【#1】Tìm Hiểu Về Lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc

Thanh Đạm Tuyết Ngọc là một cây đặc hữu của Việt Nam, thường mọc ở Đà Lạt, Nha Trang và Quảng Trị, trên cao độ khoảng 1300 m.

Tên Việt: Thanh Đạm Tuyết Ngọc, Cam Đạm

Tên khoa học: Coelogyne mooreana, Rolfe, Sander 1907

Đồng danh: Coelogyne mooreana f. alba Roeth & O, Gruss 2001; Coelogyne psectrantha, Gagnep 1930

Thanh Đạm Tuyết Ngọc là một cây đặc hữu của Việt Nam, thường mọc ở Đà Lạt, Nha Trang và Quảng Trị, trên cao độ khoảng 1300 m. Wilhelm Micholitz đã tìm thấy ở ngọn núi Langbian, gần Đà Lạt và gửi về cho Sander và người con tại St. Albans, Anh quốc. Cây lan này nở hoa và đoạt giải nhất của Hòang gia (FCC/RHS) vào năm 1905. Frederick Sander đặt tên Coelogyne moorena để vinh danh F. W. Moore, Giám đốc vườn thảo mộc Glasnevin tại Dublin. Robert Rolfe là người đã mô tả cây lan này trên thông tri của viện thảo mộc Kew, Anh quốc vào năm 1907 với tên Coelogyne mooreana ‘Brockhurst’. Điều lạ lùng nhất là cây lan đẹp và dễ trồng như vậy mà mãi đến năm 1972 nguyệt san Orchid của Hội Hoa Lan Hoa Kỳ và tờ Orchid Digest mới có hình ảnh của cây lan này.

Tìm hiểu về lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc

Thanh đạm Tuyết ngọc mọc từng cụm. Củ cao 5-7 cm có 2 chiếc lá mềm, xanh bóng dài từ 30- 40 cm, rộng 2.5- 3.5 cm. Dò hoa mọc từ giữa mầm non, lên thẳng cao 25-40 cm mang theo 4-8 hoa ngang từ 6-10 cm. Hoa trắng nhị vàng cam có hương thơm, nở vào mùa xuân.

NHIỆT ĐỘ

Mùa hè, ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm vào khoảng 62°F hay 17°C với sự cách biệt giữa ngày và đêm từ 10-14°F hay 6-8°C

Mùa đông ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm 53-55°F hay 12-13°C với sự cách biệt từ 23-25°F hay 13-14°C.

ÁNH SÁNG

Từ 1500-2000 ánh nến (fc) tức là phải để ở chỗ rợp mát từ mùa xuân cho đến mùa thu. Tại môi trường thiên nhiên, mùa đông là mùa cây lan có nhiều ánh nắng hơn, bởi vì các cây cối chung quanh đã bị rụng lá.

ĐỘ ẨM

Mùa hè lan cần độ ẩm thật cao từ 70-80%, mùa đông có thể hạ xuống 40-50%

THOÁNG GIÓ

Lan cần phải thật thoáng gió nếu không sẽ dễ bị nhiễm bệnh.

TƯỚI NƯỚC

Tại Việt Nam, suốt mùa mưa từ tháng 4-6 cây lan lúc nào cũng ướt đẫm và lại rất khô vào mùa đông. Theo quy luật chung, tưới nhiều khi cây non mọc và bớt tưới vào mùa thu khi cây đã ngưng tăng trưởng. Mùa đông chỉ tưới sơ qua hoặc phun nước vào buổi sáng. Khi thấy củ bị nhăn nheo hay lá bị héo, đó là dấu hiệu của sự thiếu nước và thiếu độ ẩm. Trái lại nếu củ lúc nào cũng mập tròn sẽ không ra hoa.

Đừng bao giờ để lan bị khô rễ vào mùa hè và mùa xuân bắt đầu tưới trở lai khi thấy mọc rễ mới hay ra mầm non.

BÓN PHÂN

Bón phân 30-10-10 với dung lượng ¼-½ thìa cà phê cho 4 lít nước và đổi sang 10-30-20 khi bắt đầu mùa thu, hay có thể dùng phân 15-15-15 quanh năm với liều lượng như trên. Lan không ưa bị đọng muối trong chậu, cho nên mỗi tháng cần xả nước một lần cho sạch, tức là tưới như thường lệ và 1-2 giờ sau tưới thêm một lần nữa, rồi mới bón phân. Khi cây mọc mạnh bón mỗi tuần một lần, khi cây ngưng tăng trưởng bón mỗi tháng một lần.

VẬT LIỆU TRỒNG

Các nhà vườn, thường trồng lan Thanh Đạm và nhiều giống lan khác với rêu (sphagnum moss) để bớt phải tưới nước. Loai rêu này chóng mục nên phải thay chậu tối thiểu 2 năm một lần. Nên nhớ: Thanh Đạm không ưa bị đụng chạm đến bộ rễ và chỉ nên thay chậu khi rễ bắt đầu mọc. Nhiều người trồng rất thành công với vật liệu như sau:

70% rễ cây dương sỉ (tree fern), 10% than vụn, 10% đá bọt (perlite), 10% rêu vụn (sphagnum moss).

【#2】Tên Các Loài Hoa Bằng Tiếng Anh Đầy Đủ Nhất Và Ý Nghĩa Các Loài Hoa

Tên các loài hoa bằng tiếng Anh và ý nghĩa sơ lược của nó để các bạn dễ dàng nắm bắt và tìm hiểu thông tin.

Để tìm nhanh tên tiếng Anh của một loài hoa bạn hãy nhấn tổ hợp phím trên bàn phím máy tính: ctrl + F; sau đó nhập tên hoa bằng tiếng việt và nhấn Enter để đi nhanh đến loại hoa đó nhé.

Ý nghĩa các loài hoa

– Cherry blossom: Hoa anh đào tượng trưng cho sự thanh cao, tính khiêm nhường, nhẫn nhịn.

– Lilac: Hoa tư đinh hương tượng trưng cho sự ngây thơ, tin tưởng ở người nhận.

– Carnation: Hoa cẩm chướng tượng trưng cho sự ái mộ, sắc đẹp, tình yêu của phụ nữ

– Daisy: Hoa cúc tùy theo màu sắc mà có ý nghĩa khác nhau. Cúc trắng: tượng trưng cho sự chân thực, lòng cao thượng; Hoa vạn thọ: Gửi gắm nổi buồn;

– Delphis flower: hoa phi yến

– Peach blossom: Hoa đào biểu tượng cho sự an khang thịnh vượng

– Gerbera: Hoa đồng tiền tượng trưng cho hạnh phúc, tùy màu sắc khác nhau mà có ý nghĩa khác nhau. Các bạn theo dõi bài viết theo link sau nhé.

Xem thêm: Ý nghĩa hoa đồng tiền

– Rose: Hoa hồng tượng trưng cho tình yêu.

Xem thêm: Ý nghĩa màu sắc và số lượng hoa hồng

– Lily: Hoa loa kèn/Hoa ly hay còn gọi là hoa huệ tây tùy vào màu sắc mà có ý nghĩa khác nhau.

Tham khảo: Ý nghĩa hoa ly

– Orchids: Hoa lan tượng trưng cho tình yêu và sắc đẹp.

– Gladiolus: Hoa lay ơn biểu tượng của sự tưởng nhớ

– Lotus: Hoa sen thể hiện sự thanh cao, trong sáng

Tham khảo: Ý nghĩa hoa sen

– Marigold: Hoa vạn thọ biểu trưng cho sự trường thọ

– Apricot blossom: Hoa mai biểu tượng của sự sum họp

– Statice: Hoa salem

– Purple Statice: Hoa salem tím

– Hyacinth: Tiên ông/Dạ lan hương

– Cockscomb: Hoa mào gà biểu tượng cho sự hi sinh cao cả

– Tuberose: Hoa huệ biểu tượng hoàng gia, vương giả, vẻ đẹp tuổi trẻ.

– Sunflower: Hoa hướng dương biểu tượng sự thủy chung, tình bạn ấm áp

– Narcissus: Hoa thuỷ tiên biểu tượng của sự quý phái, kiêu sa

– Snapdragon: Hoa mõm chó biểu tượng cho cả sự lừa dối và sự thanh tao

– Dahlia: Hoa thược dược biểu tượng cho sự chung thủy

– Golden Chain Flowers: Muồng hoàng yến/Bò cạp vàng

– Day-lity: Hoa hiên

– Camellia: Hoa trà

– Tulip: hoa uất kim hương

– Lisianthus: hoa cát tường (lan tường)

– Chrysanthemum: hoa cúc (đại đóa)

– Forget-me-not: hoa lưu ly thảo (hoa đừng quên tôi)

– Violet: hoa đổng thảo

– Pansy: hoa păng-xê, hoa bướm

– Orchid : hoa lan

– Frangipani: Hoa đại (Hoa sứ)

– Water lily : hoa súng

– Magnolia : hoa ngọc lan

– Jasmine : hoa lài (hoa nhài)

– Flowercup : hoa bào

– Ageratum conyzoides: hoa ngũ sắc

– Horticulture : hoa dạ hương

– Bougainvillea : hoa giấy

– Tuberose : hoa huệ

– Honeysuckle : hoa kim ngân

– Jessamine : hoa lài

– Cockscomb: hoa mào gà

– Peony flower : hoa mẫu đơn

– White-dotted : hoa mơ

– Phoenix-flower : hoa phượng

– Milk flower : hoa sữa

– Climbing rose : hoa tường vi

– Marigold : hoa vạn thọ

– Birdweed : bìm bìm dại

– Bougainvillaea: hoa giấy

– Bluebottle: cúc thỉ xa

– Bluebell: chuông lá tròn

– Cactus: xương rồng

– Camomile: cúc la mã

– Campanula: chuông

– Clematis: ông lão

– Cosmos: cúc vạn thọ tây

– Dandelion: bồ công anh trung quốc

– Daphne: thuỵ hương

– Daylily: hiên

– Rose: Hoa hồng

– Water lily: hoa súng

– Orchid: hoa phong lan

– Daffodil : hoa thủy tiên vàng

– Dahlia : hoa thược dược

– Lotus: hoa sen

– Sunflower: hoa hướng dương

– Carnation : hoa cẩm chướng

– Lily of the valley: Hoa linh lan

– Lily: Hoa Loa kèn

– Iris:Hoa Diên Vĩ

Tên các loài hoa bằng tiếng Anh

– Snowdrops: Hoa Giọt Tuyết

– Daisy: Hoa cúc

– Hoa Ly – Lily: Lily là hoa loa kèn, hay huệ tây/hoa ly

– Hoa đồng tiền: Gerbera (gerbera daisy) là đồng tiền, hay cúc đồng tiền

– Anh Thảo: Primrose

– Bách Hợp: Lilium Longiflorum

– Báo Xuân: Gloxinia

– Bằng Lăng: Lagerstroemia

– Bồ Câu: Columbine

– Bìm Bìm: Morning Glory

– Cẩm Cù: Hoya

– Cẩm Nhung: Nautilocalyx

– Cánh Tiên / Thanh Điệp: Blue butterfly

– Cẩm Tú Cầu: Hydrangea/ Hortensia

– Cát đằng: Thunbergia grandiflora

– Cúc: Mum / Chrysanthemum

– Cúc Susan: Black Eyed Susan/ Coneflower

– Dã Yên Thảo: Petunia

– Dâm Bụt / Bông Bụp: Rosemallow/ Hibiscus

– Dành Dành / Ngọc Bút: Gardenia

– Diên Vỹ: Iris

– Dừa Cạn: Rose Periwinkle

– Đại: Bower of Beauty / Pandorea jasminoides

– Đào: Cherry blossom / Prunus serrulata

– Đoạn Trường Thảo: Gelsemium

– Đổ Quyên: Azalea

– Đông Chí: Winter Rose/ Hellebore

– Đông Mai: Witch Hazel

– Giáp Trúc Đào: Phlox paniculata ‘Fujiyama’

