘT SỐ LOÀI LAN TRỒNG ĐỂ TRANG TRÍ

Loại thích nghi với khí hậu bốn mùa

Đối với những loài lan có thể ra hoa quanh năm trong môi trường có nắng quanh năm (ít nhất thì cũng có một số giờ nắng hoàn toàn trong ngày), thì không loài nào có thể tốt hơn loài Vanda semiterete (loại lá gập), chúng có thể thích nghi với các điều kiện dưới nắng mặt trời. Trong vùng khí hậu á nhiệt đới của chúng tôi, thời điểm thích hợp nhất là vào mùa thu, khi mà mặt trời ở thấp hơn và nhiệt độ cũng mát mẻ hơn. Để vào mùa xuân, các cây lan sẽ đứng dưới ánh sáng mặt trời suốt cả ngày. Bạn đừng lo lắng quá nếu như lá cây lan bị cháy một chút lúc ban đầu; sau đó thì chúng sẽ thích nghi. Chúng ta có thể trồng chúng trong chậu hoặc ghép chúng vào những cây cọ cao, loài Vanda cho ta hoa có nhiều màu sắc từ màu sáng đến màu tùng lam.

Loài Spathoglotis thích hợp khi trồng thành luống dưới ánh nắng mặt trời hoàn toàn hoặc bán phần, và khi chúng đã phát triển thì chúng lập tức ra hoa quanh năm. Ngay cả khi chúng chưa phát hoa thì lá của chúng cũng đã đẹp rồi. Spathoglotis plicata là loài dễ kiếm và hoa của nó có màu hồng hoa oải hương, cũng có khi là màu trắng dưới hình thức alba. Cũng có loài cho chúng ta hoa màu vàng và các giống lai tạo cho nhiếu sắc hoa khác nhau. Spathoglotis unguiculata ‘Grapette’ mà màu tím sẫm, hoa l5i có hương như hương bưởi. Lưu ý là một vài loài Spathglotis có hoa vàng là loài rụng lá, chúng rụng lá vào kỳ nghỉ của chúng.

Brassavola nodosa có thể ra hoa bất kỳ thời gian nào trong năm, mặc dù mua ra hoa chính của nó là vào mùa thu và mùa đông. Vào ban đêm nó có mùi hương của men rượu. Loài phong lan này rất ưa thích được trồng ở nơi có nhiều sáng, có thể ghép chúng vào một cây gỗ hoặc vào mảnh vỏ cây.

Oncidium Gower Ramsey và các giống lai tương tự vậy phô diễn một cách tráng lệ vào hai hoặc ba lần trong năm. Đây là loài lan lai, chúng ưa trồng dưới bóng rầm có ánh sáng (râm nhẹ).

Một số loài Ascocenda của chúng ta cũng có thể ra hoa một sốn lần trong năm (một vài trường hợp chúng ra hoa từ 4 đến 6 lần). Chúng tôi khuyến cáo nên trồng các loài như Ascocenda Su-Fun Beauty ‘Orange Bell’, hoặc Ascocenda Udomchai ‘Sang’ để có hoa màu vàng như ánh đèn điện đến vàng cam. Nếu bạn thích loài có hoa màu đỏ, thì có loài Ascocenda Dong Tarn ‘Robert’. Lưu ý vào những giờ trưa nắng thì cần che bớt lại, nhưng cũng có thể bạn tự điều chỉnh và dùng phân bón làm sao để cho màu hoa là đẹp nhất./.


【#9】Top 10 Fanpage Bán Hoa Lan Rừng Tại Tphcm

1. Shop các loại phong lan rừng Việt Nam, Campuchia & Lào

Chúng tôi chuyên bán các loại lan rừng sau: Lan Ngọc Điểm rừng campuchia, Lan dã Hạc campuchia, Lan Ngọc Điểm Lào, Lan Ngọc Điểm Nha Trang, Lan Ngọc Điểm Thái, Lan Ngọc Điểm Đai loan … Hoàng Thảo kèn, Lan dã hạc các loại, Long tu Đá Ý Ngọc, Trúc phật bà, Chuỗi ngọc, Kim Điệp, lan Báo hỷ, Hoàng thảo đùi gà, Thủy tiên tím và thủy tiên vàng ( kiều tím , kiều vàng) , Sóc Lào, Trầm Rừng, Hương Duyên, Thập Hoa, Hương Vani, Vẩy Rồng, Tóc tiên, Ngọc Thạch, Thủy tiên tím, Lan long tu, lan hỏa hoàng, nhất điểm hồng … Các loại Phong Lan rừng về liên tục và được cập nhật trên trang web rừng lan và trên Facebook hội yêu lan rừng ngay khi có hàng.

