Top 17 # Xem Nhiều Nhất Phân Bón Có Ảnh Hưởng Như Thế Nào Đến Đất Năng Suất Và Chất Lượng Nông Sản / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Vitagrowthheight.com

Phân Bón Ảnh Hưởng Thế Nào Đến Màu Sắc Hoa Hồng? / 2023

Thông báo: vườn đã ngừng kinh doanh các giống hoa hồng. Để đặt mua hoa hồng, anh chị có thể tham khảo & liên hệ: chúng tôi . Call/Zalo: 0906701001 – 0901365679 – 0981472323

Trong quá trình chăm sóc cho cây hoa hồng, cây hoa hồng cần phân bón cũng giống như con người cần thức ăn. Ăn uống đầy đủ thì cơ thể ta duy trì được năng lượng làm việc. Một khi nhu cầu ăn uống đã đáp ứng đầy đủ thì một đòi hỏi cao hơn là “làm đẹp”. Nếu chúng ta ăn các loại rau, củ, quả để bổ sung thêm các loại vitamin và khoáng chất cần thiết tốt cho sự duy trì và phát triển cơ thể toàn diện. Thì cây hoa hồng cũng cần “vitamin và khoáng chất” cho riêng nó để bộ lá được bóng mượt hơn, hoa hồng nở ra to hơn, màu sắc của hoa đẹp hơn.

Việc sử dụng phân bón để giúp cây hoa hồng đâm chồi to khỏe hơn ( Ủ phân dơi bón cho hồng leo cực tốt ), lá xanh cành mập mạp ( Cách bón phân cho hoa hồng trồng chậu ) từ đó tăng khả năng đậu hoa của cây hoa hồng thì tôi đã áp dụng và thấy có hiệu quả. Nhưng việc sử dụng phân bón để tác động đến màu sắc của cây hoa hồng khi cây hồng nở hoa thì trước đây tôi không nghĩ phân bón làm được việc này.

Đầu tháng 11/2017, tôi bắt đầu thử nghiệm để xem phân bón ảnh hưởng thế nào đến màu sắc hoa hồng?. Sau một vài lần thử nghiệm thì tôi nhận thấy rằng chế độ phân bón có ảnh hưởng không nhỏ đến màu sắc hoa hồng.

Phân bón ảnh hưởng thế nào đến màu sắc hoa hồng?

Chế độ phân bón có thể làm tăng màu sắc của cây hoa hồng khi nở hoa. Làm cho bông hoa hồng có màu sắc sậm hơn bình thường.

Chế độ phân bón mà tôi đã sử dụng để tăng màu sắc hoa hồng

Giai đoạn 1: Ở giai đoạn cây hoa hồng phát triển tược non, khi các lá ở phần ngọn chuẩn bị bung ra hoàn toàn và chuẩn bị hình thành nụ. Tôi sử dụng phân bón:

Chứa nhiều Kali và một ít Đạm. Cụ thể có thể sử dụng loại phân bón Kali nitrat (Potassium nitrate, KNO3) chứa 46% Kali (K2O) và 13% Đạm

Không áp dụng phân bón để tăng màu sắc hoa hồng khi tược non của cây hoa hồng còn quá bé. Ví dụ như hình bên dưới, tược non của cây hồng chỉ dài khoảng 10-15cm, các lá hồng non vẫn còn khép lại. Ở giai đoạn này cây hoa hồng cần nhiều lân và một ít đạm và một ít kali để:

Lân: Phát triển thân mập mạp, khỏe

Đạm: hỗ trợ giúp bộ lá to bóng

Kali, tăng khả năng hút nước và tăng độ cứng cáp cho cây hồng.

Phân bón lá chứa vi lượng Sắt cho cây hoa hồng.

Tôi chỉ phun phân bón cho cây hoa hồng khi nụ hoa đã to hơn đầu đũa ăn, khi nụ hoa mới hình thành bé xíu như chân nhang thì phun thuốc phòng trừ bệnh, sâu rầy hoặc thậm chí phân bón lá có thể làm nụ hoa bị héo vàng và rụng.

Một vài lưu ý khi sử dụng loại phân bón tăng màu sắc hoa hồng:

Thứ nhất, việc bón phân để tăng màu sắc cho cây hoa hồng tôi chỉ thử nghiệm trên cây hồng khỏe mạnh, đang phát triển ổn định, chưa áp dụng thử với cây hồng còi cọc, các cây hồng mới thay chậu hoặc các cây hồng mới mua về.