– Giọt Nắng: Sun Drop Flower

– Hành Kiểng: Sierui / Ornamental onion /Allium aflatunense

– Hoàng Thảo Trúc: Dendrobium hancockii

– Hoàng Thiên Mai: Golden chain tree / Cassia fistula

– Hoàng Điệp: Heliconia Firebird

– Hoàng Độ Mai: Lệ Đường Hoa / Japanese Rose / Kerria japonica

– Hài Tiên: Clock Vine

– Hồng: Rose

– Hồng Môn: Anthurium

– Huệ Móng Tay: Rain Lily

– Areca spadix: Hoa cau

– Huệ Torch: Torch lily/ Poker Plant

– Hương Bergamot: Bergamot

– Huyết Huệ: Belladonna Lily /Amaryllis

– Huyết Tâm: Bleeding Heart Flower

– Kim Đồng: Gold Shower

– Kim Ngân: Honeysuckle

– Kiếm Tử Lan/ Quân tử lan: Kaffir Lily

– Lạc Tiên: Passion Flower

– Lài: Jasmine

– Lan Beallara: Beallara Orchid/ Bllra. Marfitch ‘Howard’s Dream’

– Lan Brassia: Brassidium

– Lan Bướm Kalihi: Mendenhall Gren valley / Oncidium Papilio x Kalihi

– Lan Burtonii: Enpidendrum Burtonii

– Lan Dạ Nương: Brassavola nodosa

– Lan Hài Tiên: Lady’s Slipper/ Paphiopedilum

– Lan Hawaiian Sunset: Hawaiian Sunset Miltonidium

– Lan Hồ Điệp: Phalaenopsis / Moth Orchid

– Lan Hoàng thảo /Hồng Hoàng Thảo: Dendrobium nobile

– Lan Kiếm/ Địa Lan: Sword Orchid / Cymbidium

– Lan Kim Điệp: Dendrobium chrysotoxum

– Lan Laelia: Laelia

– Lan Neostylis: Lou Snearly

– Lan Ngọc Điểm: Rhynchostylis gigantea

– Lan Rô / Đăng Lan: Dendrobium

– Lan Sharry Baby: Oncidium Sharry Baby

– Lan Thanh Đam: Coelogyne pandurata

– Lan Thanh đạm tuyết ngọc: Coelogyne Mooreana

– Lan Thủy Tiên: Dendrobium densiflorum Phong Lan Mokara Sept 2014 (40)Lan Vanda : Vân Lan : Vanda Orchids

– Lan Vũ Nử : Oncidium

– Lan Zygosepalum : ‘Rhein Clown’ Zygosepalum

– Lê Lư : Hellebore

– Loa Kèn: Arum Lily

– Long Đởm Sơn : Enzian

– Lục Bình : Water hyacinth

– Lựu : Pomegranate Flower

– Lưu Ly : Đừng Quên Tôi : Forget Me Not

– Mai : Ochna integerrima

– Mai Chỉ Thiên : Wrightia

– Mai Chiếu Thủy : Wondrous Wrightia

– Màng màng : Beeplant : Spider flower

– Mallow/Rose Mallow: Swamp Mallow

– Mimosa Bán Nguyệt Diệp : Accadia : Half-moon Wattle

– Mộc Lan : Magnolia

– Mộc Trà : Quince /Chaenomeles japonica

– Móng cọp : Jade Vine : Emerald Creeper

– Móng Quỷ : Rampion

– Mồng Gà : Cockscomb /Celosia

– Móng tay : Impatiens

– Montbretia : Copper Tip : Montbretia

– Mua : Pink Lasiandra

– Mười Giờ : Moss rose

– forsythia (4)nghệ tây : Crocus

– Nở Ngày: Bách nhật : Amaranth

– Nghinh Xuân : Forsythia

– Ngoc Anh /Bông sứ ma: Tabernaemontana

– Ngọc Châu : Treasure Flower: Gazania

– Ngọc Nữ : Glorybower

– Phấn : Four O’Clock Marvel

– Phù Dung /Confederate Rose: Cotton Rose

– Phượng Tím : Jacaranda obtusifolia

– Phượng Vỹ : Flamboyant: Peacock Flower

– Quỷ Kiến Sầu : Jamaican feverplant : Puncture Vine

– Quỳnh : Epihyllum : Orchid Cactus

– Sala : Cannonball : Ayauma

– Sao Tiên Nữ : Andromedas

– Sen : Lotus

– Sen Cạn : Nasturtium

– Sim : Rose Myrthe

-Sỏi : Succulent flower

– Son Môi : Penstemon

– Sứ Thái Lan : Desert Rose

– Sứ Đại : Frangipani : Plumeria Alba

– Sữa : Milkwood pine

– Sống đời /Air plant : Clapper bush: Kalanchoe mortagei Raym.

– summer-2012-99Súng: Water Lily

– Táo Dại : Crabapple : Malus Cardinal

– Thạch Thảo : Italian aster/European Michaelmas Daisy

– Thiên Điểu : Bird of Paradise Flower/Strelitzia

– Thuỵ Hương /Winter daphne: Daphne Odora

-Thủy Nứ : Súng Ma : Nymphoides

– Thủy Tiên /Chinese Sacred Lily : Narcissus

– Thủy Tiên hoa vàng : Daffodil

– Tí Ngọ : Noon Flower: Scarlet Mallow

-Tigon : Coral Vine : Chain-of-love

– Corn flower: Hoa thanh cúc

– Tigridia : Shellflower: Tigridia

– Tóc Tiên : Star Glory : Cypss vine

– Thanh Giáp Diệp : Helwingia

– Thất Diệp Nhất Chi Hoa : Paris polyphylla

– Thu Hải Đường : Begonia

– Thược Dược : Dahlia

– Trà My : Camellia

– Trâm ổi : Lantana

– Trang : Ixora

– Trạng Nguyên: Poinsettia : Christmas Star

– Trinh Nữ : TickleMe Plant /Mimosa pudica

– Trúc Đào : Oleander

– Tử Đằng : Wisteria

-Tuyết Sơn Phi Hồng : Texas Sage

– Uất Kim Hương /Tulip

– Vân Anh: Bông Lồng Đèn: Fusia

– Vạn thọ : Marigold

– Xương Rồng : Cactus Flowers

– Xương Rồng Bát Tiên : Crown Of Thorns flower

Trên đây là bộ sưu tầm đầy đủ tên các loài hoa bằng tiếng

Anh và ý nghĩa các loài hoa phổ biến hiện nay.

【#3】Cách Trồng Lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc Đơn Giản Tại Nhà

Nghe cái tên lan thanh đạm tuyết ngọc thôi là bất ký ai cũng muốn tìm hiểu về loài lan này. Tại sao loài lan này lại có một cái tên nghe thật hấp dẫn như vậy. Bởi vì đa phần hoa lan có màu sắc nhã nhặn nhưng không kém phần quyến rũ bởi cánh hoa màu trắng ngọc và điểm ở môi màu vàng. Đây là một loại lan khá là dễ trồng và thích nghi nhanh nhưng hiện giờ rất ít người đang sở hữu nó. Tại sao chúng ta không nhanh nhanh “tậu” ngay một em cho khu vườn nhà mình. Hãy cùng bài viết dưới đây để tham khảo cách trồng hoa lan thanh đạm tuyết ngọc đơn giản tại nhà ngay nào!

Cách Trồng Lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc Đơn Giản Tại Nhà

Thanh Đạm Tuyết Ngọc là một cây đặc hữu của Việt Nam, thường mọc ở Đà Lạt, Nha Trang và Quảng Trị, trên cao độ khoảng 1300 m. Wilhelm Micholitz đã tìm thấy ở ngọn núi Langbiang, gần Đà Lạt và gửi về cho Sander và người con tại St. Albans, Anh quốc.

Với những bông hoa to ngang tới 10 phân, màu trắng như tuyết làm nổi bật màu vàng đậm trong họng, Coelogyne mooreana là một cây lan được nhiều người yêu thích, nên đã được mệnh danh là Nữ Hoàng của loài Coelogyne.

Là loài lan sống phụ sinh, củ giả sát nhau, dạng trái xoan, cao 2 – 6cm, có nhiều cạnh dọc, gốc rễ nhều, đỉnh mang 2 lá. Lá màu xanh đậm, thon nhọn, dài 15 – 25cm, có 5 – 7 gân gốc và có cuống ngắn. Cụm hoa dài 10 – 20cm, mọc thẳng đứng, mang 2 – 4 hoa. Hoa lớn dài 2 – 4cm, màu trắng, cánh môi chia 3 thùy có nhiều điểm đen và vệt vàng ở giữa, thơm. Ngoài ra cây lan này còn có hương thơm dịu ngọt như mùi hoa dành dành (gardenia) và lâu tàn, từ 4-6 tuần lễ, và lại nở hoa nhiều lần trong một năm.

Giá thể trồng: Các nhà vườn, thường trồng lan Thanh Đạm và nhiều giống lan khác với rêu (sphagnum moss) để bớt phải tưới nước. Loai rêu này chóng mục nên phải thay chậu tối thiểu 2 năm một lần. Nên nhớ: Thanh Đạm không ưa bị đụng chạm đến bộ rễ và chỉ nên thay chậu khi rễ bắt đầu mọc. Nhiều người trồng rất thành công với vật liệu như sau:

Các điều kiện lí tưởng để lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc phát triển tốt nhất

NHIỆT ĐỘ: Mùa hè, ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm vào khoảng 62°F hay 17°C với sự cách biệt giữa ngày và đêm từ 10-14°F hay 6-8°C. Mùa đông ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm 53-55°F hay 12-13°C với sự cách biệt từ 23-25°F hay 13-14°C.

