【#1】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Cà Rốt Cho Hiệu Quả Kinh Tế Cao

Đầu những năm 70 của thế kỷ XX theo đơn hàng của ngành công thương và là một trong những mặt hàng xuất khẩu của tỉnh ta, được trồng phổ biến tại xã Cẩm Sơn cũ nay là 2 xã: Cẩm Văn và Đức Chính, huyện Cẩm Giàng. Từ kết quả nghiên cứu nhiều năm kết hợp với ghi chép, tập hợp những kinh nghiệm thực tế trong sản xuất tại địa phương chúng tôi xin chia sẽ kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cà rốt cho hiệu quả kinh tế cao để bà con chúng ta có thể nắm vững hơn.

1. THỜI VỤ GIEO TRỒNG:

Cà rốt được gieo trồng từ tháng 8 đến đầu tháng 2 năm sau; thu hoạch từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau; và có thể phân ra thành 3 trà như sau:

– Trà sớm gieo hạt từ: đầu tháng 8-15/10, cho thu hoạch từ tháng 11;

– Trà chính vụ gieo hạt từ: 16/10-15/12, thu hoạch xung quanh tết âm lịch;

– Trà muộn gieo hạt từ: 16/12 đến 30/01 năm sau, thu hoạch đến tháng 5.

2. CHỌN GIỐNG:

Có rất nhiều giống, tuy nhiên hiện nay nông dân tại 2 xã Cẩm Văn và Đức Chính (huyện Cẩm Giàng) và các vùng phụ cận trồng chủ yếu 2 giống cà rốt lai là: Super VL-444 F1 và Ti-103 của hãng TAKII SEED (Nhật Bản). Giống này có thời gian sinh trưởng từ 100-130 ngày. Năng suất trung bình đạt 1,5 tấn/sào, cao hơn có thể đạt 3 tấn/sào.

3. KỸ THUẬT LÀM ĐÂT:

– Nên chọn đất bãi bồi ven sông là đất thịt nhẹ, đất cát pha hoặc đất phù sa để trồng cà rốt là tốt nhất. Đất phải được dọn sạch cỏ dại, sau đó cày bừa kỹ, phay nhỏ, san phẳng rồi lên luống. Chiều rộng của luống từ: 85-90cm (trà sớm) và 80-85cm (trà chính vụ và trà muộn); độ cao từ: 20-25cm; rãnh rộng từ: 25-30cm.

– Sau khi san phẳng mặt luống, kẻ 3 hàng trên mặt luống theo chiều dọc và sâu khoảng 5cm, hàng cách hàng từ 13-15 cm. (Nếu gieo bằng máy thì máy tự kẻ hàng).

4. PHÂN BÓN:

* Lượng phân bón:

– Sử dụng phân chuồng, phân gà, phân bắc đã ủ mục; liều lượng từ: 4-6 tấn/ha hoặc 1,5 – 2,2 tạ/sào; có thể thay thế phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh;

– Phân lân (supe Lâm Thao): 25-30 kg/sào;

– Phân đạm urê (40%): 6-8 kg/sào;

– Phân ka ly (60%): 5-6 kg/sào.

Có thể dùng phân NPK để bón thay thế cho phân đơn song phải tính toán sao cho từng giai đoạn với tỷ lệ NPK cho phù hợp.

* Cách bón:

Cây cà rốt là cây lấy củ nên cần bón phân sớm, bón tập trung và bón cân đối; hạn chế bón đạm, nhất là bón đạm muộn; không nên phun các chất kích thích sinh trưởng. Cụ thể cách bón và liều lượng bón như sau:

– Trộn toàn bộ phân chuồng ủ mục hoặc phân vi sinh với phân lân supe Lâm Thao rồi đem bón lót bằng cách rắc đều trên mặt luống, nếu lượng phân ít có thể chỉ rắc theo 3 đường kẻ trên mặt luống;

– Bón thúc lần 1 khi cây có lá thật (xoay lá); sử dụng phân đạm từ 1-1,5 kg/sào; hòa đạm loãng vào nước rồi tưới đều cho cây (tưới bằng doa);

– Bón thúc lần 2 sau khi tỉa cây sơ bộ (khi cây có 3-4 lá thật); bón đạm ure với lượng 2kg/sào;

– Bón thúc lần 3 sau khi tỉa định cây lần cuối (rễ đã phát triển to bằng que đan); bón đạm urê: 3 kg/sào; ka ly: 2- 3 kg/sào (tưới đạm, kaly riêng);

– Bón thúc lần 4 sau khi củ đã hình thành; bón ka ly từ: 3-4 kg/sào. Căn cứ vào thời tiết, chất đất, sinh trưởng cây trồng để quyết định lượng đạm bón cho phù hợp hoặc chỉ bón (tưới) dặm những chỗ cây có biểu hiện thiếu đạm. Nếu thừa đạm sẽ tốt lá mà không xuống củ; khắc phục bằng cách hạn chế tưới, cắt bớt lá già, lá gốc, lá sâu bệnh.

5. GIEO HẠT:

– Lượng hạt: Trà vụ sớm gieo từ: 100-120g/sào; chính vụ: 100g/sào; vụ muộn: 70-90g/sào;

– Ngâm hạt trong nước từ: 8-10 tiếng, sau đem ủ từ: 1-3 ngày (tối rửa qua nước chua rồi ủ lại). Ủ hạt nên áp dụng ở vụ muộn do nhiệt độ thấp nên hạt rất khó nở; để hạt nhanh nở có thể vùi hạt trong tro ấm hoặc để cạnh bếp. Có thể ủ từ: 5-7 ngày khi hạt nhú rễ ra là được;

– Trước khi đem gieo, tãi hạt cho gần khô sau đó trộn hạt với đất bột trắng (phấn) hoặc vôi tả (vôi bột) để dễ nhận biết khi gieo hạt;

– Hạt có thể gieo bằng máy hoặc gieo bằng tay (gieo theo kiểu bỏ hốc, hốc cách hốc là 3cm; mỗi hốc từ: 1-2 hạt); nếu gieo bằng máy thì không nên ủ hạt có rễ dài, vì như vậy hạt sẽ xuống không đều. Khi gieo bằng máy, nên có người đi theo để dặm thêm vào những chỗ hạt xuống không đều.

6. CHĂM SÓC VÀ PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH:

7. THU HOẠCH:

Những công nghệ hiện đại này sẽ giúp bà con cắt giảm chi phí trong khâu tưới nước. Cụ thể cắt giảm được chi phí nhân công, giảm tiêu thụ điện năng,… đồng thời đáp ứng nhu cầu tưới nước của cây trồng.

Cách làm để nhãn năm nào cũng có quả của Ông Bùi Văn NhãKỹ thuật trồng và chăm sóc cây nhãn lồng cho năng suất caoChia sẽ kỹ thuật trồng dưa hấu cho năng suất caoLợi ích của hệ thống tưới tự động trong đô thịNhững lợi ích hệ thống tưới tự động mang lạiHướng dẫn làm hệ thống tưới phun sương tự độngHướng dẫn làm hệ thống tưới nhỏ giọt tiết kiệm nướcHiểu thế nào về hệ thống tưới tự động trong nhà kínhHướng dẫn thiết kế hệ thống tưới cây tự động trong nhàLắp đặt hệ thống tưới nước tự động cần chú ý những vấn đề gì?

【#2】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Cà Rốt

Cây cà rốt được trồng từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước theo đơn hàng của ngành công thương và là một trong những mặt hàng xuất khẩu của nước ta, cà rốt được trồng phổ biến khi người dân có nhu cầu và xây dựng mô hình lớn vào những năm gần đây.

