Top 16 # Xem Nhiều Nhất Phân Bón Bạch Đàn Xanh / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Vitagrowthheight.com

Giống Cây Bạch Đàn Cao Sản / 2023

Bạch đàn cao sản

Còn được gọi là bạch đàn lai

Bạch đàn là một trong những nhóm cây đang được gây trồng rộng rãi ở nước ta. Hiện nay Bạch đàn được coi là cây nguyên liệu giấy chủ yếu ở vùng trung tâm miền Bắc.

Gần đây, một số giống Bạch đàn lai có năng suất cao đã được chọn và gây trồng rất thành công ở một số nước như Brazil và Công Gô. Tại đây, trên những lập địa tốt và áp dụng kỹ thuật trồng thâm canh có thể đạt năng suất 40 – 80m 3/ha/năm. Trung quốc và Philippin cũng tạo được một số giống Bạch đàn lai có năng suất cao và đang được trồng làm nguyên liệu giấy.

Ở Việt Nam từ các năm 1996 – 2000 Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam đã tạo được gần 80 tổ hợp lai trong loài và lai khác loài giữa các loài Bạch đàn Urô ( Eucalyptus urophylla ), Bạch đàn trắng Caman ( E. camaldulensis ) và Bạch đàn liễu ( E.exserta ). Qua khảo nghiệm đã xác định một số tổ hợp lai có năng suất cao. Đặc biệt hai giống PN 2, PN 14 do Trung tâm nguyên liệu giấy Phù Ninh chọn lọc và nhân giống, cũng như giống U 6 được nhập từ Trung Quốc qua khảo nghiệm bước đầu cho thấy đây là những giống có triển vọng cho trồng rừng kinh tế ở nước ta.

1. Khí hậu: Tuỳ vào từng dòng cụ thể mà có điều kiện khí hậu thích hợp. Nhìn chung Bạch đàn lai có khả năng phân bố rộng rãi từ vùng khí hậu nhiệt đới đến vùng khí hậu á nhiệt đới, từ vùng ven biển đến vùng núi. Không thích hợp với vùng có sương muối kéo dài

2. Độ cao: Từ 500 – 800 m so với mặt nước biển, độ dốc < 30 0

3. Đất đai:

II. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC 1. Tiêu chuẩn cây con đem trồng

Giống được tạo bằng cây mô, hom. Cây được giâm ươm trong vườn từ 3 – 3,5 tháng, Hvn = 30 – 35cm, Do = 0,3 – 0,4cm; cây xanh tốt, không bị: sâu bệnh, cụt ngọn, tổn thương. Cây có hệ rễ phát triển.

2. Kỹ thuật trồng

– Xử lý thực bì:

+ Phương thức: Phát toàn diện

+ Phương pháp: Thủ công

Phát sát gốc thực bì, để lại những cây tái sinh của các loài cây gỗ lớn. Băm vụn cành, nhánh và dọn thực bì thành băng theo đường đồng mức, không đốt.

+ Thời gian xử lý: Tháng 3 – 4

– Xử lý đất:

Nơi địa hình ít dốc và điều kiện cho phép thì cày đất toàn diện hoặc cày theo băng sẽ đảm bảo tỷ lệ sống cao và sinh trưởng nhanh.

Nơi địa hình dốc và điều kiện không cho phép thì làm đất cục bộ theo hố, cuốc và lấp hố thủ công .

+ Cuốc hố thành hàng theo đường đồng mức; khi đào hố: để lớp đất mặt sang một bên, để lớp đất dưới sang một bên. Hố cuốc giữa các hàng phối trí theo hình nanh sấu (so le).

+ Cuốc hố trồng kích thước hố 30 x 30 x 30 cm

+ Lấp hố: Đập nhỏ đất, loại bỏ đá và rễ cây to cho lớp đất mặt xuống dưới đáy hố, lấp lớp đất dưới lên trên. Lấp hố trước khi trồng 15 – 20 ngày.

+ Bón lót: trồng rừng thâm canh cần thiết phải bón lót, mối hố bón 1 kg phân chuồng hoai, phân hoá học (NPK) 0,2 kg/hố. Bón lót kết hợp với lấp hố.