  • Website: http://runglan.com/
  • Liên hệ: 0903.166.673 – 0917.096.699 (Vui lòng chỉ gọi Từ sau 9h Sáng – 10h đêm )
  • Địa chỉ: 86/55 Âu Cơ – F9 – Quận Tân Bình (Hẻm đối diện quán cơm Hạnh Dung quẹo vào)

2. ILG – Kênh mua sắm cây cảnh trực tuyến giá tốt hàng đầu Việt Nam

Cây cảnh ILG là trang web mua bán cây cảnh online, được lập nên bởi sự chung tay của cộng đồng những nhà vườn trên cả nước. ILG (viết tắt của I LOVE GARDENING – Tôi yêu làm vườn) thể hiện niềm đam mê chung của những nhà vườn nhiều năm trong ngành, những người yêu cây cảnh, những doanh nghiệp trẻ trong và ngoài nước, cùng sát cánh vươn đến một vị thế mới cho cây cảnh Việt Nam. Với hơn 20 năm hoạt động trong nghề, 20 năm không ngừng nỗ lực và cố gắng hết mình, ILG luôn phấn đấu vươn mình để trở thành thương hiệu uy tín trong giới cây cảnh như ngày hôm nay.

3. Shop Hạt Thóc Vàng

Mỗi chậu Lan Kiếm có giá từ vài triệu tới cả trăm triệu đồng, Sản phẩm được Hatthocvang Lào Cai kiểm soát ngay từ khâu chọn giống, nuôi dưỡng, ghép chậu…. Toàn bộ công đoạn nuôi trồng, chăm sóc được thực hiện tại các xã vùng cao, nơi có không khi trong lành, môi trường thuận lợi để cây phát triển toàn diện, lá cây xanh đậm hơn, cánh hoa sẽ sáng và bông hoa sẽ đẹp và bền hơn.

4. Calla’s Flowers & Gifts – Công ty TNHH TM DV Ca La

Đến với Calla Flowers & Gifts, bạn không chỉ chọn cho mình một bó hoa, một phần quà, mà còn chọn lấy một thông điệp sâu sắc, một câu chúc ý nghĩa để dành tặng cho người nhận. Đó có thể chỉ là vài nhành hoa nhân dịp Lễ Tình Nhân, một chậu hoa nhân Lễ Khai Trương, hay một bó hoa cho một sự kiện nào đó, nhưng đằng sau những cánh hoa đó là những gì tốt đẹp nhất mà bạn muốn gửi gắm, và cũng chính là những gì tốt đẹp nhất mà đội ngũ nhân viên Calla Flowers & Gifts kính gửi đến quý khách hàng, đối tác gần xa.

  • Website: http://calla.vn/
  • Cửa hàng 1: 125A Pasteur, P6, Q3, TpHCM (giao ngã tư Nguyễn Đình Chiểu, gần Đại học Kiến Trúc)
  • Cửa hàng 2: 130 Nguyễn Đình Chiểu – Phạm Ngọc Thạch, P.6, Q.3
  • ĐT: 08.88609642 – 0903.66 99 88
  • Phụ trách kinh doanh: 093 858 1100

5. Mộc Lan Orchid

Dù là nhà ở, văn phòng làm việc hay cửa hiệu, sự hiện diện của một chậu hoa Lan hay Lan Hồ Điệp sẽ làm cho không gian của bạn trở nên tươi mát, con người cảm thấy thanh thản, nhẹ nhõm và yên bình. Vô hình, nó đã loại bỏ đi sự nóng nảy, bực dọc & bất hòa trong các mối quan hệ giữa người với người. Điều đó cũng ngăn ngừa chúng ta đắm chìm trong những khó khăn, thiếu thốn của hoàn cảnh & bộn bề cuộc sống. Với công nghệ điện hoa kèm mã Gift Code, hãy để Hoa Lan Mộc Lan giúp bạn mang đến quanh mình & người thân một không gian lãng mạn & yên bình.

