Lan Dendro Robert

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Lan Dendro Robert xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 20/01/2021 trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Lan Dendro Robert để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 3.168 lượt xem.

Có 12 tin bài trong chủ đề【Lan Dendro Robert】

【#1】Kỹ Thuật Trồng Lan Vanda Và Ascocenda

Vanda là giống lan do W.Jones đặt tên vào năm 1795 và được Robert Brown bổ sung sau đó. Giống này gồm khoảng 60-70 loài nguyên thủy, mọc ở Đông Nam châu Á, Trung Quốc, dãy Hymalaya… cho đến phía bắc châu Úc. Lan Vanda sống ở nhiều độ cao khác nhau nên điều kiện trồng sẽ có sự khác nhau: các loài ở đồng bằng thích khí hậu nóng trong khi các loài ở núi cao chỉ ưa nhiệt độ lạnh.

Cùng chung một nhóm với Vanda là Ascocentrum, Ascocenda lai giống giữa Asocentrum và Vanda. Cả Vanda và Ascocenda đều là một trong những loài lan được rất nhiều người yêu thích.

Kỹ thuật trồng lan Vanda và Ascocenda

được nhiều người chơi lan quan tâm và chia sẻ:

Kinh nghiêm, và Ascocendađược chia sẻ từ Vườn hoa lan: “Cách trồng các loài thuộc giống Vanda và Ascocenda”

Về phương diện thương mại, Vanda là một giống tương đối đồng nhất về dạng hoa, dạng cây và cả về điều kiện sinh thái. Hầu hết các loài thuộc giống Vanda lại là cây lan ưa nóng.

Vanda R. Brown 1820. Họ phụ Vandoiđeae Tông Vandeae.

Vanda majesticVanda là một giống lan phụ sinh của vùng nóng, có một số rất ít mọc trên đá hay trên đất. Đây là một giống có sự phân bổ rất rộng từ Trung Quốc đến Hilnalaya và trải dài từ Inđônêxia đến Niu Ghine và Bắc Úc châu. Vanda gồm hơn 45 loài được biết và trên 1.000 loài cây lai tạo thành bộ sưu tập về lan khá quan trọng.

Ở Việt Nam có 5 loài Vanda rừng được biết là: Vanda concolor, vanda liouvillei, Vanda lilacina, Vanda denisonaliana và Vanda pumila, tuy nhiên chỉ có một loài cho hoa đẹp bền là loài Vanda denisonaliana. Cả 3 loài sau đều là lan vùng mát có nhiều ở Lâm Đồng. Vanda có sự biến đồi rất lớn về tính chất thực vật và sự xuất hiện của hoa, nhưng hầu hết chúng đều là những cây lan có giá trị vì có chồi loa dài mang nhiều hoa to.

Về phương diện thương mại, Vanda là một giống tương đối đồng nhất về dạng hoa, dạng cây và cả về điều kiện sinh thái. Hầu hết các loài thuộc giống Vanda lại là cây lan ưa nóng.

1/ Nhiệt độ, ẩm độ, sự tưới nước:

Ở Việt Nam Vanda rừng là một loại lan vùng mát, nhưng các Vanda lai là một loại lai của của vùng nóng nó sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ 25ºC-30ºC, các loài Vanda cần được trồng trong vườn với độ ẩm cao, nhưng ấm độ cục bộ trong chậu phải chạc thoáng.

Cây tăng trưởng suốt năm không có mùa nghỉ vì thế không nên để cây bị khô bất cứ thời điểm nào trong năm. Bị khô hạn bất chợt sẽ gây cho cây mất ổn định về ẩm độ và hậu quả là cây bị tuột lá, yếu đi. Vì thế đối với các loài thuộc giống này ta phải tưới nước thường xuyên 2 lần/ngày từ đầu tháng 5 đến cuối tháng 11 và 3 lần/ngày từ tháng 7 đến cuối tháng 4, khoảng cách giữa các lần tưới được.

Khác với một số giống lan khác, nguyên nhân chủ yếu quyết định sự ra hoa các loài thuộc giống Vanda là điều kiện nhiệt độ. Chính vì thế các loài thuộc giống này có thể trổ hoa suốt năm. Nhưng ở thành phố Hồ Chí Minh, mùa trổ hoa nhiều nhất vẫn là mùa nắng, vào tháng 2, khi nhiệt độ trong không khí cao nhất trong năm.

Valnda là giống ưa sáng, có những loài thuộc giống này cây trổ hoa lý tưởng khi được phơi bày ra ánh sáng hoàn toàn. Vanda lá tròn, Vanda TMA và một số loài khác chỉ trổ hoa khi được trồng dưới điều kiện gần 100% ánh sáng. Tuy nhiên đa số loài chỉ càn 60% ánh sáng, tức giàn che 40% ánh sáng là đủ. Các cây lai giống giữa Vanda x Aseocentrum lại có một nhu cầu ánh sáng ít hơn, khoảng 50% ánh sáng. Do đó độ biến động về cường độ ánh sáng thay đổi tới 30.000-40.000m/m².

3/ Nhu cầu phân bón:

Vanda là một trong những giống có nhu cầu về phân bón khá cao và chúng dễ dàng sử dụng bất cứ một dạng phân bón loại nào. Đối với loài Vanda T.M.A, phân bò khô có thể là loại phân tốt, các loài khác có thể dùng phân bánh dầu phọng, nhưng hữu hiệu luôn hết vẫn là phân hóa học với công thức 3-10-10 tưới 2 ngày/lần với nồng độ 1 muỗng càphê/4 lít nước.

Sở dĩ ta dùng phân bón với chu kỳ cách nhật vì Vanda không có giả hành nên không dự trữ đựớc dưỡng liệu, ngoài ra giá thể của Vanda là giá thể thông thoáng đến mức cực đoan chỉ gồm chậu gạch nung hay giỏ gỗ với các cục than thật to. Do đó sự lưu lại của dưỡng liệu trong giá thể là không đáng kể cho việc hấp thụ của lan trong thời gian ngắn. Tốt nhất là dùng phân bón với dạng phun sương, vì loài này là loài phụ sinh và có rất nhiều rễ trên không.

4/ Cấu tạo giá thể:

Vanda là một loại lan không có mùa nghỉ, một biến cố khô hạn rất dễ làm các loài giống này rụng hết phần lá gần gốc, mà giới chơi lan Việt Nam thường gọi là “chuồn lá” . Tuy nhiên, ẩm độ cục bộ trong chậu quá cao dễ làm cho các rễ bị thối. Vì thế, cấu tạo giá thể thật thoáng cho các loài thuộc giống Vanda và Ascocenda là điều kiện bắt buộc. Việc duy trì ẩm độ ổn định là cố gắng của các nhà vườn thông qua sự tưới hàng ngày.

5/ Thay chậu và nhân giống:

Sự thay chậu các loài thuộc giống Vanda, thường chỉ do nguyên nhân duy nhất là cây phát triển quá lớn gây ra sự mất cân đối giữa cây và chậu. Việc thay chậu có thế thực hiện suốt năm nhưng đầu mùa mưa vần là thời điểm lý tưởng cho việc thay chậu. Cách nhân giống tương tự Hồ điệp.

Khoảng 3 tháng 1 lần, ta phun một dung dịch ANA với nồng độ 0,1 phần triệu (ppm) để kích thích sự mọc rễ. Bạn cứ nhớ rằng, đối với loài Vanda, mỗi lần bạn phun kích thích tố rễ sẽ mọc tang lên 1 bậc. Như vậy, sau một thời gian cây lan Vanda sẽ có một bộ rễ thật mạnh đủ đáp ứng các yêu cầu cần thiết.

6/ Sâu bệnh:

Vanda thường bị loài rệp dính màu vàng tán công, chúng thường nằm trên bề mặt lá. loại này cũng thường hút nhựa các lá của giống Dendrobiunl, cách trừ cũng là các loại thuốc sát trùng, serpa phun sương lên lá. Bệnh thối đọt tỏ ra nguy hiểm cho các loài thuộc giống Vanda, khi có hiện tượng này xảy ra, bạn phả cẩn thận dùng kéo cắt bỏ đọt lan, sau đó bôi vôi hoặc Vađơlin + tan vào vết cắt, phần ngọn được khử trùng trước khi sử dụng để cắt cây lan khác. Nếu không bệnh sẽ lan truyền trong toàn bộ vườn lan. Tốt nhất nên ngừa bệnh thường xuyên bằng cách phun các loại thuốc ngừa nấm Topsil, Zineb, Benomyl nồng độ 1/400, nửa tháng 1 lần.

Kỹ thuật trồng lan Vanda và Ascocenda Trồng trọt, Kỹ thuật trồng, Cây giống, Giống cây hoa cảnh, Giống cây hoa Lan

Đăng bởi Mai Tâm

Tags: cách chăm sóc Vân lan, cách trồng Vân lan, Kỹ thuật trồng lan Vanda, kỹ thuật trồng Vân lan, trồng hoa vân lan


【#2】Tìm Hiểu Lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc Hình Ảnh Hoa & Cách Trồng

Thanh Đạm Tuyết Ngọc, Cam Đạm

Coelogyne moorena, Rolfe, Sander 1907

Đồng danh: Coelogyne mooreana f. alba Roeth & O, Gruss 2001; Coelogyne psectrantha, Gagnep 1930

Mô tả lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc

Thanh Đạm Tuyết Ngọc là một cây đặc hữu của Việt Nam, thường mọc ở Đà Lạt, Nha Trang và Quảng Trị, trên cao độ khoảng 1300 m. Wilhelm Micholitz đã tìm thấy ở ngọn núi Langbian, gần Đà Lạt và gửi về cho Sander và người con tại St. Albans, Anh quốc. Cây lan này nở hoa và đoạt giải nhất của Hòang gia (FCC/RHS) vào năm 1905. Frederick Sander đặt tên Coelogyne moorena để vinh danh F. W. Moore, Giám đốc vườn thảo mộc Glasnevin tại Dublin. Robert Rolfe là người đã mô tả cây lan này trên thông tri của viện thảo mộc Kew, Anh quốc vào năm 1907 với tên Coelogyne mooreana ‘Brockhurst’. Điều lạ lùng nhất là cây lan đẹp và dễ trồng như vậy mà mãi đến năm 1972 nguyệt san Orchid của Hội Hoa Lan Hoa Kỳ và tờ Orchid Digest mới có hình ảnh của cây lan này.

mọc từng cụm. Củ cao 5-7 cm có 2 chiếc lá mềm, xanh bóng dài từ 30- 40 cm, rộng 2.5- 3.5 cm. Dò hoa mọc từ giữa mầm non, lên thẳng cao 25-40 cm mang theo 4-8 hoa ngang từ 6-10 cm. Hoa trắng nhị vàng cam có hương thơm, nở vào mùa xuân.

Điều kiện sinh sống lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc

Mùa hè, ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm vào khoảng 62°F hay 17°C với sự cách biệt giữa ngày và đêm từ 10-14°F hay 6-8°C

Mùa đông ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm 53-55°F hay 12-13°C với sự cách biệt từ 23-25°F hay 13-14°C.

Từ 1500-2000 ánh nến (fc) tức là phải để ở chỗ rợp mát từ mùa xuân cho đến mùa thu. Tại môi trường thiên nhiên, mùa đông là mùa cây lan có nhiều ánh nắng hơn, bởi vì các cây cối chung quanh đã bị rụng lá.

Mùa hè lan cần độ ẩm thật cao từ 70-80%, mùa đông có thể hạ xuống 40-50%

Lan cần phải thật thoáng gió nếu không sẽ dễ bị nhiễm bệnh.

Cách trồng lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc

Tại Việt Nam, suốt mùa mưa từ tháng 4-6 cây lan lúc nào cũng ướt đẫm và lại rất khô vào mùa đông. Theo quy luật chung, tưới nhiều khi cây non mọc và bớt tưới vào mùa thu khi cây đã ngưng tăng trưởng. Mùa đông chỉ tưới sơ qua hoặc phun nước vào buổi sáng. Khi thấy củ bị nhăn nheo hay lá bị héo, đó là dấu hiệu của sự thiếu nước và thiếu độ ẩm. Trái lại nếu củ lúc nào cũng mập tròn sẽ không ra hoa.

Đừng bao giờ để lan bị khô rễ vào mùa hè và mùa xuân bắt đầu tưới trở lai khi thấy mọc rễ mới hay ra mầm non.

Bón phân 30-10-10 với dung lượng ¼-½ thìa cà phê cho 4 lít nước và đổi sang 10-30-20 khi bắt đầu mùa thu, hay có thể dùng phân 15-15-15 quanh năm với liều lượng như trên. Lan không ưa bị đọng muối trong chậu, cho nên mỗi tháng cần xả nước một lần cho sạch, tức là tưới như thường lệ và 1-2 giờ sau tưới thêm một lần nữa, rồi mới bón phân. Khi cây mọc mạnh bón mỗi tuần một lần, khi cây ngưng tăng trưởng bón mỗi tháng một lần.

VẬT LIỆU TRỒNG

Các nhà vườn, thường trồng lan Thanh Đạm và nhiều giống lan khác với rêu (sphagnum moss) để bớt phải tưới nước. Loai rêu này chóng mục nên phải thay chậu tối thiểu 2 năm một lần. Nên nhớ: Thanh Đạm không ưa bị đụng chạm đến bộ rễ và chỉ nên thay chậu khi rễ bắt đầu mọc. Nhiều người trồng rất thành công với vật liệu như sau:

70% rễ cây dương sỉ (tree fern), 10% than vụn, 10% đá bọt (perlite), 10% rêu vụn (sphagnum moss).

Kể từ khi mượn được cuốn Orchids of Indochina do nhà ngoại giao và chuyên gia về hoa lan Gunnar Seidenfaden viết, tôi say mê tìm hiểu về những cây hoa lan của Việt nam.

Vào khoảng năm 1992-1993 sách vở về hoa lan Việt Nam quá hiếm, Internet chưa mấy phổ thông, muốn có cuốn sách kể trên phải mua với gần 500 US$ tại Anh Quốc. Hỏi mượn, thư viện thành phố Yorba Linda không có. Người quản thủ nói nếu muốn, họ có thể mượn ở nơi khác, nhưng phải trả trước 18$ cước phí. Hơn một tuần sau điện thoại cho biết sách đã về và phải trả lại trong vòng một tháng. Muốn có cuốn sách quý trong tay, tôi không ngần ngại mang ngay ra tiệm chuyên sao chép lai các văn bản (photo copy). Nhân viên họ không nhận làm việc này, nhưng chỉ cho tôi cách xử dụng máy để có thể in 2 trang vào một tờ giấy lớn khổ 11×17″. Tôi phải đứng hơn 2 giờ và phải trả mất gần 60$ mới sao được 502 trang sách. Mang tập giấy dầy cộm về tôi mất thêm gần 2 giờ để gấp giấy và đục lỗ sau đó bỏ vào 2 tập bìa cứng.

Khi mở sách ra, tình cờ tôi mở đúng trang 113 và 114 với hình vẽ cây lan Coelogyne moorena với giòng chữ phía dưới Distribution: Endemic (Đặc hữu). Tìm hiểu về cây lan này chỉ thấy những giòng chữ viết tắt cho biết là theo tài liệu của Kew 1907-1910, Ridley 1921, Gagnepain 1934, Guillamin 1958, Seidenfaden 1975, Ban & Huyen 1983, Averyanov 1988-1990. Cây lan này có đồng danh là Coelogyne psectrantha và Coelogyne sandriana. và những địa danh đã tìm thấy cây lan như: Langbian, Đà Lạt, Nha Trang, Quảng Trị.

Căn cứ vào những điều ghi trong cuốn sách, tôi lập một danh sách các cây lan Việt Nam và bắt đầu sưu tập những cây lan này. Cây lan Việt đầu tiên mua được là cây Dendrobium chrysotoxum, nhưng cây này các nước ở Á Châu đều có cả.

Khoảng năm 1999 tại hội lan quốc tế Fascination of Orchid International, tại South Coast Plaza một gian hàng của người Việt: anh chị Tấn, có bán một cây lan hoa trắng, trồng trong một chậu nhỏ 4″ (10 cm). Thấy cây lan lạ, tôi vội cầm lên xem, bảng tên ghi: Coel. mooreana “Westonbirt” FCC/RHS. Đúng là cây lan của quê hương rồi. Thấy giá tiền đề 40$, không ngần ngừ tôi móc tiền ra trả, nhưng chị Tấn nói:

Nếu là cây lan Việt nam, cháu xin tặng bác.

Tôi thể không nhận như vậy được và sau một hồi đưa đi, đẩy lại chị Tấn đành nhận số tiền nhưng có vẻ không vui:

Có bao nhiêu đâu mà bác phải quan tâm như vậy.

Theo McAllen Orchid Society (MIOS Journal) HG Alexander một người trồng lan cho công tước George Holford, Westonbirt, Gloucestershire, Anh Quốc đã mang cây lan với tên Coelogyne mooreana “Westonbirst” dự thí và đoạt giải CCC/RHS vào năm 1908. Nhưng cũng có tin trên net năm 1908, cây lan Coelogyne moerana “Westonbirst” lại thắng giải FCC/ RHS. Không biết tin này có phải là một sự nhầm lẫn hay không?

Cây lan tôi mua được, chỉ nở hoa vào năm đó và chẳng bao giờ ra nụ, đơm bông, cũng không hề tăng truởng dù rằng đã 10 năm qua bởi vì Placentia, nơi tôi cư ngụ mùa hè quá nóng trung bình là 90-95°F (32-35°C). Củ già teo dần, củ mới càng ngày càng nhỏ, tuy vậy tôi vẫn còn cố giữ dù sao cũng là kỷ vật của cố hương.

Năm 2008 tại Hội Hoa Lan quốc tế Fascination of International Orchid Show, Costa Mesa có một gian hàng có bầy bán một số chậu lan Thanh Đạm Tuyết Ngoc Coelogyne mooreana “Brockhurst” FCC/RHS tuyệt đẹp với giá 80-90$ một chậu 6″ (12.5 cm) và 120-140$ một chậu 8″ (20 cm). Những chùm hoa trắng tinh như tuyết, nhị vàng cam tươi sáng, hương thơm phảng phất quen thuộc như mùi hoa dành dành (gardenia) thực là quyến rũ. Khi biết đó là cây lan đặc hữu của quê hương, các hội viên Hội hoa lan người Việt đua nhau mua cho bằng hết.

Có một điều đáng chú ý là các sách vở tài liệu đều nói là cây lan này chỉ nở hoa vào mùa Xuân và đầu mùa Hạ, nhưng tại quận Cam Hoa Kỳ những cây lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc liên tiếp nở hoa từ tháng 2 dương lịch cho đến tháng 12 cuối năm nên luôn luôn có mặt trên bàn triển lãm hàng tháng và thường thắng giải Lan Việt Đẹp Nhất trong tháng.