ÁNH SÁNG: Từ 1500-2000 ánh nến (fc) tức là phải để ở chỗ rợp mát từ mùa xuân cho đến mùa thu. Tại môi trường thiên nhiên, mùa đông là mùa cây lan có nhiều ánh nắng hơn, bởi vì các cây cối chung quanh đã bị rụng lá.

ĐỘ ẨM: Mùa hè lan cần độ ẩm thật cao từ 70-80%, mùa đông có thể hạ xuống 40-50%

THOÁNG GIÓ: Lan cần phải thật thoáng gió nếu không sẽ dễ bị nhiễm bệnh.

Tại Việt Nam, suốt mùa mưa từ tháng 4-6 cây lan lúc nào cũng ướt đẫm và lại rất khô vào mùa đông. Theo quy luật chung, tưới nhiều khi cây non mọc và bớt tưới vào mùa thu khi cây đã ngưng tăng trưởng. Mùa đông chỉ tưới sơ qua hoặc phun nước vào buổi sáng. Khi thấy củ bị nhăn nheo hay lá bị héo, đó là dấu hiệu của sự thiếu nước và thiếu độ ẩm. Trái lại nếu củ lúc nào cũng mập tròn sẽ không ra hoa.

Đừng bao giờ để lan bị khô rễ vào mùa hè và mùa xuân bắt đầu tưới trở lai khi thấy mọc rễ mới hay ra mầm non.

Hoa lan muốn nở nhanh thì để vào chỗ độ ẩm cao,tránh mưa,kín gió,thắp đèn để ánh sáng suốt cả ngày và đêm để cây hoa phát triển nhanh hơn.

Tưới nước và phun kèm phân để thúc đẩy cây hoa phát triển. Còn muốn giữ hoa lâu tàn nên để vào chỗ độ ẩm lớn tránh mưa,làm giảm ánh sáng, tưới nước ít hơn và không phun phân thuốc. Khi tưới nước tránh tưới vào hoa,nên tưới vào xung quanh để cây dùng rễ và lá hấp thụ hơi nước

【#4】Những Loài Lan Có Trong Sách Đỏ Việt Nam Cần Được Bảo Vệ Và Nhân Giống

Sách đỏ Việt Nam là một danh sách các động vật, thực vật thuộc loại quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng. Đây đều là các loài cần được bảo vệ và nhân giống khẩn cấp để có thể phát triển các cá thể loài lên. Có nhiều những loài động vật, thực vật nằm trong sách đỏ những không được bảo vệ hoặc nhân giống thành công đã vĩnh viễn biến khỏi Trái Đất.

Và các loài lan cũng vậy, các loài lan có trong sách đỏ Việt Nam rất cần được bảo vệ, bảo tồn và phát triển, tránh nguy cơ khai thác cạn kiệt dẫn đến tuyệt chủng.

Lan kim tuyến Sapa

Tên Việt Nam: lan kim tuyến Sapa

Lan kim tuyến Sapa

Tên khoa học: Anoectochilus chapaensis

Đặc điểm sống: Lan kim tuyến Sapa cho hoa vào khoảng tháng 10 đến tháng 12. Cây tái sinh bằng chồi và hạt, mọc rải rác trong những khu rừng rậm, nơi có nhiều bóng mát, kim tuyến Sapa sống ở nơi có độ cao 1500 – 1800m so với mực nước biển.

Phân bố: Trong nước: Lào Cai (sapa), Thừa Thiên – Huế (Bạch Mã).

Đơn hành hai màu

Tên Việt Nam: Đơn hành hai màu

Lan đơn hành 2 màu

Tên Khoa học: Monomeria dichroma

Đặc điểm sống: Cây ra hoa tháng 4. Tái sinh bằng chồi và hạt, mọc rải rác ở độ cao 700 mét đến 2250 mét so với mực nước biển.

Phân bố: Trong nước: Cao Bằng (Trà Lĩnh, Thăng Heng), Lâm Đồng (Đà Lạt, Lang Bian, Bì Đúp, Braian, Di Linh), Khánh Hòa (Nha Trang), Kontum (Ngọc Linh, Đắk Ban Khong), Trung Bộ (Nho Kbang).

Lan Hành Averyanov

Tên Việt Nam: Lan Hành Averyanov

Lan hành Averyanov

Tên Khoa học: Bulbophyllum averyanovii

Đặc điểm: Sống bám trên thân và cành cây gỗ trong rừng rậm nhiệt đới, ở độ cao khoảng 600 – 900m.

Phân bố: Loài đặc hữu rất hẹp của Việt Nam, mới chỉ gặp được ở điểm lấy mẫu thuộc tỉnh Gia Lai (Chư Pah: Gia Lu).

Bạch hỏa hoàng

Tên Việt Nam: Bạch hỏa hoàng, đốm đỏ.

Bạch hỏa hoàng

Tên Khoa học: Dendrobium bellatulum.

Đặc điểm: Ra hoa vào tháng 7-8. Tái sinh bằng chồi và hạt, mọc bám trên các thân cây gỗ lớn trong rừng (kể cả cây thông già), ở độ cao 600 – 1.500m.

Phân bố trong nước: Kontum, Lâm Đồng.

Thế giới: Bạch hỏa hoàng có cả ở Ấn Độ, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan và Lào.

Hoàng thảo Gia Lu

Tên Việt Nam: Hoàng thảo Gia Lu, thạch hộc Gia Lu

Hoàng thảo Gia Lu

Tên Khoa học: Dendrobium nobile var. alboluteum

Đặc điểm: Ra hoa vào tháng 9-10, tái sinh bằng chồi và hạt, cây mọc bám trên các thân cây gỗ lớn trong rừng ở độ cao khoảng 1200m.

Phân bố: Mới thấy ở Gia Lai. Chính vì thế nó cũng có tên gọi là Hoàng thảo Gia Lu

Kiều tím – Kiều hồng

Tên Việt Nam: Kiều tím, Kiều tím miền Trung, Kiều Hồng, Thủy tiên hường, Thủy tiên tím

Kiều tím hiện nay được nhân giống rất rộng nên không còn hiếm nữa

Tên khoa học: Dendrobium amabile

Đặc điểm: Cây xanh quanh năm, thường cao khoảng 30-40cm, thậm chí có loại cao tới 70-90 cm. Cây cho những chùm hoa buông thõng dài 25-35 cm. Hoa to từ 3 – 4 cm nở vào cuối Xuân đầu Hè, thậm chí có thể kéo dài đến cuối Hè.

Phân bố: Các tỉnh miền Trung của Việt Nam

Ý thảo

Tên Việt Nam: Lan ý thảo hay lan hoàng thảo ý thảo, ý thảo 3 màu

Hoàng thảo ý thảo

Tên khoa học: Dendrobium gratiosissimum

Đặc điểm sống: Cây sống lâu năm, biểu sinh trên thân và cành cây thân gỗ chứa nhiều mùn, có quan hệ cộng sinh với nấm. Ý thảo sống trong rừng cây lá sớm rụng và khô cũng như các rừng thường xanh mưa ẩm vùng đất thấp. Cây sống ở độ cao từ 0 đến 1.600 m.

Phân bố trong nước: Quảng Trị (huyện Hướng Hóa: Lao Bảo), Kon Tum (huyện Đắk Tô: rừng cấm Đắk Uy), Gia Lai (huyện Chư Păh: Gia Lu), Lâm Đồng (Đà Lạt, Bảo Lộc).

Thế giới: Hải Nam (Trung Quốc), Assam (Ấn Độ), Lào, Thái Lan và Myanma

Kiến cò

Tên Việt Nam: lan kiến cò

Lan kiến cò đỏ

Tên khoa học: Habenaria rhodochila

Đặc điểm sống: Đây là loài lan đất, hay sống ở hốc đá, củ thuôn dài.

Phân bố trong nước: Lan kiến cò sống ở vùng núi Bắc bộ (Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Hải Phòng) qua Trung bộ (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Hải Vân, Gia Lai, Kontum) đến Nam bộ (Bà Rịa – Vũng Tàu, Côn Đảo, Phú Quốc…)

Thế giới: Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Philippin, Trung Quốc.

Mật khẩu bì đúp

Tên Việt Nam: Mật khẩu bì đúp

Mật khẩu bì đúp

Tên khoa học: Deceptor bidoupensis

Đặc điểm sống: Cây thảo mập, sống bám, lá dai, mọc hai dãy. Mật khẩu bì đúp sống tái sinh bằng chồi và hạt. Mọc bám trên cây trong rừng thưa, ở độ cao 200 – 1500 m.

Phân bố trong nước: Lâm Đồng (Langbian, Bidoup).

Mật khẩu giả

Tên Việt Nam: Mật khẩu giả

Lan mật khẩu giả

Tên khoa học: Cleisostomopsis eberhardtii

Đặc điểm sống: Là loài lan sống bám, thân dài 30cm. Chúng có thể sống bám trên thân cây và cành thông trong rừng mưa nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, ở độ cao khoảng 1400 – 1800 m. Cây ra hòa vào đầu hè ( tháng 4, tháng 5)

Phân bố trong nước: Lâm Đồng (Đà Lạt: thác Đantala, Lạc Dương: núi Langbian, Đơn Dương), Ngọc Linh, Chư Yang Sin, Konkakinh..

Thanh đạm

Lan thanh đạm

Tên khoa học: Coelogyne eberhardtii

Đặc điểm sống: Lan phụ sinh trên cây gỗ, cây tái sinh bằng chồi và hạt. Bám trên các cây gỗ trong rừng thưa, rừng Thông, ở độ cao 1400 – 2150 m.

Phân bố trong nước: Lâm Đồng (Đà Lạt, Lang Bian, Bì Đúp, Klang – Yang).

Tiểu hoàng đỏ – giáng thu

Tên Việt Nam: lan giáng thu, tiểu hoàng đỏ

Dáng hương giáng thu

Tên khoa học: Aerides rubescens

Đặc điểm sống: loài giáng hương có cây nhỏ hoa nở vào cuối Xuân, đầu Hạ, cho hoa màu hồng tím.

Phân bố trong nước: Lâm Đồng, Phan Rang.

Lan hài lông – loài lan có trong sách đỏ Việt Nam

Tên Việt Nam: lan hài lông, hài vệ nữ, tiên hài

Lan hài vệ nữ

Tên khoa học: Paphiopedilum hirsutissimum

Đặc điểm sống: Cây mọc thành bụi nhỏ trên các hốc đá. Hài vệ nữ sống tái sinh bằng chồi và hạt. Cây mọc rải rác trong rừng thưa, vùng núi đá, trên đất hoặc trên đá, ở độ cao khoảng 700 đến 1800 m. Bông hoa của chúng có nhiều lông bám từ đầu cành đến bông nên nhiều người gọi chúng là hài lông.

Phân bố trong nước: Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Lâm Đồng.

Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan.

Hài hồng

Tên Việt Nam: lan hài hồng

Lan hài hồng – loại hài đặc hữu của Việt Nam

Tên khoa học: Paphiopedilum Delenatii

Đặc điểm sống: Cây sống tái sinh bằng chồi và hạt, mùa hoa vào tháng 2 – 3. Hài hồng mọc rất rải rác dưới tán rừng mưa nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm, ở vùng núi đá, chịu hạn khá tốt.