6. Shop Lan Ngọc Điểm

Chúng tôi chuyên bán các loại lan ngọc điểm sau: Lan Ngọc Điểm rừng campuchia, Lan Ngọc Điểm Lào, Lan Ngọc Điểm Nha Trang, Lan Ngọc Điểm Thái, Lan Ngọc Điểm Đài loan. Do số lượng và giá cả từng loại lan ngọc điểm thay đổi liên tục tùy theo mùa. Xin Vui lòng liên hệ chúng tôi để biết chính xác lượng hàng, loại lan nào đang có hàng và giá cả bao nhiêu. Ngoài ra chúng tôi cò bán chậu gỗ trồng lan, giá thể dớn miếng và dớn đá trồng lan, phân bón, thuốc trị nấm bệnh, lưới Thái Lan trồng lan ( chỉ bán sỉ 1 cuộn 100m ).

  • Website: http://lanngocdiem.net/
  • Địa chỉ: 123 Bạch Đằng, phường 15, quận Bình Thạnh
  • Điện thoại: Ms. Thư – 0903836367

7. Siêu thị hoa lan Mai Huy

Siêu thị cung cấp các loại cây giống và trồng ở Việt Nam và nhập khẩu từ Thái Lan, Đài Loan,… về. Gồm cây 6 tháng, cây trưởng thành cho hoa các loại với màu sắc đa dạng mới lạ, đảm bảo sẽ làm hài lòng quí khách. Song song đó chúng tôi nhập từ các nhà vườn trong nước các loại lan Dendro, Mokara, Cat, Ngọc điểm,… có chọn lọc (không dùng thuốc kích thích có hại). Ngoài ra còn cung cấp nhiều dịch vụ khác cho hoa lan như: vật tư trồng lan, phân thuốc, hệ thống trồng lan công nghiệp,…

  • Website: http://sieuthihoalan.com/
  • Địa chỉ: 116A Nguyễn Hữu Thọ, Phước Kiểng, Huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam.
  • Hotline tư vấn kỹ thuật, sản phẩm lan, giá lan, … (từ 8h30 – 16h): 0933 267 345, 098 4267602
  • Hotline về đơn hàng trên Web, kiểm tra đơn hàng, chuyển tiền, hỗ trợ mua hàng (từ 8h30 – 16h): 0903 652 608
  • Hotline về thái độ phục vụ, chất lượng cây vui lòng gởi vào email hoặc qua số điện thoại: 097 238 2846 (làm việc 24h)

8. Công ty cổ phần Hoa Lan Rừng

Các giống lan rừng sau khi tuyển chọn sẽ được chăm sóc theo phương pháp riêng biệt giúp hoa khỏe, khả năng tăng trưởng tốt. Sau đó hoa được cấy ghép, tạo hình để hình thành các tác phẩm nghệ thuật của người chơi lan và người chăm sóc hoàn chỉnh tới ngày giao cho khách. Chủng loại hoa rừng đa dạng như Hoàng thảo, Ngọc điểm, Lan hài, Địa lan…

9. Shop Hoa lan đẹp

Chuyên kinh doanh mua bán hoa lan sĩ và lẽ, Cung cấp giống tốt và tư vấn thiết kế vườn hoa lan. Vườn chung tôi tọa lạc tại Long an, gần chợ Long thượng, giao hàng trên toàn quốc. Mệnh danh “Nữ hoàng của các loài Phong Lan” Lan Hồ Điệp đã không khiến mọi người thất vọng về điều đó. Đa dạng từ màu sắc đến ý nghĩa riêng của từng loại, Lan Hồ Điệp chính là món quà ý nghĩa và đặc sắc nhất cho bạn bè người thân trong những ngày lễ, đặc biệt là dịp Tết Nguyên Đán.

10. Vườn lan Phong lan Sài gòn

Chúng tôi chuyên cung cấp các loại cây giống nhập trực tiếp từ Thái Lan cho các vườn lan. Khách hàng sẽ được hỗ trợ tư vấn thiết kế làm vườn và kỹ thuật trồng lan theo công nghệ của Thái lan. Chuyên mua bán lan cắt cành và lan chậu các loại. Vườn lan chúng tôi chuyên dịch vụ chăm sóc vườn lan dài hạn cho vườn lan của khách hàng.