Năm 2008 tôi cũng mua một cây Coelogyne “Brockhurst” FCC/RHS, bạn hàng để cho với giá đặc biệt 100$ một chậu 8″ (20 cm) với 7 cành hoa vừa mãn khai và 5 chùm hoa còn đương phong nhuỵ. Nhưng số phận cây lan này cũng như số phận hẩm hiu của cây Coelogyne mooreana “Westonbirst”. Sau khi hoa tàn nhị rữa, lá cây đốm vàng, đầu lá cháy nâu, củ teo lại, mầm mới vừa nẩy ra đã bị những trận cuồng phong Santa Ana đem theo hơi nóng từ sa mac Mojave đổ về, sau đó mùa hè đổ xuống vùng Placentia những cơn nóng như lửa đốt cho nên cây lan của tôi tuy không chết nhưng chẳng ra hoa.

Nhưng tôi chắc chắn rằng cây lan này sẽ tồn tại trên đất Hoa Kỳ, bởi vì ngoài những vườn lan thương mại còn có khá nhiều hội viên Hội Hoa Lan Việt Nam đã biết cách nuôi trồng. Những người này hiện cư ngụ tại các thành phố chung quanh vùng Tiểu Saigon, nơi này gần biển cho nên vào mùa hè khí hậu mát mẻ ít khi lên tới 90°F (32°F) rất khá thích hợp với loài lan như Coelogyne, Cymbidium vốn xuất xứ từ núi Lâm Viên (Langbian) tại miền cao nguyên Đà Lạt.

Bằng chứng là trong cuộc triển lãm Ocean Orchids Show tại Westminster Mall ngày 28-29-30 tháng 1-2011 vừa qua, cây Thanh Đạm Tuyết Ngọc Coelogyne moorenea của bà Nguyễn Trần Ngữ lại đoạt giải danh dự trong cuộc thi này.

2-2011, BÙI XUÂN ĐÁNG, hoalanvietnam.org

Tìm hiểu về lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc; chúng tôi tổng hợp


【#3】Nghiên Cứu Nhân Giống In Vitro Lan Hoàng Thảo Phi Điệp Tím (Dendrobium Anosmum

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THU HƢỜNG

NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO

LAN HOÀNG THẢO PHI ĐIỆP TÍM

(DENDROBIUM ASOMUM LINDL.)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC ỨNG DỤNG

THÁI NGUYÊN – 2021

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

NGUYỄN THU HƢỜNG

NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO

LAN HOÀNG THẢO PHI ĐIỆP TÍM

(DENDROBIUM ASOMUM LINDL.)

Chuyên ngành: Công nghệ Sinh học

Mã số: 60.42.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC ỨNG DỤNG

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Hải Yến

THÁI NGUYÊN – 2021

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi thực hiện dưới

sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Hải Yến. Mọi trích dẫn trong luận văn đều

ghi rõ nguồn gốc. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực

và chưa từng có ai công bố trong một công trình nào khác.

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2021

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Hƣờng

ii

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS.

Nguyễn Thị Hải Yến, Giảng viên Khoa Khoa học Sự sống, Trường Đại học

Khoa học Thái Nguyên, người đã trực tiếp hướng dẫn tận tình chu đáo và tạo

mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này.

Đồng thời, tôi xin được cảm ơn các thầy, cô giáo và các cán bộ kỹ thuật

viên Phòng thí nghiệm Sinh học của Khoa Khoa học Sự sống đã tạo điều kiện

về thời gian cũng như cơ sở vật chất cho tôi trong suốt quá trình học tập và

làm luận văn thạc sĩ.

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè cùng tất cả các thầy cô luôn

luôn động viên, khuyến khích và giúp đỡ tôi trong tiến trình tôi học tập và làm

luận văn này.

Trong quá trình làm luận văn không tránh khỏi những sai sót, tôi mong

nhận được sự đóng góp quý báu từ phía thầy cô và bạn bè để tôi có thể có

được kết quả tốt hơn.

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2021

Tác giả luận văn

Nguyễn Thu Hƣờng

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN …………………………………………………………………………………. i

LỜI CẢM ƠN ……………………………………………………………………………………… ii

MỤC LỤC ………………………………………………………………………………………….. iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU …………………………………………… v

DANH MỤC CÁC BẢNG……………………………………………………………………. vi

DANH MỤC CÁC HÌNH ……………………………………………………………………. vii

MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………………………………. 1

1. Đặt vấn đề………………………………………………………………………………………… 1

2. Mục tiêu nghiên cứu ………………………………………………………………………….. 2

3. Nội dung nghiên cứu …………………………………………………………………………. 2

Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU …………………………………………………… 3

1.1. Giới thiệu chung về phong lan …………………………………………………………. 3

1.1.1. Chi lan Hoàng thảo (Dendrobium)…………………………………………………. 4

1.1.2. Lan Hoàng thảo phi điệp tím (Dendrobium anosmum Lindl.) …………… 7

1.1.3. Các phương pháp nhân giống trên cây lan ………………………………………. 9

1.2. Sơ lược về nuôi cấy mô tế bào thực vật …………………………………………… 10

1.2.1. Các hướng nghiên cứu ứng dụng và ưu thế của kĩ thuật nuôi cấy

mô – tế bào …………………………………………………………………………………………. 10

1.2.2. Các phương thức nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống vô tính ……….. 11

1.2.3. Các giai đoạn của nhân giống in vitro…………………………………………… 12

1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi cấy mô ………………………….. 13

1.3. Một số nghiên cứu nhân giống in vitro lan Dendrobium ……………………. 14

1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ……………………………………………….. 15

1.3.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam ……………………………………………… 16

Chƣơng 2:

…………….. 18

2.1. Vật liệu ……………………………………………………………………………………….. 18

………………………………………………………………………… 18

2.1.2. Dụng cụ và hóa chất …………………………………………………………………… 18

iv

2.1.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu………………………………………………… 19

2.2. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………………………….. 19

2.2.1. Phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật …………………………………….. 19

2.2.2. Chuẩn bị môi trường nuôi cấy……………………………………………………… 20

2.2.3. Chuẩn bị một số thành phần bổ sung vào môi trường nuôi cấy ……….. 21

2.2.4. Chuẩn bị giá thể và ra cây …………………………………………………………… 21

2.2.5. Điều kiện nuôi cấy in vitro ………………………………………………………….. 21

2.2.6. Bố trí thí nghiệm ……………………………………………………………………….. 21

2.2.7. Các chỉ tiêu theo dõi …………………………………………………………………… 24

2.2.8. Xử lý số liệu ……………………………………………………………………………… 24

Chƣơng 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN …………………………………………… 25

3.1. Kết quả khử trùng mẫu đưa vào nuôi cấy ………………………………………… 25

3.1.1. Kết quả khử trùng mẫu hạt phong lan …………………………………………… 25

3.2. Kết quả tái sinh chồi ……………………………………………………………………… 26

3.2.1. Kết quả tái sinh chồi từ hạt lan Hoàng thảo phi điệp tím ………………… 26

3.2.2. Kết quả nhân chồi từ protocorm lan Hoàng thảo phi điệp tím …………. 28

3.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số kích thích sinh trưởng nhóm

Cytokinin đến sự nhân nhanh cụm chồi lan Hoàng thảo phi điệp tím ………… 29

3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng khoai tây và chuối xanh đến

sự nhân nhanh lan Hoàng thảo phi điệp tím (Dendrobium Anosmum

Lindl.) ……………………………………………………………………………………………….. 33

3.5. Nghiên cứu ảnh hưởng α – NAA đến khả năng ra rễ Hoàng thảo phi

điệp tím ……………………………………………………………………………………………… 35

3.6. Ảnh hưởng chế phẩm dinh dưỡng đến sinh trưởng và phát triển của

cây lan sau khi ra chai trồng trong bầu ………………………………………………….. 37

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ……………………………………………………………. 40

1. Kết luận …………………………………………………………………………………………. 40

2. Kiến nghị ……………………………………………………………………………………….. 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………. 41

v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Chữ viết đủ

ABA

Abscisic acid

ADN

Acid deoxyribonucleic

APG III

Angiosperm Phylogeny Group III

B1

Thiamine

B2

Riboflavin

BAP

6 – Benzyl adenin purine

ĐC

Đối chứng

EAC

Ehrlich ascites cells

GA3

Gibberellic acid

IAA

Indol – 3 – acetic acid

IBA

Indol – 3 – butyric acid

Kinetin

6 – furfurryl – aminopurin

KTST

Kích thích sinh trưởng

MS

Murashige and Skoog

PM

Phytamax

RE

Robert Ernst

THT

Than hoạt tính

VW

Vacin Went

USA

United States of America

2,4 – Dichlorophenoxy acetic acid

α – Naphthalene acetic acid

CT

Công thức

TG

Thời gian

KT

Khử trùng

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1. Kết quả khử trùng hạt lan Hoàng thảo phi điệp tím bằng

HgCl2 0,1% …………………………………………………………………………. 25

Bảng 3.2. Kết quả protocorm phát sinh từ hạt Hoàng thảo phi điệp tím …….. 27

Bảng 3.3. Kết quả nhân chồi từ protocorm loài lan Hoàng thảo phi điệp

tím sau 50 ngày cấy chuyển …………………………………………………… 29

Bảng 3.4. Ảnh hưởng của nhóm Cytokinin đến sự nhân nhanh chồi lan

Hoàng thảo phi điệp tím………………………………………………………… 30

Bảng 3.5. Ảnh hưởng của hàm lượng chuối xanh và khoai tây nghiền

đến sự nhân nhanh cụm chồi lan Hoàng thảo phi điệp tím sau

30 ngày ……………………………………………………………………………….. 34

Bảng 3.6. Ảnh hưởng của α – NAA đến khả năng tạo rễ của lan Hoàng

thảo phi điệp tím ………………………………………………………………….. 36

Bảng 3.7. Ảnh hưởng chế phẩm dinh dưỡng đến sự sinh trưởng phát

triển của cây ………………………………………………………………………… 38

vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1. Hoa và cây phong lan Hoàng thảo phi điệp tím ………………………….. 9

Hình 2.1. Quả loài lan Hoàng thảo phi điệp tím ……………………………………… 20

Hình 3.1. Hạt Hoàng thảo phi điệp tím nảy mầm trên môi trường MS

chứa 2,0 mg/l BAP sau 30 ngày nuôi cấy ………………………………… 26

Hình 3.2. Protocorm của lan Hoàng thảo phi điệp tím được tạo thành từ

hạt trên môi trường MS chứa 2,0 mg/l BAP …………………………….. 27

Hình 3.3. Chồi phát sinh từ protocorm trên môi trường MS chứa 1,5 mg/l BAP …. 29

Hình 3.4. Ảnh hưởng của BAP và kinetin tới sự nhân nhanh cụm chồi

lan Hoàng thảo phi điệp tím sau 60 ngày ………………………………… 33

Hình 3.5. Ảnh hưởng của chuối xanh và khoai tây lên sự nhân nhanh

cụm chồi lan Hoàng thảo phi điệp tím sau 60 ngày …………………… 35

Hình 3.6. Ảnh hưởng của α – NAA đến khả năng tạo rễ của lan sau 30 ngày…. 37

Hình 3.7. So sánh sự ảnh hưởng từ chế độ tưới ½ MS tới sinh trưởng và

phát triển của cây lan con so với đối chứng sau 60 ngày …………… 38

1

MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề

Ngày nay, hoa cảnh không những đóng vai trò quan trọng trong đời

sống tinh thần mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến tâm hồn con người và làm đẹp

cho cảnh quan môi trường. Do đó, quan tâm phát triển hoa cảnh là vấn đề cần

thiết. Hoa lan là một trong những loại hoa được ưa chuộng nhất vì hình dáng,

màu sắc, kích thước phong phú, đa dạng nên chúng được trồng, sản xuất khá

phổ biến và đã trở thành một mặt hàng có giá trị trong kinh doanh, xuất khẩu

trên thế giới. Các nước có ngành nuôi trồng hoa lan phát triển, hàng năm kim

ngạch xuất khẩu lên đến hàng trăm triệu USD ,

Nhóm thứ hai có đặc điểm là các giả hành buông thõng xuống, mang

nhiều lá xanh hai bên, hoa mọc thành từng chùm hoặc từng hoa như:

Dendrobium anosmum, Dendrobium aphyllum…

Nhóm thứ ba có đặc điểm là hoa mọc ở đỉnh, buông thõng xuống và có

5

mùi thơm như: Dendrobium farmeri, Dendrobium chrysotoxum…

Nhóm thứ tư có đặc điểm là chùm hoa mọc thẳng đứng, màu xanh hoặc

màu vàng như: Dendrobium atroviolaceum, Dendrobium spetabile…

Nhóm thứ năm có đặc điểm là giả hành mọc thẳng đứng có một lớp

lông bao phủ như: Dendrobium draconis, Dendrobium formosum….

1.1.1.2. Các điều kiện cơ bản để nuôi trồng lan Dendrobium

Ánh sáng: Lan cần nhiều ánh sáng gần như có thể để ở ngoài trời

nhưng cần phải có lưới che phòng khi lá non bị cháy nắng. Khi thấy cây quặt

quẹo, đó là dấu hiệu thiếu nắng, nếu thiếu nắng cây khó ra hoa.

Nhiệt độ: Lan cần nuôi trong nhiệt độ từ 8 – 25°C tuy nhiên lan có thể

chịu nóng tới 38°C và có thể chịu lạnh tới 3,3°C. Ngoài ra nếu vào mùa đông

lạnh dưới 15,6°C trong vòng 4 – 6 tuần lan sẽ khó ra nụ.

Độ ẩm và thoáng gió: Lan mọc mạnh nếu độ ẩm từ 60 – 70%. Nếu độ

ẩm quá thấp cây non sẽ không lớn được và bị teo đi. Cây cũng không mọc

mạnh nếu không thoáng gió và trong thời kỳ lan ra nụ nếu không thoáng gió

nụ sẽ ít đi.

Giá thể: Với một số loài lan trồng không cần dùng đến giá thể vẫn sinh

trưởng tốt, nhưng nếu môi trường sống có giá thể vẫn tốt hơn. Giá thể của lan

gồm những thứ dễ kiếm, có sẵn trong tự nhiên. Những chất liệu này không

6

phải vùng nào cũng giống nhau và chúng được chọn tùy theo điều kiện ngoại

cảnh, nhân lực, loài lan và quy mô sản xuất. Những loại giá thể thường sử

dụng như vỏ thông, vỏ dừa, rêu…

Tưới nước: Vào mùa hè khi lan ra mầm non và mọc mạnh, tưới 2 – 3

lần một tuần. Vào mùa thu, khi cây đã ngừng tăng trưởng nên tưới nước thưa

đi, mỗi tuần chỉ cần tưới 1 lần cho thân cây khỏi bị teo lại. Vào mùa đông,

đây là thời gian lan chuẩn bị để ra hoa, ngưng hẳn việc tưới nước. Nếu độ ẩm

quá thấp nên phun sương mỗi tháng 1 – 2 lần .

Bệnh đốm lá: Do nấm Cercospora gây nên, bệnh thường phát sinh

mạnh trên cây lan Dendrobium, gây hại trong mùa mưa ở những vườn lan có

độ ẩm cao, phòng trừ bằng các thuốc diệt nấm như Carboxin 1/2000; Zineb

3/2000; Benlat 1/2000 .

Bệnh thối mềm vi khuẩn: Do vi khuẩn Pseudomonas gladioli gây ra.

Vết bệnh có hình dạng bất định, ủng nước, màu trắng đục, thường lan rộng

theo chiều rộng của lá. Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bị thối úng, thời tiết khô

hanh mô bệnh khô tóp có màu trắng xám .

Sâu hại lan: Rệp vảy thường bám trên các thân giả hành còn non,

phòng trị bằng cách dùng bàn chải chà xát rồi phun dung dịch thuốc

Malathion 50 pha loãng; Bọ trĩ gây hại chủ yếu trong mùa nắng, dùng

Malathion 5 mg/bình 4 lít nước, phun 1lần / tuần, phun liên tiếp liên tục trong

3 tuần .

1.1.2.2. Đặc điểm sinh học

– Rễ của Hoàng thảo phi điệp tím thuộc loại rễ bì sinh, xung quanh rễ

thật được bao bọc bởi một lớp mô xốp giúp cây dễ dàng hút nước, muối

8

khoáng và ngăn chặn ánh sáng mặt trời gay gắt. Chóp rễ có màu xanh lá cây,

ở phần rễ có các sắc lạp không bị ngăn bởi mô xốp nên có thể giúp cây

quang hợp.

– Thân của Hoàng thảo phi điệp tím thuộc nhóm lan thân có giả hành.

Giả hành chứa diệp lục, dự trữ nước và chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát

triển của giả hành mới. Cấu tạo của giả hành gồm nhiều mô mềm chứa đầy

dịch nhầy, phía ngoài có lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ để

tránh sự mất nước do mặt trời hun nóng. Củ giả hành có màu xanh bóng nên

cùng với lá nó cũng làm nhiệm vụ quang hợp , .

Hình 1.1. Hoa và cây phong lan Hoàng thảo phi điệp tím

1.1.3. Các phương pháp nhân giống trên cây lan

1.1.3.1. Các phương pháp nhân giống truyền thống

Nhân giống vô tính

Tách bụi: Phương pháp này dùng để tách các chậu lan quá đầy, đồng

thời làm tăng số lượng cây mới. Các giả hành già được tách ra khi hoa đã tàn

và chỉ tách khi đã trồng được từ 2 – 3 năm. Giả hành già được ươm lại trên giá

thể ẩm để tạo chồi con, các chồi con được nuôi cùng với giả hành cho đến lúc

đã tạo ra rễ mới, đủ sức phát triển mới tách lần thứ hai, từ một giả hành có thể

cho mỗi đợt 1 – 2 cây con .

Nhân giống in vitro

Ngày nay với công nghệ nhân giống in vitro, từ một quả lan có thể tạo

ra từ vài nghìn đến hàng triệu cây con ổn định về mặt di truyền, đồng thời có

chất lượng tốt và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

1.2. Sơ lƣợc về nuôi cấy mô tế bào thực vật

1.2.1. Các hướng nghiên cứu ứng dụng và ưu thế của kĩ thuật nuôi cấy mô

– tế bào

Nhân giống in vitro là một trong những ứng dụng chính của công nghệ

tế bào thực vật, sử dụng môi trường nhân tạo để nhân đỉnh sinh trưởng hoặc

các mô phân sinh trong cây.

Vì vậy, nuôi cấy mô – tế bào đã mang lại hiệu quả hết sức to lớn nhờ có

các ưu thế, đó là: (1) Hệ số nhân giống cao rút ngắn thời gian đưa con giống vào

sản xuất. Trong phần lớn các trường hợp công nghệ nuôi cấy mô tế bào đảm bảo

tốc độ nhân nhanh, từ một cây trong vòng 1 – 2 năm có thể tạo thành hàng triệu

cây; (2) Nhân được một số lượng cây lớn trong một diện tích nhỏ; (3) Làm sạch

bệnh cây trồng và cách ly chúng với các nguồn bệnh; (4) Thuận tiện việc vận

chuyển và bảo quản; (5) Sản xuất quanh năm, quy trình sản xuất có thể được vận

hành trong bất cứ thời gian nào trong ngày, mùa nào trong năm.