Từ kết quả nghiên cứu nhiều năm kết hợp với ghi chép, tập hợp những kinh nghiệm thực tế trong trồng trọt cây lấy củ, chúng tôi xin nêu ra những nội dung cơ bản về kỹ thuật gieo trồng cây cà rốt nhằm giúp nông dân hiểu biết và nắm được những kiến thức cơ bản để áp dụng trong thực tế sản xuất.

Cà rốt được gieo trồng từ tháng 8 đến đầu tháng 2 năm sau; thu hoạch từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau; và có thể phân ra thành 3 trà như sau:

– Trà sớm gieo hạt từ: đầu tháng 8-15/10, cho thu hoạch từ tháng 11;

– Trà chính vụ gieo hạt từ: 16/10-15/12, thu hoạch xung quanh tết âm lịch;

– Trà muộn gieo hạt từ: 16/12 đến 30/01 năm sau, thu hoạch đến tháng 5.

Có rất nhiều giống, tuy nhiên hiện nay nông dân tại 2 xã Cẩm Văn và Đức Chính (huyện Cẩm Giàng) và các vùng phụ cận trồng chủ yếu 2 giống cà rốt lai là: Super VL-444 F1 và Ti-103 của hãng TAKII SEED (Nhật Bản). Giống này có thời gian sinh trưởng từ 100-130 ngày. Năng suất trung bình đạt 1,5 tấn/sào, cao hơn có thể đạt 3 tấn/sào.

– Nên chọn đất bãi bồi ven sông là đất thịt nhẹ, đất cát pha hoặc đất phù sa để trồng cà rốt là tốt nhất. Đất phải được dọn sạch cỏ dại, sau đó cày bừa kỹ, phay nhỏ, san phẳng rồi lên luống. Chiều rộng của luống từ: 85-90cm (trà sớm) và 80-85cm (trà chính vụ và trà muộn); độ cao từ: 20-25cm; rãnh rộng từ: 25-30cm.

– Sau khi san phẳng mặt luống, kẻ 3 hàng trên mặt luống theo chiều dọc và sâu khoảng 5cm, hàng cách hàng từ 13-15 cm. (Nếu gieo bằng máy thì máy tự kẻ hàng).

* Lượng phân bón:

– Sử dụng phân chuồng, phân gà, phân bắc đã ủ mục; liều lượng từ: 4-6 tấn/ha hoặc 1,5 – 2,2 tạ/sào; có thể thay thế phân chuồng bằng phân hữu cơ vi sinh;

– Phân lân (supe Lâm Thao): 25-30 kg/sào;

– Phân đạm urê (40%): 6-8 kg/sào;

– Phân ka ly (60%): 5-6 kg/sào.

Có thể dùng phân NPK để bón thay thế cho phân đơn song phải tính toán sao cho từng giai đoạn với tỷ lệ NPK cho phù hợp.

* Cách bón:

Cây cà rốt là cây lấy củ nên cần bón phân sớm, bón tập trung và bón cân đối; hạn chế bón đạm, nhất là bón đạm muộn; không nên phun các chất kích thích sinh trưởng. Cụ thể cách bón và liều lượng bón như sau:

– Trộn toàn bộ phân chuồng ủ mục hoặc phân vi sinh với phân lân supe Lâm Thao rồi đem bón lót bằng cách rắc đều trên mặt luống, nếu lượng phân ít có thể chỉ rắc theo 3 đường kẻ trên mặt luống;

– Bón thúc lần 1 khi cây có lá thật (xoay lá); sử dụng phân đạm từ 1-1,5 kg/sào; hòa đạm loãng vào nước rồi tưới đều cho cây (tưới bằng doa);

– Bón thúc lần 2 sau khi tỉa cây sơ bộ (khi cây có 3-4 lá thật); bón đạm ure với lượng 2kg/sào;

– Bón thúc lần 3 sau khi tỉa định cây lần cuối (rễ đã phát triển to bằng que đan); bón đạm urê: 3 kg/sào; ka ly: 2- 3 kg/sào (tưới đạm, kaly riêng);

– Bón thúc lần 4 sau khi củ đã hình thành; bón ka ly từ: 3-4 kg/sào. Căn cứ vào thời tiết, chất đất, sinh trưởng cây trồng để quyết định lượng đạm bón cho phù hợp hoặc chỉ bón (tưới) dặm những chỗ cây có biểu hiện thiếu đạm. Nếu thừa đạm sẽ tốt lá mà không xuống củ; khắc phục bằng cách hạn chế tưới, cắt bớt lá già, lá gốc, lá sâu bệnh.

– Lượng hạt: Trà vụ sớm gieo từ: 100-120g/sào; chính vụ: 100g/sào; vụ muộn: 70-90g/sào;

– Ngâm hạt trong nước từ: 8-10 tiếng, sau đem ủ từ: 1-3 ngày (tối rửa qua nước chua rồi ủ lại). Ủ hạt nên áp dụng ở vụ muộn do nhiệt độ thấp nên hạt rất khó nở; để hạt nhanh nở có thể vùi hạt trong tro ấm hoặc để cạnh bếp. Có thể ủ từ: 5-7 ngày khi hạt nhú rễ ra là được;

– Trước khi đem gieo, tãi hạt cho gần khô sau đó trộn hạt với đất bột trắng (phấn) hoặc vôi tả (vôi bột) để dễ nhận biết khi gieo hạt;

– Hạt có thể gieo bằng máy hoặc gieo bằng tay (gieo theo kiểu bỏ hốc, hốc cách hốc là 3cm; mỗi hốc từ: 1-2 hạt); nếu gieo bằng máy thì không nên ủ hạt có rễ dài, vì như vậy hạt sẽ xuống không đều. Khi gieo bằng máy, nên có người đi theo để dặm thêm vào những chỗ hạt xuống không đều.

【#3】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Bí Ngồi Năng Suất Cao

Bí ngồi là loại cây có cùng họ với loài bí thông thường. Để đảm bảo năng suất, bà con cần biết kỹ thuật trồng và chăm sóc cây bí ngồi cơ bản sau.

Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây bí ngồi.

Có hai cách trồng cây bí ngồi cơ bản là trồng bằng hạt giống và trồng bằng cây giống. Nếu trồng bằng hạt giống cần gieo hạt trước khi trồng 4 – 6 tuần. Có thể trồng bằng chậu hoặc trồng xuống vườn.

Bà con nên chọn những vị trí có nhiều ánh sáng, không bị bóng râm che phủ quá nhiều.

Chậu trồng cây: Đảm bảo chậu trồng cây có sẵn các lỗ thoát nước, bí ngồi thích đất trồng ẩm nhưng nếu đất bị nhão, sũng nước thì cây sẽ không phát triển.

Nếu như trồng không có thoát nước tốt, bà con có thể khắc phục bằng cách chuyển vị trí trồng hoặc sử dụng đất hữu cơ. Tránh trồng cây ở phía Bắc vì hướng này không được chiếu sáng nhiều.

Đầu tiên, người dân nên bắt đầu bằng cách trộn lẫn lớp phủ (ví dụ như rơm, rạ…) với phân hữu cơ để cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho đất trồng. Kiểm tra độ pH của đất và sửa đổi nếu cần. Bí ngồi thích đất trồng có độ pH từ 6 – 7.5.