  • Website: http://www.phonglansaigon.com/
  • Địa chỉ vườn: 148/1A Bưng ông Thoàn P.Phú Hữu Q.9 chúng tôi ( Cạnh Công ty TNHH Hiền Thu )
  • Điện thoại để liên lạc: Ms. Nga – 0972 572 701 – 0965 651 436 hay Mr. Thuận – 0977 189 739

Những fanpage bán hoa lan rừng tại TPHCM chuyên cung cấp các sản phẩm danh tiếng của núi rừng nước ta được các nghệ nhân là người đồng bào người dân tộc đưa từ rừng về vườn cây tại nhà trồng làm cảnh, thành khóm bụi đẹp mắt. Những du khách miền xuôi khi thăm các bản thực sự đã bị cuốn hút và đắm say bởi những nét đẹp rất riêng loài hoa này, nhất là chưng hoa lan dịp lễ tết nhằm cầu mong nhiều may mắn cho gia đình trong năm mới.


【#10】Các Loại Hoa Lan Phổ Biến Ở Việt Nam

Hiện tại ngoài hoa lan mọc hoang dã, hoa lan còn được gây trồng đại trà tại một số nơi, nhiều nhất là ở Tây Nguyên trong đó Đà Lạt, Sa Pa, Yên Bái là một trong những nơi có nhứng loài hoa đẹp trong đó hoa lan được trồng rộng rãi nhất cả nước mỗi nơi trên đất nước đều có những loài hoa lan mang màu sắc riêng nói về khí hậu nơi đấy. Các loài hoa lan phổ biến ở Việt Nam

Theo quyển sách phong lan Việt Nam của Trần Hợp thì Việt Nam có 137-140 chi gồm trên 800 loài lan rừng. Các loài hoa lan đước phân bố khắp cả nước: Lan tiểu hoàng đỏ, Lan thạch hộc gia lu, Lan thanh đạm, Lan sứa ba răng, Lan sớn, Lan phích Việt Nam, Lan nhục sơn trà, Lan ngọc kiện khê, Lan mật khẩu giả, Lan mật khẩu bì đúp, Lan len nỉ, Lan lá nhẵn petelot, Lan kim tuyến sapa, Lan kim tuyến, Lan huyết nhung trung, Lan hoàng thảo trinh bạch, Lan hoàng thảo thơm, Lan hoàng thảo tam đảo, Lan hoàng thảo sừng dài, Lan hoàng thảo đốm tía, Lan hoàng thảo đốm đỏ, Lan hành hiệp, Lan dáng hương quế, Lan chiểu tixier, Lan bạch manh, Lan bắp ngô ráp, Dực giác lá hình máng, Cầu điệp tixier, Cầu điệp evrard, Đơn hành hai màu, Lan hoàng thảo vạch đỏ, Lan hành averyanov, Lan hài lông, Lan hài hồng, Lan hài đài cuộn, Lan dáng hương hồng, Lan ý thảo..

Các loài hoa lan Việt Nam

1. Dendrobium ( là giống lan kinh doanh phổ biến nhất ở VN và Thái Lan)

– Có 2 dạng: dạng thòng và dạng đứng

– Đặc điểm: Là cây đa thân. Hoa thường mọc ở đỉnh giả hành, cành hoa ko phân nhánh. Mau ra hoa trồng từ 18-24 tháng sẻ ra hoa, hoa lâu tàn, Cường độ ánh sáng cao 80% ánh sáng trực tiếp. Nước tưới có PH từ 6-7. Vườn phải thoáng. Dể trồng.

– Có 2 nhóm thân:

Nhóm thân mía: cao lơn mạnh khỏe, cành hoa dài, số lượng nhiều nhưng bông nhỏ, màu sắc không phong phú.

Nhóm thân chao: thân lá nhỏ có từ 5-7 lá/thân, lá mỏng và có màu xanh nhạt, hoa ít (8-10 hoa/cành), đặc biệt hoa có màu sắt đẹp, to.

Thị trường tiêu thụ mạnh. Hoa cắt cành bán dc 600d/cành : chú ý chọn giống siêng bông, màu sắc tươi thắm. Bán chậu thì khoảng 30-40k/chậu : chú ý chọn giống có hoa đẹp, lá nhiều màu xanh đậm

2. Cattleya ( nữ hoàng các loài hoa Lan)

– Là cây đa thân, thân mang 1-2 lá/thân. 1 giả hành chỉ cho 1 cành hoa, hoa nở tuần tự giả hành từ già tới mới, nếu giả hành mới nở hoa thì những giả hành cũ không nở trở lại.

– Đặc biệt có hương thơm, đậm nhất vào buổi sáng 8-9h. Hiếm khi có trái, trừ thụ phấn nhân tạo. Ra hoa tùy thuộc vào ánh sáng ( ngày dài, ngày ngắn), 50-60% ánh sáng trực tiếp.