+ Thời gian làm đất: Trước khi trồng 1 tháng.

– Mật độ trồng: 2.000 cây/ha. Lưu ý trên một ha không nên trồng thuần loài 1 dòng, mà nên bố trí từ 2 dòng trở lên.

– Thời vụ trồng: từ 15 tháng 5 đến 15 tháng 7

– Kỹ thuật trồng:

+ Rạch bỏ vỏ bầu, khơi một hố nhỏ giữa hố đã lấp, đặt cây ngay ngắn vào giữa hố rồi lấp đất; lấp đất đến đâu nén chặt đất vừa phải xung quanh bầu đến đó. Lấp đất cao bằng cổ rễ cây, vun đất quanh gốc cây thành hình mui rùa để tránh đọng nước vào gốc cây khi trời mưa .

+ Trồng vào những ngày thời tiết râm mát, đất đủ ẩm; không trồng vào lúc trời nắng to hoặc mưa to.

3. Chăm sóc và bảo vệ rừng – Chăm sóc:

+ Trồng dặm: Trong thời gian sau khi trồng 1 – 3 tháng thường xuyên kiểm tra nếu có cây chết thì phải trồng dặm ngay. ( Việc trồng dặm cây con vào năm sau không mang lại kết quả tốt đối với Bạch đàn lai )

+ Chăm sóc: Chăm sóc liên tục trong 3 – 4 năm đầu, mỗi năm chăm sóc 2-3 lần. Bạch đàn là cây ưa sáng hoàn toàn nên yêu cầu phát sạch thực bì hoang dại, làm cỏ xới đất quanh cây trồng, đường kính xới từ 0,8 – 1m.

+ Bón phân: Trong 3 năm đầu mỗi năm bón thúc 1 – 2 lần , lượng bón mỗi hố 0,1 – 0,2 kg NPK/ lần

Tuỳ theo điều kiện sản xuất kinh doanh có thể kéo dài số năm chăm sóc theo chu kỳ kinh doanh và điều kiện phát triển của thực bì mà tăng số lần phát thực bì, cuốc xới vun gốc trong năm cho phù hợp.

– Bảo vệ rừng:

Xây dựng đường băng cản lửa rộng 20 – 30 m, bằng đai cây xanh hoặc băng trắng. Hàng năm phải dọn sạch thảm mục cỏ khô trong băng cản lửa.

Thường xuyên kiểm tra phòng ngừa lửa rừng, sâu bệnh, người và gia súc phá hoại rừng trồng

4. Phòng trừ sâu bệnh hại: Một số dòng Bạch đàn lai có ưa điểm là sinh trưởng nhanh chưa thấy có biểu hiện sâu bệnh ở rừng trồng. Nhược điểm là khả năng chống chịu mối kém, ở những vùng đất có mối trước khi trồng cần xử lý thuốc chống mối.

Hiện nay một số điểm trên địa bàn tỉnh Điện Biên trồng Bạch đàn lai đã xử lý 2 loại thuốc chống mối sau thấy hiệu quả tốt.

4.1 Thuốc trừ sâu Vi Bi Su ( Ba Su Zin )

Tên gọi khác : Dia zi non, Kaya zi non

Đặc điểm:

– Vi Ba Su là thuốc trừ sâu thuộc nhóm lân hữu cơ có tác động tiếp xúc, vị độc, sông hơi, thấm sâu.

– Vi ba su dạng hạt, mầu trắng xám, mùi nồng, có hai loại nồng độ 5% và 10% hoạt chất, dùng để phòng trừ sâu đục thân, sâu non (Muỗi lá hành) trên lúa, sâu đục thân, đục mía, ngô.

– Thuốc có tác dụng bón vào đất cho cây trồng cạn để trừ các loại sâu xám, Sùng tráng, Mối, Dế, kiến… Trước khi gieo trồng và sau khi gieo trồng.

– Thuốc thuộc nhóm độc trung bình (nhóm II ) cho người và gia súc, độc với cá và ong.