Nếu trồng bằng hạt, hạt giống phải nằm sâu trong đất ít nhất 1 – 1.5 cm. Các hố cần có kích thước lớn hơn cây giống. Người trồng nên duy trì khoảng cách giữa các cây từ 75 – 100 cm. Sau đó, bà con nên rắc một lớp đất dày 0.5 – 1 cm phủ kín hạt giống. Lớp đất này không nên quá dày để cây có thể hấp thụ được ánh sáng và nước.

Cách chăm sóc cây bí ngồi như thế nào?

Bà con nông dân nên nhỏ sạch cỏ dại nếu như cỏ mọc và rải một lớp phủ lên mặt đất để ngăn cỏ không mọc tiếp.

Bà con cũng nên thêm phân bón dạng lỏng mỗi 3 – 4 tuần sẽ giúp cây kích thích tăng trưởng. Đồng thời, người trồng cần phải cắt bỏ những cành lá hoặc trái bị bệnh để tránh lây lan sang các phần khác của cây.

Nếu muốn cây bí ngồi cho ra năng suất, bà con có thể dùng cách thủ công là ngắt một bông hoa đực (thường có phần cuống dài, mảnh) cọ vào phần nhụy hoa cái (thường có phần cuống ngắn). Bà con nông dân có thể làm thao tác này trên vài bông hoa tùy thuộc vào thời gian bạn có và mức độ tăng trưởng mong muốn.

Bí ngồi là thực phẩm cung cấp nhiều viamin C, vitamin A, các nguyên tố khoáng vi lượng như magnesium, manganese, potassium (kali), đồng, chất xơ, nhiều vitamin nhóm B (B1, B2, B3, B6). Ngoài ra bí ngồi còn có thêm protein, kẽm, calcium, sắt, tryptophan, vitamin K, folate…

Bí ngồi là thực phẩm được dùng trong bữa ăn dành cho những bệnh nhân hen suyễn do có chứa nhiều vitamin C. Ăn bí ngồi thường xuyên sẽ làm hạ nồng độ homocysteine và hỗ trợ cho cấu trúc của các mao mạch. Bí ngồi được cho là loại thực phẩm lý tưởng nhất để ngăn ngừa bệnh hoại huyết, thâm tím bị gây ra do sự thiếu hụt vitamin C.

Bí ngồi cũng có khả năng ngăn ngừa chứng đa xơ cứng, ung thư ruột già. Những thành phần dinh dưỡng có trong bí ngồi cũng “kiêm” thêm nhiệm vụ ngăn ngừa xơ vữa mạch, làm hạ huyết áp. Chúng cũng có tác dụng ngăn chặn sự ôxy hóa cholesterol.

Nguồn: chúng tôi .

【#4】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Dâu Tây

Quả dâu tây thường được sử dụng để làm các món tráng miệng. Dâu tây giàu vitamin C và là nguồn cung cấp dồi dào các chất flavonoit cần thiết cho cơ thể.

Dâu tây (danh pháp khoa học: Fragaria) hay còn gọi là dâu đất là một chi thực vật hạt kín thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) cho quả được nhiều người ưa chuộng. Dâu tây xuất xứ từ châu Mỹ và được các nhà làm vườn châu Âu cho lai tạo vào thế kỷ 18 để tạo nên giống dâu tây được trồng rộng rãi hiện nay.

Điều kiện canh tác

Đất trồng

thích hợp với các loại đất thịt nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ cao, đất ấm, giữ ẩm nhưng thoát nước tốt. Nếu đất giàu chất hữu cơ cây dâu tây sẽ phát triển tốt, năng suất cao và kéo dài thời gian thu hoạch quả. Độ ẩm cần thiết trên 4%, độ pH thích hợp từ 6-7.

Khí hậu:

Dâu tây thích hợp với khí hậu mát lạnh. Nhiệt độ phù hợp cho cây dâu từ 18-220C. Đặc biệt là nhiệt độ ngày đêm cao sẽ tạo điều kiện để tăng năng suất và chất lượng trái.

Thời kỳ sinh trưởng phát dục Nhiệt độ thích hợp (0C)

– Phân hóa chồi non và trổ hoa

– Kết trái

– Quả chin – 15-24

– Ngày 20-24, đêm 6-10

– 15-20

Cây dâu đòi hỏi ánh sáng dồi dào thì mới sinh trưởng mạnh, thiếu ánh sáng thường ảnh hưởng đến khả năng ra hoa kết quả. Am độkhông khí cao và mưa kéo dài thường xuất hiện bệnh cây.

Kỹ thuật trồng trọt:

Giống:Các yếu tố về tiêu chuẩn giống tốt

* Kháng bệnh tốt.

* Màu sắc đẹp.

* Mùi thơm.

* Chất lượng ngọt.

* Độ cứng của quả.

* Độ ngọt của quả.

Phương pháp nhân giống:

Về nhân giống vô tính có 2 phương pháp thông dụng hiện nay

Cấy mô: Cây con sẽ đạt được tiêu chuẩn tốt, độ đồng điều cao, phát huy ưu điểm của giống, sức sống khỏe, năng suất cao, sạch bệnh.

Tách cây con từ ngó cây mẹ: Phương pháp này dễ làm, chủ động nhưng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của cây mẹ. Cây con không đạt tiêu chuẩn và sức sống như cây cấy mô. Chỉ nên lấy cây con từ tách ngó cây mẹ dưới 01 năm tuổi thì mới đảm bảo chất lượng giống.

Kỹ thuật làm đất,

Chọn đất thịt nhẹ, vùng cao ráo, thoát nước tốt. Cây dâu tây là đối tượng của sâu bệnh khá phong phú. Phải có biện pháp chọn đất, làm đất, xử lý đat cần phải chú trọng đúng mức để hạn chế nguồn bệnh ban đầu lây lan từ đất.

* Vệ sinh thu dọn tất cả tàn dư cây trồng, cỏ dại.

* Làm đất và xử lý vôi 100 kg/1.000m2 và các loại thuốc sâu, thuốc bệnh.

* Bón lót các loại phân.

Phân bón:

Cây dâu đòi hỏi dinh dưỡng nay đủ và cân đối. Ngoài NPK, cần quan tâm đến nhóm trung lượng, vi lượng vì nó quyết định quan trọng đến chất lượng và khả năng kháng bệnh của cây dâu. Thâm canh cây dâu đòi hỏi phải bón phân đầy đủ phân hữu cơ để bảo đảm lượng mùn trong đất cao ( 8% – 10%)

Phân hữ cơ sử dụng cho cây dâu cần phải ủ nóng và xử lý thuốc nấm bệnh và đạt yêu cầu hoai mục trứớc khi sử dụng để tránh lây lan nguồn sâu bệnh và cỏ dại.

Bón phân đạm cho cây dâu cần chú ý đến màu sắc của lá thời kỳ, tốc độ sinhtrưởng phát dục để điiều chỉnh liều lượng tăng hay giảm thích hợp.

Phân lân ảnh hưởng đến khả năng ra hoa, đậu trái, phát triển hệ rễ và ra ngó(mạ) của cây dâu.

Phân Kali quyết định về năng suất, trọng lượng độ cứng, chất lượng trái. Khả năng kháng bệnh của cây dâu và tăng cường quang hợp trong điều kiện thiếu ánh sáng trong vụ hè thu, nhất là canh tác trong nhà nilông (cây dâu yêu cầu ánh sáng dồi dào).

Canxi, Bo, Magiê ảnh hưởng quang trọng đếnchất lượng trái. Canxi còn tạo điều kiện cho sự hấp thụ dinh dưỡng được điều hòa vả hạn che một số bệnh sinh lý trên trái.