– Có 3 nhóm màu

1 hồng – tím: hoa cực lớn 20-24 cm, rất đẹp sinh trưởng mạnh dể trồng

2 vang – trắng – xanh : độ lớn trung bình 16-18cm

— Cây đa thân, 1 giả hành có thể cho nhiều cành hoa. Dể trồng, ra hoa quanh năm

– Hoa có phân nhánh, 40-50% ánh sáng. Trồng 18-24 tháng ra hoa

4. Phalaenosis (Hồ Điệp) Vua của các loài hoa Lan

Cây đơn thân. Nước ngoài chuộng cây có màu Trắng, Hồng còn ở VN chuộng cây có nhiều hoa văn và phức tạp. Hoa đẹp lâu tàn khi ở trên cây, khi cắt cành thì mau tàn. Trồng 18-24 tháng ra hoa. Khó trồng: nắng ko ưa, mưa ko chịu. Ra hoa theo nhiệt độ ( lạnh) là cây Thụ hàn tập trung nở hoa vào tháng cuối năm. Nhiệt độ phù hợp 25-27oC, 20-30% ánh sáng

– Ưa ẩm cao. Bốc hơn nhiều nước, mất nhiều nước do ko có giả hành, giử ẩm 24/24, PH nước tưới 5.5 – 6

Tuy không rực rỡ sắc màu như các giống lan lai ngoại nhập nhưng lan rừng có vẻ đẹp tự nhiên, thanh thoát và phần lớn có hương thơm nên hấp dẫn giới hâm mộ. Lan rừng Việt Nam có khoảng trên dưới 800 loài.

Mỗi loài hoa đều có vẻ đẹp riêng. Hoa lan chiếm lĩnh thế giới thực vật bởi sự kỳ diệu, phong phú và tính đa dạng của chúng.

Tuy không rực rỡ sắc màu như các giống lan lai ngoại nhập nhưng lan rừng có vẻ đẹp tự nhiên, thanh thoát và phần lớn có hương thơm nên hấp dẫn giới hâm mộ. Lan rừng Việt Nam có khoảng trên dưới 800 loài.

Dựa vào hình thái, cấu trúc thân cây, hoa lan phân thành 2 nhóm (theo Pfitzer):

– Nhóm đa thân (Symbodial)

– Nhóm đơn thân (monopodial)

Ngoài ra còn có một nhóm trung gian giữa 2 nhóm trên nhưng gồm rất ít giống.

Nhóm lan đơn thân gồm những cây lan tăng trưởng theo chiều cao và thân ngày càng dài ra, có thể phân nhánh trên thân, thường có nhiều rễ gió mọc dọc theo thân. Lan đơn thân rừng thường được nhân giống bằng cách tách nhánh, một số loài hiện đã được nhân giống bằng phương pháp cấy mô. Kiểu trồng tốt nhất là nên trồng ghép trên khúc gỗ, thân cây sống hoặc chết, trong giỏ gỗ với giá thể thông thoáng, thoát nước tốt.

1- CÂY LAN HỎA HOÀNG

Tên khác: Hoàng Yến (không phổ biến)

Tên khoa học: Ascocentrum miniatum Lindley 1913

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Cây thân nhỏ, lá dày, mọc hai dãy đều nhau, dày cứng màu xanh bóng. Phát hoa đứng thẳng, mọc ra từ nách lá, chùm hoa mang nhiều hoa nhỏ xếp dày đặc; đài và cánh hoa giống nhau, nở xòe rộng màu vàng cam rất đẹp. Môi gắn chặt vào gốc trụ, phân ba thùy, thùy bên nhỏ, đứng, thùy giữa to dạng cái lưỡi, có túi cựa. Nở hoa vào khoảng tháng 3-4, đặc biệt rất lâu tàn (1-2 tuần).

b- Yêu cầu về điều kiện sinh thái:

– Nhiệt độ: 20-25°C

– Ánh sáng: 70-80%.

– Ẩm độ: 40-70%.

c- Một số cây lan rừng tự nhiên Việt Nam khác thuộc chi Ascocentrum:

– Ascocentrum christentionianum (Tử hoàng): Hoa màu tím.

– Ascocentrum pusillum Averyanov

Cây Tử Hoàng (Ascocentrum christensonianum Haager 1993):

Lá hình dãi, màu đỏ xanh. Hoa màu tím, phát hoa dài 10-15 cm, mọc thẳng đứng từ nách lá, hoa nở vào mùa xuân.