Phân bố trong nước: Khánh Hoà (Nha Trang) và một số tỉnh phía Bắc.

Thế giới: phía nam Trung Quốc

Hài táo – hài đài cuốn

Tên Việt Nam: Lan hài đài cuốn, Hài cánh sen, Hài đài cuốn, Lan hài appleton, Vệ hài đài trắng, Vệ hài apleton, hài đài cuộn, lan hài đài cuộn, Lan hài đài cuốn, lan hài táo, hài đài

Hài táo là tên thường gọi nhất của hài đài cuốn

Tên khoa học: Paphiopedilum appletonianum

Đặc điểm sống: Cây mọc thành bụi nhỏ trên đất mùn, cho hoa vào khoảng tháng 1, tháng 2, tái sinh bằng chồi và hạt. Chúng thường mọc rải rác dưới tán rừng mưa nhiệt đới ở độ cao khoảng 1500 m. Cây chịu hạn khá tốt.

Phân bố trong nước: Lâm Đồng (Đà Lạt)

Thế giới: Thái Lan, Campuchia.

Hoàng thảo Tam Đảo

Tên Việt Nam: Hoàng thảo Tam Đảo

Hoàng thảo Tam Đảo

Tên khoa học: Dendrobium daoense

Đặc điểm sống: Lan hoàng thảo Tam Đảo mọc bám trên các cây gỗ lớn trong rừng, ở độ cao 900 – 1200 m. Mùa hoa của cây vào tháng 4 – 6. Cây tái sinh bằng chồi và hạt.

Phân bố trong nước: Thái Nguyên (Đại Từ), Vĩnh Phúc (Tam Đảo)

Thế giới: chưa biết

Huyết nhung trung

Tên Việt Nam: Lan huyết nhung trung

Lan huyết nhung trung

Tên khoa học: Renanthera annamensis

Đặc điểm sống: Huyết nhung trung là cây lan phụ sinh, cây có thể tái sinh bằng chồi và hạt. Chúng sống bám trên các cây gỗ lớn trong rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa ẩm ở độ cao khoảng 1200 – 1600 m

Phân bố trong nước: Lâm Đồng (Đà Lạt)

Phi điệp vàng

Tên Việt Nam: phi điệp vàng

Lan phi điệp vàng

Tên khoa học: Dendrobium chrysanthum

Đặc điểm sống: Ra hoa vào tháng 7 – 8. Tái sinh bằng chồi và hạt. Mọc bám trên các cây gỗ lớn trong rừng, ở độ cao 100 – 1200 m.

Phân bố trong nước: Cao Bằng, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Hòa Bình, vùng núi Hà Tây ( Hà Nội), Quảng Trị.

Thế giới: Ấn Độ, Nêpan, Butan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào.

Hoàng thảo long nhãn

Tên Việt Nam: hoàng thảo long nhãn

Hoàng thảo long nhãn

Tên khoa học: Dendrobium fimbriatum

Đặc điểm sống: Cây lan phụ sinh sống bám trên các cây gỗ lớn trong rừng thưa, ở độ cao 200 – 1400 m. Cây cho hoa vào tháng 3 đến tháng 7. Tái sinh bằng chồi và hạt.

Phân bố trong nước: Lào Cai (Sapa), Cao Bằng, Bắc Kạn (Ba Bể), Nghệ An (Vinh), Lâm Đồng (Đà Lạt, Braian, Di Linh), Cà Mau.

Thế giới: Ấn Độ, Nêpan, Butan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào, Malaysia.

Hoàng thảo trinh bạch

Tên Việt Nam: hoàng thảo trinh bạch

Lan trinh bạch

Tên khoa học: Dendrobium virgineum

Đặc điểm sống: Lan sống bám thành từng khóm, bụi trên các cây gỗ lớn. Mùa hoa tháng 5 – 6. Tái sinh bằng hạt và chồi

Phân bố trong nước: Thừa Thiên Huế (Huế, Phú Lộc: Bạch Mã), Kontum (Đắc tô: Đắc Uy, Kon Plông), Đắc Lắc, Lâm Đồng (Bảo Lộc).

Thế giới: Mianma, Thái Lan, Lào.

Hoàng thảo vạch đỏ

Tên Việt Nam: Hoàng thảo vạch đỏ

Hoàng thảo vạch đỏ

Tên khoa học: Dendrobium ochraceum

Đặc điểm sống: Cây thân thảo, sống bám trên các cây gỗ lớn trong rừng ở độ cao khoảng 300-700. Cây cho hoa vào tháng 5 – 6. Tái sinh bằng chồi và hạt.

Phân bố trong nước: Gia Lai (K’Bang, Kon Hà Nừng)

Hoàng thảo sừng dài

Tên Việt Nam: hoàng thảo sừng dài

Hoàng thảo sừng dài

Tên Khoa học: Dendrobium longicornu

Đặc điểm: Cây lan sống bám trên các cây gỗ cao khoảng 900 đến 1400 m trong các khu rừng rậm nhiệt đới thường xanh.

Phân bố trong nước: Vĩnh phúc (Tam Đảo).

Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc

Lan sớn

Tên Việt Nam: Lan sớn

Lan sớn

Tên Khoa học: Schoenorchis brevirachis

Đặc điểm: Lan sống phụ sinh, mọc thành búi nhỏ, cao 12 – 15cm, Cây bám vào các cành gỗ trong rừng độ cao 1400 – 1500 m. Cây ra hoa vào tháng 9 – tháng 10.

Phân bố trong nước: Thừa Thiên Huế (Phú Lộc: núi Bạch Mã).

Hoàng thảo u lồi

Tên Việt Nam: hoàng thảo Ngũ Tinh, u lồi, tứ bảo sắc.

Hoàng thảo u lồi

Tên Khoa học: Dendrobium wardianum

Đặc điểm: Cây thân thảo có chiều dài từ 50 đến 90 cm. Cây mọc thành từng khóm sống bám trên các cây gỗ ở độ cao khoảng 500 đến 600 mét. Ra hoa vào tháng 2 – 3. Tái sinh bằng chồi và hạt.

Phân bố trong nước: Lào Cai (Sapa), Ninh Bình (Cúc Phương: núi Mây Bạc).

Thế giới: Ấn Độ, Butan, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan.

Lan phích Việt Nam

Tên Việt Nam: Lan phích Việt Nam

Lan phích Việt Nam

Đặc điểm: Loài lan sống phụ sinh, mọc thành cụm trên các cây gỗ lớn ở độ cao khoảng 800 – 900m.

Phân bố trong nước: Bảo Lộc, Lâm Đồng.

Trên đây đều là các loài lan được ghi trong sách đỏ với các cấp độ cần bảo vệ khác nhau, chính vì vậy các bạn không nên buôn bán hay khai thác các loài lan này để bảo tồn nguồn gen quý cho đa dạng sinh học nước nhà. Nếu bạn đã sở hữu một trong số chúng hãy cố gắng chăm sóc để bảo tồn nguồn gen quý giá này nhé! Chúc các bạn thành công!

Theo: Sách đỏ Việt Nam

【#5】50 Cây Lan Đặc Hữu Của Việt Nam

Quê hương chúng ta đã được tạo hóa ưu đãi, ban cho cả ngàn giống lan, trong đó lại có những cây đặc hữu (endemic). Những cây lan này chỉ mọc tại Việt Nam mà không có tại các quốc gia lân cận như Lào, Trung Quốc, Cam bốt hay Thái Lan.

Trong bài này chúng tôi xin trình bày 50 cây, phần lớn dựa theo bản danh sách và hình ảnh của Karel Petrzelka. Nhưng trong danh sách của ông chỉ là những cây sưu tầm được tại miền Nam, vì vậy chúng tôi bổ túc thêm những cây mọc tại miền Trung và miền Bắc theo cuốn ‘The Orchids of Indochina ‘ ấn bản 1992 của Gunnar Seidenfaden, vì cuốn này đầy đủ hơn cả.

Hình ảnh, tài liêu tóm lược góp nhặt dưới đây do Alex & Karel Petrzelka, Leonid Averyanov, Orchids magazine, Orchids Digest, The Illustrated Encyclopedia of Orchids, The manual of cultivated Orchid Species, Home Orchid Growing, Botanica’s Orchids, Dendrobium and its relatives, Slipper Orchids of Vietnam và trên Internet.

Về phần tên Việt, chúng ta có rất ít, từ tên gọi trong dân gian (phần này chúng tôi không được am tường) cho đến 2 cuốn sách được coi là có nhiều tên nhất: ‘Cây cỏ Việt Nam’ của Phạm hoàng Hộ (dưới đây viết tắt là PHH) ấn bản 1993 và ‘Phong Lan’ của Trần Hợp (dưới đây viết tắt là TH) ấn bản 1998. Nhưng tên Việt trong hai cuốn này cũng không được thống nhất, đầy đủ và phổ thông trong dân chúng.

Xin mời quý vị hãy xem những bông hoa trân quý của quê hương. Chúng tôi biết rằng có nhiều thiếu sót, sai lầm. Thành thực kính xin quý vị vui lòng chỉ dẫn và bổ túc cho.

1. Arachnis annamensis(Rolfe) J.J. Smith 1912

Tên Việt: Lan bọ cạp, Tri thù (PHH), Lan Nhện (TH).

Hình: Karel & Alex Petrzelka.

Đồng danh (synonym): Seidenfaden (1992):

Arachnanthe annamensis, Rofle.

Renanthera evrardii Guill.

Arachnis evrardiiTang & Wang.

Nơi mọc: miền Trung và Đà lạt.

2. Anoectochilus chapaensis Gagnep 1934

Tên Việt: Giải thùy Sapa (PHH), Lan sứa Sapa (TH).

Hình: ed Merkle.

Nơi mọc: Sapa.

3. Ascocentrum christensonianum J.R.Haager 1993

Tên Việt: Hoàng Yến tím (TH).

Hình: Orchideé en Nord (1), Alex & Petrzelka (2).

Nơi mọc: Ninh Thuận, Phan Rang.

4. Aerides rubescens Schlechter 1915

Tên Việt: Dáng hương hồng nhạn (TH).

Hình: Steve Wells.

Đồng danh: Saccolabium rubescensRofle

Aerides hutrtoniiGagnepain

Ascocentrum rubescens(Rofle).

Nơi mọc: Lâm Đồng, Đà lạt, Angkroet, Langbian.     50caylanvn_4

5. Bulbophyllum frostii Summerhayes 1928

Tên Việt: Da beo (PHH), Lan lọng giầy (TH).

Hình: Orchid Species Photographs.

Đồng danh: Cirrhopetalum frostiiGaray, Hamer & Siegerist 1994

Bulbophyllum fuerstenbergianumDe Wild 1921

Bulbophyllum bootanoidesGuillaumin 1956.