Bo ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa, đậu hoa, chất lượng vàkể cà độ cứng của trái.

Lượng phân đề nghị bón cho cây dâu 1.000m2 (bìnhquân) trong năm thứ nhất (kiến thiết cơ bản và định hình).

Ghi chú:

* Bón vôi 2 đợt/năm:

– Đợt 1: Bón lót 100 kg.

– Đợt 2: 06 tháng sau khi trồng bón bổ sung 50 kg.

Lượng phân định kỳ bón năm thứ nhất là 10 lần/năm, nếu 02 tháng bón 01 lần thì sử dụng lượng gấp đôi. Nếu sử dụng phân đơn thì mỗi đợt bón phân định kỳ có thể bón 10 kg ure, 08 kg kali sunphat và 06 kg supper lân, thay phân hỗn hợp. Sử dụng Acid Boric và MgSO4 phun xịt định kỳ qua lá.

Chu kỳ kinh doanh của cây dâu thu hoạch trái kéo dài đến 02 năm hay hơn. Nếu dâu tây trên 01 năm tuổi chức năng sinh lý của rễ kém ảnh hưởng đến hấp thụ dưỡng liệu, do đó nên bổ sung phân qua lá. Đa dạng: đa vi lượng, đa trung lượng định kỳ 10-15 ngày xịt 01 lần.

Bón phân cho dâu theo nguyên tắc bón ít nhưng bón nhiều lần trong năm. Lượng phân theo khuyến cáo như trên đối với bón định kỳ có thể tăng hay giảm tùy thuộc vào sức sinh trưởng, phát dục, giai đoạn bội thu, chu kỳ ra trái của cây dâu.

Chăm sóc:

Ngắt chùm hoa, cắt tỉa ngó:

* Để cây dâu sinh trưởng mạnh và ổn định trong giai đoạn đầu nên ngắt bỏ chùm hoa bói đầu tiên để tăng cường sinh trưởng và ức chế phát dục.

* Trong giai đoạn thu hoạch, để trái lớn đều nên cân đối giữa khả năng phát triển của khung tán và số lượng hoa trái trên cây nếu nụ, hoa, trái ra nhiều cần tỉa bout những nụ, hoa,, trái dị dạng và sâu bệnh.

* Nếu không tận dụng ngó để nhân giống thì nên cắt bỏ toàn bộ ngó.

* Trong giai đoạn đầu khi thân lá cây dâu chưa phủ luống có thể để ngó với khoảng cách 15 cm (5-6 ngó/cây). Để tăng cường sinh trưởng cây ban đầu. Hạn chế ngó đâm rễ phụ trên luống.

Tỉa thân lá:

Đảm bảo mật độ phân tán cây dâu cân đối nên để từ 3-4 thân/gốc. Do đặc điểm của giống, chế độ phân bón, thời tiết, chăm sóc khả năng phân tán, ra lá sẽ khác nhau. Cần tỉa bớt các lá già, sâu bệnh, lá bị che khuất tần dưới. Chú ý không nên tỉa quá nhiều sẽ mất khả năng quang hợp của cây. Các bộ phận của cây sau khi cắt tỉa cần phải tiêu huỷ ở xa ruộng.

Che phủ đất:

Dùng các chất liệu hóa học hay hữu cơ để che phủ mặt luống trồng dâu. Phương pháp này có các ưu điểm như sau:

* Giữ ẩm cho luống trồng.

* Gia tăng nhiệt độ cho luống trồng (phủ nhựa đen) phù hợp cho sinh trưởng cây dâu đồng thời hạn chế một số nấm bệnh.

* Cách ly trái tiếp xúc với đất hạn chế bệnh thối trái.

* Hạn chế cỏ dại và rửa trôi phân bón.

Hiện nay có nhiều phương pháp che phủ luống đang được áp dụng:

* Dùng nhựa PE (thích hợp cho trồng dâu trong nhà nilông).

* Dùng cỏ khô, tro trấu.

* Dùng cỏ khô kết hợp với lưới nilông trắng.

Tuy nhiên việc che phủ đất tại vùng đất thấp thường phát sinh sên nhớt.

Tưới nước:

* Đối với cây dâu nếu ẩm độ đất và không khí cao đều bất lợi đến sinh trưởng cũng như sâu bệnh phát triển, tối ưu nhất với cây dâu là thiết kế hệ thống tưới ngầm, nhỏ giọt.

* Khi tưới cho cây dâu nên cần tuyệt đối sử dụng nguồn nước sạch, không nên sử dụng nguồn nước mương suối vì dễ gay nguồn bệnh.

Phòng ngừa dị dạng trái:

* Quy hoạch vùng trồng dâu tập trung, 1ha dâu nên nuôi 2 thùng ong mật để nâng cao tỷ lệ thụ phấn của hoa, đồng thời giảm bớt tỷ lệ trái dị dạng.

* Thời kỳ kết trái đầu tiên nếu phát hiện quả dị dạng lập tức hải bỏ và giảm bón lượng đạm.

* Giai đoạn hoa nở rộ tránh phun xịt thuốc sâu bệnh với nồng độ cao.

Sâu bệnh thông thường của cây dâu:

Bệnh hại:

Bệnh đốm lá: Thường do 2 loại nấm bệnh gây ra.

* Bệnh đốm lá trắng (Mycosphaerella fragariae):

Đốm bệnh màu trắng ở phần trung tâm và viền đậm bao quanh. Bệnh gay tổn thong ở thân, lá, cuốn hoa, cuốn quả gay chết hoa và trái non, bệnh làm giảm năng suất và sức sống của cây.

* Bệnh đốm lá đỏ (Phomopsis obsscuans): Đốm bệnh có hình quả trứng hay hình tam giác có màu nâu sáng chuyển sang màu đỏ ơ các mô bào giửa các gân lá.

Biện pháp phòng trị:

– Bón phân cân đối NPK.

– Tỉa các lá bệnh và tiêu hủy ở xa ruộng.

– Sử dụng các loại thuốc hóa học xịt định kỳ (Rovral 50 WP, Score 250 ND, Toppsin 70 WP, Kasuran 47 WP).

Bệnh mốc sương:

* Xuất hiện trong điều kiện ẩm độ, nhiệt độ cao lây lan nhanh gây that thu lớn đến sản lượng và chất lượng trái. Bênh xuất hiện cả ở trên thân, lá, trái.

* Biện pháp phòng trị:

– Thực hiện chế độ luân canh.

– Ap dụng chế độ vệ sinh đất, ngắt tỉa thường xuyên lá bị bệnh và dem tiêu hủy ở xa nơi canh tác.

– Dàn che trồng dâu phải cao ráo, thông gió.

– Lên luống cao tránh úng vào mùa mưa.

– Không trồng mật độ dày.

– Tăng cường phân Kali cho cây.

– Sử dụng các loại hóa chất phun xịt định kỳ (Toppsin 70 WP, Dithane M45-80WP Antracol 70WP).

Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca macularis):

* Xuất hiện trong điều kiện ẩm độ cao, chế độ lưu thông khí kém thường phát sinh ở cuốn lá , trái. Vết bệnh có màu mốc nâu xám hay xám.

* Biện pháp phòng trị:

– Áp dụng tốt các biện pháp canh tác như trên.

– Sử dụng cac loại hóa chất phun xịt (Score 250ND. Anvil 5SC, Daconil 75WP, Derosal 50SC).

Bệnh thối trái:

* Bệnh thối trái do nấm Botrtis Cinerea: Biểu hiện đầu tiên là những đốm nâu sáng sau đó lan rộng cả trái có phủ một lớp mốc xám, sau đó trái khô đi. Bệnh này xâm nhiễm từ giai đoạn quả xanh đến chin.