(Photo courtesy of Jay Pfahl)

2- CÂY LAN CÙ LAO MINH

– Tên Khác: Uyên ương (không phổ biến và có lẽ không phù hợp).

– Tên khoa học: Christensionia vietnamica

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học:

Cây đơn thân, lá màu xanh lục trãi ra, chốp lá phân thùy. Có 2 dạng cây: cây lá ngắn và cây lá dài, đều cho hoa giống nhau. Hoa lớn, phát hoa thường mang 4 hoa màu xanh lá cây sáng, môi có họng cùng màu cánh hoa, bờ môi có màu trắng. Hoa nở vào khoảng tháng 6-7, hoa lâu tàn.

b- Đặc điểm sinh thái học:

– Phân bổ sinh thái tự nhiên: Đây là giống lan đặc hữu của Việt Nam. Trong tự nhiên, mọc dọc theo suối Ea Dong tỉnh Khánh Hòa và các khe suối ở đèo Mang Yang tỉnh Gia Lai.

– Một số yêu cầu về điều kiện sinh thái: Nhiệt độ: 20-25°C, ánh sáng: 50%, ẩm độ: 40-70%.

Cây lá ngắn

Cây lá dài

3- CÂY LAN NGỌC ĐIỂM

Tên khác: Nghinh Xuân, Tai Trâu, Đai Châu, Lan Me.

– Tên khoa học: Rhynchostylis gigantea

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Cây thuộc nhóm đơn thân, tăng trưởng theo chiều thẳng đứng, có rất nhiều rễ gió mọc thẳng từ thân. Lá dày, hẹp, tận cùng có hai thùy, có nhiều sọc nhạt màu chạy dọc theo chiều dài của lá. Phát hoa thòng hay cong, dài khoảng bằng chiều dài của lá, mang nhiều hoa màu trắng có điểm tím, môi có 3 thùy.

Hoa có mùi thơm dễ chịu. nở hoa vào khoảng tháng 12 đến tháng 1-2, trùng vào dịp tết Nguyên Đán nên rất được ưa chuộng.

(Theo dõi cho thấy: có hai dạng cây, cây có lá màu xanh hơi vàng, sọc trên lá rất rõ, dạng này trên cánh hoa có nhiều điểm tím hồng rất đẹp; dạng lá màu xanh lục, sọc trên lá rất nhạt hay không có sọc, dạng này trên cánh hoa có những vệt tím ít hơn, màu trắng nhiều hơn, không đẹp bằng dạng lá sọc?)

b- Yêu cầu về điều kiện sinh thái:

– Nhiệt độ: 25-30°C.

– Ánh sáng: 60%.

– Ẩm độ: 40-70%.

c- Một số cây Ngọc Điểm lai nhập từ Thái lan:

4- CÂY LAN HẢI YẾN

– Tên khác: Ngọc Bích, Hải Âu.

– Tên khoa học: Rhynchostylis coelestis

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Cũng giống như Ngọc Điểm nhưng thân lá nhỏ hơn, màu xanh mướt, lá xếp theo rãnh, giữa cong quằn xuống, hai thùy lá không đều nhau. Phát hoa đứng thẳng, hoa màu trắng , ở phần chót có màu xanh lam, môi màu xanh hoa cà. Hương thơm đài các. Cây nở hoa vào khoảng tháng 3 – tháng 5.

b- Yêu cầu về điều kiện sinh thái:

– Nhiệt độ: 20-25°C.

– Ánh sáng: 60%.

– Ẩm độ: 40-70%.

(Ảnh: trên mạng Dalatrose.com)

5-CÂY LAN BẠCH VĨ HỒ

– Tên khác: Đuôi chồn, Đuôi sóc, Sóc lào. Ở miền Nam gọi là Đuôi chồn nhưng thường không phổ biến vì rất hiếm, miền Bắc gọi là Đuôi sóc, Sóc lào. Tên Bạch vĩ hồ có người cho rằng dùng để gọi cây Rhynchostylis retusa var alba màu trắng (xem ảnh dưới).

– Tên khoa học: Rhynchostylis retusa

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Lá dài, hơi mỏng và cong quặn, chốp lá phân thùy. Phát hoa dài, rũ thòng, mang nhiều hoa màu trắng hồng điểm tím, hoa có mùi thơm khá gắt, nở vào khoảng tháng 5-7.

b- Yêu cầu về điều kiện sinh thái:

– Nhiệt độ: 20-25°C.

-Ánh sáng: 60%.

-Ẩm độ: 40-70%.