Nơi mọc: Đà Lạt, Gia Lai, Kontum.

6. Bulbophyllum simondii Gagnepain 1950

Tên Việt: Lan lọng si môn (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Nơi mọc: Bảo lộc, Lâm đồng.

7. Bulbophyllum tixieri Seidenfaden 1992

Tên Việt: Lan lọng Langbian (TH).

Hình: Trần Hợp (1), Aquarium VN (2).

Nơi mọc: Lâm Đồng gần Đầm Ron.

8. Ceratostylis evrardii Gagnepain 1932

Tên Việt: Giác thư tía (PHH), Lan vòi sừng đơn (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Đồng danh: Eria monanthaGanep.

Ceratostylis radiata. Aver.

Nơi mọc: Đà Lạt, Langbian.

9. Ceratostylis tonkinensis (Gagnep.) Averyanov 1988

Tên Việt: Giác thư Bắc bộ (PHH), Lan vòi sừng Bắc (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Đồng danh: Eria tonkinensisGagnep.

Nơi mọc: Tam đảo.

10. Christensonia vietnamica J.R.Haager 1993

Tên Việt: Cù lao Minh (Nguyễn văn Đễ), Bạch môi.

Hình: Orchids magazine.

Nơi mọc: Ninh Thuận, Phan Rang, Khánh Hòa.

11. Coelogyne dichroantha Gagnepain 1950

Tên Việt: Thanh Đạm hai mầu (TH).

Theo The Orchid of Indochina của Gunnar Seidenfaden 1992 cây này là đặc hữu của Việt Nam, không ghi địa danh và chỉ chú thích (Only known from Eberhardt’s picture). Nhưng hình bên Alex & Karel Petrzelka đã chụp được tại Cambodia, tỉnh Mondul Kriri gần O Rang trên cao độ 900 thước.

12. Coelogyne eberhardtii Gagnepain 1930

Tên Việt: Thanh đạm (PHH), Thanh Đạm Langbian (TH).

Hình: Alex & Petrzelka.

Nơi mọc: Lâm Đồng, Tây Nam Bảo lộc trên cao độ 1000m.

13. Coelogyne lawrenceana Rolfe 1905

Tên Việt: Hoàng hạc, Hoàng Long (PHH), Thanh đạm vàng (TH).

Hình: Eric Hunt (1), Orchid Web (2)

Đồng danh: Coelogyne fleuryiGanep.

Coelogyne speciosa(Bl.) Lindl.

Nơi mọc: Đà Lạt, Langbian, Cà Ná, Phan Rang.

14. Coelogyne mooreana Sander ex Rolfe 1907

Tên Việt: Cam đạm (PHH), Tuyết Ngọc (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Đồng danh: Coelogyne psectranthaGagnep.

Coelogyne sanderianaRchb.

Nơi mọc: Đà Lạt, Lâm Đồng, Bảo Lộc.

15. Coelogyne sanderae Kraenzlin 1893

Tên Việt: Thanh đạm cảnh (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Đồng danh: Coelogyne annamensisRidl.

Coelogyne ridleyiGagnep.

Coelogyne darlacensisGagnep.

Nơi mọc: Lâm Đồng, Đà Lạt, Darlac.

16. Coelogyne filipeda Gagnep. 1950

Tên Việt: Thanh đạm dẹt (TH).

Hình: Alex & karel Petrzelka.

Nơi mọc: Lâm Đồng, gần Đầm Ron, Langbian.

17. Cymbidium banaense Gagnep.

Tên Việt: Đoản kiếm Bà Na, Thiên Nga (PHH), Lan kiếm Bà Na (TH).

Hình: Pantip.

Nơi mọc: Bà Nà, Đà Nẵng.

18. Cymbidium erythrostylum Rolfe

Tên Việt: Bạc lan (PHH), Lan kiếm trắng (TH).

Hình: Bùi Xuân Đáng.

Đồng danh: Cymbidium eburneumvar parishii.

Nơi mọc: Langbian, Đà Lạt, Bà Nà, Đà Nẵng, Nha Trang.

19. Cymbidium schroederi Rolfe

Tên Việt: Hoàng lan (PHH), Lan kiếm trung (TH).

Hình: Leonid Averyanov.

Nơi mọc: Di Linh, Kontum.

20. Dendrobium amabile (Lour.) O’Brien 1909

Tên Việt: Thủy tiên hường (PHH), Hoàng thảo duyên dáng (TH.

Hình: Hà Huyền Chi.

Đồng danh: Calista amabilisLour.

Dendrobium bronkartiide Wild.

Nơi mọc: Lang Khoai, Quảng Trị, Gia Lữ, Chu Pao.

21. Dendrobium hemimelanoglossum Guillaumin

Tên Việt: Phi nữ (PHH), Hoàng thảo thõng (TH).

Hình: Eric Hunt.

Nơi mọc: Đà Lạt, Lâm Đồng gần Di Linh.

22. Dendrobium langbianense Gagnepain 1930

Tên Việt: Hoàng thảo Langbian (TH).

Hình: Alex & Petrzelka.

Nơi mọc: Langbian, Đà Lạt.

23. Dendrobium ochraceumde Wildemann 1906

Tên Việt: Cánh sét (PHH), Hoàng thảo vàng xoăn (TH).

Hình: Đà Lạt Rose, Alex & Karel Petrzelka.

Nơi mọc: Lâm Đồng, Gia lai, Kontum.

24. Dendrobium perulatum Gagnepain 1950

Tên Việt: Hoàng thảo bẹ (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Nơi mọc: Lâm Đồng, Đà Lạt, Di Linh.

25. Dendrobium simondii Gagnep 1951

Tên Việt: Hoàng thảo Nam bộ (TH).

Hình: Httung, Dalatrose.

Nơi mọc: Tây Ninh.

26. Dendrobium trantuanii Perner & Dang 2003

Hình: Bùi Xuân Đáng.

Nơi mọc: Sơn La.

27. Dendrobium vietnamense Aver. & Phan Kế Lộc 2005

Hình: Orchideen – bilder.

Nơi mọc: Mộc châu, Sơn La, tại cao độ 800-1000m.

28. Eparmatostigma pes (Rchb.f.) Garay 1972

Tên Việt: Lan Nhụy sừng trắng (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka, Trần Hợp.

Nơi mọc: Sông Bé, Lộc Ninh.

29. Eria cochinchinensis Gagnepain 1930

Tên Việt: Lan Len Nam bộ (TH).

Hình: Alex & Petrzelka .

Nơi mọc: Biên Lòa, Trị An, Bảo Lộc.

Ghi Chú: Theo Seidenfaden đây là cây đặc hữu của VN, nhưng hình trên Petrzelka chụp tại khu rừng cây xanh, cao độ 900m gần thị trấn O rang, tỉnh Mondul Kiri, Căm bốt.

30. Eria dacrydium Gagnepain 1930

Tên Việt: Nĩ lan hoàng đàn (PHH), Lan len ít hoa (TH).

Hình: Alex & Petrzelka.

Đồng danh: Eria clavicaulis

Dendrobium neglectum

Eria chrysobrateata.

Nơi mọc: Langbian, Blao, Đà Lạt, Dankia.

Ghi Chú: Theo Seidenfaden đây cũng là cây đặc hữu của VN, nhưng hình trên Petrzelka chụp tại khu rừng xanh, cao độ 900m gần thị trấn O rang, tỉnh Mondul Kiri, Căm bốt.

31. Eria globifera Rolfe 1910

Tên Việt: Nĩ lan cầu (PHH), Lan len hoa đơn (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Đồng danh: Campanulorchis globifera(Rolfe) Brieger 1981

Eria langbianensisGagnep. 1930

Nơi mọc: Gia Lai, Kontum.

Theo hình bên Petrzelka chụp tại khu rừng xanh, cao độ 900m gần thị trấn O rang, tỉnh Mondul Kiri, Căm bốt. Nhưng theo Seidenfaden đây cũng là cây đặc hữu của VN.

32. Eria obscura Averyanov 1988

Tên Việt: Nĩ lan tối (PHH), Lan len cụm mảnh (TH).

Hình: Alex& Petrzelka.

Nơi mọc: Gia Lai, Kontum.

Theo Seidenfaden đây cũng là cây đặc hữu của VN, nhưng hình bên Petrzelka chụp tại khu rừng xanh, cao độ 900m gần thị trấn O rang, tỉnh Mondul Kiri, Căm Bốt.     50caylanvn_32

Tên Việt: Thạch hộc mảnh (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Đồng danh: Dendrobium stenoglossum

Ephemerantha stenoglossa

Nơi mọc: Đà Lạt, Đồng Nai, Trị An.

34. Monomeria dichroma (Rolfe) Schlechter 1915

Tên Việt: Đơn hành lưỡng sắc (PHH), Lan củ đơn Việt (TH).

Hình: Davis Morris.

Đồng danh: Bulbophyllum dichromum

Bullbophyllum jacquetii

Nơi mọc: Langbiang, Dankia, Nha Trang, Đơn dương, Lâm Đồng, Đồng Nai.

Ghi Chú: Theo Seidenfaden 1975 và Averyanov năm 1988 và 1990 cây này đặc hữu của Việt Nam, nhưng theo hình này Alex & Karel Petrzelka cũng tìm thấy tại khu rừng cây xanh, cao độ 900m gần thị trấn O rang, tỉnh Mondul Kiri, Căm Bốt.

35. Panisea albiflora (Ridl.) Seidenfaden 1975

Tên Việt: Khúc thần trắng (TH).

Hình: Andy’s Orchid.

Đồng danh: Zetagyne albiflora

Panisea parvoflora

Panisea uniflora

Panisea demissa

Nơi mọc: Langbian, Đà Lạt, Biên Hòa.

Trong danh mục hoa lan của Petrzelka có ghi rằng Panisea albiflora mọc ở Mondul Kiri, Cambodia nhưng không có hình.

36. Paphiopedilum delenatii Guillaumin 1925

Tên Việt: Vệ hài (PHH), Lan hài hồng (TH).

Hình: Bùi Xuân Đáng.

Nơi mọc: Bì Đúp, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Đắc Lắc.

37. Paphiopedilum hangianum Perner & Gruss 1999

Tên Việt: Lan hài Hằng.

Hình: Orchid Digest.

Nơi mọc: Tuyên Quang.

38. Paphiopedilum helenae Aver. 1996

Tên Việt: Việt Nữ hài Hê len.

Hình: Leonid Averyanov.

Nơi mọc: Cao Bằng.

39. Paphiopedilum tranlienianum Gruss& Perner 1998

Tên Việt: Nữ hài Trần Liên.

Hình: Leonid Averyanov.

Nơi mọc: Thái Nguyên.

40. Paphiopedilum vietnamense Gruss & Perner 1999

Tên Việt: Nữ hài Việt Nam.

Hình: Pap.net.