Kỹ thuật xử lý thuốc * Liều lượng bón:

+ Liều lượng bón: 10 gr/ hố

* Xử lý

– Đối với cây trồng cạn cây ăn trái, cây công nghiệp sử lý như sau:

Xới đất rải (rắc) theo hàng hoặc chung quanh gốc xong lấp đất lại tưới nước bình thường.

– Chộn đều thuốc với đất trong hố để trồng cây. Khi trồng bới đất trong hố ra lót 1 lớp đất không có thuốc xung quanh để trồng cây.

– Trồng cây bình thường sau đó rạch rãnh xung quanh cách gốc cây 15 – 20 cm, rãnh sâu 3 – 5 cm rắc đều thuốc vào rãnh và lấp lại. Nên áp dụng cách này dễ làm và phù hợp hơn.

– Chú ý: Thuốc không tốt cho phần rễ cây non do vậy không để rễ cây tiếp xúc với thuốc trong thời gian đầu.

4.2 Thuốc trừ sâu Furadan 3h ( 3g)

Tên gọi khác : Carbofuran

Đặc điểm:

– Furadan 3H là thuốc trừ sâu thuộc nhóm carbamate dạng hạt chứa 3% hoạt chất, màu tím hoặc xanh dương, mùi nồng

– Furadan 3Hcó ba tác động tiếp xúc, vị độc và nội hấp dùng để phòng trừ sâu đục thân, và tuyến trùng lúa, sâu đục ngọn Bắp, Mía

– Thuốc có tác dụng bón vào đất cho cây trồng cạn để trừ các loại tuyến trùng sâu xám, Sùng trắng, Dế, kiến, Mối… Trên các vườn cây ăn trái, cây công nghiệp, cây lâm nghiệp.

– Thuốc thuộc nhóm rất độc (nhóm I ) cho người và gia súc, độc với cá và ong.

Kỹ thuật xử lý thuốc. * Liều lượng bón:

+ Liều lượng bón: 10 gr/ hố

* Sử lý

– Đối với cây trồng cạn cây ăn trái, cây công nghiệp sử lý như sau:

Xới đất rải (rắc) theo hàng hoặc chung quanh gốc xong lấp đất lại tưới nước bình thường.

– Chộn đều thuốc với đất trong hố để trồng cây. Khi trồng bới đất trong hố ra lót 1 lớp đất không có thuốc xung quanh để trồng cây.

– Trồng cây bình thường sau đó rạch rãnh xung quanh cách gốc cây 15 – 20 cm, rãnh sâu 3 – 5 cm rắc đều thuốc vào rãnh và lấp lại. Nên áp dụng cách này dễ làm và phù hợp hơn.

– Chú ý: Thuốc không tốt cho phần rễ cây non do vậy không để rễ cây tiếp xúc với thuốc trong thời gian đầu.

5. Thu Hoạch

Rừng trồng bạch đàn thâm canh đúng kĩ thuật về chọn giống, kỹ thuật tạo cây giống, kĩ thuật trồng rừng thâm canh đồng bộ, chăm sóc bảo vệ rừng chu đáo, sau 7-8 năm có thể cho thu hoạch gỗ để làm nguyên liệu chế biến bột giấy. Năng suất tăng trưởng rừng trồng bạch đàn (hiện tại) có thể đạt từ 12–13 m 3/ ha/ năm, tức là 88-104 m 3/ ha sau 7-8 năm tuổi. Sau 15 năm có thể khai thác làm gỗ gia dụng, gỗ xây dựng.

Rừng trồng bạch đàn đền tuổi nên khai thác trắng, sau đó tiếp tục chăm sóc gốc chồi để tiếp tục kinh doanh các chu kỳ sản xuất tiếp theo./.

Giá bán: 2.000 vnđ/1 cây

Liên hệ: Vườn ươm Bắc Bộ

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Bạch Đànkỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Bạch Đàn / 2023

Cây bạch đàn không phài là loại cây mọc tự nhiên trong các lâm phận Việt Nam. Loài này xuất xứ từ nước Úc được dẫn giống bằng hạt đem về trồng ở đất nước ta vào khoảng thập niên 1950 và cho thấy một số loài rất thích hợp với thổ nghi và khí hậu của Việt Nam, nhất là có thể trồng tập trung thành rừng thuần hay trồng phân tán trong đất thổ cư của nhân dân từ vùng đồng bằng cho đến các vùng bình nguyên và cao nguyên.