* Cây Bạch vĩ hồ đột biến màu trắng:

6- CÂY LAN HỒNG NGỌC

– Tên khác: Đuôi Cáo, Giáng Hương Nhiều Hoa

. Ở miền Nam thường gọi là Đuôi cáo và gần như trở thành tên gọi dân gian phổ biến.

-Tên khoa học Aerides multiflora

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Cây thân thẳng đứng. Lá dày, xếp thành hai dãy đối xứng, màu xanh hơi vàng và hơi nhăn nheo, có hai thùy không đều nhau. Phát hoa cong hay thòng, hoa màu trắng hồng với nhiều đốm đỏ hồng hay tím hồng,môi hầu như không có cựa, có ba thùy, thùy giữa hình tam giác màu tím đậm, hoa thơm, lâu tàn, nở vào mùa hè đến đầu mùa thu.

(www.pbase.com/schnitz/orchid)

b- Yêu cầu về điều kiện sinh thái:

– Nhiệt độ: 20-25°C.

– Ánh sáng: 50 %.

– Ẩm độ: 40-70%.

7- CÂY LAN BÒ CẠP TÍA

Tên khác: Lan nhện

Tên khoa học

: Arachnis annamensis (Rolfe.) J. J. Smith

a- Đặc điểm hình thái, sinh vật học: Thân khá dài, leo bò và phân nhánh. Lá tròn, dài, đầu lá có 2 thùy, mọc cách. Phát hoa dài, đứng. Hoa to màu khảm, có nhiều vết rằn ri màu nâu tía. Lá đài và cánh hoa bằng nhau, hẹp dài, trãi ra, hơi rộng ở đỉnh, đỉnh lệch cong về phía bên dưới. Hai lá đài bên cong như hai càng của con bò cạp nên được gọi là lan Bò Cạp. Môi gắn vào trụ thành một khối rất ngắn, mập, có cựa rất ngắn, môi phân làm 3 thùy, thùy giữa dài và nhọn. Ra hoa vào mùa hè, khoảng tháng 3-5, hoa lâu tàn, có mùi thơm.

(Hình: www.pbase.com/glazemaker/orchid)

b- Đặc điểm sinh thái học:

– Lan Bò cạp rất dễ trống, trồng ghép với gốc cây hoặc trồng như lan cắt cành, có nơi trồng làm hàng rào. Loài này cần nhiều ánh sáng, có thể trồng ngoài nắng trực tiếp.

– Một số yêu cầu về điều kiện sinh thái: Nhiệt độ: 25-30°C; Ánh sáng: 70-100 %; Ẩm độ: 40-70%.

MỜI BẠN THAM KHẢO THÊM:

Tuyệt chiêu chăm sóc phong lan đẹp mỹ miều

Trong số các loài hoa cảnh, hoa Phong Lan rất được “cưng chiều” bởi chúng sở hữu một vẻ đẹp kiêu sa, đài các và mỏng manh. Sở dĩ nhiều người trồng và chơi Phong Lan cứ phải nâng niu chúng như vậy là vì chưa thực sự hiểu rõ về loài hoa này.

Hiện nay, cứ nhắc đến cái tên hoa Phong Lan thì ai nấy đều cho rằng đây là một loài hoa khó trồng, khó chăm sóc. Chỉ một chút sơ hở nhỏ cũng có thể giết chết cây hoa vừa đẹp vừa quý. Nếu đem so cách trồng hoa Phong Lan với cách trồng hoa Hồng, hoa Cẩm chướng thì cũng dễ trồng như nhau.

Khi trồng hoa Phong Lan cũng như các loài hoa cảnh khác, chúng ta cần hiểu rõ loài cây đó cần nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm và chất dinh dưỡng ra sao.

1. Chọn hoa Phong lan

Trước khi quyết định trồng hay mua một chậu hoa Phong Lan, bạn nên cân nhắc một số câu hỏi như chúng thuộc loài nào? Có thích hợp với nhiệt độ và ánh sáng nơi bạn đang ở hay không? Vị trí đặt hoa Phong Lan trong nhà ở đâu?…

Chọn đúng loài hoa quyết định phần lớn sự thành công khi trồng hoa Phong Lan. Đối với khi hậu Việt Nam, bạn có thể tìm mua một số loài Phong Lan như Cattleva – Cát Lan, Phalaenopsis – Lan Hồ Điệp, Oncidium – Lan Vũ Nữ, Dendrobium – Lan Hoàng Thảo và Paphiopedilum – Lan Hài,…

Lan Hồ Điệp là loài Phong Lan dễ trồng nhất và phổ biến nhất tại Việt Nam.