Thứ hai, chỉ mới thử nghiệm trên diện hẹp với 2 giống hoa hồng: hồng tường vy và hồng nhung Sa Đéc, nên tác dụng với các giống hoa hồng khác không biết có tương tự.

Có thể dùng phân bón để làm cho các giống hoa hồng màu tím “đậm đà” hơn khi trồng ở nơi có khí hậu nóng như miền Tây hoặc Sài Gòn?

Rất nhiều giống hoa hồng có màu tím khi trồng ở miền Tây với khí hậu nóng thì màu tím của cây hồng rất nhạt nhìn không hấp dẫn như khi giống hoa hồng này được trồng ở địa phương có khí hậu mát mẻ hơn!

Ánh Sáng Ảnh Hưởng Thế Nào Đến Sự Phát Triển Của Hoa Lan / 2023

Những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của lan như nhiệt độ, độ ẩm, không khí, ánh sáng… trong đó ánh sáng là một yếu tốt cực kỳ quan trọng. Khi lan được cung cấp đầy đủ ánh sáng nó sẽ phát triển khỏe mạnh và ngược lại.

Ánh sáng là một trong những điều không thể thiếu với các loài thực vật kể cả phong lan, nó ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng, quang hợp và hô hấp của cây. Nhu cầu ánh sáng của lan rất khác nhau, có loài ưa sáng nhưng cũng có loài ưa râm.

Có một số giống lan ưa sáng hoàn toàn và giống ưa 70% chúng ta có thể trồng dưới ánh sáng trực tiếp. Tuy nhiên, với một số loài lan chỉ nên sử dụng ánh sáng khuếch tán để tránh hiện tượng bỏng lá trên lan.

+ Vanda lá tròn, Arachnis, Renanthera có nhu cầu về ánh sáng 40000(lm/m2) khoảng 100% ánh sáng

+ Dendrobium với nhu cầu về ánh sáng 15.000 – 30000(lm/m2) khoảng 70% ánh sáng

+ Vanda lá sắp thành hàng, Ascocenda nhu cầu về ánh sáng là 15.000 – 2000(lm/m2) khoảng 60% ánh sáng

+ Phalanopsis, nhu cầu về ánh sáng là 5000 – 14000(lm/m2) khoảng 30% ánh sáng.

Vào thời điểm giữa trưa là lúc lượng ánh sáng cao nhất đạt đến 800kcal/m2 giờ, thấp nhất là vào sáng sớm và chiều tối với 100kcal/m2 giờ và sau 17 giờ lượng ánh sáng gần như không còn nữa. Lúc cường độ ánh sáng cao nhất trong ngày chúng ta nên hạn chế để lan dưới nắng vì nó sẽ gây bỏng lá lan, ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.

Muốn vườn lan của mình phát triển tốt chúng ta cần phải thiết kế giàn che cho chúng. Giàn che này sẽ giúp cản bớt lượng ánh sáng chiếu trực tiếp vào lan, giúp lan hấp thụ đủ ánh sáng nhưng vẫn không sợ bị bỏng – cháy lá. Hiện nay, có hai loại giàn che phổ biến là:

+ Bóng cây tự nhiên

Đây cũng là một hình thức của giàn che nhưng là tận dụng bóng mát của những cây lớn trong vườn để mang lại hiệu quả che chắn hiệu quả cho lan. Dưới những tán cây có khí hậu mát mẻ, dễ chịu rất thích hợp cho sự phát triển cho hoa lan, tuy nhiên hiện tượng thiếu sáng có thể xảy ra nếu tán cây quá rộng và dày.

Khi chúng ta trồng lan dưới bóng cây thì sự phát triển của chúng không tốt, khá kém và khả năng ra hoa bị hạn chế nhiều. Do sống dưới tán cây, ít ánh sáng nên việc quang hợp bị cản trở. Chính vì vậy, trồng lan dưới tán cây chỉ thích hợp với một số loài lan và trồng quy mô nhỏ để thưởng thức chứ không thể phát triển trên diện rộng được.