Tiên khởi ở Mền Nam, cây Bạch đàn mới du nhập được gọi là cây Khuynh điệp vì có lá cong cong hình lưỡi liềm . Sau đó ngành lâm nghiệp chế độ cũ đặt tên là cây Bạc hà vì lá có mùi dầu Bạc hà, nhưng xin đừng nhầm lẫn với cây rau Bạc hà (Mentha) cùng họ với cây rau Húng.

Sau ngày 30-4-1975, cây Khuynh diệp hay còn gọi là cây Bạc hà được Bộ Lâm Nghiệp đặt tên là cây Bạch đàn, có tên khoa học là Eucalyptus spp. Thuộc họ thực vật Sim ( Myrtaceae). Không phải chỉ có một cây Bạch đàn mà tại tại nước Úc nơi xuất xứ, chi eucalyptus (tức chi Bạch đàn) có ít nhất hơn 70 loài (species) mọc từ các vùng đồng bằng có độ cao ngang mực nước biển cho đến các vùng bình nguyên cao nguyên, từ các thung lũng đến đèo núi cao.

Ở Việt nam chỉ du nhập khoảng 10 loại bạch đàn như:

+ Bạch đàn đỏ: Eucalyptus camaldulensis thích hợp vùng đồng bằng + Bạch đàn trắng: Eu.alba, thích hợp vùng gần biển + Bạch đàn lá nhỏ: Eu. Tereticornis, thích hợp vùng đồi Thừa thiên – Huế + Bạch đàn liễu: Eu. Exserta, thích hợp vùng cao miền Bắc VN + Bạch đàn chanh: Eu. Citriodora, thích hợp vùng thấp, lá có chứa tinh dầu mùi sả + Bạch đàn lá bầu: Eu. globules, thích hợp vùng cao nguyên + Bạch đàn to: Eu. grandis, thích hợp vùng đất phù sa + Bạch đàn ướt: Eu. saligna, thích hợp vùng cao nguyên Ðà Lạt + Bạch đàn Mai đen: Eu. Maidenii, thích hợp vùng cao như Lâm Đồng, v.v.

Cây Bạch đàn thuộc loài đại mộc. Lá thường thon dài cong cong có màu xanh hơi mốc trắng hoặc xanh đậm chứa chất dầu Eucalyptone thơm mùi dầu tràm mà trước đây bác sĩ Bùi Kiến Tín gọi là dầu Khuynh diệp . Hoa có cuốn ngắn, trái hình bông vụ t khoản 1cm bên trong chứa nhiều hạt nhỏ màu nâu sậm.

Loài bạch đàn nói chung rất mau lớn, tán lá hẹp thưa, trồng trong vòng 5, 6 năm thì có chiều cao trên 7m và đường kính thân cây khoảng 9-10 cm. Trước năm 1975, người ta đã nhầm lẫn trồng rừng Bạch đàn tập trung thuần loại ở Miền Trung Việt Nam nhằm mục đích phủ xanh và phủ nhanh đất trống đồi trọc nhưng kinh nghiệm cho thấy, cây Bạch đàn là loài dễ trồng, ít kén đất tăng trưởng nhanh nhưng hấp thụ nhiều nước và dưỡng chất trong đất nên nếu trồng tập trung thành rừng thuần loại trên đất trống đồi trọc vô tình sẽ làm khô cằn và nghèo nàn đất đai sau một vài chu kì. Do đó, nếu cần phủ xanh đất trống đồi trọc thì chỉ nên trồng hỗn giao với loài bạch đàn bằng cách loài cây họ Ðậu như Keo lá tràm, Keo tai tượng hoặc Keo giậu để bù đắp chất đạm cho đất.