Đồng danh: P. hilmariiSenghas & Schettle

P. mirabileCavestro & Chiron

Nơi mọc: Thái Nguyên.

41. Papilionanthe pedunculata (A.F.G.Kerr) Garay 1974

Tên Việt: Lan bướm Long châu (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Đồng danh: Aerides pedunculata

Vanda masperoae

Vanda watsonii

Nơi mọc: Lâm Đồng, Đà Lạt, đèo Prenn.

Ghi Chú: Theo Seidenfaden cây lan này có mọc ở Cambodia nhưng không tìm thấy. Petrzelka cho biết đã tìm thấy ở Lâm Đồng cách Đà Lạt 30km về phía Tây Bắc gần Đầm Ron, nhưng cũng mua được cây có hoa nói là từ tỉnh Mondul Kiri, Cam Bốt.

42. Phaius longicornu Guillaumin 1957

Tên Việt: Hạc đính.

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Nơi mọc: Lâm đồng, Đà Lạt.

Ghi Chú: Trong sách The Orchid of Indochina lại sát nhập vào cùng giống với Phaius tankervillae, nhưng theo Aveyanov đây là một giống khác biệt. Guillaumin cho biết cây này hoa mầu trắng ngà, môi hoa mầu vàng chanh và mầu hồng đậm, cho nên Seidenfaden thú nhân có lẽ sai lầm vì giống Phaius tankervillae thông thường, hoa mặt trên trắng, mặt dưới nâu đỏ.

43. Phalaenopsis chibae Yukawa 1996

Tên Việt: Hồ Điệp.

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Nơi mọc: Lâm Dồng gần Đầm Ron.

44. Pholidota guibertiae Finet 1910

Tên Việt: Tục đoạn Guibert (PHH), Tục đoạn quế (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Nơi mọc: Lâm Đồng, gần Đầm Ron 30km Tây Bắc, Đà Lạt, Qui Nhơn.

45. Pteroceras semiteretifolium H.Æ.Pedersen 1992

Tên Việt: Dực giác bán trụ (PHH), Môi sừng một hoa (TH).

Hình: Lương Quang Tuấn.

Đồng danh: Sarcochilus uniflorus

Pteroceras uniflorum

Nơi mọc: Đà Lạt, Gia Lai, Kontum.

46. Renanthera citrina Aer. 1997

Tên Việt: Hoàng Phượng vĩ, Phượng vĩ vàng.

Hình: Orchid Species Photograph.

Nơi mọc: Tùng Khê, Hòa Bình, Trà Linh Cao Bằng.

47. Rhynchogyna fallax (Guill) Seidenf.

Tên Việt: Lan lá trụ (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Đồng danh: Sarcanthus fallax

Cleisotoma fallax

Nơi mọc: Di Linh, Lâm Đồng.

48. Schoenorchis tixierii (Guill.) Seidenfaden 1975

Tên Việt: Nang Lan (PHH), Lan trứng bướm thơm (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Đồng danh: Saccolabium tixieri

Schoenorchis fragans

Nơi mọc: Đà lạt, Lâm Đồng.

49. Stereochilus dalatensis (Guill.) Garay

Tên Việt: Trội thiệt Đà lạt (PHH), Lan môi cứng Đà lạt (TH).

Hình: Alex & Karel Petrzelka.

Đồng danh: Sarcanthus crassifolius

Sarcanthus dalatensis

Nơi mọc: Lâm Đồng, Đà Lạt.

50. Vanda bidupensis Aver.

Hình: Leonid Averyanov.

Nơi mọc: Bì Đúp, Lâm Đồng.

(Theo Bùi Xuân Đáng)

【#6】Vì Sao Cây Lan Của Tôi Không Ra Hoa?

Làm sao để lan ra hoa? Trồng lan ai cũng mong cho có hoa để thưởng thức, song nhiều lúc trông dài cổ mà nó cũng chẳng trổ hoa. Vây cần phải làm gì cho chúng ra hoa?

Phải nói rằng việc trổ hoa ở lan thường không có gì khó khăn (có thế người ta mới trồng hàng loạt để cắt cành hoa xuất khẩu) nhưng cũng có lắm giống loài đòi hỏi phải chăm sóc có kỹ thuật để đáp ứng các nhu cầu phức tạp của nó.

Trước hết để cho cây lan có thể ra hoa thì cây lan đó phải đủ tuổi trưởng thành, còn non trẻ qua thì không thể cho hoa. Cây lan con Dendrobium, Oncidium đem trồng thì phải 1, 2 năm sau mới có hoa. Vanda, Cattleya thì phải mất 2 – 7 năm là chuyện thường. Như vậy, thời gian trưởng thành là một yếu tố. Kế đến là cây lan phải mập mạnh thì mới cho hoa tốt tươi, bền đẹp. Cây mới tách chiết cũng phải cỡ 6 tháng đến 1 năm hơn mới ra hoa. Cây cằn cỗi, suy yếu khó cho hoa, nếu có hoa thì cũng kém cả chất lẫn lượng. Sau khi ra hoa, cây lan sẽ suy yếu thêm và có thể đi đến tàn lụi hoặc chết luôn. Để cho cây lan mập mạnh, tăng trưởng tốt thì dùng phân có đạm cao (lan con, lam mới tách chiết, mới thay chậu) hoặc có tỷ lệ NPK  quân bình.

Vậy mà nhiều lúc cây đã lớn, đủ tuổi trưởng thành, mập mạnh xum xuê tươi tốt mà vẫn không có hoa. Đó là vấn đề làm đau khổ cho nhiều chơi lan kiểng.

Sự ra hoa lan có liên quan mật thiết đến ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ và ngay cả phân bón nữa.

Nếu cây to mập xum xuê có màu lá quá xanh tươi thì có thể là phân bón quá nhiều đạm hoặc vườn lan quá mát, thiếu nắng. Cây xanh tươi mà những đọt non, chồi mới có vẻ ẻo lả, không vững chắc thì có thể vừa dư đạm vừa thiếu sáng. Trong trường hợp này thì cây không thể cho hoa được, nhất là đối với Cattleya, Vanda. Hãy đi chuyển cây dần dần ra nơi nhiều nắng hơn (đừng mang cây ra nơi nhiều nắng một cách đột ngột, cây lan sẽ cháy lá, hư cây ngay!), bớt phân đạm, tăng phân có nhiều nguyên tố P và K lên.

Dĩ nhiên không ngày hôm sau hay tháng sau nó sẽ có hoa mà ít ra cũng 2-3 tháng, thậm chí 5-6 tháng sau, chúng ta mới thấy được thành quả của mình.

Nếu đã tăng sáng, tăng PK mà cây lan vẫn không ra hoa thì có thể đó là giống lan không phù hợp với vùng của bạn. Chúng có nguồn gốc của vùng ôn đới, hàn đới. Bạn thử đưa lên vùng cao, lạnh hơn như Đà Lạt xem sao. Về phương diện nhiệt độ chi phối sự ra hoa của cây lan chúng tôi đã nói đến ở bài viết Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển cây lan . Người ta đã chia lan ra thành 3 nhóm, tuỳ vào yêu cầu nhiệt độ: nhóm ưa lạnh, ưa nóng và trung gian. Vì vậy có nhiều bạn mang những giò lan ở Đà Lạt về thành phố Hồ Chí Minh thì nó không ra hoa mà cứ tàn lụi dần như một số loài (Den. crumenatum) Hàm Long (Coelogyne spp) …  hoặc tươi tốt mà không có hoa như Huyết Nhung (Renanthera coccinea, imschootiana), Cẩm Báo (Hygrochilus parishii), Mỹ Dung Dạ Hương (Vanda denisoniana), Vày Cá (Dendrobium lindley), …. hoặc có hoa mà phải hạ đột ngột nhiệt độ xuống khoảng 5-6 độc C trong vài giây thì sau khoảng 9 ngày tất cả các cây lan Bạch Câu mới nở hoa đồng loạt. Phaphiopedilum insigne và Dendrobium nobile chỉ tiếp tục tăng trưởng mà không ra hoa, nhưng chúng lại ra hoa  khi nhiệt độ hạ xuống 13 độ C hay thấp hơn.

Nhiều loài lan chỉ ra hoa vào mùa mưa sau khi đã trải qua thời kỳ khô hạn vào mùa nắng trước đó như đa số các địa lan: Habenaria, Eulophia … và của các phong lan ra hoa theo mùa như Aerides, nhiều loài phải rụng lá mới ra hoa như Giả hạc (Dendrobium anosmum), Long tu (Dendrobium primulinum), Ý Thảo (Dendrobium gratiosissimum). Đối với chúng phải có thời kỳ ngừng nghỉ, giảm hoặc ngừng hẳn không tưới tắm gì cả thì chúng mới cho hoa vào đầu mùa mưa. Nếu cứ tưới tắm quanh năm thì chúng dù có tươi tốt vẫn không ra hoa. Đối với nhóm này ta có thể điều chỉnh cho nó một sự khô hạn nhân tạo 1-2 tháng trước khi tưới nước trở lại, chúng sẽ có hoa trái vụ.

Việc ra hoa của nhiều giống loài đôi khi không phải chỉ bị chi phối bởi một yếu tố mà là sự tổng hợp của nhiều yếu tố như ở Cymbidium, một sự giảm hạ nhiệt độ đi kèm với lượng ánh sáng nhiều thì chúng mới ra hoa (ra hoa vào thời kỳ ngày dài). Ở Vảy cá (Dendrobium linleyi) phải có một sự khô hạn kèm theo sự giảm nhiệt độ (khoảng 10 độ C về ban đêm) để chúgn ra hoa …

Việc ra hoa của cây lan tuỳ thuộc nhiều yếu tố như đã nêu ở trên, trong đó có ba yếu tố: ánh sáng, phân bón và sự khô hạn, chúng ta có thể điều chỉnh được một cách dễ dàng, còn yếu tố nhiệt độ, quang kỳ, chúng ta khó khăn để xử lý hơn. Chính vì sự phức tạp ấy mà người trồng lan phải luôn tìm tòi, áp dụng các kiến thức khoa học và kinh nghiệm của người đi trước sao cho việc nuôi trồng đạt kết quả ưng ý.

【#7】Lan Việt Nam Và Tên Khoa Học

Việt Nam có khoảng 900-1000 giống lan phần đông do các khoa học gia ngoại quốc tìm ra do đó đều có tên khoa học. Cũng vì vậy nhiều cây chưa có tên Việt hoặc có tên nhưng do một vài người đặt ra hoặc có tên từ trước. Những tên này không được thống nhất, không phân rõ loài và giống cho nên rất phức tạp, hơn nữa lại không được văn vẻ, thanh lịch và thích hợp với loài hoa Vương giả. Vấn đề này chúng tôi đã trình bầy trong mục Đặt Tên Việt Cho Lan.