+ Giàn che tự chế

Giàn che phổ biến và có nhiều ưu điểm hơn là giàn tự chế, người ta tạo ra chúng từ gỗ, tre, màng lưới. Nhu cầu ánh sáng của mỗi loài lan khác nhau nên khi làm giàn che chúng ta phải dựa trên đặc điểm của từng loài để thiết kế giàn phù hợp. Loại giàn che lá sách nên nghiêng một góc 45 độ với hướng mặt trời lặn hoặc mọc sẽ giúp cây sử dụng được ánh sáng hiệu quả.

Độ chiếu sáng cho lan sẽ giảm khi mặt trời càng lên cao, và vào trưa thì độ chiếu sáng bằng 0. Khi cường độ bức xạ cao nhất thì lan sẽ sử dụng ánh sáng khuếch tán cây sẽ quang hợp liên tục với điều kiện ánh sáng lý tưởng. Khi thiết kế giàn che tự chế phù hợp sẽ giúp lan phát triển nhanh chóng và còn giúp hạn chế lượng nước mưa gây ảnh hưởng đến lan.

Một số lưu ý quan trọng khi thiết kế giàn che dành cho phong lan:

Khi lựa chọn vật liệu để làm giàn lan cần phải chọn những loại tốt, có độ bền để tăng khả năng chống chọi với sự tác động của môi trường.

Các mẹp che sáng cho lan cần được đặt theo các hướng Bắc, Nam để toàn bộ lan trong vườn có thể nhận được ánh sáng như nhau. Đồng thời, ánh sáng sẽ không lưu lại quá lâu trên lan khiến lá bị bỏng.

Giàn che cần có độ cao tầm 3m, khoảng cách của lan với mặt đất là 1m. Đây là khoảng cách lý tưởng để lan nhận được đủ ánh sáng.

Mọi người có thể sử dụng tôn nhựa để làm giàn che vì vật liệu này giúp điều hòa và kiểm soát lượng nước tưới rất tốt. Hơn nữa, việc sử dụng giàn che bằng tôn nhựa giúp cho lan Cattleya không bị thối đọt,, lan Phalaenopsis không bị chết do mưa đêm.

Ảnh Hưởng Của Khí Thải Nhà Máy Sản Xuất Phân Bón Đến Môi Trường Và Con Người / 2023

Việt Nam là một nước nông nghiệp nên việc chú trọng đầu tư, phát triển ngành công nghiệp phân bón là cần thiết. Tại Việt Nam, nhu cầu tiêu thụ phân bón hàng năm đạt gần 11 triệu tấn với hơn 90% là phân bón hữu cơ. Ước tính trong giai đoạn 2019 đến 2023, nhu cầu phân bón sẽ tăng ở mức 1.6%/1 năm. Với xu hướng đó, công nghiệp phân bón đóng vai trò quan trọng vào việc phát triển kinh tế đất nước nhưng song song với đó là những hệ lụy nghiêm trọng về ô nhiễm môi trường, đòi hỏi các doanh nghiệp cần nâng cao ý thức và tuân thủ tốt các giải pháp xử lý khí thải.

Phân bón đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nhưng nếu khí thải từ nhà máy sản xuất phân bón không được xử lý tốt sẽ gây hậu quả nghiêm trọng

Nhà máy sản xuất phân bón bị ngừng hoạt động do không xử lý khí thải đúng tiêu chuẩn

Nhà máy sản xuất phân bón Sao Nông nằm tại thôn Đa Sỹ, Đồng Cao, Đồng Sâm xã Đông Vinh, Thanh Hóa. Đây là một công ty con thuộc Công ty CP Sản xuất và thương mại tổng hợp Cường Phát. Vào năm 2016, cơ sở này đã bị tạm ngừng hoạt động do không xử lý khí thải triệt để dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của hàng trăm hộ dân.

Không chỉ có nhà máy Sao Nông, rất nhiều nhà máy sản xuất phân bón khác đã từng bị các cơ quan chức năng cảnh cáo, phạt tiền hoặc buộc ngừng sản xuất vì vi phạm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp sản xuất phân bón hóa học QCVN 21:2009/BTNMT.