* Bệnh thối trái do nấm Rhizoctonia: Vết bệnh ban đầu có màu nâu đậm, sau đó chuyển sang thối đen trái. Bệnh lây nhiễm khi trái chin tiếp xúc với đất trồng. Bệnh này xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn quả chin.

* Biện pháp phòng trị:

– Chọn đất trồng cao ráo, thoát nước tốt, lên luống cao.

– Sử dụng chất liệu phủ luống.

– Bón cân đối NPK, tăng cường Kali trong vụ mưa.

– Luân canh và sử lý đất trước khi trồng.

– Xịt định kỳ các loại thuốc bệnh.

– Ngắc bỏ các trái bệnh đem tiêu hủy xa nơi canh tác.

Sâu hại:

Nhện đỏ:

* Chích hút nhựa làm cây phát triển kém, giảm năng suất. Nhện thường ký sinh sau mặt lá.

* Biện pháp phòng trị:

– Vệ sinh đồng ruộng (tàn dư cây trong và cỏ dại).

– Xịt các loại thuốc đặc hiệu (Nissorun 5EC, Comite 73EC).

Bọ trĩ, rệp:

* Phá hoại búp lá, lá non, thân non, chích hút nhựa làm cây suy kiệt, giảm năng suất trong thu hoạch.

* Biện pháp phòng trị:

– Vệ sinh môi trường.

– Kiểm tra sớm và phòng trị dức điểmkhi có triệu chứng bị hại,

– Phun xịt các loại hóa chất trừ sâu (Trebon 10EC – 20WP, Applaud 10WP, Sherpa 25EC).

Sâu ăn tạp, sâu cuốn lá:

* Sâu ăn tạp ký sinh trong phần gốc phá hoại chủ yếu vào ban đêm, ăn lá và phần thân non của cây.

* Sâu cuốn lá làm tổ gay cuốn lá làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây.

* Biện pháp phòng trị:

– Ap dụng tốt các biện pháp canh tác, vệ sinh đồng ruộng.

– Xử lý đất trồng.

– Xịt các loại thuốc sâu (Oncol, Mimic 20F, Sumicidin 10EC).

Chú ý: Khi phun xịt không nên sử dụng nồng độ cao và tránh các giai đoạn ra hoa rộ

【#5】Cây Mít Thái Lá Bàng Giống. Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây

Mít Thái Lá Bàng phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ của Việt Nam. Giống cây ăn quả này có ưu điểm vượt trội về sức đề kháng, hiếm khi gặp sâu bệnh. Vì vậy mà trồng và chăm sóc cũng đơn giản, tiết kiệm thời gian và công sức. Sau trồng khoảng 15-18 tháng là có thể thu hoạch quả. Mít Thái Lá Bàng đã trở thành giống cây trồng giúp bà con nông dân làm giàu. Với doanh thu mỗi năm lên tới hàng trăm triệu đồng.

Những đặc điểm nổi bật của cây Mít Thái Lá Bàng

Một số đặc điểm hình thái

  • Cây có thân thẳng, chiều cao cây đạt 9-20m tùy theo cách cắt tỉa ngọn và cành nhánh.
  • Cây mọc lá đơn, mặt trên lá nhẵn, kích thước to và dày, màu xanh, mặt dưới lá có nhám.
  • Hoa nở ra từ những cuống ngắn. Hoa cái tạo thành múi, các hoa khác tạo thành xơ.
  • Quả Mít Thái Lá Bàng có vỏ nhiều gai. Khi chín sẻ tỏa ra hương thơm lừng từ ruột mít bên trong.
  • Ruột mít chín có màu vàng ươm đẹp mắt, ăn có vị ngọt và giòn dai, hương thơm hấp dẫn.

Đặc điểm nổi bật về sinh thái

  • Tốc độ sinh trưởng và phát triển của cây rất tốt. Trong vòng 15-18 tháng tuổi là đã có thể cho quả để thu hoạch.
  • Điều kiện khí hậu tốt nhất để trồng Mít Thái Lá Bàng là nhiệt đới, cận nhiệt đới ẩm. Rễ cây phát triển sâu nên thích nghi được với đất ít nước.
  • Khả năng chống chịu sâu bệnh của cây rất tốt, nhờ vậy mà hiếm khi cây bị sâu bệnh. Việc chăm sóc, trồng cây cũng nhẹ nhàng hơn.

Hình ảnh Mít Thái Lá Bàng sai trĩu quả

Giá trị sử dụng của cây Mít Thái Lá Bàng

Trồng cây ăn quả cho sản lượng và giá bán tốt

Chi phí trồng và chăm sóc một cây giống Mít Thái Lá Bàng chỉ khoảng dưới 100 ngàn đồng. Đến khi cây ra quả thì cho sản lượng rất tốt, bình quân khoảng 80-120 quả/cây trưởng thành tốt. Trọng lượng của mỗi quả khoảng 6-12kg, những cây được chăm sóc tốt có thể lên tới 14-15kg/quả. Giá bán quả trên thị trường ở khoảng 6-7 ngàn đồng/kg. Nhiều bà con nông dân đã thu lãi hàng trăm triệu đồng/năm nhờ trồng Mít Thái Lá Bàng.

Ruột Mít ăn thơm ngon, chế biến nhiều thực phẩm

Mít vốn là loại trái cây rất được yêu thích ở Việt Nam. Thưởng thức quả Mít chín sẽ cảm nhận được sức hấp dẫn của hương thơm nồng nàn; vị ngọt tự nhiên và vị giòn dai của múi Mít. Chẳng những để ăn trực tiếp, múi Mít còn được sấy khô và đóng gói; trở thành món ăn vặt ngon và bổ dưỡng. Múi Mít còn được dùng để làm bánh kẹo, làm kem, làm sữa chua Mít… Trong Mít chứa nhiều vitamin, protein và cung cấp năng lượng cho cơ thể.

Gỗ Mít chắc và đẹp, ứng dụng sản xuất nhiều đồ gỗ

Mít Thái Lá Bàng mang đến nhiều giá trị sử dụng. Sau khi cây đã trồng được nhiều năm và thực sự già tuổi; bà con nông dân có thể thu hoạch gỗ để bán. Gỗ Mít rất được ưa chuộng để sản xuất các đồ dùng trong gia đình như: đóng giường, đóng tủ, đóng bàn học, kệ trang trí… Ưu điểm của gỗ Mít là bền, màu vàng sang trọng; giá thành phải chăng, dễ chế tác, ít bị mối mọt.

Chỉ cần hít hà thôi cũng cảm nhận được sức hấp dẫn của quả Mít chín

Hướng dẫn kỹ thuật trồng Mít Thái Lá Bàng

Kỹ thuật ghép cây giống Mít Thái Lá Bàng

Bà con nông dân có thể nhân giống Mít Thái Lá Bàng bằng cách gieo hạt, ươm mầm. Nhưng muốn rút ngắn thời gian nhân giống và thúc đẩy tốc độ sinh trưởng; bà con nên chọn phương phép ghép cây. Kỹ thuật ghép Mít Thái Lá Bàng không quá phức tạp. Nhưng cần được tiến hành chuẩn kỹ thuật để tỷ lệ sống và sức khỏe của cây tốt nhất.