1.2.2. Các phương thức nuôi cấy mô tế bào trong nhân giống vô tính

Nuôi cấy mô phân sinh hoặc đỉnh sinh trưởng: Ở lan có sự phát triển

cùng một lúc đỉnh sinh trưởng tạo hàng loạt protocrom sau đó tiếp tục phân

chia cho ra các protocrom mới hay các chồi mới tạo thành cây hoàn chỉnh.

Tái sinh cây hoàn chỉnh từ các bộ phận khác của cây: Ngoài mô phân

sinh và đỉnh sinh trưởng là bộ phận dễ nuôi cấy thành công, các bộ phận còn lại

của một cơ thể thực vật đều có thể ứng dụng cho nuôi cấy mô – tế bào như các

đoạn thân, cuống lá, các bộ phận của hoa, nhánh củ…

Nhân giống qua giai đoạn mô sẹo: Trong khuôn khổ mục đích nhân

giống vô tính, nếu tái sinh được cây hoàn chỉnh trực tiếp từ mẫu cấy ban đầu thì

không những nhanh chóng thu được cây mà các cây cũng khá đồng nhất về mặt

di truyền.

12

1.2.3. Các giai đoạn của nhân giống in vitro

Giai đoạn 1: Khử trùng mô nuôi cấy

Đây là giai đoạn tối quan trọng quyết định toàn bộ quá trình nhân giống

in vitro. Mục đích của giai đoạn này là phải tạo ra được nguyên liệu vô trùng

để đưa vào nuôi cấy in vitro .

Giai đoạn 2: Tái sinh mẫu nuôi cấy

Mục đích của giai đoạn này là tái sinh một cách định hướng các mô

nuôi cấy. Quá trình này được điều khiển chủ yếu dựa vào tỉ lệ của các hợp

chất auxin, cytokynin ngoại sinh đưa vào môi trường nuôi cấy .

Giai đoạn 3: Nhân nhanh

Giai đoạn này được coi là giai đoạn then chốt của quá trình. Để tăng hệ

số nhân, ta thường đưa thêm vào môi trường dinh dưỡng nhân tạo các chất

điều hoà sinh trưởng (auxin, cytokynin, gibberellin…), các chất bổ sung khác

như nước dừa, dịch chiết nấm men,… kết hợp với các yếu tố nhiệt độ, ánh

sáng thích hợp .

Giai đoạn 4: Tạo cây hoàn chỉnh

Khi đạt được kích thước nhất định, các chồi được chuyển từ môi trường

ở giai đoạn 3 sang môi trường tạo rễ. Thường 2 – 3 tuần, từ những chồi riêng

l này sẽ xuất hiện rễ và trở thành cây hoàn chỉnh. Ở giai đoạn này người ta

thường bổ sung vào môi trường nuôi cấy các auxin là nhóm hormon thực vật

quan trọng có chức năng tạo rễ phụ từ mô nuôi cấy .

Giai đoạn 5: Đưa cây ra giá thể

Giai đoạn đưa cây hoàn chỉnh từ ống nghiệm ra ngoài môi trường l

bước cuối cùng của quá trình nhân giống in vitro và là bước quyết định khả

năng ứng dụng quá trình này trong thực tiễn sản xuất. Đây là giai đoạn

chuyển cây con in vitro từ trạng thái sống dị dưỡng sang sống hoàn toàn tự

dưỡng, do đó phải đảm bảo các điều kiện ngoại cảnh phù hợp để cây con đạt

tỉ lệ sống cao trong vườn ươm cũng như ruộng sản xuất .

13

1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình nuôi cấy mô

Mô nuôi cấy:

Mỗi tế bào ở mỗi mô khác nhau có khả năng tạo mô sẹo, phân hóa

thành rễ, thân, cành, lá… rất khác nhau. Việc chọn mẫu thực vật để sử dụng

trong quá trình nuôi cấy có vai trò quyết định nếu chọn sai mẫu chúng ta sẽ

không thu nhận được kết quả hoặc thu được những cây sẽ không phát triển

mạnh, thậm chí cây có thể ngừng phát triển ở một giai đoạn nhất định.

Điều kiện vô trùng:

Môi trường nuôi cấy mô thực vật có các thành phần thích hợp cho các

loại nấm, vi khuẩn phát triển. Vì vậy, điều kiện tiên quyết là phải đảm bảo

nguyên tắc vô trùng cho mẫu cấy, môi trường cấy và các trang thiết bị liên

quan trong suốt quá trình nuôi cấy, tất cả các thao tác nuôi cấy, cấy chuyển…

cũng phải thực hiện trong điều kiệ

1].

Ảnh hưởng của môi trường dinh dưỡng:

Nguồn cacbon: Nguồ

đường sucrose,

glucose, maltose, galactose. Cung cấp năng lượng cho nuôi cấy đồng thời

đóng vai trò duy trì áp suất thẩm thấu của môi trường .

Thành phần khoáng: Các nguyên tố đa lượng như: N, P, S, K, Mg,

Ca… được sử dụng ở nồng độ trên 30 mg/l và thường tồn tại dưới các dạng

muối NH4+, NaH2PO4, KNO3, KCl… Các nguyên tố vi lượng như: Mn, Bo,

Zn, Cu, Ni… được cung cấp với hàm lượng nhỏ hơn 30 mg/l .

Vitamin: Để cây phát triển được tối ưu ta cần bổ sung từ bên ngoài các

vitamin như: Vitamin B1, B2; myo-inositol; biotin; pantothenic acid…

Nước: Nước là thành phần quan trọ

ấy, nó

chiếm khoảng 95% trong môi trường dinh dưỡng.

Agar: Hàm lượng agar thường dùng cho môi trường nuôi cấy dao động

từ 0,6 – 1,0% theo khối lượng.

Than hoạt tính: Nồng độ sử dụng thường là từ 0,2 – 3%. Than hoạ

14

hấp thụ độc tố nâu/đen và các độc tố không màu khác; hấp thụ

các hợp chất hữu cơ khác (auxin, cytokinin, ethylene, vitamin…); thúc đẩy sự

tạo phôi soma, ổn định độ pH .

Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật:

Là thành phần không thể thiếu trong môi trường nuôi cấy, có vai trò

quan trọng trong quá trình phát sinh hình thái thực vật in vitro. Hiệu quả tác

động của chất điều hoà sinh trưởng phụ thuộc vào: nồng độ sử dụng, hoạt tính

vốn có của chúng và nguồn gốc mô cấy…

Chất điều hoà sinh trưởng (phytohormon) được chia làm hai nhóm chất

có tác dụng đối kháng về sinh lý đó là: nhóm chất kích thích sinh trưởng và

nhóm chất ức chế sinh trưởng. Đối với nhóm chất kích thích sinh trưởng gồm

có 3 nhóm chính đó là: auxin, gibberellin và cytokinin được sử dụng chủ yếu

trong nuôi cấy. Còn các chất thuộc nhóm ức chế sinh trưởng gồm có ABA,

etilen, các hợp chất phenol, các chất ức chế tổng hợp như retardant, các chất

diệt cỏ… Bên cạnh các chất điều hoà sinh trưởng, người ta còn bổ sung thêm

các dung dịch hữu cơ có thành phần phức tạp và không xác định như: dịch

chiết nấm men, nước ép khoai tây, chuối, nước dừa, cazein thuỷ phân… nhằm

tăng cường sự sinh trưởng và phát triển của mô cấy .

1.3. Một số nghiên cứu nhân giống in vitro lan Dendrobium

Phong lan là một trong những loại cây trồng có nhiều thành công nhất

15

trong nhân giống vô tính bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào. Trên thế giới

cũng như tại Việt Nam đã có rất nhiều công trình về nhân nhanh các giống lan

nhằm bảo tồn và tăng số lượng phục vụ sản xuất. Với việc sử dụng kĩ thuật

nhân giống đã tạo ra sự phát triển vượt bậc nghề trồng lan ở quy mô lớn.

1.3.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Tháng 8/2010, Maridass M. và cộng sự đã tiến hành nhân giống in vitro

phong lan Dendrobium nanum từ nguồn vật liệu ban đầu là thân rễ. Nghiên

cứu này được đăng trên Tạp chí Công nghệ sinh học quốc tế (2010). Vật liệu

thân rễ được rửa bằng nước cất, rửa qua ethanol 70% trong 30 giây, tiếp theo

khử trùng với hyponatri 3% (bổ sung 2 – 3 giọt Tween80 EAC) trong 20 phút

và sau đó rửa sạch cho 4 – 5 lần bằng nước cất vô trùng. Thân rễ được chẻ ra

cắt miếng nhỏ (5 mm) và các mảnh rễ được cấy trên môi trường cơ bản của

MS bổ sung các chất KTST như NAA, BAP và kinetin. Các mẫu hình thành

protocorm tốt trên môi trường MS + kinetin 1,2μM + NAA 2.0μM. Sau đó

protocorm phát sinh chồi tốt nhất trên môi trường MS + BAP 0.5μM .

Bijaya P. và Deepa T. (2012) khi nghiên cứu nhân nhanh giống

Dendrobium primulinum Lindl. đã nhận thấy: Thông qua việc nuôi cấy các

đỉnh chồi có kích thước từ 0,3 đến 0,5 mm trên môi trường MS cơ bản và môi

trường MS bổ sung kết hợp các chất NAA, BAP ở các nồng độ khác nhau,

16

các protocorm hình thành đã tạo chồi và rễ. Sau 5 tuần nuôi cấy số lượng chồi

tăng nhanh nhất trên môi trường MS + BAP 1,5 mg/l + NAA 0,5 mg/l. Trong

thí nghiệm tạo rễ, rễ được quan sát sau 3 tuần cấy thấy trên môi trường MS +

IAA 0,5 mg/l, cây lan ra rễ tốt nhất. Khi ra cây trên giá thể đất sạch và rêu

(dớn) tỷ lệ 2:1 thì gần 70% cây con sống sót .

Nguyễn Thanh Tùng và cộng sự (2010) đã áp dụng phương pháp nuôi

cấy lát mỏng tế bào trong nhân giống in vitro cây Hoàng thảo thân gãy

(Dendrobium aduncum). Trong nghiên cứu của nhóm tác giả này, vật liệu

khởi đầu là chồi in vitro được cắt lát mỏng theo chiều ngang. Kết quả cho

thấy mẫu cảm ứng tốt trên môi trường ½ MS + BA 0,5 mg/l và tái sinh tốt

trên môi trường MS + kinetin 3 mg/l + NAA 0,3 mg/l. Từ protocorm tỷ lệ

chồi đạt được 5,67 chồi/mẫu [9].

Nghiên cứu nhân nhanh in vitro giống lan Hoàng thảo phi điệp tím


【#4】Nhân Giống Invitro Loài Lan Bản Địa Dendrobium Nobile Lindl

Nghiên cứu nhân giống in vitro Lan Dendrobium nobile Lindl. (Thạch hộc) nhằm mục đích để bảo tồn và phát triển loài lan quý chi Hoàng thảo, có giá trị thẩm mỹ và dược liệu cao, đang có nguy cơ tuyệt chủng. Kết quả cho thấy nguyên liệu sử dụng thích hợp là quả lan 5 tháng tuổi; môi trường gieo hạt là MS + (100ml ND + 10g saccharose + 6,0g agar)/lít môi trường.

Trong nhân in vitro kinh điển, môi trường nhân nhanh protocorm tối ưu là KC+ (100ml ND + 10g saccharose + 6,0g agar)/lít; nhân nhanh cụm chồi tốt nhất là MS+ (100ml ND + 10g saccharose + 6,0g agar)/lít. Trong nhân in vitro cải tiến: nuôi cấy lỏng lắc nút bông và lỏng lắc màng thoáng khí đã tăng hệ số nhân protocorm đạt 1,9 và 2,3 lần so với nhân in vitro kinh điển. Nuôi cấy đặc thoáng khí giúp giảm 25% lượng saccharose bổ sung vào môi trường và tăng hệ số nhân protocorm lên gấp 1,4 lần so với nuôi cấy kinh điển. Nhân nhanh cụm chồi bằng kỹ thuật bioreactor giảm ½ thời gian nhân giống. Môi trường tối ưu tạo cây hoàn chỉnh là RE+ (10g saccharozase + 0,5g THT)/lít, cường độ ánh sáng 2300lux.

Từ khóa: Dendrobium nobile Lindl., quả lan, nhân nhanh, protocorm.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên thế giới chi Lan Hoàng Thảo (Dendrobium) có khoảng 1400 loài, chủ yếu phân bố ở Đông Nam Á và các đảo thuộc Philippine, Malaysia, Indonesia, Papua New Guinea, Đông Bắc Australia. Ở Việt Nam có 107 loài và 1 thứ, phân bố ở các vùng núi từ Bắc vào Nam và trên một số đảo ven biển (Đào Thị Thanh Vân, Đặng Thị Tố Nga, 2008). Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đến nay nhiều loài đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe dọatuyệt chủng. Một số loài nằm trong danh lục Đỏ của “Sách đỏ Việt Nam”, trong đó có loài lan Thạch hộc (Dendrobium nobile Lindl.) phân bố ở vùng trung du miền núi phía Bắc Việt Nam (Dương Đức Huyến, 2007). Để bảo tồn và phát triển loài lan quý hiếm này, không còn cách nào khác là phải tiến hành nhân giống và nuôi trồng chúng ở quy mô lớn (Nguyễn Tiến Bân, 2007; Dương Đức Huyến, 2007).

Hiện nay, một số loài lan quý hiếm bị đe dọa tuyệt chủng trong tự nhiên đã được bảo tồn nhờ phương thức nảy mầm từ hạt (Kauth, 2005) hoặc nhân nhanh in vitro với nguồn nguyên liệu ban đầu là hạt gieo trên môi trường MS + 15% đường saccharose + 2,0mg/l BA (Nguyễn Văn Song, 2011). Theo Lê Văn Hoàng (2008), phương pháp nuôi cấy mô là phương pháp duy nhất có thể nhân giống lan cho hệ số nhân cao, số lượng cây giống lớn và giá thành hợp lý. Tuy nhiên, cho đến nay ở nước ta, nghiên cứu nhân giống và nuôi trồng chi lan Hoàng thảo chủ yếu với các giống lan lai nhập nội nhằm sản xuất hoa cắt cành hay trồng chậu làm cây cảnh. Việc nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô, đặc biệt nuôi cấy mô cải tiến (kỹ thuật nuôi cấy lỏng lắc nút bông và nuôi cấy lỏng lắc thoáng khí) với loài lan rừng bản địa D. nobile Lindl. chưa được đề cập đến (Trần Văn Huân và Văn Tích Lượm, 2007). Chính vì vậy, mục đích của nghiên cứu này là nhân nhanh quy mô công nghiệp cây giống D. nobile Lindl. phục vụ công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen dược liệu quí bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào kinh điển và cải tiến trong các môi trường không sử dụng chất điều tiết sinh trưởng nhân tạo.

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1. Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu được đưa vào nuôi cấy mô là chồi mầm và quả của những cây lan rừng thuộc loài Dendrobium nobile Lindl. 5 tháng tuổi thu thập tại Hòa Bình, đang được nuôi trồng tại Viện Sinh học Nông nghiệp, Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội (Hình 1). Mẫu nghiên cứu là protocorm, cụm chồi, chồi. Hóa chất, vật tư thí nghiệm gồm: H2O2 2%, HgCl2 0,1%, than hoạt tính. Môi trường: Vacin and Went, 1949 (VW); KnudsonC, 1965 (KC); Murashige-Skoog, 1962 (MS); Robert Ernst, 1979 (RE).

2.2. Phương pháp nghiên cứu

Mẫu nuôi trong thời gian chiếu sáng 12h/ngày, cường độ ánh sáng 800-2.300lux, nhiệt độ phòng nuôi 25±2 oC; pH môi trường 5,8. Môi trường nuôi cấy được khử trùng ở nhiệt độ 121oC; 1,5at trong 20 phút. Hệ thống bioreactor Biostat Bplus (Sartorius sản xuất), bình nuôi có thể tích tối đa 10 lít; màng lọc thoáng khí (Cellulose Acetate, kích thước lỗ 0,2µm); Nút bông được bọc ngoài bằng mũ giấy xi măng; máy lắc ngang đặt vận tốc 200 vòng/phút, cường độ chiếu sáng 800lux. Các thí nghiệm được bố trí theo phương pháp nuôi cấy mô quy chuẩn thông hành, khối hoàn toàn ngẫu nhiên, 3 lần lặp lại. Một công thức bố trí 15 bình thủy tinh dung tích 250ml. Riêng thí nghiệm về ảnh hưởng của các phương thức nuôi cấy đến khả năng nhân nhanh cụm chồi, môi trường nuôi cấy gồm MS + (100ml ND+60g chuối chín + 30g saccaroza)/lít (đối chứng) và 4 công thức: Công thức 1, 2 và 3: 80ml môi trường nhân chồi/bình, 05 bình/công thức, 03 cụm/bình, 15 chồi/cụm, màng lọc thoáng khí cellulose acetate. Công thức 4: 03 lần nhắc lại, 04 lít môi trường nhân chồi/bình, 150 cụm/bình, 15 chồi/cụm. Hệ thống bioreactor ở chế độ cánh khuấy tròn 200 vòng/phút, cường độ chiếu sáng 800lux.

Các chỉ tiêu theo dõi thông thường trong nuôi cấy mô, chỉ tiêu tỷ lệ mẫu nhiễm, tỷ lệ mẫu sống, tỷ lệ mẫu phát sinh protocorm, số chồi/ cụm, hệ số nhân chồi, đường kính cụm chồi, hình thái chồi, số lượng protocorm/cụm, hệ số nhân protocorm, chiều cao cây, số lá, số rễ.

Các số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm IRRISTAT 5.0 và Excel 2003.

Địa điểm nghiên cứu: Viện Sinh học Nông nghiệp, Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội, Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội và Học viện Hậu Cần, Ngọc Thụy, Gia Lâm, Hà Nội.

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khử trùng cơ quan nuôi cấy tạo nguồn vật liệu in vitro

3.1.1. Khử trùng chồi mầm lan

Kết quả ở bảng 1 cho thấy, mặc dù các công thức khử trùng được bố trí theo cấp độ tăng dần tác động của hóa chất vào mẫu cấy nhưng hiệu quả thu được sau 6 tuần theo dõi không tỷ lệ thuận. Ở CT3 cho tỷ lệ mẫu sống cao nhất cũng chỉ đạt 8,89%. Nguồn mẫu sạch thu được từ chồi lan rất hạn chế, do tỷ lệ nhiễm cũng như tỷ lệ mẫu chết cao, có thể do nhiều nguyên nhân khách quan khác nhau. Chính vì vậy, chúng tôi phải sử dụng nguồn mẫu quả lan, để đưa vào nuôi cấy in vitro.

3.1.2. Khử trùng quả lan

Cả 3 công thức đều cho kết quả tối ưu trên nền môi trường MS (+ 100ml ND + 10g saccharose + 6g agar)/lít. Tuy nhiên, xét hiệu quả các công đoạn thao tác thì CT1 là tốt nhất. Sau 6 tuần nuôi cấy, có 97% hạt phát sinh protocorm và 3% nẩy cụm chồi (Bảng 2).