Trong quy chuẩn QCVN 21:2009/BTNMT đã nêu rõ nồng độ C của các thông số ô nhiễm trong khí thải công nghiệp sản xuất phân bón hóa học như sau:

STT Thông số Nồng độ C (mg/Nm3)

A B

1 Bụi tổng 400 200

2 Lưu huỳnh dioxit (SO2) 1500 500

3 Niot Oxit (NOx) (tính theo NO2) 1000 850

4 Amoniac (NH3) 76 50

5 Axit sunfuric (H2SO4) 100 50

6 Tổng florua (F) 90

50

Trong đó:

Cột A quy định nồng độ C của các thông số ô nhiêm trong khí thải công nghiệp phân bón hóa học làm cơ sở tính toán nồng độ tối đa cho phép đối với các nhà máy, cơ sở sản xuất phân bón hóa học bắt đầu hoat động trước ngày 16 tháng 1 năm 2007 với thời gian áp dụng đến ngày 31 tháng 12 năm 2014.

Cột B quy định nồng độ C của các thông số ô nhiễm trong khí thải công nghiệp sản xuất phân bón hóa học làm cơ sở tính toán nồng độ tối đa cho phép với:

+ Các nhà máy, cơ sở sản xuất phân bón hóa học  bắt đầu hoạt động kể từ ngày 16 tháng 1 năm 2007

+ Tất cả các nhà máy, cơ sở sản xuất phân bón với thời gian áp dụng kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2015

Ảnh hưởng của khí thải nhà máy phân bón đến môi trường và con người

Trong khí thải từ nhà máy sản xuất phân bón có chứa nhiều chất độc hại, bụi mịn. Việc tiếp xúc lâu ngày với các chất này sẽ dẫn đến hệ quả khôn lường. Cụ thể như sau:

Bụi mịn là những hạt có kích thước nhỏ như PM 1.0 và PM 2.5. Chúng tồn tại ở dạng lỏng hoặc rắn, trôi nổi trong không khí.

Bụi có kích thước càng nhỏ, càng mịn càng dễ đi sâu vào trong hệ hô hấp và ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc DNA của con người, khiến các tế bào bị mất cân bằng oxy, sự chuyển hóa các chất hữu cơ cũng bị gián đoạn. Các hệ quả sau đó mà cá nhân phải gang chịu đó là bệnh ung thư, viên đường hô hấp, viêm phổi, …

Bụi mịn khi thâm nhập vào trong cơ thể sẽ gây hậu quả khôn lường cho hệ hô hấp

Không chỉ xuất hiện trong khí thải nhà máy sản xuất phân bón, khí SO2 phát sinh trong quá trình đốt nhiên liệu. Không chỉ gây hại cho người, SO2 còn gây mưa axit, ăn mòn công trình, phá hoại cây cối.

Khi nồng độ SO2 đạt mức 5 ppm, con người bắt đầu cảm thấy các triệu chứng như khó thở, nóng rát ở mũi và cổ, … Chúng cũng là nguyên nhân gây ra các bệnh như viêm đường hô hấp, viêm mắt, viêm phổi, …

Theo các nhà khoa học, khí NOx là nguyên nhân gây tử vong cho 38.000 người trên thế giới mỗi năm. Chúng không chỉ gây tổn thương tế bào phổi mà còn gây hen suyên, viêm cuống phổi và các bệnh về tim mạch. Một trong những chất khí nito oxit điển hình, thường gặp đó là NO2.

Đối với môi trường, NOx nói chung và NO2 nói riêng cũng để lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường khi chúng là một trong những tác nhân gây mưa axit, khiến tầm nhìn xa bị thu hẹp, gây ô nhiễm dinh dưỡng ở vùng nước ven biển.

Amoniac là chất khí thường gặp nhưng khi tiếp xúc ở nồng độ cao, con người có thể bị suy hô hấp, bỏng niêm mạc mũi

Amoniac là loại khi quen thuộc vào con người bởi chúng xuất hiện trong nước tiểu. Tuy nhiên, mức độ gây hại của NH3 không hề nhỏ. Khi hít phải nồng độ cao sẽ gây bỏng niêm mạc mũi, cổ họng bị sung, suy hô hấp. Thậm chí, khi nồng độ đạt 10.000ppm, NH3 có thể gây tử vong.

Axit sunfuric có vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp, được ứng dụng rộng rãi trong việc xử lý nước thải, sản xuất phân bón, chế biến quặng nhưng chỉ một hàm lượng nhỏ của chúng cũng có thể gây bỏng thậm chí là làm tổn thương giác mạc, tử vong.