Ở Việt Nam, do gỗ bạch đàn thường đốn chặt khoảng 5-7 năm để làm cây chống trong xây dựng và làm bột giấy hay ván dăm bào gọi là ván okal (panneau de copaux) nên cho rằng bạch đàn là lọai gỗ mềm và kém chất lượng khi làm đồ mộc gia dụng, trong khi ở nước Úc, các rừng bạch đàn có tuổi trên 70-80 năm, cây cao đến 50-60 mét, đường kính trung bình đến cả mét và gỗ được sử dụng đa năng từ làm bột giấy, ván ép, ván dăm bào, trụ cột cho đến dồ mộc gia dụng, xây cất nhà cửa cũng như công trình xây dựng nặng .

Nguồn: Cục lâm nghiệp chúng tôi

Kỹ thuật trồng và chăm sóc bạch đàn

1. Kỹ thuật trồng rừng bạch đàn

– Vụ xuân: Trồng từ 15/2 đến 30/3.

– Vụ thu: Trồng từ 15/9 đến 30/10.

Để trồng rừng bạch đàn phục vụ cho nguyên liệu bột giấy, mật độ trồng 1.660cây/ha, hàng cách hàng 3m, cây cách cây 2m. Nếu nơi trồng được cày máy, kích thước hố đào 30cm x30cm x30cm. Nếu trồng rừng bằng phương pháp làm đất cục bộ, cuốc đất bằng tay, kích thước hố đào 40cm x40cm x40cm. Mỗi hố cần bón lót 2kg phân hữu cơ vi sinh và 0,2kg NPK 8-4-4. Dùng đất tầng mặt đập nhỏ, trộn đều với phân sau đó bón vào hố. Sau 15-20 ngày, gặp thời tiết thuận lợi: Mưa vừa, râm, mát, đất đủ ẩm, cần tiến hành trồng bạch đàn ngay. Sau khi trồng 25-30 ngày, phải kiểm tra rừng đã trồng, nếu phát hiện cây con bị chết hoặc đổ gãy phải vứt bỏ và kịp thời trồng dặm lại để bảo đảm tỉ lệ thành rừng 100%.

Để rừng bạch đàn sinh trưởng nhanh, cần bón thúc trong lần chăm sóc thứ 2 với lượng 0,2kg NPK/cây.

Trong 3 năm đầu, rừng non bạch đàn phải được chăm sóc bảo vệ chu đáo, phòng ngừa tránh mọi tác động gây hại. Nếu rừng được trồng vào vụ xuân, năm thứ nhất chăm sóc 3 lần, năm thứ 2 chăm sóc 2 lần, năm thứ 3 chăm sóc 1 lần. Nếu rừng trồng vào vụ thu năm thứ nhất chăm sóc 1 lần năm thứ 2 chăm sóc 3 lần, năm thứ 3 chăm sóc 2 lần. Khi chăm sóc phải cuốc xới xung quanh và vun đất tơi vào gốc cây trồng, phát bỏ dây leo cỏ dại cạnh tranh chèn ép, tỉa bỏ cành gốc.

Tổ hợp bạch đàn cao sản, bạch đàn lai là giống mới, có ưu thế trội và ưu thế lai rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ thành rừng, hiệu suất bột giấy, độ bền cơ học và độ trắng của giấy sản suất từ gỗ bạch đàn cao sản, bạch đàn lai vượt trội hơn những cây trong quần thể chọn lọc và cây bố mẹ lai.

Dùng phương pháp nhân giống sinh dưỡng hom – mô, cây hom giống hoàn toàn di truyền được các tính chất vốn có của cây mẹ lấy hom.

2. Quản lí bảo vệ rừng và sâu bệnh hại

Rừng trồng bạch đàn cần phải bảo vệ chu đáo cho đến khi thu hoạch, thường xuên tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ rừng trong cộng đồng dân cư, vận động các chủ trồng rừng sử dụng loại giống bạch đàn tốt, năng suất cao, có xuất xứ rõ ràng; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để không ngừng nâng cao sản lượng rừng. Thường xuyên tuần tra phát hiện nguy cơ cháy rừng để có biện pháp ngăn chặn kịp thời .

Rừng trồng bạch đàn thường bị mối đất phá hoại. Trước khi trồng phải tiến hành dọn sạch cành nhánh, phá bỏ những tổ mối hỗn hợp, nuôi cây trong bầu PE phải được thanh trùng chu đáo. Không bón phân NPK chứa mùn cưa, không xén rễ cây hom giống bạch đàn trước khi trồng.