3.2. Nhân nhanh protocorm và cụm chồi theo phương pháp in vitro

3.2.1. Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến khả năng nhân nhanh protocorm và cụm chồi

Kết quả nhân nhanh protocorm (Bảng 3) cho thấy, sau 8 tuần nuôi cấy, các công thức thí nghiệm đều có sự khác nhau về giá trị của các chỉ tiêu nghiên cứu. Trong đó, trên nền môi trường KC, các chỉ tiêu theo dõi như đường kính cụm protocorm (2,26 cm), số lượng protocorm/cụm (210,06) và hệ số nhân – HSN (4,2 lần/8 tuần) có giá trị cao hơn các công thức môi trường khác ở độ tin cậy 95%. Mặt khác, xét hiệu quả kinh tế, KC là môi trường rẻ tiền và thông dụng trong nuôi cấy lan, vì vậy môi trường KC + (100ml nước dừa (ND)+10g saccaroza+6g agar)/lít được lựa chọn trong nuôi cấy nhân nhanh protocorm loài lan D. nobile.

Bảng 1. Ảnh hưởng của phương pháp khử trùng đến khả năng sống của chồi mầm

3.2.2. Ảnh hưởng của phương thức nuôi cấy sử dụng nút bông đến khả năng nhân nhanh protocorm

Kết quả ở bảng 5 cho thấy, cùng sử dụng nút bông trong nuôi cấy nhưng ở môi trường lỏng lắc cho kết quả nhân nhanh protocorm tốt nhất, làm tăng hiệu quả trong nhân nhanh protocorm: số lượng protocorm/cụm là 105, khối lượng protocorm 45mg và HSN 2,10 lần/3tuần nuôi cấy. Mặt khác, nuôi cấy trong môi trường lỏng lắc sẽ tiết kiệm được môi trường do lượng môi trường sử dụng ít, không sử dụng agar, tiết kiệm điện năng so với nuôi cấy trong môi trường đặc.

3.2.3. Ảnh hưởng của phương thức nuôi cấy sử dụng nút màng thoáng khí đến khả năng nhân nhanh protocorm

Kết quả cho thấy, việc sử dụng nút màng thoáng khí trong nuôi cấy mô đã làm tăng HSN và tăng khối lượng protocorm. Đặc biệt trong nuôi cấy thoáng khí lỏng lắc (CT3) đã nâng cao HSN vượt bậc (số lượng protocorm/cụm là 142, khối lượng protocorm 45,7mg, HSN 2,84 lần/3 tuần) (Bảng 6). Kết quả này đồng thời cho thấy, HSN protocorm của công thức nuôi cấy lỏng lắc màng lọc thoáng khí cao hơn và có hiệu quả hơn so với công thức lỏng lắc nút bông.

Bảng 4. Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy đến khả năng nhân nhanh cụm chồi

Sau 8 tuần nuôi cấy trong nền môi trường đặc và sử dụng nút màng thoáng khí (Cellulose Acetate), ở CT4 (bổ sung 7,5g saccaroza/lít) cho các chỉ tiêu nhân nhanh protocorm vượt trội so với đối chứng và các công thức thí nghiệm khác (318,3 protocorm/cụm, HSN đạt 6,37 lần/8 tuần nuôi cấy) (Bảng 7 và Hình 2). Như vậy, nuôi cấy trong môi trường đặc thoáng khí đã cải thiện HSN protocorm từ 4,47 lần khi sử dụng nút bông trong nuôi cấy kinh điển lên 6,37 lần khi thay thế nút bông bằng nút màng lọc thoáng khí, đồng thời nâng cao hiệu quả nhân giống do đã giảm 25% hàm lượng saccharose.

Bảng 7. Ảnh hưởng của hàm lượng đường saccharose đến khả năng nhân nhanh protocorm trong nuôi cấy đặc thoáng khí (sau 8 tuần nuôi cấy)

3.2.5. Ảnh hưởng của hàm lượng saccharose đến quá trình nhân nhanh protocorm trong nuôi cấy lỏng lắc thoáng khí

Kết quả sau 4 tuần nuôi cấy trong nền môi trường lỏng lắc và sử dụng nút màng thoáng khí CA, các công thức bổ sung saccharose đều có hiệu quả trong nuôi cấy mô làm tăng HSN và tăng khối lượng protocorm (Bảng 8). Đặc biệt, nuôi cấy thoáng khí trong môi trường lỏng lắc đã nâng cao HSN vượt bậc, tăng hiệu quả, giảm giá thành do giảm chi phí môi trường nuôi cấy, giảm hàm lượng saccharose và giảm thời gian nuôi cấy. Công thức tối ưu (CT4) cho nhân nhanh protocorm là bổ sung 7,5g saccharose (ở mức tin cậy 95% HSN protocorm đạt 4,09 lần/4 tuần) (Bảng 8).

Bảng 8. Ảnh hưởng của hàm lượng saccharose đến khả năng nhân nhanh protocorm trong nuôi cấy lỏng lắc thoáng khí (Sau 4 tuần nuôi cấy)

Kết quả ở bảng 9 cho thấy, có sự sai khác rõ rệt về các chỉ tiêu số lượng chồi TB/cụm, HSN chồi/4 tuần giữa các CT thí nghiệm. CT4 sử dụng hệ thống bioreactor cho nhân nhanh cụm chồi, số lượng chồi TB/cụm cao nhất đạt 51 chồi trong khi CT3, CT1 và CT2 chỉ đạt lần lượt là: 34, 28 và 18 chồi (Bảng 9). Căn cứ vào độ tin cậy 95% đánh giá đến chỉ tiêu HSN chồi/4 tuần thì CT4 là công thức tốt nhất so với CT1, CT2 (3,4 lần/4 tuần/CT4; 2,26 lần/4 tuần/CT3 và 1,86 lần/4 tuần/CT1; 1,20 lần/4 tuần/CT2). Như vậy, đối với loài D. nobile để nhân nhanh cụm chồi nên lựa chọn nuôi cấy bioreactor (nếu có sẵn thiết bị) hoặc nuôi cấy lỏng lắc thoáng khí trong môi trường MS + (100ml ND + 60g chuối chín + 30g saccharose)/lít.

3.3. Tạo cây hoàn chỉnh

3.3.1. Ảnh hưởng của nền môi trường nuôi cấy đến sinh trưởng của chồi

Bảng 9. Ảnh hưởng của phương thức nuôi cấy đến khả năng nhân nhanh cụm chồi (sau 4 tuần nuôi cấy)

Ánh sáng trong nuôi cấy mô thực vật là ánh sáng nhân tạo, cường độ ánh sáng 1000~5000 lux, 16h chiếu sáng. Để chồi loài lan rừng in vitro phát triển hoàn chỉnh thì cần điều chỉnh cường độ ánh sáng thích hợp. Trong 4 công thức với những dải cường độ ánh sáng khác nhau trong cùng chu kỳ chiếu sáng. Ở CT4, chồi D. nobile được nuôi cấy ở cường độ chiếu sáng 2300 lux đã giúp cây phát triển mạnh nhất (lá mở to, mầu xanh sẫm, bóng; thân mập; bộ rễ phát triển mạnh) (Bảng 11, Hình 3).

Bảng 11. Ảnh hưởng của cường độ chiếu sáng đến sinh trưởng chồi

3.3.3. Ảnh hưởng của than hoạt tính (THT) đến khả năng sinh rễ của chồi

Sau 30 ngày nuôi cấy, ở CT2 (bổ sung 0,5g THT/lít môi trường), chồi mập, rễ nhiều nhất (3,46/cây) và số rễ nhiều hơn hẳn các công thức khác ở mức tin cậy 95% (Bảng 12). Tuy nhiên, khi bổ sung tăng dần lượng THT thì chiều cao cây lại theo xu thế giảm dần, điều này có thể do THT ở nồng độ cao đã hấp phụ một số chất điều tiết sinh trưởng tự nhiên và dinh dưỡng nên làm giảm tốc độ sinh trưởng của cây. Vậy, môi trường tối ưu tạo cây hoàn chỉnh cho lan D.nobile là: RE + (10g saccharose+0,5g THT+6g agar)/lít, cường độ ánh sáng 2300lux.

Bảng 12. Ảnh hưởng của than hoạt tính đến khả năng tạo rễ của chồi (sau 30 ngày nuôi cấy)

Nguồn vật liệu ban đầu là quả lan. Khử trùng tối ưu là nhúng quả trong cồn 96% rồi đốt trên ngọn lửa đèn cồn. Môi trường gieo hạt thích hợp là: MS + (100ml nước dừa + 10g saccharose+6g agar)/lít môi trường. Nhân nhanh in vitro bằng nuôi cấy mô kinh điển: Môi trường nhân nhanh protocorm tối ưu là KC + (100ml nước dừa + 10g saccaroza + 6g agar)/lít; HSN 4,2 lần/8 tuần nuôi cấy. Môi trường nhân nhanh cụm chồi tốt nhất là MS + (100ml ND+10g saccharose+6g agar)/lít, HSN chồi 3,08 lần/8 tuần nuôi cấy.

Nhân nhanh in vitro nhờ nuôi cấy mô cải tiến: kỹ thuật nuôi cấy lỏng lắc nút bông và nuôi cấy lỏng lắc thoáng khí đã tăng HSN protocorm đạt 1,9 và 2,3 lần so với đối chứng. Nuôi cấy đặc, màng lọc thoáng khí làm giảm 25% lượng saccharose bổ sung vào môi trường nuôi cấy và tăng HSN protocorm lên gấp 1,4 lần so với nuôi cấy kinh điển. Nhân nhanh cụm chồi bằng kỹ thuật bioreactor giảm thời gian nhân giống và cải thiện chất lượng chồi.

Môi trường tối ưu tạo cây hoàn chỉnh là RE +(10g saccharose+0,5g than hoạt tính)/lít, cường

độ ánh sáng 2.300lux.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguyễn Tiến Bân và nhiều tác giả (2007). Sách Đỏ Việt Nam, Phần Thực vật; NXB. Khoa học Tự

nhiên và Công nghệ, Hà Nội.

Lê Văn Hoàng (2008). Giáo trình nuôi cấy mô tế bào thực vật. Đại học Đà Nẵng

Trần Văn Huân, Văn Tích Lượm (2007). Kỹ thuật nuôi trồng cây lan. NXB thành phố Hồ Chí Minh.

Dương Đức Huyến (2007). Thực vật chí Việt Nam, 9-

Họ lan (Orchidceae). NXBKH Kỹ thuật

Nguyễn Văn Song 2011). Nhân nhanh in vitro lan Kim Điệp (Dendrobium chrysotoxum)-một loài lan rừng có nguy cơ tuyệt chủng. Tạp chí khoa học ĐH Huế 64:127-136.

Đào Thị Thanh Vân, Đặng Thị Tố Nga (2008). Giáo trình hoa lan. NXB Nông nghiệp, Hà Nội. Kauth P. (2005). In vitro seed germination and seedling development of Calopogon tuberosus and Sacoila

lanceolata var. lanceolata: Two Florida native terrestrial orchids. Master thesis, University of Florida

Kusumoto and Furukawa (1977). Effect of Organic Matter on the Growth of Cymbidium Protocorms

Cultured in vitro, Japan. Soc. Hort. Sci. 45 (4): 421-426.

Shu Fung Lo, Satish Manohar Nalawade, Chao Lin Kuo, Chung Li Cheng and Hsin Sheng Tsay

(2004). Asymbiotic germination of immature seeds, plantlet development and ex vitro establishment of plants of Dendrobium tosaense makino-a medicinally important orchild, In vitro Cellular and Developmental Biology – Plant 40 (5): 528-535.

Tawaro Supavadee, Suraninpong Potjamarn and Chanprame Sontichai (2008). Germination and

Regeneration of Cymbidium findlaysonianum chúng tôi a Medium Supplemented with Some Organic Sources. Walailak J Sci & Tech 5 (2): 125-135.

Nguồn: Vũ Ngọc Lan*, Nguyễn Thị Lý Anh(2013).NHÂN GIỐNG IN VITRO LOÀI LAN BẢN ĐỊA DENDROBIUM NOBILE LINDL.Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013, tập 11


【#5】Trồng Địa Lan Trang Trí Vườn. Tại Sao Không?

Trồng địa lan tại nhà

Trồng địa lan: Ngoài những loài phong lan, còn có một số loài địa lan chúng ta có thể trồng dưới đất. Có nhiều loài trong số đó có thể trồng thành công trong vườn ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, và có một số loài có kiểu lá trông rất bắt mắt.

Một số thích nghi với điều kiện phơi nắng hoàn toàn, một số khác thì ưa bóng râm nhẹ, song tất cả đều có thể trồng thành luống hoặc trong chậu, cho ta chất lượng tốt, song lưu ý dù trồng trên luống hay trên đất thì cũng cần phải thoát nước tốt. Ở Hoa kỳ có một vài thương hiệu về loại đất trồng như MetroMix, ProMix và các nhãn hiệu khác nên chọn cho việc trồng địa lan.

Đối với những luống mà có nhiều ánh sáng mặt trời thì bạn có thể trồng spathoglottis, enpidendrum có thân màu đỏ và arunda (người ta gọi lan tre – baboo orchid). Nếu như bạn cắm cọc cho một số lan leo như terete Vanda thì cũng phát triển tốt trong điều kiện này. Đối với những luống có chút bóng râm, thì loài phaius là một lựa tốt. Loài sobralias trông cũng đẹp lắm mặc dù hoa của chúng mau tàn, chì được một hai ngày thôi. Tất cả các loài lan này cần phải được bón phân thường xuyên. Loại phân chậm tan như Osmocote cũng là một lựa chọn thông minh.

Loài Brassavola nodosa (còn có tên là “thiếu phụ đêm”) có thể cho chúng ta hương thơm trong vườn về ban đêm. Xin nhớ là không đặt chúng nơi có ánh sáng khi mặt trời đã lặn, bởi vì còn ánh sáng là chúng không tỏa hương. Nhiều loài lan ra hoa vào mùa xuân như những loài Dendrobium rụng lá (khi chuẩn bị ra hoa) như Den. superbum, Den. pierardii, Den. primulinum, Den. parishii và những cây có họ với nó, đó là những loài có hương rất thơm. Một số loài lan lớn, chẳng hạn như dendrobium, grammatophyllum và các loài khác có thể gây ấn tượng tốt một khi trình bày chúng trong những cái tủ kính mỹ thuật.

Khi đêm trở lạnh, cần phải lưu ý bảo vệ các cây lan. Một số loài CattleyaDen drobium có thể không gặp vấn đề gì, ngay cả khi nhiệt độ xuống còn 50 o F, nhưng nếu ở nhiệt độ đó mà kèm theo gió thì các bạn phải tìm cách mà bảo vệ cây lan. Một số loài lan ưa khí hậu ấm cần phải được bảo vệ, bằng cách phủ hoặc quấn quanh nó những vật liệu kiểu như áo khoác cũ, khăn tắm chẳng hạn. Cũng có thể bạn dùng nhiều lớp giấy báo để chống rét cho nó, bên ngoài quấn một lớp ny-lon, nhớ cột lại để gió không thổi bay lớp chắn gió cho chúng.

Những người trồng lan ở vùng khí hậu lục địa (đặc biệt như nam California chẳng hạn), cần phải lựa chọn loài lan một cách cẩn thận; nhiều loài lan lai tạo trồng ở nam Florida không thích hợp với vùng có khí hậu mát, ẩm ướt vào mùa đông. Tốt nhất là chọn loài lan không có kỳ nghỉ dài và khô vào mùa đông, trừ phi bạn đặt cây lan vào trong một cái tủ (dùng để trồng lan) hoặc trồng bằng cách treo, dễ di chuyển vào mùa đông ẩm ướt. Những loài lan cần ẩm độ quanh năm (như hầu hết các loài Vanda), sẽ dễ xử lý cho thích hợp với sự chênh lệch nhiệt độ lớn./.

KHUYẾN CÁO VỀ MỘT SỐ LOÀI LAN TRỒNG ĐỂ TRANG TRÍ

Loại thích nghi với khí hậu bốn mùa

Đối với những loài lan có thể ra hoa quanh năm trong môi trường có nắng quanh năm (ít nhất thì cũng có một số giờ nắng hoàn toàn trong ngày), thì không loài nào có thể tốt hơn loài Vanda semiterete (loại lá gập), chúng có thể thích nghi với các điều kiện dưới nắng mặt trời. Trong vùng khí hậu á nhiệt đới của chúng tôi, thời điểm thích hợp nhất là vào mùa thu, khi mà mặt trời ở thấp hơn và nhiệt độ cũng mát mẻ hơn. Để vào mùa xuân, các cây lan sẽ đứng dưới ánh sáng mặt trời suốt cả ngày. Bạn đừng lo lắng quá nếu như lá cây lan bị cháy một chút lúc ban đầu; sau đó thì chúng sẽ thích nghi. Chúng ta có thể trồng chúng trong chậu hoặc ghép chúng vào những cây cọ cao, loài Vanda cho ta hoa có nhiều màu sắc từ màu sáng đến màu tùng lam.

Loài Spathoglotis thích hợp khi trồng thành luống dưới ánh nắng mặt trời hoàn toàn hoặc bán phần, và khi chúng đã phát triển thì chúng lập tức ra hoa quanh năm. Ngay cả khi chúng chưa phát hoa thì lá của chúng cũng đã đẹp rồi. Spathoglotis plicata là loài dễ kiếm và hoa của nó có màu hồng hoa oải hương, cũng có khi là màu trắng dưới hình thức alba. Cũng có loài cho chúng ta hoa màu vàng và các giống lai tạo cho nhiếu sắc hoa khác nhau. Spathoglotis unguiculata ‘Grapette’ mà màu tím sẫm, hoa l5i có hương như hương bưởi. Lưu ý là một vài loài Spathglotis có hoa vàng là loài rụng lá, chúng rụng lá vào kỳ nghỉ của chúng.

Brassavola nodosa có thể ra hoa bất kỳ thời gian nào trong năm, mặc dù mua ra hoa chính của nó là vào mùa thu và mùa đông. Vào ban đêm nó có mùi hương của men rượu. Loài phong lan này rất ưa thích được trồng ở nơi có nhiều sáng, có thể ghép chúng vào một cây gỗ hoặc vào mảnh vỏ cây.

Oncidium Gower Ramsey và các giống lai tương tự vậy phô diễn một cách tráng lệ vào hai hoặc ba lần trong năm. Đây là loài lan lai, chúng ưa trồng dưới bóng rầm có ánh sáng (râm nhẹ).

Một số loài Ascocenda của chúng ta cũng có thể ra hoa một sốn lần trong năm (một vài trường hợp chúng ra hoa từ 4 đến 6 lần). Chúng tôi khuyến cáo nên trồng các loài như Ascocenda Su-Fun Beauty ‘Orange Bell’, hoặc Ascocenda Udomchai ‘Sang’ để có hoa màu vàng như ánh đèn điện đến vàng cam. Nếu bạn thích loài có hoa màu đỏ, thì có loài Ascocenda Dong Tarn ‘Robert’. Lưu ý vào những giờ trưa nắng thì cần che bớt lại, nhưng cũng có thể bạn tự điều chỉnh và dùng phân bón làm sao để cho màu hoa là đẹp nhất./.