2. Chăm sóc hoa Phong Lan

Trên thực tế, rất nhiều loài hoa Phong Lan chỉ ra hoa duy một lần trong năm. Bí quyết để cây hoa của bạn có thể tái ra hoa là cung cấp đủ ánh sáng cho chúng. Hoa Phong Lan không chịu được ánh sáng mặt trời chói chang chiếu trực tiếp, chúng sẽ không thể sống lâu được. Lan chỉ thích hợp với bóng râm để hoa luôn giữ được màu sắc tươi tắn và sống lâu hơn.

Hoa phong lan thích ánh sáng nhẹ của buổi sáng và không chịu được ánh sáng quá mạnh.

Tất cả các loài hoa Phong Lan đều yêu thích độ ẩm, vì thế, chúng cũng hay được trồng trong phòng tắm hoặc gần bồn rửa bát. Nếu bạn muốn cung cấp đổ ẩm cho cây Phong Lan của mình, hãy đặt chậu hoa lên một chiếc khay sỏi đầy nước. Nên nhớ, bạn chỉ đặt chậu hoa trên bề mặt sỏi, phía trên mặt nước chứ không chìm trong nước, điều này đảm bảo cây hoa của bạn được bao quanh một môi trường ẩm ướt.

Đảm bảo bên trong chậu hoa Phong Lan luôn có độ ẩm.

Không nên tưới quá nhiều nước cho hoa Phong Lan. Có đến 70 – 80% hoa Phong Lan bị chết là do tưới nước quá nhiều. Trong tự nhiên, hoa Phong Lan mọc ở trong rừng, trong núi không có mưa nhiều tháng vẫn có thể sống.

Vào mùa hè, khi cây hoa Phong Lan ra mầm mới, rễ cây mọc nhiều mới cần tưới nhiều nước. Sang đến mùa thu khi cây ngưng tăng trưởng phải giảm bớt việc tưới nước và vào mùa đông chỉ tưới nhẹ cho cây khỏi bị khô, ngoại trừ trường hợp cây đang ra hoa.

Nước tưới hoa Phong Lan tốt nhất là không có chất vôi, nên để lắng trước đó vài ngày.

Bạn có thể nhận thấy rằng các cây hoa Phong Lan bạn nhìn thấy ở cửa hàng không trồng trong đất giống như các loài cây cảnh khác. Điều này là bởi vì rễ của chúng cần nhiều không khí. Hoa Phong Lan thường được trồng trong hỗn hợp vỏ cây hoặc rêu.

Đất trồng là hỗn hợp thật xốp gồm 7/10 vỏ cây thông + 2/10 đất sét giãn nở + 1/10 mousse polyuréthane, có thể mua tại các cửa hàng hoa kiểng. Khi trồng hoa, hãy kiên nhẫn chờ khoảng 10 ngày rồi mới tưới và 3 tuần sau mới bón phân. Sau đó, chỉ tưới một lần trong tuần, không làm ướt hoa. Nếu cần, nên phun xịt cho rễ cây (khi rễ xanh tươi nghĩa là đầy đủ nước, ngả mầu xám là thiếu nước). Nửa tháng một lần phun xịt phân bón, sau khi tưới.

Làm sạch các phiến là của cây thường xuyên bằng nước ở nhiệt độ phòng là việc làm cần thiết và rất hữu ích. Cách này loại bỏ bụi bẩn bám trên lá cây cản trở ánh sáng và hạn chế sự phá hoại của côn trùng.

Giữ các phiến lá sạch sẽ giúp cây Phong Lan hấp thụ ánh sáng được tốt hơn.

Ngoài ra, bạn cần lưu ý tránh đặt chậu hoa Phong Lan ở những nơi tiếp xúc với luồng gió mạnh như gần cửa sổ, cửa ra vào hoặc các thiết bị tản nhiệt, tản gió trong gia đình, bởi chúng gây hại đến cây.

Nhiệt độ tối ưu là từ 20oC – 25oC vào ban ngày và 18oC vào ban đêm. Do vậy, bạn nên chọn nơi thoáng mát để đặt hoa, cách xa cửa sổ tối thiểu 1 mét.

Chọn vị trí thoáng mát, tránh gió để không làm hại cho cây.


Bạn đang xem chủ đề Phong Lan Dendro Tai Tho trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!