Khi phát hiện rừng bạch đàn bị sâu bệnh phải thông tin kịp thời đến cơ quan kỹ thuật chuyên ngành để có biện pháp xử lí kịp thời.

Rừng trồng bạch đàn thâm canh đúng kĩ thuật về chọn giống, kỹ thuật tạo cây giống, kĩ thuật trồng rừng thâm canh đồng bộ, chăm sóc bảo vệ rừng chu đáo, sau 7-8 năm có thể cho thu hoạch gỗ để làm nguyên liệu chế biến bột giấy. Năng suất tăng trưởng rừng trồng bạch đàn (hiện tại) có thể đạt từ 12-13 m3/ ha/ năm, tức là 88-104 m3/ ha sau 7-8 năm tuổi. Sau 15 năm có thể khai thác làm gỗ gia dụng, gỗ xây dựng.

Rừng trồng bạch đàn đền tuổi nên khai thác trắng, sau đó tiếp tục chăm sóc gốc chồi để tiếp tục kinh doanh các chu kỳ sản xuất tiếp theo./.

Nguồn: TT KN quốc gia và Trung tâm khuyến nông TPHCM, KS. Đức Dũng chúng tôi

Kỹ Thuật Gây Trồng Bạch Đàn Urô (Phần 2) / 2023

29/05/2020 08:34

Bạch đàn urô là một trong những loài cây chủ lực để trồng rừng công nghiệp cung cấp nguyên liệu giấy, sợi, dăm, cột điện, trụ mỏ và củi đun,… Ngoài ra, cũng có thể trồng rừng bạch đàn urô với chu kỳ 15-20 năm lấy gỗ đường kính 25-30 cm cung cấp ván làm nhà, đóng đồ gia dụng, làm cầu, gỗ xây dụng,…

Bạch đàn urô có tán lá dày, hạn chế xói mòn, rửa trôi đất tốt hơn các loài bạch đàn khác. Hình dáng đẹp có thể trồng làm cây bóng mát, hoa để nuôi ong.

5. Gây trồng

– Thời vụ trồng: Vụ xuân hè trồng tháng 3-5, vụ thu đông trồng tháng 8-10.

– Phương thức và mật độ trồng: Trồng thuần loài, 1.110 cây/ha (cự ly 3×3 m) hoặc 1.660 cây/ha (cự ly 3×2 m).

– Xử lý thực bì:

Cỏ may, cỏ lông lợn, cây bụi thưa sinh trưởng kém: Phát trắng theo băng rộng 2m. Nếu dốc dưới 150 dùng cày ngầm kết hợp dọn thực bì và làm đất.

Tế guột hoặc cây bụi dày hay tế guột rải rác xen cây bụi: Phát dọn sạch băng trồng rộng 2m, nếu dùng cày ngầm thì không cần phải dọn.

Nứa tép xen ít cây bụi, cỏ, cây bụi xen cỏ, lau chít chè vè: Phát trắng, cuốc lật các gốc lau chít, chè vè, xếp thành đống hoặc thành băng ngang dốc.

– Làm đất: Nơi dốc dưới 200 tiến hành cày ngầm 1 lưỡi sâu 60-70 cm, rồi cuốc hố 30x30x30 cm. Nơi dốc trên 200 có thể cuốc thủ công theo hố kích thước 40x40x40 cm.

– Bón lót: Kết hợp khi lấp hố bón 300 g phân vi sinh và 200 g NPK (25:58:17) cho 1 hố.

6. Chăm sóc rừng

Trồng dặm cây chết ngay sau khi trồng 10-15 ngày, có thể phải tiến hành 2-3 đợt để đảm bảo tỷ lệ sống trong năm đầu đạt trên 95%.

Chăm sóc 3 năm liền:

– Năm đầu chăm sóc 2 lần: Lần đầu sau khi trồng 1-2 tháng, phát thực bì toàn diện, dẫy cỏ và vun xới quanh gốc với đường kính rộng 80 cm. Lần 2 vào tháng 10-11, phát thực bì, cắt dây leo, vun xới quanh gốc cây với đường kính 80 cm. Cây trồng vụ thu – đông chỉ chăm sóc 1 lần vào tháng 10-11.