【#6】Chăm Sóc Cây Hoa Lan Dendro Ra Hoa Quanh Năm 4 Mùa 2021

Cây hoa lan dendro hiện được rất nhiều người yêu thích bởi màu sắc đa dạng và cách chăm sóc không quá cầu kỳ. Hoa lan dendro ở Việt Nam được nhập khẩu từ Thái Lan nên rất phù hợp với khí hậu nước ta. Giống hoa lan dendro thuộc họ Orchidaceae, gồm hơn 1.600 loài lan khác nhau. Chúng chủ yếu phân bố ở khu vực Đông Nam Á và châu Úc. Nếu như các nước Nam Mỹ tự hào về các loài thuộc giống Cattleya tuyệt đẹp của mình, thì các nước Đông Nam Á cũng hãnh diện vì có giống Dendrobium vô cùng phong phú.Kỹ thuật chăm sóc Cây hoa lan dendro

Lượng nước: Cây hoa lan dendro cần một lượng nước khá nhiều trong quá trình phát triển, riêng đối với khu vực phía Bắc ta cần chú ý về chế độ nước trong mùa đông lạnh.

Vào mùa nắng: cần tưới đẫm cây 2 lần vào sáng và tối (sáng từ 7 giờ đến 8 giờ, chiều từ 14 giờ đến 15 giờ. Ngoài ra cần tùy thời tiết nắng gió hay không mà quyết định tưới xen thêm giữa 2 lần tưới chính bằng những lần tưới nhẹ.

Vào mùa mưa: vẫn tưới cây 2 lần vào sáng chiều nhưng sáng tưới trễ hơn, chiều tưới sớm hơn và tưới ít nước hơn. Tưới lan dendro vào mùa mưa chủ yếu là tưới xả sau mỗi đợt mưa để phòng trong nước mưa có các độc tố, hóa chất, axit ảnh hưởng đến cây lan, đặc biệt là những cơn mưa đầu mùa và cuối mùa.

Nhiệt độ: Hoa lan dendro thích hợp vùng khí hậu ấm áp, ban ngày có nhiệt độ khoảng 27-32 độ C, ban đêm 16-18 độ C. Nhiệt độ thấp dễ làm cây bị rụng lá.

Ánh sáng: loài hoa này rất cần ánh sáng, nhưng lượng ánh sáng chỉ khoảng 70% là tốt nhất. Nếu bị phơi nắng hoàn toàn cây dễ bị cháy lá, còn nếu thiếu sáng thì cây ốm yếu, lá mỏng, hoa nhỏ và có thể không ra hoa.

Độ ẩm: độ ẩm lý tưởng cây hoa lan dendro cần là khoảng 50-80%.

Độ thông gió: hoa lan dendro cần môi trường ẩm, mát mẻ và thông thoáng để phát triển.

Cây lan đủ nước: đủ nước cây sẽ phát triển tốt và cho ra hoa nhiều, đẹp

  • – Sau 16 giờ chiều đất trồng vừa ráo nhưng không quá khô.
  • – Thân: Căng tròn, không bị teo giả hành.
  • – Lá: Dày, mởn, không vàng.
  • – Rễ: Dài vừa phải, to mập.
  • – Đọt, chồi non: Ra mạnh, liên tục phát triển.

Cây lan thiếu nước: thiếu nước sẽ làm cây lụi dần, không ra chồi mới, ra hoa được.

Sau 16 giờ chiều đất trồng quá khô sẽ rút nước ngược lại từ rễ ra, lá sẽ mất bóng, cây héo. Về lâu dài cây sẽ bị ảnh hưởng:

  • – Thân: Ốm, giả hành teo lại (có khía dọc thân).
  • Lá: Mỏng, dài, vàng héo rồi rụng.
  • – Rễ: Ra rất dài bò ra ngoài chậu mà không chui vào chất trồng.
  • – Đọt, chồi non: Bị thui lại không phát triển liên tục.
  • Giả hành mới: Sẽ ngắn, ốm nên ra hoa sớm khi còn thấp.

Cây lan dư nước: cây dễ chết, thối rễ

– Sau 16 giờ chiều đáy chậu vẫn chưa khô, đất trồng còn đẫm nước (trừ những ngày ban đêm gió vẫn còn rất mạnh như trong tháng 2-4 âm lịch). Về lâu dài cây sẽ bị ảnh hưởng:

  • – Rễ: Bị thối nhũn, rất ít rễ bám vào chất trồng.
  • – Lá: Vàng nhưng lại dày, mềm (khác với thiếu nước là lá cũng vàng nhưng mỏng, dai).
  • – Giả hành mới : Mọc yếu, dễ bị thối nhũn.
  • – Nấm bệnh và côn trùng xuất hiện rất nhiều: bệnh đốm lá xuất hiện rất nhiều nên lá càng dễ rụng. Trên mặt chất trồng rêu xanh, mốc đen nhiều.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa lan dendro

Khi chọn vị trí trồng bạn nên trồng ở những nơi thoáng mát và tránh ẩm thấp, Giá thể trồng thông thường bằng than gỗ, vỏ thông, dớn, xơ dừa, gạch… Nhưng phải sát trùng trước khi trồng. Chậu thường dùng là chậu nhựa hoặc chậu đất.

Bạn có thể trồng hoa lan dendro trên thân cây sống hoặc thân cây đã chết. Đối với cây sống trong quá trình trồng phải chú ý tán cây sao cho ánh sáng phù hợp với loài lan được trồng. Đối với cây chết chọn các cây gỗ rồi cưa thành khúc sau đó bó các đơn vị lan vào thân gỗ và chăm sóc.

Cách bón phân cho cây hoa lan dendro

Bón phân cho hoa lan dendro được chia thành 3 đợt như sau:

Đợt 1: Giai đoạn cây con: khi cây con được khoảng 4-6 tháng tuổi

Phân thường dùng:

– Atonik dùng 2-6 giọt/lít nước.

– NPK 30-10-10 hoặc NPK 30-15-10 dùng 0.5g-1g/lít.

– Vitamin B1 dùng 1ml/lít.

Phun định kỳ 2 lần trên tuần, có thể dùng phân NPK cùng vitamin B1 để tưới cho cây lan con.

Đợt 2: Giai đoạn cây ra vườn sản xuất đến cây trưởng thành

Đây là giai đoạn cây phát triển thân lá mạnh nhất. Các loại phân cần sử dụng trong giai đoạn này là:

– Phân cá Fish Emulsion 1ml/lít nước.

– NPK 20-20-20 (1-1.5gam/lít).

– Vitamin B1 dùng 1ml/lít.

– NPK 30-15-10 dùng 1-1.5g/lít Phun định kỳ 5 ngày/ lần.

Cách phun:

Phân NPK 30-15-10 kết hợp vitamin B1 phun 2 lần/tuần. Phun liên tiếp 2-3 tuần; sau đó phun 1 lần NPK 20-20-20; tiếp theo phun phân cá. Sau đó phun lặp lại phân 30-15-10 và vitamin B1 như từ đầu. Hơn nữa, có thể bón thêm vào gốc bằng phân Dynamic 5-7 cục/gốc.

Đợt 3: Giai đọan cây chuẩn bị ra hoa và nuôi hoa:

Loại phân thường dùng trong giai đoạn này là:

  • – NPK 20-20-20 (1-1.5gam/lít).
  • – Phân cá Fish Emulsion 1ml/lít nước.
  • – Vitamin B1 dùng 1ml/lít.
  • – NPK 6-30-30 1g/l.

Lan dendro có bao nhiêu loại

lan dendro hiện nay có rất nhiều loại khác nhau, tùy theo sở thích của từng người sẽ lựa chọn những dòng dendro phù hợp với không gian sống của chúng ta, hiện nay trên thị trường rất ưa chuộng loại dendro nắng , vì cây có giá trị cao và cách chăm sóc cũng rất đơn giản, sau đây Vitagrowthheight.com xin giới thiệu tới tất cả mọi người những loại dendro phổ biến và có giá trị hiện nay trên thị trường.

Lan dendro king hổ mang chúa

Là loại Vitagrowthheight.com là dòng lan có cấu trúc hoa rất đẹp, phát triển nhanh, lưỡi hoa to, 2 tai dài, cây vươn rất cao nếu chăm sóc tốt và lâu năm, đài trước xoán lại rất khác biệt, mổ ra phía trước giống như hổ mang chúa nên thường được gọi là Vitagrowthheight.com hổ mang chúa, cây có màu hồng nhạt tươi, cây có giá trị kinh tế cao, cây thường có chiều cao từ 1m trở lên, tùy vào thời gian và cách chăm sóc lâu dài

Lan dendro năng bao thanh thiên

Có thể xem đây là loại lan dendro có tên gọi đặc biệt nhất, cây có màu trắng rất đẹp, kích thước siêu lớn, cây có giá trị rất cao, được xem là loài lan có giá trị kinh tế cao , rất hiếm trên thị trường, nhu cầu luôn rất lớn đối với loại lan dendro bao thanh thiên.

Lan dendro bao thanh thiên có hoa kích thước rất lớn, chiều dài 2 cánh có thể đạt tới 12cm, với màu trắng tinh khôi hai tại nhọn, lưỡi hoa khá to, nhọn, gốc canh, điều, cân đối đẹp mắt hoa bền và rất dễ chăm sóc.

Lan Vitagrowthheight.com mỏ kết là loài lan có tên rất lạ và rất hay, loài lan này là loài thuộc dòng dendro xưa, có giá trị và đáng dể cho chúng ta phải sưu tầm, kết cấu cánh hoa rất khác so với những loài lan khác, cánh hoa mua về bên phải, lưỡi hoa dài, nhọn, và công xuống như mỏ két nên mới lấy tên là lan dendro mỏ két, màu sắc của hoa có 3 chỗ đậm và chỗ nhạt, cây cao trên 1m và phát triển nhanh , khỏe mạnh.

Lan Vitagrowthheight.com hoc môn là cây có viền đẹp, cây rất siêng hoa, phát triển lớn, hoa có cấu trúc mặt cân đối, có viền trắng đậm ở 3 cánh và rất dài, màu sắc đẹp mắt.

Lan Vitagrowthheight.com mười bích

Có thể nói dòng lan dendro mười bích là giống dendro phát triển rất nhanh và rất khỏe, cây rất ít rụng lá, siêng hoa, dễ trồng, cây cho chiêu cao lớn, cấu trúc hoa rất chuẩn đẹp, cân đối, cây có giá trị về mắt siêu tầm, có giá trị kinh tế, hiện nay dòng dendro mười bích được anh em chơi lan siêu tầm rất nhiều.

Lan dendro vàng là giống lan phát triển nhanh, hoa có màu vàng óng ả, thân cây cho sự thay đổi nổi bật à hoa màu vàng, cây cao lớn, hoa to, cấu trúc hoa chuẩn, cân đối 2 bên,

Lan Dendro. Mesangnil Robert

Lan Dendro. Mesangnil Robert là dòng lan nắng xưa rất cao lớn. Cây phát triển mạnh có thể cao hơn 2m, nhiều phát hoa. Một vòi hoa mang rất nhiều hoa. Hoa rất thơm và cây siêng hoa.

Lan dendro lai cattleya

lan dendro lai cattleya là giống lan hoa hồng to, cây rất khỏe, chịu nắng tốt, hoa bền và rất siêng hoa, là loài lan được rất nhiều người yêu thích hiện nay, cây có giá trị về mặt kinh tế, cây đẻ nhánh rất nhanh, nhân giống khá dễ dàng, lựa chọn cách trồng và chăm sóc hiệu quả về loài lan dendro lai cattleya.

hoa lan dendro xanh là giống cây phát triển rất nhanh, cho nhiều hoa, cây cao từ 40-50cm, thân mập mạp, hoa mới nở chuyển thành màu xanh sau đó chuyển sang màu vàng, đó chính là đặc điểm mà ít có dòng hoa dendro xanh nào hiện nay có thể làm được

dòng dendro xanh mỗi cây có từ 2-3 chồi nụ, tùy theo cách chăm sóc để có được nhiều chồi hơn và nếu trồng càng lâu thì bụi lan dendro xanh càng lớn và phát triển ra nhiều hoa hơn, cây có thể cho rất nhiều hoa vào dịp tết nguyên đán.

hoa lan dendro yaya là dòng dendro nắng , cây được biết tới là loài hoa mini yaya rất đa dạng, hoa rất đẹp, hoa rất dễ trồng và chăm sóc, cây phát triển mạnh và rất siêng hoa, cây có vòi hoa rất dài, hoa cũng rất siêng và rất bền hoa.

Cây to theo hình, có chậu, cây khoẻ mạnh, nhiều hướng, cao khoảng 25-30cm. Có cây còn hoa, có cây tàn hoa.

Đặc biệt: hoa lên màu sắc rất đẹp.

Chăm sóc: sau khi mua về, có thể để nguyên chậu chăm sóc, bón phân. Ngày tưới nước 2 lần

lan dendro nắng thơm hoa ra liên tục và rất bền .

Lan Denro nắng không chỉ đa dạng về màu sắc dáng hoa mà còn có mùi thơm dễ chịu . _ hoa dễ trồng và chăm sóc.

lan dendro nắng alba là dòng lan cho hoa màu trắng với họng hoa màu tím, các đường gân tím chạy nhẹ ở những cánh hoa, nếu chăm sóc tốt, đường gân tím sẽ rất đậm và đi sâu vào lưỡi hoa, làm cho hoa rất đẹp, nhẹ nhàng và thanh tao.

Là dòng cây cho hoa trắng với họng hoa màu tím, các đường gân tím chạy phớt nhẹ ở cánh hoa và khá đậm khi đi sâu vào lưỡi hoa, làm hoa đẹp nhẹ nhàng, thanh tao. Cây phát triển khá cao (khi chăm sóc tốt có thể cao trên 1m là chuyện bình thường), khỏe mạnh, lá xanh mượt, chăm sóc tốt sẽ cho vòi hoa khá dài, nhiều hoa và cây rất siêng hoa. Đây cũng là dòng Dendro nắng đang rất thịnh trên thị trường, cây giống được nhập khẩu từ Thái Lan đã được trồng thuần tại các nhà vườn Việt Nam nên rất dễ trồng đối với người mới chơi và cũng đáng để quý khách sưu tầm hay làm quà tặng.

lan dendro nắng chớp có rất nhiều loại trên thị trường, từ dòng lan dendro nắng chớp mini cho tới những loại đột biến mang những màu sắc riêng vốn có của dòng dendro nắng chớp hiện nay,

lan dendro nắng chớp mini với những bông hoa nhỏ nhắn xinh đẹp, cây rất siêng hoa Loài hoa có thân cây nhỏ nhắn, lùn, siêng hoa 2 bên, vòng hoa mang từ 5-10, có lúc nhiều hơn nhiều bông nhìn tương đồng với thân. Lan tia chớp là loại lan đột biến với màu tím và trắng kết với nhau. Một vài đặc điểm của hoa lan Dendro mini tia chớp .

Thân: Phong lan thân thảng, thân dài và mọc thẳng đứng thường mọc hướng lên trên hướng ánh nắng. Thân cây thường có thể cao khoảng từ 20-40cm, đường kính thân trung bình từ 0,5-1,5cm. Thân cây hình trụ dài khoảng 2-4 cm thì ra 1 chiếc lá. Thân cây thường có màu xanh và màu xanh ánh vàng, trên thân cây cũng có thể có sọc trắng, sọc tím mờ dọc theo thân tùy vào màu sắc của hoa.

Lá: Loại này ra rất nhiều lá,lá mọc trên thân cây,lá dạng so le cách nhau khoảng từ 2-4 cm,lá dài từ 7-13 cm và rộng khoảng 3-7 cm(hoặc có thể to hơn 7cm,do giống hoặc cách nuôi trồng),đuôi lá nhọn ,dáng lá giống hình thoi.Màu của lá thường có màu xanh đậm,màu xanh vàng tùy thuộc vào tình trạng cây đủ nắng hoặc thiếu nắng. Lá cây thường sẽ có thể rụng do vùng nuôi trồng nhưng cây dù rụng hết lá hay không thì năm tới vẫn sẽ ra hoa bình thường.

Rễ cây: Rễ cây thuộc loại rễ chùm, đầu rễ thường có màu xanh trắng, Thân rễ thường có màu trắng ngà và ít khi có màu khác. Cây ra rễ ở gốc và ở các cây ki con mọc ra trên thân cây cũ. Với khí hậu nón và không lạnh thì rễ mọc quanh năm, còn nếu có mùa đông rễ cây sẽ ngừng phát triển hoăc phát triển rất chậm. Rễ cây bắt đầu ra sẽ có rất nhiều đầu rễ sau đó theo năm tháng sẽ dài ra và tiếp tục ra nhiều rễ phân nhánh con bám vào chất trồng để đi tìm hơi ẩm.

Lan dendro nắng chớp Chớp Hổ Mang

lan dendro nắng chớp là dòng lan đỉnh cao trong dòng Hổ Mang Chớp, vì hoa rất đẹp, màu trắng và đường chạy biên rất chuẩn, màu hoa trắng tinh làm nổi bật màu tím của chạy biên.

Với cây lan dendro nắng chớp Chớp Hổ Mang này các bạn mua lẻ từng cọng đuôi được vì cọng đuôi đã già, khi cắt ít bị nhiễm trùng, mua 2 cọng được giảm giá. Nhưng với cọng đầu chỉ bán chung 2 cọng, vì 1 cọng còn khá tơ, khi chúng ta cắt dễ bị thối nhũn hoặc nhiễm trùng. Với Dendro chúng ta nên cắt 2 cọng thì cây mới khỏe được.

Lan dendro nắng trắng bà liễu

lan dendro nắng trắng bà liễu dòng cây Dendro nắng hiếm hoi có hoa to, đẹp lại thơm . Cây phát triển khoẻ, cao lớn, siêng hoa. Cánh hoa màu trắng, lưỡi tím đậm làm cho vòi hoa thật sự nổi bật

– Đặc tính chung của Dendro nắng: Denro nắng là cây rất ưa nắng, nóng nhiều, có thể hấp thụ 100% ánh sáng. Tuy nhiên cũng cần che những ánh nắng gắt tránh cháy lá vào mùa hè.

lan dendro robert Dòng Dendro xưa quý hiếm nay có cây cấy mô, giá rất rẻ. Cây có theo đợt, thường xuyên hết hàng.