Ion florua thường xuất hiện trong các dung dịch sức miệng nhưng chúng chỉ an toàn khi ở nồng độ thấp, việc tiếp xúc liên tục với lượng florua cao là rất nguy hiểm. Ước tính, một người trưởng thành khi tiếp xúc từ 5 đến 10 g florua có thể dẫn đến ngộ độc. Ở mức độ nhẹ hơn, chúng gây khó chịu, ảnh hưởng đến đường tiêu hóa.

Máy lọc tĩnh điện được ứng dụng trong xử lý khí thải nhà máy sản xuất phân bón

Rõ ràng, xử lý khí thải là việc làm vô cùng quan trọng mà không chỉ các nhà máy sản xuất phân bón hóa học cần tuân thủ mà chúng cần được thực hiện ở diện rộng. Điều quan trọng không phải là việc thực thi pháp luật mà đó là sự tự giác, xuất phát từ trách nhiệm của doanh nghiệp đối với môi trường cũng như quốc gia. Bên cạnh những công ty “lách luật”, xả thải trái phép ra môi trường, vẫn có nhiều cơ sở sản xuất xử lý khí thải một cách nghiêm túc bằng việc ứng dụng các công nghệ xử lý khí thải hiện đại. Cần có thêm những “người tự giác” để môi trường Việt Nam được trong sạch hơn, người dân bớt phải lao đao trước thực cảnh ô nhiễm nặng nề.

Ảnh Hưởng Của Việc Sử Dụng Phân Bón Và Hóa Chất Bảo Vệ Thực Vật Trong Sản Xuất Nông Nghiệp Và Môi Trường / 2023

Trước những thách thức để tăng sản lượng lương thực trong ngành nông nghiệp, chúng ta buộc phải tăng năng suất bằng cách nâng cao trình độ thâm canh, quay vòng sử dụng đất nhiều, sử dụng nhiều loại hóa chất nông nghiệp như phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật để nâng cao hiệu quả canh tác. Tuy nhiên với hiệu quả mà việc sử dụng phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật mang lại thì việc sử dụng không hợp lý của phần lớn người dân lại là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường. Câu hỏi đặt ra là làm thế nào vừa nâng cao sản lượng vừa đảm bảo vấn đề môi trường là một công việc mà ngành nông nghiệp và môi trường của chúng ta phải đối mặt. Cùng BTC theo dõi những tác động tích cực và tiêu cực khi sử dụng phân bón hóa học và hóa chất bảo vệ thực vật đối với sản xuất nông nghiệp và môi trường.

Tác động tích cực của phân bón và HCBVTV đối với sản xuất nông nghiệp và môi trường

Đối với sản xuất nông nghiệp

Vai trò của phân bón đối với năng suất cây trồng: bón phân là một biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng lớn nhất đến năng suất cây trồng. Theo FAO, trung bình phân bón quyết định 50% năng suất cây trồng, 1 tấn chất dinh dưỡng nguyên chất chính sẽ thu được 10 tấn hạt ngũ cốc. Qua đó cho thấy không bón phân hóa học không thể có năng suất cao.

Phân bón cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt

Các biện pháp kỹ thuật trồng trọt như làm đất, giống,… chỉ phát huy hiệu quả trên cơ sở bón phân hợp lý.

Phân bón ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cây trồng: phân đạm làm tăng hàm lượng protein, caroten trong sản phẩm, làm giảm hàm lượng chất xơ trong sản phẩm;

Phân lân có tác dụng tốt với phẩm chất các loại rau cỏ chăn nuôi, chất lượng hạt giống cây trồng. Chất trung lượng có tác dụng làm tăng chất lượng protein, tinh dầu cho cây trồng.

Ngoài ra thì bón phân hợp lý, hiệu quả còn làm tăng thu nhập cho người dân. Bón phân cân đối trong trồng trọt còn giúp giải quyết mâu thuẫn giữa năng suất cao và chất lượng sản phẩm. Sâu hại ảnh hưởng xấu tới năng suất cây trồng cũng như phẩm chất cây trồng, thiệt hại do sâu bệnh gây ra đối với cây trồng có thể làm giảm 20% đến 25% năng suất, có khi đến 50%.