– Năm thứ 2 chăm sóc 3 lần: Lần 1 vào tháng 3-4 như chăm sóc lần 1 năm đầu. Bón thúc lần đầu 200 g NPK (5:10:3) cho 1 gốc. Lần 2 vào tháng 7-8, phát thực bì toàn diện, vun xới quanh gốc đường kính 1 m, tỉa bỏ các cành trong tầm cao 1 m. Lần 3 vào tháng 10-11, phát thực bì cạnh tranh cây trồng.

– Năm thứ 3 chăm sóc 2 lần: Lần 1 vào tháng 3-4, phát thực bì trên toàn diện tích, tỉa cành đến tầm cao 1,5-2,0 m, dãy cỏ quanh gốc 1 m. Bón thúc lần hai 200 g NPK/cây. Lần 2 vào tháng 7-8, phát thực bì cạnh tranh cây trồng trên toàn diện tích, chặt cây sâu bệnh, phát dẫy sạch cỏ quanh gốc cây.

– Bảo vệ rừng: Tuỳ mức độ nhiễm bệnh phải nhổ, cắt, đốt các cây bị bệnh hoặc phải bắt, diệt, phun thuốc phòng trừ hay phòng trừ bằng các biện pháp tổng hợp. Phải làm các băng trắng cản lửa, rộng 10-12 m. Trước mùa khô phải ủi hoặc phát dọn thực bì, đưa ra khỏi băng. Cấm trâu bò phá hoại rừng.

6. Khai thác

+ Tuổi khai thác chính của rừng cung cấp nguyên liệu giấy sợi, ván nhân tạo là 7-8 năm. Năng suất rừng đạt 20 m3/ha/năm, sản lượng trung bình 80-140 m3/ha gỗ.

+ Mùa khai thác từ cuối mùa khô đến đầu mùa mưa để kết hợp tái sinh chồi.

+ Phương thức khai thác chính là chặt trắng trên toàn bộ diện tích.

+ Chặt sát gốc, gốc chặt không cao quá 7-10 cm, gốc chặt không bị bong vỏ. Mặt cắt phải phẳng và hơi nghiêng. Đưa toàn gỗ và cành lá ra khỏi rừng.

Bạch đàn urô trồng tại tỉnh Hà Nam

7. Chọn và tỉa chồi tái sinh

+ Sau khi chặt, chồi mọc được 8-10 tuần, cao 80-100 cm thì chọn, tỉa chồi.

+ Chọn và giữ lại 1 chồi mập, thẳng nhất mọc sát đất ở hướng đón gió. Tỉa nhiều lần để loại bỏ các chồi khác cho tới khi chồi giữ lại cao trên 2 m.

8. Chăm sóc, bảo vệ rừng chồi

+ Chăm sóc rừng chồi trong 2 năm liền: Năm đầu chăm sóc 2 lần, lần 1 vào tháng 3 và lần 2 vào trước mùa khô. Phát cây bụi, dây leo chèn ép cây chồi. Vun xới quanh gốc cây và vun đất vào gốc rộng 0,8 m và lấp kín gốc chồi. Năm thứ 2 chăm sóc 1 lần như năm thứ nhất vào đầu mùa mưa.

+ Bảo vệ rừng chồi áp dụng như rừng trồng ban đầu đến khi khép tán.

Theo Đức Hải/Khuyến nông VN

Link báo gốc: http://www.khuyennongvn.gov.vn/vi-VN/khoa-hoc-cong-nghe/khcn-trong-nuoc/ky-thuat-gay-trong-bach-dan-uro-phan-2_t114c40n20088

Bón Phân Cho Cây Chè Xanh / 2023

Chè là cây cho sản phẩm “búp chè” thu hái nhiều lần trong năm với khối lượng chất xanh lớn, bởi vậy cây chè phải cần nhiều chất dinh dưỡng.