Dendro. nắng xưa Mesangnil Robert: dòng cây nắng xưa , cây phát triển mạnh có thể cao hơn 2m, nhiều phát hoa, 1 vòi hoa mang rất nhiều hoa. Hoa rất thơm và cây siêng hoa.

lan dendro pensoda Cây đặc biệt cho hoa rất thơm, vòi hoa rất dài, nhiều hoa. Màu hoa nổi bật vàng lưỡi đỏ. Cây khỏe mạnh, cao lớn, rất siêng hoa.

lan dendro trường sơn cây rất dễ trồng, dễ ra hoa, ra ngồng là có hoa; hương thơm thoang thoảng; lâu tàn.

hiện nay có rất ít các thông tin về loại lan rừng trường sơn

lan dendro thái là loài lan rất phổ biến hiện nay , cây phát triển rất nhanh, siêng hoa, có nhiều màu sắc khác nhau, cách chăm sóc

khá đơn giản.

Nhiệt độ: Dendrobium thích hợp vùng khí hậu ấm áp. Nhiệt độ ban ngày khoảng 27-320C, nhiệt độ ban đêm 16-180C. Nhiệt độ thấp làm cây rụng lá.

– Ánh sáng: Lan Dendrobium rất cần ánh sáng, Lượng ánh sáng cần khoảng 70% ánh sáng mặt trời. Anh sáng quá cao làm cây bị cháy lá. Trường hợp thiếu sáng cây ốm yếu, lá mỏng, hoa nhỏ và không có hoa.

– Độ ẩm: 50-80%.

– Độ thông gió: Chọn vị trí làm vườn phải thông thoáng để môi trường lúc nào cũng ẩm và mát mẻ để lan có thêm điều kiện thuận lợi để phát triển. Tuy nhiên, ở đâu có mặt bằng thì ở đó có thể trồng lan được.

Tưới nước: Tưới nước giúp duy trì độ ẩm trong giai đoạn tăng trưởng. Lượng nước tưới tuỳ theo giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây và tuỳ theo mùa. Thường mùa nắng tưới 2 lần vào lúc sáng sớm và 3 giờ chiều. tưới ướt lá và giá thể

lan dendro tím là giống hoa lan đẹp mang nhiều ý nghĩa trong cuộc sống, hoa lan màu tím ý nghĩa cho sự thủy chung son sắc, sự lãng mạng trong tình yêu, hoa có mùi hương thơm thanh thoát và dễ chịu.

Dendro tím được trồng trong các chậu sứ trắng để bàn, chậu nhựa treo móc sắt treo ban công, cửa sổ hoặc ghép trên những thân cây gỗ, ghép xơ dừa, trồng tiểu cảnh sân vườn…đều rất đẹp.

lan dendro xuân là giống lan phát triển khỏe mạnh cả thời tiết lạnh giá, cây rất dể trồng, thậm chí cây có thể giâm nhánh để phát triển thành cây con mới, cây có nhiều hoa mọc từ thân , các chồi hoa mọc từ giả hành rất đẹp.

Lan Dendro xuân thuộc nhóm cây ưa lạnh, sinh trưởng và phát triển tốt ở

Nhiệt độ lý tưởng từ 15-20 độ C.

Điều kiện không khí ẩm và thoáng. Độ ẩm tương đối khoảng 40-70%, cấu tạo giá thể quá ẩm và úng sẽ là điều kiện bất lợi cho sự sinh trưởng của lan Dendro. Vì có thể toàn bộ rễ bị thối.

Lan Dendro xuân ưa sáng, Ánh sáng càng nhiều cây càng mọc mạnh, hữu hiệu nhất là khoảng 75%.

Các chậu lan Dendro xuân treo trong vườn không nên quá sát nhau, khoảng từ 25-30cm.

Cây ưa ra hoa trong thời tiết lạnh. Do vậy nếu ban đêm lạnh xuống dưới 14°C một vài giờ trong khoảng 25-30 ngày; cây lan Dendro xuân bắt đầu ra nụ. Và nở hoa trong vòng 50 ngày ở nhiệt độ ban ngày vào 26.7°C và 18.3°C vào ban đêm.

lan dendrobium sonia là giống lan nở lâu tàn nhất hiện nay, cây thường được trồng với số lượng lớn để cung cấp hoa cho thị trường, hoa thường được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau như, cắm hoa đám cưới, cắm hoa để bàn…

Lan Dendrobium Sonia yêu cầu được tưới nước hàng ngày với lượng nước bình quân 4 lít/1m2/ lần tưới. Vào mùa khô, mỗi ngày tưới 2 lần, nhưng sang mùa mưa thì số lần tưới giảm đi (1 lần/ngày hoặc vào những ngày có mưa thì không cần phải tưới).

Không được để giá thể bị ướt quá hoặc khô quá.

– Độ ẩm vườn duy trì 65-70%, độ ẩm giá thể 60-65%

– nhiệt độ vườn: 26- 31oC.

– Đặc biệt, vào những ngày nắng nóng, ngoài tưới nước cho cây thì việc tưới nước cho nền vườn cũng cần được duy trì.

lan dendro đột biến Đặc biệt hoa đột biến đẹp với màu hoa vàng viền trắng quý phái rất hiếm gặp.và hiện nay hoa rất được ưa chuộng trên thị trường, ta thường bắt gặp nhất là cây có viền trắng xung quanh lá là điểm dễ dàng nhận biết nhất,màu sắc của hoa cũng trở nên khác biệt so với các loại dendro hiện nay

lan dendro đuôi công là loại lan có vẻ đẹp hấp dẩn đối với tất cả mọi người, với vẻ đẹp độc-lạ, lan dendro đuôi công đang được rất nhiều người yêu lan yêu thích.

Cây Lan Đuôi Công thuộc dòng Dendro, thuộc họ Orchidaceae có thân hình trụ, lá thường mọc đối có màu xanh tươi mát, hệ lá khá dài và rộng. Hoa của loại cây này mọc thành những chùm khá dài, mỗi chùm hoa có thể bung tỏa dài tới 20cm hoặc hơn tùy thuộc vào chiều cao của cây. Cây càng khỏe thì vòi hoa càng dài và hoa càng nở bện rất bắt mắt. Một chùm hoa lan Đuôi Công khi nở ước tính cỡ 50 bông hoa nhỏ xếp khít vào nhau tạo thành chùm hoa rực rỡ khoe sắc và có mùi hương rất dễ chịu.

Cách ghép lan dendro vào gỗ

Lan dendro có rất nhiều màu sắc đẹp, và chúng ta muốn ghép hoặc trồng chậu để khi cây nở hoa rất đẹp, hiện nay xu hướng ghép lan Lan dendro lên gỗ rất nhiều, khi cây nở hoa sẽ tạo nên những hình dáng đẹp mắt, từ những cây gỗ bình thường tạo nên một tuyệt phẩm số 1 trên đời, khi ngắm nhìn những bông hoa Lan dendro ta sẽ thấy mình thư thái hơn rất nhiều.

Chuẩn bị những dụng cụ cần thiết để có thể ghép những cây Lan dendro lên trên thân gỗ

Khúc lũa để ghép lan lên. (Vừa đủ để ghép những giò lan mới mua về)

-Dụng cụ + vật tư: ti kẽm (làm móc treo), dây buột lan, súng bắn ghim, máy khoan cầm tay, kềm bẻ kẽm.

Bước 1: Dùng máy khoan, khoan lỗ để gắn ti kẽm làm móc treo và xoay ngược lại khoan lỗ ngắn không cho lũn lỗ để bẻ kẽm ngược vô (không cho cọng kẽm và khúc lũa bị lắc lư khi treo lên)

Tách chậu ra và bỏ đi 1/3 xơ dừa rồi ốp lên gỗ cần ghép nha.

Khi đã ghép xong và treo lên rồi chỉnh cây cho phù hợp và kiểm tra xem góc cây có bị lung lay không, nếu có thì cần cố định bằng dây buộc lại cho chắc.

Sao khi ghép xong hoàng thành giò lan đẹp, anh chị em treo cây lên rồi dùng phân b1+n3m kích rể (hoặc thuốc kích rể khác tùy thích) tưới liên tục cách 3 đến 5 ngày 1 lần, khi thấy cây đã ra rể mới thì giảm lại và tưới phân NPK 31-10-10 hoặc phân hữu cơ để bón lá và cây là xong giai đoạn đầu. (khi cây phát triển tốt ra nhiều chôi mới sẽ rất đẹp nha bà kon) hi hi.

Cách phòng trị bệnh cho cây hoa lan dendro

Bệnh trên cây trồng nói chung và cây lan dendro nói riêng thường được phân thành 3 nhóm bệnh chính: Bệnh do côn trùng gây ra, bệnh do nấm gây ra và bệnh do virus. Trong 3 loại bệnh này thì bệnh do côn trùng gây ra dễ phòng ngừa và cũng dễ điều trị. Còn bệnh do nấm và virus gây ra thì biện pháp chủ yếu và hiệu quả nhất là phòng ngừa còn việc điều trị hầu như ít có hiệu quả.

  • – Dithane M45 80WP: 2 – 3 tuần/lần.
  • – Aliette 800 WG: 2 tháng/lần.
  • – Vicarben; 1 tháng/lần.

Còn vào mùa mưa có thể phun:

  • – Dithane M45 80WP: 1 tuần/lần.
  • – Aliette 800 WG: 1 tháng/lần.
  • – Vicarben: 10 ngày/lần.
  • – Phun thêm Nacosan (hoặc Benkona, giảm liều còn 1/2 chỉ dẫn) 2 – 3 tuần/lần để phòng ngừa rêu, mốc.

Nếu khi bông nở có dấu hiệu bị dòi đục lá thì phun ngừa khi hoa chưa nở confidor (hoặc anvado) 10 ngày/lần.

Ngoài ra để phòng ngừa sâu bệnh bạn cần:

  • – Thường xuyên dọn dẹp vệ sinh lá rụng.
  • – Cắt bỏ chồi bệnh, cách ly hay tiêu hủy cây bệnh.
  • – Dọn sạch cỏ trong giàn và quanh giàn.
  • – Không hút thuốc trong vườn lan.
  • – Hạn chế khách vào thăm vườn.
  • – Không để chuột, ốc vào giàn.
  • – Xả nước thật kỹ trước khi tưới để không bị nóng.
  • – Mùa đông lạnh 8 giờ sáng trở đi mới nên tưới.
  • – Theo dõi thời tiết hàng ngày để quyết định lịch tưới
  • – Kiểm tra độ pH nước và khoáng chất định kỳ.

cây lan dendro khi bị vàng lá ta phải tim hiểu về những nguyên nhân gây ra bệnh vàng lá của lan dendro. Sau khi tim được những nguyên nhân ta tiến hành xử lý kịp thời để giúp cây phát triển sớm.sách

bệnh vàng lá nguyên nhân chủ yếu là do, thời tiết và cách chăm sóc, và các giai đoạn phát triển của cây

– Bệnh đốm lá: Vết bệnh thường có hình thoi hoặc hình tròn nhỏ màu xám nâu, xuất hiện ở mặt dưới lá. Bệnh làm vàng lá, dễ rụng, cây sinh trưởng kém. Bệnh do nấm Cercospora sp. gây ra.

– Bệnh đốm lá: Ban đầu vết bệnh là một đốm nhỏ màu vàng hơi lõm, phát triển dần theo chiều dọc của lá và về sau có hình bầu dục, ở giữa có màu trắng xám, xung quanh có màu nâu đen. Giữa mô bệnh và mô lành có một quầng màu nâu đỏ. Bệnh do nấm Phyllosticta sp gây ra. Ngoài ra, trên cây hoa lan còn có một số dạng bệnh khác như bệnh tàn cánh hoa do nấm Botrytis cinerea, bệnh thối trắng rễ do nấm Rhizoctonia solani, bệnh đốm vàng do nấm Cercospora dendrobii gây ra….. Còn có một số bệnh gây ra bởi các nguyên nhân điều kiện môi trường hoặc dinh dưỡng khoáng.

Bệnh đốm lá bởi vi khuẩn Guignardia spp

Bệnh gây nên bởi vi khuẩn Guignardia spp, Phyllosticta spp. Triệu chứng của bệnh này là sự xuất hiện của các chấm nhỏ đen 2 bên của mép lá. Khi chúng phát triễn hơn sẽ hình thành nên những nốt mụn nhỏ, đây chính là những công cụ chứa bào tử mầm mống gây bệnh nặng hơn. Bệnh nếu không phát hiện sơm sẽ gây ra hiện tượng vi khuân dần làm chết hết các tế bào của lá, và làm lan mất hết toàn bộ lá.

Khi phát hiện thấy lá nào trên thân cây có hiện tượng bộc phát bệnh cần tiến hành cắt bỏ lá đó và tiêu hủy ngay

lan dendro có ý nghĩa rất lớn trong cuộc sống , lan dendro mang màu tím ý nghĩa cho sự chung thủy son sắc, sự lãng mangj trong tình yêu, hoa mang lại hương thơm thanh thoát, mùi vị hương thơm lan tỏa trong không khí giúp cho tinh thần chúng ta trở nên thư thái và dễ chịu hơn, mỗi ngày đi làm về ta lại ra ngắm nhũng bông hoa lan dendro nở và mọi sự mệt mọc của cuộc sống dần tan biết hết.