Lan Việt Nam và tên khoa học

Nay xin lược kê một số cây có tên đại chúng theo sách của các giáo sư Phạm Hoàng Hộ và Trần Hợp như sau:

Bạc diệp Tainia latifolia, macrantha, pancifolia
Bạc lan Cymbidium erythrostylum (Đặc hữu)
Bạch câu, Tuyết mai Dendrobium crumenatum
Bạch hạc Thunia alba
Bạch huệ đồng Vanda denisoniana alba
Bạch nhạn Dendrobium formosum
Bạch phượng Pecteilis cochinchinensis,susannae
Báo hỉ Dendobium secundum
Bích ngọc Cymbidium dayanum
Cẩm báo Hygrochilus parishii
Cầu diệp Bulbophyllum
Chu đinh tím Spathoglottis plicata
Chu đinh vàng Spathoglottis aurea
Chu thư Peristylus candidus, chapaensis,parishii
Giã hạc, Lưỡng điểm hạc Dendrobium anosmum
Giải thùy Anoectochilus,lancolatus, lylei, roxburghii
Giáng Hương Aerides odorata, multiflora, houlettiana
Hà biện Habenaria dentata,lindleyana,rhodochila
Hạc đính Phaius tankervillae hay Phajus tankervilleae
Hạc lan Dendrobium incurvum
Hạc vĩ Dendrobium aphyllum
Hài hồng Paphiopedilum delenatii (Đặc hữu)
Hàm lân cứng Gastrochilus calcoelaris, hainanensis
Hảo lan Goodyera foliosa, fumata
Hỏa hoàng Ascocentrum miniatum
Hoàng kiếm lan Cymbidium finlaysonianum
Hoàng long Coelogyne lawrenceana
Hoàng thảo hỏa hoàng Dendrobium bellatulum
Hoàng thảo bạch hoàng Dendrobium chrystianum
Hoàng thảo tím Dendrobium amabile (Đặc hữu)
Hoàng nhạn Dendrobium pendulum
Hồng hoàng kiếm Cymbidium iridioides
Hồ điệp Phalaenopsis
Hồng câu Dendrobium aduncum
Hồng kiếm lan Cymbidium insigne
Huyết nhung Renanthera coccinea
Kim điệp Dendrobium chrysotoxum
Kim điêp vẩy cá, vẩy rồng Dendrobium lindleyi, aggregatum
Kiều lan, Bầu ruợu Calanthe cardioglossa, densiflora, vestita
Lá gấm, gấm đất Ludisia discolor
Luân trần Eulophia spectabilis
Long tu Dendrobium primulinum
Lọng điểm Bulbophyllum
Mặc lan Cymbidium sinense
Mao lan Trichotosia dalatensis,dasyphylia
Mao thiệt Trichoglottis retusa,seidenfadenii
Mật khẩu Cleisostoma chantaburiense, racemiferum, crochetti
Móng rùa Oberonia dalatensis,evrardii, langbianensis
Ngọc điểm (đuôi chồn) Rhynchostylis gigantea
Ngọc điểm đai châu, đuôi cáo Rhynchostylis retusa
Ngọc vạn Dendrobium chryseum, chrysanthum, crystalianum
Nhẵn diệp Liparis distans, elliptics, cordifolia
Nhất đỉểm hồng Dendrobium draconis
Nhất điểm hoàng Dendrobium heterocarpum
Nĩ lan Eria muscicola, globifera, floribunda
Phượng vĩ Renanthera imschootiana
Sậy lan Arundina graminifolia
Tai dê Liparis caespitosa, dendrochiloides
Tam bảo sắc Dendrobium devonianum
Thạch hộc
Thanh đạm tuyết ngọc Coelogyne mooreana (Đặc hữu)
Thanh ngọc Christensonia vietnamica (Đặc hữu)
Thanh lan Cymbidium ensifolium
Thủy tiên Dendrobium palpebrae
Thủy tiên tím Dendrobium amabile (Đặc hữu)
Thủy tiên vàng Dendrobium densiflorum
Tóc tiên Holcoglossum kimballianum
Trân châu Nervilis plicata, prainiana
Trâm lan Pecteilis
Trần Mộng, Hoàng phi hạc Cymbidium lowianum
Trần tuấn Dendrobium trantuanii (Đặc hữu)
Tri thù, Lan Nhện Arachnis
Trúc lan Dendrobium hananensis, hancockii
Tục đoạn Philodota articulata,bracteata, chinensis
Tứ bảo sắc, Ngũ tinh Dendrobium wardianum
Vân đa dạ hương Vanda denisoniana
Vân hài Paphiopedilum callosum
Vân lan Vanda
Vệ hài,Tiên hài, Nữ hài Paphiopedilum
Vô diệp lan Chiloschista
Ý thảo Dendrobium gratiossimum

【#8】Người Việt Và Hoa Lan Việt

Tôi đành nhìn quê hương qua những cây có thể mua được ở đây, đó là cây nhãn lồng Hưng Yên, cây bưởi đường Biên Hòa, cây mận Hồng Đào Trung Lương và những cây hoa lan mang tên Việt thân thương: Ngọc Điểm, Hạc Đính, Chu thư, Mặc lan, Giáng Hương v.v… là những gì quen thuộc nghe êm tai và gợi lên những cảm tình chan chứa hơn là những tên khoa hoc dài dằng dặc với những thanh âm xa lạ.

Người Việt và hoa lan Việt

Nếu các bạn thich thú, tôi xin giới thiệu một bộ sưu tập hoa lan nho nhỏ, một bộ sưu tập gồm những cây hoa lan của quê hương yêu dấu.

Bộ sưu tập này không quá tốn kém, dễ tìm thấy trên thị trường, hoa đẹp, một số có hương thơm mà lại dễ trồng, hơn nữa có thể làm chúng ta hãnh diện là người biết quý trọng những gia bảo của đất nước.

Xin giới thiệu một số cây với tên khoa học để các bạn tiện nhận xét và dễ dàng tìm kiếm trên thị trường (hình xin xem trong Thư viện hình ảnh Hoa Lan Việt Nam trên trang Web www.Hoalanvietnam.org)

AERIDES Giáng Hương, Đuôi cáo

Aerides crassifolia GH lá dầy

Aerides falcata GH quế

Aerides houlletiana GH quế nâu

Aerides multiflora GH nhiều hoa

Aerides odorata GH thơm

Aerides rosea GH tím

CALANTHE Kiều lan, Lan bầu ruợu

Calanthe rubens Hồng kiều lan*

Calanthe triplicata Tam kiều nữ*

Calanthe vestita Kiều lan tím

* Tên do người viết đặt

CHRISTENSONIA

Christensonia vietnamica

COELOGYNE Thanh Đạm

Coelogyne cristata Bạch ngọc

Coelogyne mooreana Tuyết ngọc

CYMBIDIUM Kiếm lan

Cymbidium dayanum Bích ngọc

Cymbidium erythrostylum Bạc lan

Cymbidium finlaysonianum Hoàng kiếm lan

Cymbidium insigne Hồng kiếm lan

Cymbidium lowianum Hoàng lan, Trần Mộng

Cymbidium sinense Mặc lan

Dendrobium farmeri Thủy tiên (Den. palpebrae)

Dendrobium fimbriatum Long nhãn

Dendrobium gratiotissimum Ý thảo

Dendrobium pendulum Hoàng nhạn

Dendrobium primulinum Long tu

Dendrobium secundum Báo hỉ

Dendrobium thyrsiflorum Thủy tiên

Dendrobium tra tuanii Tuấn anh

Dendrobium wardianum Tứ bảo sắc

DENDOBIUM Đăng Lan

Dendrbium aggregatum Tiểu kim điệp

Dendrobium amabile Thủy tiên hồng

Dendrobium anosmum Dã hạc

Dendrobium chrysotoxum Kim điệp

Dendrobium christyanum Bạch hoàng

Dendrobium chrysanthum Hoàng Hoa

Dendrobium draconis Nhất điểm hồng

HOLCOGLOSSUM

Holcoglossum kimballianum Lan tóc tiên

PAPHIOPEDILUM Nữ hài

Paphiopedilum appletonianum

Paphiopedilum bellatulum

Paphiopedilum callosum

Paphiopedilum concolor

Paphiopedilum delenatii

Paphiopedilum emersonii

Paphiopedilum gatrixianum

Paphiopedilum helenae Nữ hài Hê len

Paphiopedilum henryanum

Paphiopedilum hirsutissimum

Paphiopedilum insigne

Paphiopedilum parishii

Paphiopedilum purpuratum

Paphiopedilum vietnamense

PHAIUS

Phaius flavus Hạc đính vàng

Phaius mishmensis Hac đính hồng

Phaius tankervilleae Hạc đính nâu

RENANTHERA

Renanthera citrina Phuuợng vĩ vàng

Renanthera coccinea Phuợng vĩ Bắc

Renanthera imchoostiana

RHYNCHOTYLIS

Rhynchostylis coelestis Ngọc điểm hải âu

Rhynchostylis gigantea Ngọc điểm đai châu

Rhynchostylis retusa Ngọc điểm bạch vĩ hồ

SPATHOGLOTTIS

Spathoglottis plicata Chu đinh tím

Spathoglottis aurea Chu đinh vàng

STAUROCHILUS

Staurochilus fasciatus Hổ bì

syn. Trichoglottis fasciata

Lan Việt nam còn rất nhiều, nhưng xin khất để đến một dịp khác.

【#9】Lan Việt: Coelogyne Lawrenceana (Hoàng Long)

Trong cuộc triển lãm tại South Coast Plaza, một người Thái Lan bán hoa, đoán chừng tôi là người Việt bèn giới thiệu cây lan trên và nói cây này giống từ Việt-Nam. Mặc dù chưa ra hoa nhưng vì hai chữ Việt-Nam làm tôi mua ngay mà không mặc cả.

Lan Việt: Coelogyne lawrenceana (Hoàng Long)

Coelogyne phát âm theo Anh ngữ: See-loj’in-ce viết tắt: (Coel.). Theo tiếng Hy-Lạp có nghĩa “hollow female”, xin tạm gọi là “Lũng Cái” ! Sở dĩ gọi vậy vì phần nhụy cái (stigma) nằm sâu trong bọng hoa (flower column). Coelogyne thuộc họ Coelogyninae, là loại cây phụ-sinh (epiphytic plant) tức bám vào cây khác để sinh sống.

Cây lan mua ngày 9-2-2007 trồng trong chậu đường kính 16 cm với 12 củ bẹ (pseudobulbs) xanh lục, có cạnh, dài khoảng 8 cm ngang 2 cm có lằn dọc theo chiều dài của củ. Lá có lằn chìm dài 36 cm ngang 4 cm mọc đôi trên đầu củ bẹ. Lá láng bóng hình dáng lưỡi thương.