  • Chọn gốc ghép khỏe mạnh, thân thẳng, đường kính gốc ghép tối thiểu 0.8-1.5cm.
  • Dùng dao rạch 2 đường song song trên gốc ghép. Độ rộng đường rạch 1.5-2.5cm, chiều dài đường rạch 2-3cm, cách mặt bầu 15-20cm.
  • Dùng dao rạch thêm đường ngang ở phía dưới của 2 rạch. Các đường rạch tạo thành hình chữ U trên gốc ghép.
  • Chọn cành ghép khỏe mạnh, mầm không bị dập nát. Kích thước mầm tương đương vị trí chữ U đã tạo trên gốc ghép.
  • Tách lấy mầm ghép, nhặt bỏ sợi gỗ dính trên mầm. Đặt mầm ghép vào cửa sổ chữ U trên gốc ghép. Dùng dây chuyên dụng quấn quanh.
  • Sau 20 ngày thì mở dây quấn ra, nếu mầm tươi tốt thì tiến hành cắt bỏ 1-2cm đoạn gần vị trí ghép.
  • Đặt gốc ghép vào bầu ươm, ươm trong khu vực thoáng đãng. Sau khoảng 2-3 tháng thì mang cây con ra trồng.

Cách trồng và những lưu ý khi trồng

Tùy vào diện tích trồng dày hay thưa mà khoảng cách trồng Mít Thái Lá Bàng phải tính toán phù hợp. Mật độ trồng dày 300 cây/ha cần trồng với khảng cách 5m/cây, 6m/hàng. Mật độ trồng thư 210 cây/ha cần trồng với khoảng cách 6m/cây, 7m/hàng. Ngoài vấn về về khoảng cách, bà con cần lưu ý làm rãnh thoát nước cho cây. Xới rãnh thoát nước sâu từ 30cm trở lên.

Chọn những cây con lành lặn, thẳng, lá đẹp, ngọn phát triển đẹp để trồng ngoài tự nhiên. Chuẩn bị hố trồng có kích thước tùy theo độ dốc của đất trồng. Ví dụ với đất dốc 5%, nên đào hố trồng 40x40x40cm, với đất dốc 7% nên đào hố trồng 40x40x60cm. Trước khi trồng cần loại bỏ rễ mọc xiên ở ngoài bầu đất. Tháo bầu và đặt cây xuống hố trồng.

Tiến hành lấp và lèn đất quanh gốc, sao cho lớp đất xung quanh giữ chặt cây không nghiêng ngả. Nên đóng thêm cọc để bảo vệ cây trước gió mạnh. Chọn thời điểm trồng cây phù hợp nhất là đầu mùa mưa. Bà con có thể tận dụng nước mưa để tiết kiệm công sức tưới nước cho cây. Trường hợp vùng đất thuận lợi về tưới nước, bà con có thể trồng Mít Thái Lá Bàng vào bất cứ thời điểm nào trong năm.

Ghép cây chuẩn kỹ thuật sẽ mang đến nguồn cây giống chất lượng cao

Hướng dẫn cách chăm sóc Mít Thái Lá Bàng

Thời gian đầu mới trồng, cây con cần được theo dõi tốc độ sinh trưởng. Mặc dù là cây trồng có khả năng chịu hạn tốt, nhưng vào mùa khô phải tiến hành tưới nước thường xuyên. Đặc biệt là vào thời điểm quả Mít đang lớn đến khi sắp chín. Nước sẽ giúp quả phát triển to hơn, múi mọng và ngon hơn.

Sau khi trồng khoảng 1 tháng, bà con nên bón phân cho cây với định lượng 100-150g NPK/gốc. Đến năm thứ 2, lượng phân bón tăng lên thành là bón phân theo lượng 105-200g NPK/gốc. Khi cây bước sang năm tuổi thứ 3 đã có rễ phát triển sâu, sinh trưởng ổn định; lượng phân bón chỉ cần 50-100g/gốc. Bón phân vào đầu mùa mưa là tốt nhất.

Thời điểm làm cỏ cho cây là vào tháng 1-2, tháng 8-9. Chiều cao của cây trưởng thành có thể lên tới 20m. Nhưng để tiện lợi cho chăm sóc và thu hoạch; bà con nên tiến hành tỉa cành, tạo tán khi cây cao trên 1m.Định kỳ khoảng 2-3 năm nên xới đất quanh gốc một lần; giúp tăng khả năng hấp thụ dưỡng chất và độ ẩm cho cây.

Sau mỗi vụ thu hoạch quả, bà con nên tỉa bỏ những cành khô hoặc cành chết. Việc làm này giúp cây phát triển tốt hơn trong vụ sau. Khi tỉa cành tạo tán, cần bảo đảm số lượng cành cấp 1 không vượt quá 5 cành. Đồng thời, kiểm tra nếu có sâu bệnh thì tiến hành phun thuốc; loại bỏ những cành nhánh bị bệnh. Nhất là vào thời điểm cây ra lá non, hoặc quả đang non.

Mua cây giống Mít Thái Lá Bàng ở đâu?

Bà con nông dân có thể tiết kiệm thời gian; công sức ghép cây bằng cách mua cây con tại các vườn cây giống. Giống Mít Thái Lá Bàng hiện đang được phân phối bởi Cây Giống 4S – 25 năm kinh nghiệm cung cấp nguồn cây giống.

Cây Giống 4S thực hiện kỹ thuật ghép cây Mít Thái Lá Bàng theo đúng tiêu chuẩn. Chính xác từng li từng tí từ vị trí, kích thước; khoảng cách đến chất lượng của gốc ghép, cành ghép, mầm ghép. Giống Mít Thái Lá Bàng có tỷ lệ sống lên đến 98%.

Đặt mua cây giống tại Cây Giống 4S, bà con được bảo đảm quyền lợi với chính sách hoàn tiền 200% nếu cây giống sai quy chuẩn. Bà con nhận cây, kiểm tra cây giao đến mới phải thanh toán. Đặt mua cây giống ở bất cứ tỉnh thành nào trên cả nước; Cây Giống 4S đều có dịch vụ giao hàng tận nơi.

Thông tin liên hệ Cây Giống 4S

Địa chỉ: 01-Ấp 2, đường Nguyễn Hoàng, xã Sông Trầu, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai

Điện thoại: 0919255145

【#6】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Măcca

Cây Macadamia (người dân thường gọi là cây Mắc-ca) là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao Hạt Mắc-ca có hàm lượng dinh dưỡng cao và hương vị thơm ngon, đặc biệt thích hợp trong chế biến thực phẩm. Thành phần dinh dưỡng của hạt gồm: 78,2% chất béo, 10% hợp chất đường, 9,2% hợp chất đạm (protein), 0,7% muối khoáng, vitamin B6: 16mg/kg; 1,2 mg/kg vitamin B1…; nhân hạt có mùi thơm nhẹ, có thể dùng làm nhân bánh ngọt, nhân chocolate, kem, bánh hộp, hoặc ăn trực tiếp ở dạng đồ hộp rất được ưa chuộng ở Mỹ, châu Âu.

Phương pháp đào hố trước khi trồng : Vì cây Mac ca là loài cây cho thu hoạch hạt lâu năm , như ở Hawaii – Mỹ hiện nay những cây hơn 60 năm tuổi vẫn cho thu hoạch 6 tấn hạt / ha . Vì vậy đào hố khích thước lớn giúp cây có bộ rễ chắc khỏe khi cây còn non là rất cần thiết . Nên đào hố có kích thước rộng 70cm , sâu 70 cm . và để phơi nắng 2-3 tuần nhằm diệt bớt các vi khuẩn có hại .