【#7】Đề Tài Nhanh Nhanh Invitro Hoa Phong Lan Mokara

MỤC LỤC MỞ ĐẦU Phần 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Khái quát chung về nuôi cấy mô tế bào thực vật 1.1.1. Lịch sử phát triển của nuôi cấy mô 1.1.2. Cơ sở khoa học nuôi cấy mô tế bào thực 1.1.2.1. Khái niệm chung về nuôi cấy mô tế bào thực vật 1.1.2.2. Cơ sở khoa học nuôi cấy mô tế bào thực vật 1.2. Các yếu tố của môi trường cấy ảnh hưởng đến các giai đoạn trong nuôi cấy invitro 1.2.1. Khoáng đa vi lượng 1.2.2. Vitamin 1.2.3. Nguồn sắt 1.2.4. Nguồn Carbon 1.2.5. Các chất hữu cơ 1.2.6. Than hoạt tính 1.3. Tầm quan trọng của nuôi cấy mô 1.3.1. Về mặt lý luận sinh học cơ bản 1.3.2. Về mặt thực tiễn sản xuất 1.4. Giới thiệu chung về hoa Phong Lan 1.4.1. Một số đặc tính đại cương về họ lan (Orchidaceae) 1.4.1.1. Đặc điểm sinh học 1.4.1.2. Sự phân bố 1.5. Giới thiệu chung về hoa Mokara 1.5.1. Đặc điểm sinh học của lan Mokara 1.5.1.1. Đặc điểm hình thái lan mokara 1.5.1.2. Sự phân bố 1.5.2. Môi trường và các điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng nuôi cấy mô hoa Mokara 1.5.2.1. Nhiệt độ cây 1.5.2.2. Ẩm độ 1.5.2.3. Ánh sáng 1.5.2.4. Độ thông thoáng và giá thể 1.5.2.5. Nhu cầu dinh dưỡng 1.5.3. Gíá trị kinh tế và giá trị sử dụng hoa Mokara 1.5.4. Các loại sâu hại chủ yếu trên hoa Mokara 1.5.6. Thiết bị và các nhân tố đảm bảo trong nuôi cấy mô 1.5.6.1. Thiết bị 1.5.6.2. Các nhân tố đảm bảo thành công trong nuôi cấy mô thực vật 1.5.7. Phương pháp nhân giống hoa mokara 1.5.7.1. Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô ( in vitro ) 1.5.7.2. Phương pháp nhân giống từ hom 1.5.7.3. Phương pháp nhân giống từ hom có cải tiến 1.5.8. Tình hình sản xuất hoa Mokara ở Việt Nam và trên thế giới 1.5.8.1. Tình hình sản xuất hoa Mokara ở Việt Nam 1.5.8.2. Tình hình sản xuất hoa Mokara trên thế giới PHẦN 2 KẾT QUẢ 2.1. Sơ đồ quy trình 2.2. Thuyết minh quy trình 2.2.1. Chuẩn bị môi trường 2.2.2. Nguyên vật liệu 2.2.3. Khử trùng mẫu 2.2.4. Khởi tạo PLB từ mô lá 2.2.5. Sự tái sinh chồi từ PLB 2.2.6. Sự ra rễ 2.2.7. Chuyển cây ra vườn ươm PHẦN 3 KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU Từ xưa tới nay, Lan được biết đến như một loài hoa quý phái, hoa của bậc vua chúa vương giả. Lan ở Việt Nam đẹp vẻ đẹp thanh cao lại chứa đựng nhiều ý nghĩa. Cùng với sự phát triển của ngành trồng Lan trong thời gian qua, loài hoa quý này không chỉ làm đẹp hơn hình ảnh của Việt Nam trong con mắt du khách đến với đất nước xứ sở nhiệt đới này mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Một số giống hoa có thể trồng được trong điều kiện khí hậu nhiệt đới cận của nước ta như Dendrobium, Mokara, Cattleya, Vandaccous,…Trong đó lan Mokara được trồng nhiều và có giá trị kinh tế cao. Bởi bên cạnh giá trị thẩm mỹ mà Mokara mang lại thì Mokara còn được sử dụng để tách chiết phục vụ cho một số ngành công nghiệp mỹ phẩm. Ngoài ra, đối với y học loài hoa này cũng có nhiều giá trị nhất định.Với giá trị như vậy hoa Mokara hứa hẹn mang lại nguồn doanh thu to lớn cho ngành sản xuất, kinh doanh mặt hàng này. Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu giống của thị trường trong nước, hàng năm chúng ta phải nhập một số lượng lớn các giống hoa Lan (kể cả giống và cành hoa) từ Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc. Do đó giá thành của các cây giống còn rất cao, mỗi cây Lan Mokara kích cỡ trung bình 35 – 40 cm có giá trị từ 40.000 – 45.000 đồng/cây. Nếu đầu tư một vườn Lan với diện tích tối thiểu khoảng 1000m2 nhà lưới thì số lượng cây giống đầu tư trung bình là 4000 cây, giá trị cây giống lên tới 160 – 200 triệu đồng chưa kể giá thành nhà lưới và vật tư cần thiết khác từ 60 – 80 triệu đồng/1000m2 nhà lưới. Chi phí ban đầu cho cây giống hoa Lan Mokara chiếm tới 70% tổng chi phí. Do đó việc giảm giá thành cây giống để cung cấp cho người sản xuất, mở rộng diện tích đang là vấn đề bức xúc hiện nay. Để giải quyết vấn đề này người ta áp dụng nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy mô sự cần thiết vì hệ số nhân cao, có thể nhân nhanh được hàng loạt các cây con giống có năng suất và phẩm chất tốt như bố mẹ chọn lọc. Từ một cây mẹ ban đầu ta có thể nhân ra hàng ngàn cây con có kích thước và chất lượng đồng đều như nhau, giúp việc nhân giống được nhanh hơn. Mặt khác, cây con ổn định về mặt di truyền, đồng thời giảm tác hại cho cây giống và đem lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao chất lượng cây giống và giảm giá thành. Chính vì vậy nên tôi chọn đề tài: ” Nhanh nhanh invitro hoa phong Lan Mokara ” nhằm mục đích tìm hiểu rõ hơn về quy trình, phương pháp tiến hành của quy trình nhân nhanh giống hoa Lan Mokara bằng phương pháp invitro. PHẦN 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Khái quát chung về nuôi cấy mô tế bào thực vật 1.1.1. Lịch sử phát triển của nuôi cấy mô Nuôi cấy mô tế bào thực vật là sự nuôi cấy vô trùng các cơ quan, mô, tế bào thực vật trên môi trường nuôi cấy đựợc xác định rõ: Việc nuôi cấy được duy trì dưới điều kiện kiểm soát. Vi nhân giống là phương pháp nhân nhanh với số lượng lớn và giảm giá thành. 1.1.2.2. Cơ sở khoa học nuôi cấy mô tế bào thực vật Tất cả cây trồng đều tổng hợp được chất auxin dạng tổng hợp tùy theo giai đoạn phát triển của chúng. Chất auxin sinh ra được hiện diện trong các lá rất non, trong các chồi đang hoạt động, ở mức độ phát hoa và ở trên các quả còn non. Auxin lưu thông từ đỉnh xuống phần dưới cơ quan với một sự phân cực rõ ràng được thấy rõ trên các cơ quan thực vật còn non, nhưng trong quá trình chuyển này chúng bị thoái hóa bởi sự auxin-oxydase, điều này cho thấy nồng độ auxin thì luôn cao hơn gần với nơi tổng hợp chúng. Như vậy, auxin hiện diện với nồng độ vừa đủ ở các mức điểm tăng trưởng hoặc ở phát hoa để đảm bảo sự nhân giống và kéo dài tế bào. * Các chất auxin tổng hợp Gồm các chất sau: – Acid indolybutyrique (AIB) – Acid naphtylacetique (ANA) hoặc các chất dẫn xuất của chúng như: + Acid naphtyloxyacetique (ANOA) + Acid naphtylacetamide (NAD) + Acid 2,4 dichrolophen-oxyacetique (2,4D) Trong lĩnh vực nuôi cấy mô, những chất giống được sử dụng và auxin đã chiếm một vị trí quan trọng hơn, hai tính chất của chúng được nghiên cứu thuộc lĩnh vực nhân tế bào và hiệu quả ra rễ. Ngoài ra, trong thực tiễn chúng còn được dùng để giâm cành, để làm sáng quả, sự đậu quả và làm chậm sự thu hoạch quả. b/ Cytokinine Các khoáng cung cấp cho cây trong nuôi cấy mô đều ở dạng các muối vô cơ, cây lan có thể thích nghi phổ rộng các hỗn hợp muối vô cơ. Đạm là thành phần của acid nucleic đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất, là thành phần chủ yếu của chất nguyên sinh của tế bào, do đó có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của cây. Đạm được sử dụng trong nuôi cấy mô thường ở dạng muối (NH4+) và nitrat (NO3-). Lân tham gia vào việc vận chuyển năng lượng, sinh tổng hợp protein, acid nucleic và tham gia vào cấu trúc của màng. Lân thường được sử dụng ở 2 dạng ion là H2PO4- và H2PO22-. Nồng độ khoáng đa lượng và vi lượng trong môi trường ra rễ thường giảm xuống còn một nữa so với bình thường. Nguyên nhân có lẽ là do nhu cầu về đạm trong giai đoạn này giảm xuống. 1.2.2. Vitamin Hiện nay hầu hết các phòng thí nghiệm đều dùng sắt ở dạng chelate kết hợp với Na2- Ethylen Diamin Tetra Acetat (EDTA). Ở dạng này sắt không bị kết tủa và giải phóng dần ra môi trường theo nhu cầu của mô thực vật 1.2.4. Nguồn Carbon Nước dừa (CW-cocount) được dùng thông dụng trong nuôi cấy mô. Nước dừa cung cấp bổ sung cho môi trường các loại đường, amino acid, chất sinh trưởng và các chất trao đổi khác. Nước dừa chỉ kích thích những tế bào hay mầm còn non chưa trưởng thành và sự phát triển phôi, nước dừa thường dùng ở nồng độ 15%. Từ việc sử dụng nước dừa, nhiều mô thực vật được nghiền tách dịch chiết và bổ sung vào môi trường nuôi cấy có tác dụng kích thích sự phát triển như cây chà là, chuối, mầm lúa mì…Nhưng thông thường các dịch chiết chỉ có tác dụng trên các loài cây trồng không cùng nguồn gốc. 1.2.6. Than hoạt tính 1.3.1. Về mặt lý luận sinh học cơ bản Nuôi cấy mô đã sớm mở ra khả năng to lớn cho việc tìm hiểu sâu sắc về bản chất của sự sống. Thông qua nuôi cấy mô và tế bào chúng ta đã tiến hành so sánh đặc tính của cơ thể và các hợp phần của chúng khi tách rời khỏi cơ thể. Thực tế đã chứng minh là cho phép tách và nuôi cấy trước hết là mô phân sinh rồi từ đó là nhóm tế bào không chuyên hoá gọi là mô sẹo và từ mô sẹo có thể kích thích thành cây hoàn chỉnh. Bằng phương pháp nuôi cấy mô chúng ta có thể tiến hành tìm hiểu và nghiên cứu mối quan hệ khởi đầu giữa ký sinh và kí chủ vì vậy mà bệnh lý sẽ được giải quyết một cách cơ bản. 1.3.2. Về mặt thực tiễn sản xuất Phương pháp nuôi cấy mô được sử dụng để phục tráng giống và nhân nhanh giống cây trồng quý, có giá trị kinh tế cao. Ngoài ra phương pháp nuôi cấy mô còn có triển vọng sử dụng rộng rãi trong công nghệ sinh học. Bằng phương pháp nuôi cấy mô sau một thời gian có thể tạo thành một sinh khối lớn các hoạt chất: alkaloic, glycoside, các steoid các chất dính dùng trong thực phẩm. Những lợi ích trong nuôi cấy mô trong sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp: + Kiểm soát được dịch bệnh hại cây trồng, ta có thể loại bỏ được những cá thể nhiễm bệnh hay mang mầm bệnh. + Kiểm soát được chất lượng giống thông qua kiểm soát kiểu gen của giống đêm vào sản xuất. + Kiểm soát được từ khâu nhân giống đến khâu thu hoạch. + Tạo sự đồng loạt về giống, cơ giới hoá được khâu trồng trọt và khâu thu hoạch. Làm tăng năng suất chất lượng cao giúp tiêu thụ nhanh và đêm lại thu nhập cao. 1.4. Giới thiệu chung về hoa Phong Lan 1.4.1. Một số đặc tính đại cương về họ lan (Orchidaceae) 1.4.1.1. Đặc điểm sinh học [16] Trong số những cây cho hoa có hơn 16000 loài và 700-800 giống thuộc họ Orchidaceae đã được xác định và rất nhiều loài lai giống nhân tạo. Họ lan chiếm vị trí thứ 2 sau họ Cúc (Asteraceae) và họ lớn nhất trong lớp một lá mầm. Riêng ở Việt Nam lan được biết gồm 750 loài khác nhau. Khác với cây trồng cạn, trồng trong môi trường nước các loài phong lan lại có đời sống ký sinh, bì sinh nhờ bộ rễ “ăn nổi” bám vào cây rừng nhiệt đới hoặc hút chất dinh dưỡng từ mùn hữu cơ đang hoai mục. Nhìn chung, họ Lan bao gồm các loài thân thảo, sống lâu năm. Chúng sống ở đất, nơi hốc, vách đá…Căn cứ vào cấu trúc thì có


【#8】Các Loại Dendro Nắng Và Cách Chăm Sóc

1. Giới thiệu một số loại Dendro nắng quen thuộc

Cây có cấu trúc đẹp: có thể nói, cây Den.King. Hổ mang chúa chiếm ưu thế hơn nhất. Lưỡi hoa to, 2 tai dài, vươn cao, đài trước xoán lại rất quái, mổ ra phía trước rất giống con rắn Hổ mang. Màu đỏ hồng thật xinh tươi. Cây cao khỏe (hơn 1m), giá trị kinh tế cao.

Cây lan có màu trắng đẹp và kích thước to nhất: cây trắng Bao Thanh Thiên đang chiếm ưu thế cao nhất. Hoa có kích thước khủng (12cm 2 cánh), chiều cao của hoa có thể cao bằng hoa Vanda to. Màu hoa trắng tinh khiết, cấu trúc 2 tai nhọn (như tấm thẻ bài xử trảm của Bao Công trong phim ?) ), lưỡi hoa to, “ngầu”, nhọn, “chặt góc”. Hoa của cây bền dù cánh mỏng. Giá trị kinh tế cao.

Kích thước hoa Dendro. Bao Thanh Thiên. Cây cao 30cm, cho hoa bói, 2 cánh hoa daì 12cm, có hình so sánh giửa hoa Bao thanh thiên và cây C.White thông thường (cánh C.White là 8cm). Nhìn bên ngoài hoa Bao Thanh thiên rất to, trắng tinh, tuy dài cánh nhưng cánh hoa ko bị rũ. Rất đẹp!

Cây tên thú có hoa đẹp, King mỏ két (đầu lưỡi cong xuống giống mỏ con két): hoa to, siêng hoa, rất lâu tàn, cấu trúc hoa đẹp (cánh hoa múa về bên phải). Cây cao lớn, khoẻ mạnh.

Cây trắng lưỡi tím đẹp, cây Den. Mesangnil Robert. Cấu trúc hoa tuy trung bình, nhưng bù lại nhiều hoa, cây cao lớn, siêng hoa, mùi thơm đậm. Một lựa chọn khi chơi cây “khủng”. Ngoài ra ra còn có dòng Trắng lưỡi tím xưa (Bà liễu), hoa to, siêng hoa, màu sắc nổi bật, cũng rất thơm. Cây cao, khoẻ mạnh. Và Tai thỏ xưa, mùi thơm quyến rũ, rất siêng hoa, thân cây không quá cao lớn.

Cây 3 màu đẹp, cây Nioka, Hawaii Gem. Dòng cây này khá xưa, hoa có cấu trúc màu nâu sáng sang trọng, 3 màu: nâu, vàng, tím. Hoa rất thơm. Cây trồng đạt sẽ cao tầm 1m, siêng hoa. Giá trị cao.

Cây có hoa viền đẹp, cây King Hóc môn. Cây có cấu trúc chuẩn, viền trắng đậm cả 3 cánh và 3 đài hoa. Khi cây khỏe mạnh (gần 2m) nở hoa đầy đủ, hoặc với 2 vòi hoa thì thực sự nổi bật.

Cây màu vàng đẹp, cây King vàng. Với màu vàng óng ả như tơ làm cho cây thật sự sáng và nổi bật hơn những cây hoa vàng khác. Cây cao lớn, cấu trúc hoa chuẩn nở đối xứng 2 bên. Cây giá trị cao.

Cây màu đỏ đẹp, cây Red big. Cây với màu đỏ đậm, cấu trúc hoa to, 2 tay dài, 2 đài dưới có viền trắng làm cho hoa sáng lên. Cây chưa cao lớn, nhưng vòi hoa rất to. Tuy hoa to nhưng phát hoa lại rất nhiều hoa, thật sự nổi bật khi nhìn cây ngoài thật tế. Cây mập, chắc, khỏe. Giá trị cao.

Cây màu hồng đẹp (Pink): cây pink xưa với 3 đài hoa vặn xoán nhẹ như chong chóng. Ngoài ra còn có cây Dazang cũng rất đẹp với vòi hoa thòng xuống. Cấp 3*

Cây màu tím đẹp Pompadour và Madame Pompadour: cây với màu tím nổi bật. Lưỡi hoa với 2 má khít lại, có viền trắng đài hoa. Tuy cấu trúc hoa tròn, không to, nhưng do giống xưa nên dễ trồng, siêng hoa.

2. Cách chọn mua giống

– Nếu chọn trực tiếp : Chọn cây có thân lá cứng cáp , khoẻ mạnh, không có đốm, dấu hiệu bệnh, càng đủ lá ở thân tơ càng tốt, cây ở dạng bánh tẻ sẽ khoẻ . Bầu cây, chậu cây cần khô không đọng nước.

– Mua từ xa ( qua mạng) chọn các địa chỉ tin cậy và có thoả thuận rõ ràng, yêu cầu về chất lượng cây, cách đóng gói, bảo quản, vận chuyển tốt nhất cho cây và tiết kiệm tiền phí.

– Hạn chế mua cây giống non, nhất là vận chuyển xa vì lâu phục hồi, khi các bạn có kinh nghiệm đầy mình rồi hãy tính, đừng nghĩ nhỏ sẽ tiết kiệm.cây nhỏ dễ sốc và tỷ lệ sống không cao, mặt hoa khó đảm bảo. Kinh nghiệm cá nhân tôi là mua cây đã thấy mặt hoa (Tách chiết hướng hoặc keiki từ cây mẹ đã nhìn thấy hoa).

3. Trồng mới, chuyển thay chậu

– Chống sốc: Cây nhập vườn các bạn treo hay để vào chỗ mát thoáng có mái che mưa, tưới đẫm nước, để 1 tiếng sau tưới b1 tỷ lệ 1 lắp cho 2 lít nước, phun các bộ phận trừ nụ hoa. Ngày sau phun chống nấm bằng Dizomilk gold( tỷ lệ trong bao bì)

Được 3-5 ngày tuỳ theo giá thể cũ mà giữ nguyên hay cắt bỏ giá thể.

– Cắt bỏ giá thể: gỡ giá thể, chất trồng cũ nhẹ nhàng, cắt rễ cũ, hỏng cách gốc 3-5cm .

– Chuẩn bị chậu trồng , chất trồng: Dùng chậu đất nung hay chậu nhựa, chậu gỗ tuỳ theo sở thích và kích cớ cây.

Chất trồng có thể là than củi, vỏ thông, vỏ nạc, trấu trộn mùn cưa đã ủ kỹ, viên đất nung .

– Cách trồng: kê 1/3 đáy chậu là chất trồng to, lâu mục, thoát nước hoặc xốp trắng . tiếp đến là 1/3 chất trồng kích thước trung bình 2-3 cm hoặc tương tự. 1/3 chậu tiếp là chất trồng nhỏ hơn, bề mặt trơn nhẵn thì càng tốt như viên đát nung hoặc dớn cọng hoặc vỏ thông xử lý nhỏ.

– Đặt cây ngồi trên chất trồng với hướng phát triển từ mép chậu vào giữa chậu , gốc cây gần ngang mặt chậu chứ không chìm sâu, mắt ngủ không bị vùi lấp. Buộc cố định thân cây vào móc treo vừa đảm bảo cây ở thế yên ổn cho rễ mọc và tính thẩm mỹ ( dây thiếc hoặc loại chuyên dụng buộc uốn bonsai).

– Treo lại cây vào nơi có mái che mưa. 3 ngày sau tưới nước kèmB1 + 30- 10- 10 để kích rễ.

4. Chăm sóc

Nhóm Dendrobium ưa nóng, nhiệt độ thích hợp cho các hoài của nhóm này là 25°C. Tuy nhiên các giống Dendrobium lai chịu được một nhiệt độ cao hơn nhiều.

– Tuần 2 lần B1 + 30- 10- 10, hàng ngày tưới kiểu phun sương vào gốc và giá thể vào sáng sớm và chiều mát.

– Tháng 2 lần nước vôi trong và dizomilk gold thay phiên nhau .

– Khi cây mọc rễ mới, mầm non thì đưa dần treo lên giàn cùng với các cây lan khác. Vị trí treo ở tầng cao nhất, ánh sáng từ 80- 100% thoáng gió .

Để đảm bảo cân bằng dinh dưỡng và đỡ phức tạp, bạn có thêr thay 30-10-10 bằng 20-20-20 kết hợp B1 tưới tuần 2 lần vào sáng sớm hoặc chiều mát tuỳ điều kiện của bạn, miễn là tránh nắng, mưa trực tiếp lúc bón phân. Một số bạn bận rộn mà vẫn muốn cây có chất ăn, chúng ta bón phân hữu có, vô cơ tan chậm xung quang gốc cây, cách gôc khoảng 5cm ( Các loại phân bón, các bạn tự tìm hiểu ở các bài chia sẻ trước).

– Cây đủ nắng, gió, độ ẩm, phân bón ắt sẽ cho hoa. Nhưng một số bạn muốn ăn chắc, muốn hoa đẹp hơn, ra hoa theo ý mình, có thể tham khảo cách sau:

Khi thân cây đứng ngọn ( không thấy mọc lá non) phun B 1+ 6- 30- 30 tuần 2 lần lấy 6 lần như vậy thì dừng.

– Khi cây phát nụ chú ý tránh gió Tây Bắc và sự di chuyển đột ngột dễ làm thui nụ.

* Các khâu phòng chống sâu bệnh cho cây mời các bạn tham khảo ở các bài viết khác đã có.

Lưu ý cho các bạn ở miền Bắc có mùa đông lạnh rất dễ làm cây bỏng lá, rụng lá, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và chất lượng hoa. Cần có mái che nilong tránh mưa, sương giá cho những ngày khí hậu khắc nghiệt.

B1 là món quà cho quá trình tăng sức đề kháng cho cây!

(Theo chị Yến Lê)


【#9】Ý Tưởng Trồng Hoa Lan Tại Nhà Của Robert Fuchs

Một số ý tưởng trồng hoa lan trang trí vườn ngoài trời ở những vùng khí hậu ấm áp

Bài viết này được trích dẫn từ các ý tưởng trồng hoa lan của tác giả Robert Fuchs – một tác giả nổi danh với hoa lan tại Hoa Kỳ.

Bất kể diện tích vườn của bạn to nhỏ thế nào, các cây lan bao giờ cũng bổ xung những vẻ đẹp tuyệt vời, những màu sắc làm ngạc nhiên người viếng thăm, thêm vào đó là hương thơm không gì sánh được. Ở những vùng có khí hậu nhiệt đới hoặc á nhiệt đới là những nơi xuất xứ của những giống lan có thể cung cấp cho chúng ta dùng làm trang trí sân vườn.

Chúng tôi đã rất thành công khi bổ xung một số cây lan vào những mảnh vườn ở South Florida (Hoa Kỳ), và điều đó cho phép tôi khẳng định chúng ta có thể làm như vậy ở các khu vườn nhiệt đới và á nhiệt đới ở bất cứ đâu.

Chúng tôi trồng loại phong lan (lan sống cộng sinh trên cây thân gỗ) trên một số cây trong vườn, và chúng tôi trồng một ít địa lan thành những luống. Khi bắt đầu thiết lập, nó đòi hỏi chúng ta phải bỏ một ít công sức để chăm sóc.

Khí hậu ở miền nam Florida tương đồng với nhiều môi trường sinh trưởng của lan; đó là nóng, ẩm ướt và mùa hè đồng thời mát hơn và khô hơn vào mùa đông. Đối với lan thì chúng cần không khí ẩm quanh năm, chúng tôi làm hệ thống tưới trong suốt thời gian khô hạn.