Khi sâu bệnh phát triển thành dịch, tác hại của sâu bệnh là rất lớn, gây nên hậu quả nghiêm trọng. Khi đó rất càn một biện pháp có thể dập tắt dịch hại một cách nhanh chóng để có thể bảo vệ cây trồng cũng như không làm ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng. Biện pháp được ưu tiên hàng đầu là sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

Đáp ứng nhu cầu thâm canh tăng vụ ngày càng cao, phòng trừ dịch hại ngày càng tăng trong sản suất nông nghiệp. Đây là biện pháp phòng trừ quan trọng trong các biện pháp phòng trừ dịch hại với ưu điểm nổi trội: có thể diệt dịch hại nhanh, triệt để đồng loạt trên diện rộng và chặn đứng dịch trong thời gian ngắn, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho công tác bảo vệ thực vật và trồng trọt nói chung; dễ dùng, có thể áp dụng ở nhiều vùng khác nhau đem lại hiệu quả ổn định và nhiều khi là biện pháp duy nhất có thể áp dụng.

Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cần phối hợp hài hòa với các biện pháp phòng trừ dịch hại khác để đem hiệu quả cao về mọi mặt. HCBVTV góp phần cao trong phòng trừ dịch hại giúp cây trồng phát triển tốt, cho năng suất cao, bảo vệ năng suất cây trồng và chất lượng nông sản, đem lại thu nhập cao cho sản xuất.

Bón phân và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật giúp bảo vệ và cải thiện môi trường

Đất trồng trọt nếu không bón phân sẽ bị suy thoái. Bón phân hợp lý làm tăng độ phì nhiêu cho đất, tăng mạnh năng suất cây trồng (đặc biệt đối với đất xấu).

Bón nhiều phân hữu cơ có tác dụng cải thiện tính chất và độ phì nhiêu đất.

Bón phân trong trồng trọt còn tạo cho cây trồng phát triển tốt, che phủ đất tốt hơn, hạn chế xói mòn, rửa trôi đất.

Bón phân nitơ hóa học ngoài việc làm tăng sản lượng cây trồng còn làm tăng tỉ lệ đạm hữu cơ và độ phì nhiêu đất (tính toán ở Pháp cho thấy 40% N của phân bón không được cây sử dụng được dùng vào việc tăng N hữu cơ và độ phì nhiêu cho đất).

Bón phân cân đối cho cây trồng còn giúp cây phát triển khỏe mạnh, ít sâu bệnh hại, làm giảm nhu cầu sử dụng HCBVTV gây ảnh hưởng xấu tới môi trường.

Như vậy bón phân hợp lý trong sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo cho năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng cao mà còn giảm thiểu ảnh hưởng xấu của phân bón, HCBVTV góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.

Tác dụng tích cực của thuốc bảo vệ thực vật tới môi trường

Trong thâm canh, đặc biệt khi kiến thức nông hóa không được trang bị đầy đủ và chỉ chú trọng tới hiệu quả kinh tế sẽ gây tác động xấu tới môi trường sinh thái, tạo điều kiện phát triển dịch hại cây trồng → rất cần sư dụng HCBCTV để dập tắt và khống chế dịch hại, ổn định và cân bằng sinh thái nông nghiệp, tạo cơ sở cho việc sử dụng các biện pháo phòng trừ dịch hại khác.

Sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật hợp lý góp phần bảo vệ sự đa dạng sinh học, bảo vệ năng suất cây trồng với chất lượng nông sản tốt; giúp giảm diện tích canh tác, hạn chế ảnh hưởng xấu do hoạt động sản xuất nông nghiệp tới môi trường sinh thái và xã hội.

Ảnh hưởng tiêu cực của phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật tới sản xuất nông nghiệp và môi trường

Đối với sản xuất nông nghiệp

Phân bón và HCBVTV có vai trò rất quan trọng trong việc giúp cây trồng phát triển tốt, năng suất cao và nó chỉ gây hại tới cây trồng trong trường hợp người sử dụng không đúng kỹ thuật, quá liều lượng và không phù hợp với đặc điểm tính chất của đất và cây trồng sẽ làm cho cây trồng có dấu hiệu “ngộ độc”: phát triền không cân đối, chậm phát triển, năng suất thấp.

Ngoài ra trên đồng ruộng bên cạnh những loài sinh vật có hại còn có khá nhiều sinh vật có ích – gọi là thiên địch, có vai trò tiêu diệt sâu hại trên đồng ruộng. Khi dùng thuốc BVTV bừa bãi, lạm dụng, không hợp lý thuốc sẽ tác động xấu đến các sinh vật có ích, gây mất cân bằng sinh học, làm giảm tính đa dạng của quần thể sinh vật; làm xuất hiện dịch hại mới hay phát tán dịch hại.