Phương pháp chọn hướng và mật độ trồng : Tùy theo độ dốc địa hình để chọn mật độ trồng phù hợp .Nếu trồng trên đất bằng thì trồng hàng cây theo hướng Bắc – Nam để cây dễ dàng đón nhận ánh sáng mắt trời được nhiều nhất , tăng khả năng quang hợp ánh sáng cho cây . Mật độ 277 cây /ha ( cây cách cây 4,5m ,hàng cách hàng 8m )

Nếu trồng trên triền đồi dốc , nên trồng hàng cách hàng theo đường đồng mức . Tùy theo độ dốc để xác định khoảng cách giữa các hàng có thể 9 m-10 m . Mật độ 200 – 222 cây /ha ( cây cách cây 5m ,hàng cách hàng 9-10 m )

Ngoài ra còn xác định hình thái tán cây của từng giống để tính toán mật độ phù hợp . Ví dụ giống OC , A38, A14… có hình thái tán xòe rộng nên trồng mật độ 4,5X9 , còn hầu hết cá giống khác đề có bộ tán thẳng , cây cao lớn hơn

Phương pháp bỏ phân bón lót : Trước khi trồng cây vào hố 01 tháng nên đào hố và trộn lớp đất mặt cùng với 10 kg phân chuồng ủ hoai ; 0,5 kg phân Lân nung chảy ; 300 gram vôi bột . Trộn đề với lớp đất mặt , sau đó lấp đất lại hố 20 ngày trước khi trồng.

Phương pháp trồng cây : Trước tiên rạch túi bàu , kiểm tra bộ rễ . Nếu thấy có rễ quá dài xuyên qua khỏi túi bàu thì dùng kéo cắt sát tới bàu đất , cây sẽ tự mọc ra rễ mới . Sau đó đào hố và trồng âm xuống đất 10 cm và lấp đất lại , tạo mô đất nơi gốc cây tránh trường hợp bị trũng nước khi có gió làm lay gốc , đứt rễ .

Dùng chân giẫm nhẹ xung quanh gốc cây nhằm cố định cây không bị nghiêng ngả do gió lớn hoặc mưa xuống gây sụt lún . Trường hợp vùng có nhiều gió , nên cố định cây đứng thẳng bằng cách cắm cọc tre.

Sau 20 ngày kiểm tra nếu có cây chết thì trồng dặm thay thế. Nếu cây bị nghiêng ngả thì điều chỉnh lại . Trước và sau khi trồng cây bỏ thuốc Basudin… vào trong hố và rải trên mặt đất quanh gốc cây để phòng trừ mối hại

Phương pháp bón phân sau khi trồng : Cần căn cứ vào tình hình thổ nhưỡng qua phân tích đất hoặc qua mầu sắc của lá có dấu hiệu khác thường để quyết định bón phân gì ? bao nhiêu? Và vào lúc nào ?

Nguyên tắc chung là bón phân NPK nhiều đợt trong năm và số lượng vừa đủ , không nên bón quá nhiều cùng một lúc . Trong 2 năm đầu chỉ cần bón 100 gram NPK / cây/năm vào đầu mùa mưa và gần cuối mùa mưa . Lưu ý không bón NPK sau khi trồng 02 tháng .

Khi cây 03 tuổi nên bón 350 – 400 gram NPK/cây / năm . Bón phân vào rãnh quanh gốc (rãnh sâu khỏang 5-10cm cách gốc 30-40cm). Mỗi lần bón 120gram/gốc NPK , sau khi bón phân lấp đất lại.

Khi cây đã trưởng thành và cho thu hoạch , nên bón phân chuồng ủ hoai và phân Lân hàng năm vào tháng 11 để phục hồi sức cho cây sau vụ thu hoạch, đồng thời tạo tán tỉa cành .

Lưu ý : Nên bón qua hệ thống tưới nhỏ giọt bằng các chế phẩm sinh học dạng dung dịch sẽ cung cấp đa dạng vi sinh vật phân hủy mùn đất tạo ra đạm , lân , ka li tự nhiên thân thiện môi trường . Bón thêm thành phần Ka li thì sẽ là tăng kích cỡ quả Mắc ca

Tưới nước cho cây : Trong thời gian 3 năm đầu sau khi trồng có thể tưới bất khì khi nào nếu thấy khô hạn nhằm cho cây phát triển . Nhưng đến năm thứ 4 trở đi cây có khả năng cho quả thì nên ép khô xiết nước cây nhằm ức chế ra hoa .

Sau đó tập chung tưới đồng loạt vào giữa tháng 1 dương lịch thì đến khoảng giữa tháng 02 đầu tháng 3 , cây bắt đầu ra hoa đồng loạt , tăng khả năng thụ phấn chéo cho cây.

Đến tháng giữa tháng 3 dương lịch nên bón phân Lân và tưới nước cho cây thêm một lần nữa nhằm tránh quả bị rụng non do thời điểm đó tại Tây nguyên trời thường khô hạn.

Nếu có hệ thống tưới nhỏ giọt là tốt nhất , có thể bón phân qua hệ thống tưới , cung cấp dinh dưỡng nuôi trái được liên tục. Giảm ngày công lao động

Phương pháp tạo tán , tỉa cành : Trong 3 năm đầu nên tạo tán giữ cho cây có 1 thân thẳng đứng. cắt bỏ các cành cao dưới 1,4m . Mỗi tán cành cách nhau khoảng 60-70cm .

Độ dài các nhánh khoảng 60 cm thì cắt ngọn một lần . Chỉ nên giữ lại 2-3 chồi từ một nhánh . Nếu thực hiện đúng phương pháp tạo tán sẽ cho năng suất cao và thông thoáng .

Loại bỏ hoa trái vụ để tập trung dinh dưỡng cho cây và đỡ tốn công thu hoạch nhiều lần trong năm.

Phòng trừ sâu bệnh hại : chủ yếu có một số bệnh thường gặp sau

– Triệu chứng: đầu tiên xuất hiện một số đốm màu vàng tối trên đài hoa, sau đó cả hoa bị khô héo, hoa bị khô rồi rụng. Trong điều kiện mưa ẩm những hoa bị nhiễm bệnh biến sang mầu nâu xám đến màu đen.

– Cách phòng trị: Không nên trồng cây quá dày. Cây chớm bị bệnh phun thuốc có hoạt chất Benomyl, Carbendazim, Thiophanate-methyl,… nếu phun chậm thì không có tác dụng.

– Triệu chứng: Đầu tiên xuất hiện nốt màu vàng nhạt trên vỏ quả, dần biến thành màu vàng đậm rồi màu nâu lan rộng từ 5-15mm. Khi khuẩn xâm nhập vào phía trong của vỏ nó chuyển sang màu nâu đen.

– Cách phòng trị: Phun Cupric Hydroxide Cu(OH)2 77% pha loãng 300 – 800 lần phun lên toàn bộ quả hoặc cục bộ lô bị bệnh, mỗ tháng 1 lần, trong ba tháng liền.

– Triệu chứng: Bệnh hại chủ yếu thân cây và cành cây, do hai loại nấm dịch mao khuẩn và hai bào khuẩn mao sắc. Bệnh thường lây lan do tác động cơ giới lan truyền vào vết thương thân cây. Khi đã nhiễm bệnh thì lá, cành bị chết khô và dần cây cũng bị chết.