Những giống phong lan trong vườn

Những giống lan này được trồng trên các cành cây thân gỗ, ở ngay trên thân cây. Việc cần làm trước hết là chúng ta tìm đúng loài lan thích hợp và tìm được cây chủ mà nó sống nhờ, thế là bạn đã có thể thiết lập khu vườn cho mình. Khi lựa chọn cây chủ, có một số tiêu chuẩn quan trọng:

Vỏ của cây chủ phải nhám vừa đủ và không được dưới tán cây có quá nhiều bóng râm. Rễ của cây lan sẽ bám vào cây chủ, nếu như vỏ cây chủ quá nhẵn nhụi hoặc là vỏ của nó đã chuẩn bị bong tróc ra hoặc chúng sẽ bong tróc ra, thì đó là không thích hợp. Nơi trồng cây lan mà ở dưới tán cây với quá nhiều bóng râm cũng không thích hợp. Nếu như bạn thấy bên dưới cây chủ mà không có những cây rêu hoặc cỏ mọc như vậy là ánh sáng không đủ cho lan. Một số cây đặc hữu của chúng tôi thuộc loại cây chủ tuyệt vời để trồng lan, và một số cây trang trí không thuộc loài đặc hữu cũng có thể được sử dụng.

Cây sồi ở miền nam (tên khoa học là Quercus virginiana) là cây đứng hàng đầu ở South Florida. Nếu như bạn có cơ hội sở hữu một cây sống đang sống thuộc sở hữu của bạn, thì có thể ghép được khá nhiều lan trên đó. Cây dái ngựa (Swietenia mahagoni) là một loại cây có vỏ sù sì. Cây khuy áo (Conocarpus erectus, gồm loại có màu xanh và loại màu bạc), cây lá lụa bóng (Chrysophyllum oliviforme), cây Geiger (Cordia sebestena) cũng là những cây chủ để ghép lan rất tốt. Trên đây chỉ là một số ví dụ, bạn hãy quan sát kỹ những cây trong vườn nhà bạn, đồng thời quan sát kỹ những cây ở vườn ươm nếu như bạn muốn trồng làm cây chủ. Cây nào có vỏ sù sì và dưới tán của nó cho cường độ ánh sáng trung bình thì đó là cây đủ điều kiện để ghép những cây phong lan.

Những ai đã từng đến thăm khu vườn nhiệt đới có thể thấy những cây phong lan được ghép trên cả các cây cọ. Khi ghép lan vào các cây cọ thì cần lựa cái thân không bị tán lá che khuất nhiều, và quấn một vài lớp vải trên thân (chỗ ghép lan) của nó.

Một khi bạn đã chọn lựa được cây chủ, cần lưu ý hướng mặt trời chiếu và cường độ sáng chiếu trên thân hoặc cành cây vào những thời điểm khác nhau trong ngày. Trên những thân cây hoặc cành cây mà chúng nhận được quá nhiều ánh sáng trong ngày thì nên ghép loài phong lan ưa nắng, như là schomburgkia, loài Vandas có lá dạng terete hoặc semiterete (là gập) và loài cyrtopodium. Đối với những thân cây hoặc cành cây mà chủ yếu nhận ánh sáng mạnh vào buổi sáng, nhưng đến nửa ngày thì chuyển sang bóng râm, hoặc là bóng râm nhẹ suốt cả ngày, thì cách lựa chọn loài lan của bạn gần như không giới hạn. Cattleyas, dendrobium, oncidium, và nhiều loài thuộc họ vanda, brassavola, encyclias và enpidendrum – tất cả loại này đều có thể ghép trên những cây chủ.

Nếu như bạn muốn trồng nhiều loài lan khác nhau để trang trí vườn của bạn, thì nên xác định thời điểm ra hoa của cây lan. Giả thiết bạn chỉ có vài cây chủ để ghép mà bạn lại muốn chúng ra hoa vào những thời điểm khác nhau trong năm. Có một số loài chỉ ra hoa một lần trong năm, một số khác thì cho hoa một số đợt, đó là điều bạn cần quan tâm để quyết định nên mua loài lan gì và nên đặt chúng ở đâu.

Bây giờ bạn đã có một cây chủ và một cây lan, bạn sẽ cân nhắc xem ghép nó vào chỗ nào trên cây chủ. Nếu bạn định ghép nó vào thân cây thì vị trí ghép phải là nơi ngang tầm mắt của người lớn, như vậy mọi người có thể thưởng thức cây lan của bạn khi nó nở hoa. Bạn cũng có thể phải xem xét, nếu như bạn đứng ở ban-công hay cửa sổ nhà bạn thì bạn có trông thấy nó không. Bạn cũng lưu ý tạo sự ngạc nhiên cho những người đến viếng thăm. Nếu như hoa của cây lan đó có hương thơm thì cũng lưu ý đặt thế nào mà hương thơm của nó có thể tỏa đến chỗ bạn đứng.

Kiểm tra về tính chất thực vật của cây lan để nó phát triển khi bạn ghép, theo ý tôi thì bạn nên dùng một ít sợi rêu nước ốp vào thân cây chủ rồi ghép cây lan lên trên. Cột cây lan vào thân cây bằng một sợi dây, để cho cây lan khỏi bị lung lay. Đối với những cây lan lớn, bạn có thể quấn quanh nó khoảng 12-14 vòng, dùng loại dây có bọc hoặc dây ny-lon, cũng chỉ là cột tạm trong thời gian rễ của cây lan chưa phát triển thôi. Sau khoảng một, hai năm, khi bộ rễ của cây lan đã bám chặt vào cây chủ thỉ tháo bỏ những dây cột đó ra. Chú ý đừng cột dây làm nghẽn sự phát triển của cành cây hoặc thân cây chủ.

Khi bạn thấy cây lan đã ra rễ mới thì bắt đầu tưới nước và bón phân theo định kỳ cho nó. Khi cây lan đã phát triển rồi thì sự chăm sóc nó là không đáng kể, thậm chí chẳng cần chăm sóc nữa. Một số loài, muốn nó ra hoa thì phải định kỳ bón phân cho nó và tưới nước vào những ngày khô hạn.

TRỒNG ĐỊA LAN ĐỂ TRANG TRÍ VƯỜN

Ngoài những loài phong lan, còn có một số loài chúng ta có thể trồng dưới đất. Có nhiều loài trong số đó có thể trồng thành công trong vườn ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, và có một số loài có kiểu lá trông rất bắt mắt. Một số thích nghi với điều kiện phơi nắng hoàn toàn, một số khác thì ưa bóng râm nhẹ, song tất cả đều có thể trồng thành luống hoặc trong chậu, cho ta chất lượng tốt, song lưu ý dù trồng trên luống hay trên đất thì cũng cần phải thoát nước tốt. Ở Hoa kỳ có một vài thương hiệu về loại đất trồng như MetroMix, ProMix và các nhãn hiệu khác nên chọn cho việc trồng địa lan.

Đối với những luống mà có nhiều ánh sáng mặt trời thì bạn có thể trồng spathoglottis, enpidendrum có thân màu đỏ và arunda (người ta gọi lan tre – baboo orchid). Nếu như bạn cắm cọc cho một số lan leo như terete Vanda thì cũng phát triển tốt trong điều kiện này. Đối với những luống có chút bóng râm, thì loài phaius là một lựa tốt. Loài sobralias trông cũng đẹp lắm mặc dù hoa của chúng mau tàn, chì được một hai ngày thôi. Tất cả các loài lan này cần phải được bón phân thường xuyên. Loại phân chậm tan như Osmocote cũng là một lựa chọn thông minh.

Những khảo cứu khác

Tất nhiên, bạn có thể trồng lan trong chậu hoạc ghép lên cây trong vườn nhà bạn để tạo điểm nhấn. Một khi cây lan của chúng ta ra hoa, bạn cũng có thể di chuyển chúng đến những nới nào mà bạn cảm thấy chúng có thể phô diễn hết vẻ đẹp của chúng. Khi di chuyển thì bạn cũng đừng quên mùi hương của nó nhé.

Loài Brassavola nodosa (còn có tên là “thiếu phụ đêm”) có thể cho chúng ta hương thơm trong vườn về ban đêm. Xin nhớ là không đặt chúng nơi có ánh sáng khi mặt trời đã lặn, bởi vì còn ánh sáng là chúng không tỏa hương. Nhiều loài lan ra hoa vào mùa xuân như những loài Dendrobium rụng lá (khi chuẩn bị ra hoa) như Den. superbum, Den. pierardii, Den. primulinum, Den. parishii và những cây có họ với nó, đó là những loài có hương rất thơm. Một số loài lan lớn, chẳng hạn như dendrobium, grammatophyllum và các loài khác có thể gây ấn tượng tốt một khi trình bày chúng trong những cái tủ kính mỹ thuật.

Khi đêm trở lạnh, cần phải lưu ý bảo vệ các cây lan. Một số loài Cattleya và Den drobium có thể không gặp vấn đề gì, ngay cả khi nhiệt độ xuống còn 50oF, nhưng nếu ở nhiệt độ đó mà kèm theo gió thì các bạn phải tìm cách mà bảo vệ cây lan. Một số loài lan ưa khí hậu ấm cần phải được bảo vệ, bằng cách phủ hoặc quấn quanh nó những vật liệu kiểu như áo khoác cũ, khăn tắm chẳng hạn. Cũng có thể bạn dùng nhiều lớp giấy báo để chống rét cho nó, bên ngoài quấn một lớp ny-lon, nhớ cột lại để gió không thổi bay lớp chắn gió cho chúng.

Những người trồng lan ở vùng khí hậu lục địa (đặc biệt như nam California chẳng hạn), cần phải lựa chọn loài lan một cách cẩn thận; nhiều loài lan lai tạo trồng ở nam Florida không thích hợp với vùng có khí hậu mát, ẩm ướt vào mùa đông. Tốt nhất là chọn loài lan không có kỳ nghỉ dài và khô vào mùa đông, trừ phi bạn đặt cây lan vào trong một cái tủ (dùng để trồng lan) hoặc trồng bằng cách treo, dễ di chuyển vào mùa đông ẩm ướt. Những loài lan cần ẩm độ quanh năm (như hầu hết các loài Vanda), sẽ dễ xử lý cho thích hợp với sự chênh lệch nhiệt độ lớn.


【#10】Hậu Duệ Cây Lan Christensonia Vietnamica

Cây Christensonia vietnamica là một cây lan đơn thân (monopodial) do Jiri Haager một khoa học gia Tiệp khắc tìm thấy tại vùng núi Chúa, tỉnh Ninh thuận (Phan Rang).

Hậu duệ cây lan Christensonia vietnamica

Năm 193 ông công bố với tên Christensonia vietnamica, một loài lan mới để vinh danh tiến sĩ Eric Christenson và quốc gia Việt Nam. Eric Christenson là một khoa học gia Hoa Kỳ, (từ trần năm 2011) người đã cống hiến cho giới khoa học những định luật về phân loại các loài, các giống hoa lan.

Cây lan được vinh dự mang tên ông là một cây lan đặc hữu của Việt Nam và có chỉ một giống duy nhất trên thế giới vì vậy tên ông sẽ được đời đời nhớ tới vì cây lan không những đã cống hiến cho nhân loại những bông hoa đẹp đẽ mà lại còn được lai tạo ra biết bao nhiêu con cháu đa chủng loại cũng mang lại cho giới thưởng ngoạn nhiều đóa hoa hương sắc.

Trong tờ nguyệt san ORCHIDS tháng 7 năm 2011 do hội Hoa lan Hoa kỳ có bài “Breeding with Christensonia vietnamica” của Robert Fuchs, chủ nhân vườn lan danh tiếng: R.F Orchids tại Homestead, Florida.

Cây Christensonia vietnamica có tên Việt là Cù lao Minh, biệt danh của Nguyễn văn Để, người mang lan đi triển lãm. Nếu gọi tên là Lan Ninh Thuận nơi tìm thấy lan mọc, hay Thanh bạch thùy lan để tả mầu sắc của hoa do Trương thái Hòa đặt ra có lẽ văn vẻ và hợp lý hơn.

Ông đã từng là Hội Trưởng hội hoa lan Florida, là một giám khảo của Hội Hoa lan Hoa kỳ, năm 2008 ông được bầu là Giám Đốc ban tổ chức Đại hội Hoa Lan Thế giới thứ 19 tại Miami. Vườn lan của ông đã nổi tiếng vì đã đoạt được 30 huy chương vàng về trưng bầy và 48 giải thưởng khác trong các cuộc triển lãm quốc tế, không những tại Hoa Kỳ và còn ở các nơi khác.

Những cây Vanda do ông lai giống đã chiếm rất nhiều giải thưởng cao quý đó là những cây Vanda Robert’s đủ mầu sắc từ hồng tới tím đỏ, cho tới tím đậm và còn rất nhiều những cây lai giống khác.

Vanda Robert’s Delight ‘Red Black’ Vanda Robert’s Delight Black
Rhynchostylis coelestis Epicattleya Fred J. Fuchs ‘Fuchs Indigo’) AM/AOS x ‘Robert’ AM/AOS

Theo Robert Fuchs cây lan Christensonia vietnamica là một giống lan nhỏ, hoa lâu tàn có nhiều điểm tương tự như loài Aerides (Giáng Hương) và Rhynchostylis (Ngọc điểm) cho nên dễ dàng lai giống với nhau.

Mùa Xuân năm 1999 Robert Fuchs đã lai giống cây Christensonia với các cây Ascocenda (Ascocentrum x Vanda) viết tắt là (Ascda.) và Vascotylis (Asco.) lai giống giữa (Vanda x Ascocentrum, x Rhynchostylis). Những cây lan lai này hợp thành một loài đa chủng cho nên Robert Fuchs đã cầu chứng với 2 tên: Fuchsara (Fucr) và Coronadoara (Crd) vào năm 2003 cho những cây:

• Fuchsara Crownfox lai giống giữa các cây Chri. vietnamica x Vanda x Ascocnentrum (Vascotylis)

• Coronadoara Crownfox kết hợp giữa các cây Chri. vietnamica với các cây Vanda và Ascocentrum (Ascocenda)

Năm 2004 cây Fuchsara Crownfox “Mario Palmieri” đoạt huy chương bạc AM/AOS, năm 2005 hai cây Fuchsara Crownfox “Natasha” và Fuchsara Crownfox “Boris” đều đoạt huy chương bạc AM/AOS. Vào năm 2006 lai thêm cây Fuchsara Crownfox “Sandy” và gần dây nhất là cây Fuchsara Crownfox “Bob’s Delight” cũng đoạt huy chương bạc vào 2009, như vậy nâng tổng số 5 giải trong vòng 5 năm, thực là một chuyện đặc biệt.

Đặc biệt là cây Fuchsara không những cho nhiều hoa và lại còn nhiều cành hoa hơn cây Chri. vietnamica nữa.

Fuchsara Crownfox. ‘Bob’s Delight AM/AO Fuchsara Crownfox. ‘Bob’s Delight AM/AO
Coronadoara Crownfox. ‘Apricot’ AM/AOS Coronadoara Michael’s Delight Mike’ HCC/AOS

Cây Coronadoara Crownfox được lai giống từ cây Chri. vietnamica với cây Ascda Memoria Carol Wiegel đã cho những bông hoa lớn có nhiều chấm đỏ.

Và cũng từ cây Christensonia vietnamica Robert Fuchs đã tạo ra nhiều loài lan đẹp khác như:

Chrisentrum Wai Ron (Chr. vietnammica x Astm. miniatum) hoa nhỏ mầu vàng đậm với chiếc lưỡi dài lạ mắt.

Chrisanda Crownfox Limeade (Chr. vietnamica x V. Golden Doubloom) hoa lớn cánh dầy và thơm

Sau khi vườn lan R.F Orchids cầu chứng mấy cây lan lai giống kể trên, nhiều vườn lan khác cũng theo sát gót.

Vườn lan Ooi Leng Sun Orchids ở Mã lai xin cầu chứng cho nhiều cây như:

Coronadoara Penang (Chri.vietnamica x Ascda. Sksuram Sunlight)

Chrisanda (Csn) Penang Angel (Chri.vietnamica x Rasri Gold)

Chrisnopsis (Cps) Penang Star (Chri. vietnamica x Paraphalaenopsis laycockii)

Moi Hwa Law ở Singapore cầu chứng một số loài đa chủng lai giống với cây lan Chri. vietnamica như:

– Chrisanthera (Chrt) Law Moi Hwa x Ren storei, lai giống giữa Chri. vietnamica x Renanthera,

– Lawara (Lwr) Aining law x Aerdns Bogor, lai giống giữa Chri.vietnamica x Aerides x Arachnis

– Moihwaara (Mhw) Siok Cheng, lai giống giữa Chri. vietnamica x Arachnis x Vanda Chrisnopsis (Cps) Ong Siew Hong

How Wai Ron cũng ở Singapore cầu chứng các cây:

– Yinwaiara (Yin) Charle Antono lai giống giữa các Aerides x Christensonia x Rhynchostylis x Vanda.

– Yinmunara (Ymn) Lim Hui Kheng lai giống giữa các loài Ascocentrum x Christensonia x Rhynchostyliss

Ching Hua Orchids ở Đài Loan cầu chứng cây:

– Chrisnetia (Cne) Green Light lai giống giữa cây Chri. vietnamica với cây Neofinetia falcata

Trong tương lai, chắc chắn sẽ còn nhiều cây lan đa chủng lai giống với cây Christensonia vietnamica và những cây lan xinh đẹp khác của chúng ta như cây Papilionanthe pedunculata chẳng hạn, chúng ta hãy chờ xem.

Tiếc rằng Việt Nam nhân tài đầy rẫy mà lại để những cây lan đặc hữu quý báu của chúng ta cho người ở đâu đâu khai thác, thực đáng ngậm ngùi. Thí dụ như trường hợp cây Dendrobium amabile (Hoàng Thảo tím hồng) hiện nay đã làm giầu cho chủ nhân các vườn lan ở Đài Loan, mặc tình nhân giống ra hàng triệu cây bán khắp nơi trên thế giới.

Ngày lễ Tạ ơn tuy đã qua, nhưng cũng xin thành thực cám ơn Robert Fuchs và những ai đã lai tạo được những cây lan xinh đẹp mỹ miều cho những kẻ yêu lan chúng tôi được chiêm ngưỡng.


Bạn đang xem chủ đề Lan Dendro Robert trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

Chủ đề mới hơn

Lan Dendro Thuong - Xem 2,673

Lan Dendro Urawan - Xem 3,267

Lan Dendro Luoi Bo - Xem 2,376

Lan Dendrobium Con - Xem 3,069

Bán Lan Dendro Con - Xem 3,564

Mua Lan Dendro Con - Xem 2,475

Gia Lan Dendro Con - Xem 3,168

Lan Dendrobium Dep - Xem 2,574

Hoa Lan Dendro Dep - Xem 2,376

Lan Dendro Ghép Gỗ - Xem 2,475

Chủ đề cũ hơn

Lan Dendro Nobile - Xem 3,069

Lan Dendro Mekong - Xem 2,772

Lan Dendro King 5 - Xem 45,441

Lan Dendro Kontum - Xem 2,376

Lan Dendro King 3 - Xem 4,257

Lan Dendro Ra Hoa - Xem 2,574

Lan Dendro Hoa To - Xem 2,970

Lan Dendro Giá Rẻ - Xem 2,079

Lan Dendro Damari - Xem 6,435

Lan Dendro De Ban - Xem 2,475