Hoa nở vào cuối tháng Tư và đầu tháng Năm. Hoa đơn mọc trên đầu cọng dài 20 cm mọc giữa kẽ lá trên đầu củ bẹ non, đôi khi mọc ở kẽ củ bẹ. Hoa có cánh màu vàng chanh. Cánh trên (dorsal sepal) lớn hơn hai cánh dưới (lateral sepals) dài 6 cm, ngang 2 cm. Hai cánh bên (petals)) chỉ dài 5 cm và rộng có 0.5 cm. Lưỡi hoa màu trắng phía ngoài và vàng nâu mé trong, trên lưỡi có 4 rãnh gồ ghề có rọc vàng. Hoa có mùi thơm hắc.

Theo sách Flora’s Orchids cuả nhà xuất bản Timber Press và sách “Home Orchid Growing của Rebecca Tyson Northen cũng xác định cây lan Coelogyne lawrencianagốc từ Việt-Nam. Sách Hoa-Lan của Bùi-Xuân-Đáng cho biết loài lan này có khỏang 125 giống mọc từ Ấn-Độ qua Trung-Hoa, Việt-Nam, Thái-Lan, Mã lai. Việt-Nam có khoảng 23 giống và được gọi tên là lan Thanh-Đạm.

Lan có thể mọc ở nhiệt độ 45-50°F (hay 4.2-10°C) vào ban đêm mùa đông vùng Ấn-Độ, Miến-Điện và không quá 80°F (hay 26.6°C) vào mùa Hạ. Vậy có thể để ngay cửa sổ, tránh ánh nắng trực tiếp. Lan thích nhiệt độ từ ấm đến trung bình vào khoảng 65-55°F (hay 18.3-12.7°C) ban đêm vào mùa Đông. Ẩm độ 40-70% là lý tưởng.

Đến 85% những cây Coelogyne có thể trồng ở những vùng mát tới trung bình. Cây lan trên thuộc vùng châu Á, gió mùa như khí hậu Việt-Nam và Nam-Á Châu. Chúng tôi trồng cây này trong chậu nhựa có đường kính 16 cm (xin xem giữa hình bên). Vật liệu trồng căn bản là vỏ cây thông cỡ trung bình và perline, moss cần mau thoát nước để tránh thối rễ.

Cây có thể trồng trong hay ngoài greenhouse với điều kiện mát, ẩm.

Đặc tính: lan này không ưa thay chậu và có thể mọc chật trong chậu. Sau khi tăng trưởng, cây cần thời gian nghỉ ngơi khi lá đã rụng. Cây thích được bón phân trong thời kỳ tăng trưởng. Nên giảm tưới nước và bón phân thời gian ngủ vào mùa Đông. Nếu củ bẹ lúc này quá khô héo có thể phun sương cho đỡ kiệt sức. Nếu trồng nơi chật hẹp cần không khí luân chuyển. Lan này có thể trồng trong chậu hay máng vào thân cây (mounted) hay trồng trong rổ (hanging baskets). Cây thuộc loại dễ trồng với điều kiện vật liệu trồng phải dễ thoát nước, và thoáng khí.

Nên để cây nơi có che vào mùa Hạ và nhiều nắng vào mùa Đông.

Hiện nay cây hoa trên mới nở bói một hoa đầu tiên và tình trạng tăng trưởng tốt với 7 chồi đang nhú lên được vài phân. Điều này chứng tỏ cây Coel. lawrenceanathích hợp với khí hậu Nam California. Rất tiếc, nếu tôi không lầm, cây lan trên mang tên một ngoại nhân là Lawrence. Theo Hình Ảnh Hoa Lan Việt Nam vần C, cây lan này là một giống đặc hữu của Việt Nam moc tại Lâm Đồng, Dà lạt có tên là Thanh Đam Hoàng Long.

Những cây cùng họ như: Coel. dayana, Coel assamica, Coel. mooreana, Coel. ochracea, Coel. tomentosa, Coel. corymbosa, Coel. asperata, Coel. intermedia, Coel. velutinađược coi như đồng dạng với ít nhiều thay đổi về hình dáng và mầu sắc.

Coel. flaccida, gốc vùng núi cao Hy-Mã-lạp-sơn, hoa nở từ tháng 2 tháng 3,mùi hăng khó chịu. Hoa màu trắng hồng, lưỡi vàng chứ không nâu vàng. Hoa kết chùm dài và rũ xuống

Coel. Burfordiense (asperata x pandurata), hoa màu vàng xanh. Lưỡi hoa màu trắng, mé trên màu nâu, có mùi thơm.

Đối với những cây có hoa chùm hay có rễ chạy (rhizomes) nên trồng vào rổ treo.

Mỗi người biểu lộ lòng ái quốc một cách khác nhau. Riêng đối với người chơi lan, thủ đắc một cây lan Việt, nhất là đối với người ở hải ngoại, là một kỳ thú và hãnh diện. Lan Việt là một phần của quê hương. Ngắm cây lan mà tưởng chừng như mình đang ở núi rừng Chapa, Đà Lạt, Hòa-Bình, Lạng-Sơn. Dù xa quê ngàn trùng, một cánh hoa Việt mong manh cũng đủ sưởi ấm lòng người lữ thứ. Quê hương đang ở đây với ta.

【#10】Lan Thanh Đạm (Coelogyne) Của Việt Nam

Trong danh mục Lan Rừng Việt Nam, chúng tôi đã liệt kê ra 29 cây theo các tài liệu sách vở cũ. Nhưng theo bản danh sách số 4 của CITES năm 2006, có vài sự khác biệt. Danh mục này đã được các khoa học gia danh tiếng trên thế giới kiểm nhận lại tuy có một vài thay đổi, nhưng vẫn còn là 29 cây như sau:

Lan Thanh Đạm (Coelogyne) của Việt Nam

• Coelogyne assamicaLinden & Rachb. f.

• Coelogyne brachchypteraRachb. f.

• Coelogyne calcicolaKerr.

• Coelogyne cristataLindl. (Không mọc tại VN)

• Coelogyne ecarinataC. Schweinf (Không mọc tại VN)

• Coelogyne cumingiiLindl.

• Coelogyne dichroanthaGagnep.

• Coelogyne eberhardtiiGagnep.

• Coelogyne flaccidaLindl.

• Coelogyne filipedaGagnep.

• Coelogyne fimbriataLindl.

• Coelogyne fuescensvar. brunnea Lindl.

• Coelogyne griffithiiHook. f. (Mới)

• Coelogyne huettnerianaRachb. f. (Mới)

• Coelogyne lacteaRachb. f. (Đồng danh với Coelogyne flaccida)

• Coelogyne lawrenceanaRolfe

• Coelogyne lentiginosaLindl.

• Coelogyne lockiiAvr.

• Coelogyne malipoensisZ. H. Tsi

• Coelogyne moorenaRolfe

• Coelogyne nitida(Wall. Ex Don) Lindl. (Không mọc tại VN)

• Coelogyne ovalisLindl

• Coelogyne pallensRidl.

• Coelogyne quadratilobaGagnep. (Mới)

• Coelogyne proliferaLindl. (Không mọc tại VN)

• Coelogyne rigidaPar & Rachb. f.

• Coelogyne sanderaeKrzl.

• Coelogyne schultesiiS. K. Jain & S. Das (Mới)

• Coelogyne stricta(D. Don) Schltr.

• Coelogyne tenasserimensisSeidenf. (Mới)

• Coelogyne trinervisLindl.

• Coelogyne virescensRolfe

• Coelogyne viscosaRchb. f.

• Coelogyne verrucosaRachb. f.

Theo danh sách này chúng ta không có 4 cây:

Coelogyne cristataLindl. Vì cây này mọc ở Bhutan, China, India, Nepal, Thailand

Coelogyne ecarinataC. Schweinf, chỉ mọc tại Miến điện

Coelogyne nitida(Wall. Ex Don) Lindl. mọc tại Bangladesh, Bhutan, China, India, Laos, Myanmar, Nepal, Thailand

Coelogyne proliferaLindl. Mọc tại Bhutan, China, India, Myanmar, Nepal

Nhưng lại có thêm 5 cây đó là:

Coelogyne griffithiiHook. f.

Coelogyne huettenrianaRchb. f.

Coelogyne quadratilobaGagnep

Coelogyne schultesiiS. K. Jain & S. Das và

Coelogyne tenasserimensisSeidenf.

Quy luật về tên gọi đã ấn định rằng sẽ theo tên nào đươc công bố trước, nhưng hiện nay nhiều người vẫn còn gọi bằng tên đặt sau chỉ được coi là đồng danh (synonym)

Thí dụ:

Coelogyne assamicaLinden & Rachb. f. Đồng danh: Coelogyne annamensis(Lindl. & Rchb. f.) Rolfe, Coelogyne dalatensisGagnep., Coelogyne saigonensisGagnep.

Coelogyne lacteaRachb. f. Chỉ là đồng danh của Coelogyne flaccida

Sở dĩ có tình trang này là vì những cây lan được định danh từ trước có sự sai lầm, vì người này viết theo người kia, cho nên vấn đề nhận diện không được chính xác và phù hợp với khoa học hiện tại. Do đó chuyện nhầm lẫn và bất đồng ý kiến giữa các khoa hoc gia trên thế giới là chuyện vẫn thường xẩy ra.

Tình trạng này chỉ có thể chấm dứt khi trên thế giới có một Hàn Lâm Viện Hoa Lan và kỹ thuật nhận diện bằng DNA mới có thể chính xác được.

Coelogyne huettneriana

Hình: EF de Vogel

Trở về những cây lan Việt, chúng ta thấy có nhiều cây mới lạ xuất hiện. Những cây này thường được các thổ dân tìm được trong rừng và chưa được các nhà khoa hoc nhân diện. Trong các cây này có một số mọc ở ranh giới Trung-Việt, Lào-Việt hay Miên-Việt cho nên không thể biết chắc rằng xuất xứ ở đâu. Hơn nữa những người buôn bán thường chuyền tay từ người này sang người khác và vì muốn giữ bí mật thương mại cho nên địa điểm có lan mọc không thể nào biết rõ. Cũng có thể là lan nhập nội từ các nước lân bang sang.

Do đó các nhà khoa học không muốn bỏ thì giờ nghiên cứu những cây lan mà họ không biết rõ xuất xứ cũng như các chi tiết cần thiết để có một sự công bố rõ rệt như: tọa độ, cao độ, rừng cây, thời tiết nơi lan mọc, kích thước của thân cây, hoa lá v.v…

Chúng ta là những người chơi lan tài tử, biết rõ xuất xứ của những cây lan cũng là một yếu tố cần thiết để cho việc nuôi trồng được bảo đảm thành công. Nhưng trong bản danh sách các cây lan Thanh Đạm mới kể trên không cho biết rõ địa điểm nơi lan mọc cũng như các chi tiết ra sao. Chúng tôi đành xin thu lượm hình ảnh để tạm thời nhận diện.

Những cây Coelogne griffithii và Coelogyne quadratiloba chưa tìm được hình ảnh. Nếu quý bạn nào tìm thấy xin vui lòng cho biết. Xin thành thực cám ơn.