Các nhà khoa học đã xác định trung bình năng suất 2 tấn chè búp khô/1 ha. Cây chè lấy đi khoảng 80kg N, 40kg P2O5, 30kg K2O, 8kg MgO, 16kg CaO và các chất vi lượng như kẽm (Zn), Bo (B), Môlípđen (Mo)… nếu năng suất 3 tấn chè búp khô/ha thì nhu cầu dinh dưỡng của cây chè tăng gấp trên 2 lần, đặc biệt các chất trung lượng như ma nhê, can xi và các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen… cây chè cần rất nhiều.

Bà con nên biết rằng sau đạm cây chè còn cần lân, kali và đặc biệt cần canxi, manhê và các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen… trong đó cây chè cần nhiều nhất là canxi và manhê. Các thực nghiệm bón phân cho cây chè xanh đều khẳng định: Cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng (N.P.K) và các chất trung lượng canxi, manhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen thì chè tốt bền, cây khoẻ, ít sâu bệnh cho năng suất cao và chất lượng tốt.

Nắm bắt được nhu cầu thiết yếu này, Công ty Phân lân Văn Điển đã cho ra đời sản phẩm phân bón đa yếu tố NPK chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa lượng (NPK) các chất trung lượng như canxi, manhê, các chất vi lượng như kẽm, bo, môlípđen… chuyên dùng cho cây chè đặc biệt là các chất dinh dưỡng trong phân đa yếu tố NPK Văn Điển hầu hết không bị rửa trôi, khi bón vào đất có tác dụng nâng cao độ pH của đất và là nguồn dự trữ dinh dưỡng cung cấp từ từ đầy đủ, cân đối cho cây chè.

Bởi vậy cây chè khoẻ, tốt đều, tốt bền. Để chăm bón cho cây chè kinh doanh nhằm đạt được năng suất cao, chất lượng chè cải thiện, bà con nông dân có thể sử dụng phân bón NPK Văn Điển loại16.8.8 (N = 16%; P2O5 = 8%; K2O = 8%; CaO = 10%; MgO = 7%; SiO2 = 9%; S = 2%) và các chất vi lượng Zn, B, Mo hoặc cũng có thể dùng loại NPK Văn Điển 16.8.4 (N = 16%; P2O5 = 8%; K2O = 4%; CaO = 15%; MgO = 8%; SiO2 = 13%; S = 2%) và các chất vi lượng Zn, B, Mo. Tổng hàm lượng dinh dưỡng trên 60% với mức bón từ 60 – 80kg/sào/năm tuỳ theo điều kiện thổ nhưỡng và được chia làm 2 lần bón: Lần 1 bà con bón vào tháng 3: 50% lượng phân. Lần 2 bón vào tháng 8, tháng 9 hết số phân còn lại.

Theo cách bón xới đất giữa hai hàng chè rồi rải phân sau đó lấp đất kín phân hoặc đào hố giữa hàng đối với đất bằng, đất dốc thì đào hố mép chè phía trên tả luy dương mỗi hố rộng 15-20cm, sâu 20-25cm, hố cách hố 30-40cm, sau đó rải phân rồi lấp đất chặt. Sau 3 năm sử dụng phân bón chuyên dùng cho cây chè, bà con nông dân ở Định Hoá, Đại Từ, Phú Lương, Thái Nguyên, Phú Đa, Phú Bền, Phú Thọ… nhận xét chè cho năng suất cao hơn 2 – 3 lần so với bón phân thông thường.

Đặc biệt búp và lá chè có màu xanh sáng, búp to, chè ít sâu bệnh khi sao chè ít hao chỉ cần 3,85- 4,2 kg búp tươi cho 1kg búp khô, hương vị được cải thiện, thị trường nhiều người ưa chuộng, hiệu quả sử dụng phân bón được nâng cao, đặc biệt bà con nông dân sử dụng phân bón NPK Văn Điển đã thay đổi được phương pháp bón phân là bón vùi qua đất mỗi năm chỉ bón 2 lần thay vì bón 7-8 lần như trước đây, không phải đầu tư thêm phân đạm và các loại phân khác nhưng hiệu quả vẫn cao gấp nhiều lần.