Ảnh hưởng tiêu cực của phân bón và hóa chất bảo vệ thực vật tới môi trường

Ảnh hưởng tiêu cực của phân bón tới môi trường

Tới môi trường không khí

Phân bón góp phần trong ảnh hưởng lớn nhất mà sản xuất nông nghiệp tác động vào khí quyển là các chất thải CO, NO, CH 4 , NH 3 (tác nhân làm suy giảm tầng Ozon. Đáng chú ý nhất là CH 4 do phân giải các Hidrat cacbon trong điều kiện yếm khí (chiếm 40-46% tổng lượng khí thải do phân bón gây ra, nhiều nhất trong sản xuất lúa).

Tới môi trường đất, nước

Trong các loại phân bón, các dạng đạm đều rất linh động, có khả năng chuyển hóa đa dạng, dễ cung cấp dinh dưỡng cho cây nhưng cũng đễ bị thất thoát, gây ảnh hưởng tới môi trường nhiều nhất. Đặc biệt trong điều kiện bón phân không cân đối, không đúng kỹ thuật.

NO 3 – sản phẩm của quá trình nitrat hóa từ các dạng phân đạm chính là mối đe dọa cho các nguồn nước và sức khỏe co người qua 2 loại bệnh: hội chứng trẻ xanh ở trẻ sơ sinh, ung thư dạ dày ở người lớn.

Ngoài ra, hiện tượng gây phú dưỡng nguồn nước do sự tích lũy đạm và lân trong thủy vực làm cho các loại tảo, vi sinh vật yếm khí phát triển mạnh gây ô nhiễm nguồn nước và không khí.

Các loại phân hữu cơ có hàm lượng kim loại nặng thấp khi dùng với lượng lớn (nhiều chục tấn/ha) có thể gây tồn đọng là đáng kể (đặc biệt là trong phân rác và bùn cặn thải). Việc sử dụng phân bắc tươi trong trồng rau gây ảnh hưởng tới môi trường.

Bón phân hữu cơ trong điều kiện yếm khí (làm tích lũy axit hữu cơ), bón phân hóa học gây chua đất. Tuy nhiên sự thay đổi tuyệt đối chậm (bón 9 năm liên tục mỗi năm 120kg amon nitrat/ha làm pH giảm 0,1 đơn vị).

Việc bón phân không đủ trả lại lượng chất dinh dưỡng lấy theo sản phẩm thu hoạch, làm suy thoái đất trồngđang là vấn đề môi trường không nhỏ ở nước ta. Dù bón ít phân (cả hữu cơ và vô cơ) nhưng thiếu hiểu biết cần thiết cho việc bón phân an toàn và hiệu quả thì vẫn tạo điều kiện để phân bón ảnh hưởng xấu tới môi trường.

Ảnh hưởng tiêu cực của HCBVTV tới môi trường

Ở vùng phun thuốc gây ô nhiễm môi trường không khí.Thuốc có thể di chuyển đi xa nhờ gió gây ô nhiễm môi trường không khí rộng hơn. Khi thuốc tồn tại trên cây hay trong đất tiếp tục ảnh hưởng đến môi trường không khí trong một thời gian nhất định.

Với môi trường đất, nước thì dù xử lý thế nào thuốc BVTV vẫn sẽ đi vào trong đất, tồn tại trong các lớp đất trong thời gian không giống nhau. Thuốc BVTV có thời gian phân hủy dài, dùng liên tục có thể tích lũy trong đất một lượng lớn.

Khi tồn tại trong đấtcác thuốc BVTV còn tham gia vào 2 quá trình di chuyển: quá trình di động và quá trình thấm sâu vào các tầng đất. Thời gian thuốc tồn tại có thể gây ô nhiễm đất; tích lũy sinh học vào chuỗi dinh dưỡng; ảnh hưởng xấu đến khu hệ sinh vật đất, giun đất,… làm chất hữu cơ không được phân hủy, đất nghèo dinh dưỡng, độ phì nhiêu giảm sút.

HCBVTV còn tích đọng và gây ô nhiễm trước hết trong bề mặt ruộng lúa, sông ngòi, ao hồ và sau đó xuống nước ngầm. Chúng có thể tiêu diệt tôm, cua, cá, rong rêu và tảo,… gây mất cân bằng hệ sinh thái đồng ruộng.