Vì vậy, việc kiểm tra thường xuyên vườn cây cần được nghiêm túc thực hiện để sớm phát hiện bệnh lý. Khi thấy vết chảy nhựa trên thân cây thì dùng dao cạo hết phần vỏ bị thối sau đó dùng hóa chất như Ridomil Gold 68WP, Ridomil Mz 72WP… hòa nước liều lượng 30 – 50 gam/ lít quét nhiều lần lên vết bệnh; có thể dùng các loại hóa chất này tưới xung quanh gốc cây bị bệnh với liều lượng 30 – 50 gam/10 lít nước… nếu có điều kiện nên sử dụng biện pháp tiêm trực tiếp thuốc AgriFos 400 (liều lượng 20 ml thuốc + 20 ml nước/1 lần tiêm) vào thân cây bằng dụng cụ tiêm chuyên dụng. Ngoài ra có thể dùng loại nấm Trichoderma (liều lượng: 1 kg trộn với 40 kg phân chuồng) là loại nấm đối kháng với nấm Phytophthora (nấm gây bệnh xì mủ thối gốc ) rãi vào đất dưới tán cây.

Khi cây ra hoa hoặc chồi non thường bị kiến và một số loài côn trùng như bọ xít tấn công

Cần phun phòng định kỳ, không nên phun thuốc lúc cây ra hoa. Giai đoạn cây ra trái non, côn trùng thường chích hút quả non làm quả bị những nốt thâm gây rụng quả.

Nên đặt bẫy côn trùng có bán sẵn trên thị trường , Chỉ sử dụng các chất hóa học phun lên cây khi bệnh dịch vượt ngoài tầm kiểm soát với quy mô lớn .

Đối với kiến và chuột , nên thường xuyên làm sạch cỏ quanh gốc cây . Cắt bỏ những cành cây thấp gần mặt đất.

Sử dụng 1 miếng nhựa hoặc kim loại rộng 12 cm , có 2 mặt nhẵn uốn quanh gốc theo hình nón cụt sẽ ngăn đường đi của chúng. Vào trước mùa thu hoạch hạt dùng miếng nhựa cứng , trơn cao 60 cm ốp quanh gốc cây cách mặt đất 50cm cũng có thể ngăn được chuột trèo lên cây.

: Nên sử dụng , phun định kỳ lên cây bằng các chế phẩm sinh học thân thiện môi trường để diệt bớt côn trùng có hại ( không nên dùng hóa chất diệt toàn bộ sẽ gây mất cân bằng sinh thái , tạo ra dòng mới đề kháng với thuốc ). Tạo ra các vi sinh vật đối kháng có khả năng tấn công trứng và ấu trùng . Việc này là vô cùng cần thiết để sản phẩm xuất khẩu không bị vướng các hàng rào kỹ thuật tại các quốc gia phát triển . Ngoài ra chi phí cũng rẻ hơn các thuốc bảo vệ thực vật bằng hóa học đang lưu hành trên thị trường . Khi trang trại được cấp chứng chỉ Organic thì sp bán ra cũng được giá cao hơn .

Chúc bà con thành công!

Rất mong được cộng tác với Quí vị khách hàng trên toàn quốc.

Mọi chi tiết xin liên hệ: TRUNG TÂM CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ HỢP TÁC TRANG TRẠI VIETGRAP

Địa chỉ trụ sở giao dịch tại Miền Bắc: TT Trâu Quỳ – Gia Lâm – Hà Nội

HOTLINE – 0432161283/ 0942760699

Website chính: http://viencaygiongtrunguong.com/

CHẤT LƯỢNG VÀ UY TÍN XÂY DỰNG NÊN THƯƠNG HIỆU

【#7】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Bí Ngồi Cho Năng Suất Cao

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây bí ngồi cho năng suất cao

I. Giới thiệu về cây bí ngồi

Bí ngồi được đánh giá là loại cây mùa hè, nó phát triển rất mạnh mẽ và cho nhiều trái vào thời điểm này, nhiệt độ ngoài trời khi trồng loại cây này ít nhất là 23 0 C. Sau 60 ngày trồng, bà con có thể thu hoạch được, năng suất quả của cây bí ngồi là 1,5 – 2 tấn quả/sào. Quả bí ngồi chứa nhiều vitamin C, carotene, magie, axit folic giúp ổn định đường áp, chống còi xương ở trẻ em, giảm xơ cứng động mạch, giảm sự lắng đọng cholesterol trong động mạch. Chống lão hóa, chống sự thoái hóa của võng mạc, chống ung thư, tăng số lượng hồng cầu. Trên thị trường, giá quả bí ngồi dao động từ 20.000 -30.000/ kg cao hơn giá của những loại rau khác. Với những lợi ích về sức khỏe của loại quả này, cùng với nhu cầu thị trường hiện nay.

Hình ảnh: Ruộng trồng bí ngồi (bên trái), Quả bí ngồi (bên phải)

II. Mùa vụ gieo trồng.

Cây bí ngồi có thể trồng quanh năm. Tuy nhiên, cây trồng này đạt năng suất cao nhất khi bà con trồng vào tháng 1, tháng 2, tháng 3, tháng 8 và tháng 9.

Cây ưa sáng nên rất thích hợp trồng ở ban công (áp dụng với những hộ gia đình ở thành phố).

III. Chuẩn bị đất trồng.

– Đất cát pha, đất thịt nhẹ, tơi xốp, thoáng khí, pH= 5.5 – 7.5 môi trường axit yếu -trung tính. Lên luống cao 20 – 25 cm, mặt luống rộng 60 – 70 cm, rãnh giữa 2 luống rộng 50 – 60 cm.

– Đối với những hộ gia đình không có vườn ruộng bà con cần chuẩn bị chậu trồng cây (bằng nilon, nhựa…) có kích thước: phi 40*35 cm; những loại chậu khác nhau nhưng chiều cao đảm bảo ít nhất 30 cm. Độ dày tầng trồng: 30 cm giá thể hoặc đất.

Để làm đất, lên luống phù hợp cho cây trồng được dễ dàng hơn, bà con có thể sử dụng máy xới đất (Tham khảo thông tin sản phẩm tại Đây).

Máy xới đất 3A

Máy xới đất 3A được thiết kế với bộ bánh răng xới đất có đường kính rộng và dài giúp cho việc xới đất nhanh và sâu tới 70 – 90 mm. Đặc biệt, máy được thiết kế chạy bằng pin nạp điện nên khá thuận tiện cho bà con di chuyển đến những vùng đất xa nơi không có điện.

IV. Ươm giống và gieo trồng.

– Bà con nên chọn giống Bí ngồi vàng, bí ngồi xanh Hàn Quốc. Hai giống này cho năng suất cao đạt 2 tấn/sào. Hiện nay, thị trường tiêu thụ bí ngồi Hàn Quốc khá thuận lợi, được nhiều nơi áp dụng trồng thành công như: ĐàLạt, Bắc Giang, Quảng Bình.

– Ươm giống: Ngâm hạt trong nước ấm khoảng 40 – 520 độ C (3 sôi: 2 lạnh) trong 2 giờ rồi đem gieo hạt vào bầu. Sau 20 – 21 ngày, cây có 3 – 4 lá thật thì tách trồng vào chậu.

– Cách trồng. Cây cách cây trên hàng 1 mét (hàng cách hàng 1,5 m). Thời gian sinh trưởng: 55 – 70 ngày.

V. Cách chăm sóc.

– Cây bí ngồi ưa sáng (6-9 tiếng sáng), không chịu ngập úng, độ ẩm khoảng 70%. Xới vun gốc mỗi khi bón phân cho cây. Bà con có thể sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt cho bí ngồi (Tham khảo thông tin sản phẩm tại đây).

Hệ thống tưới nhỏ giọt

+Tiết kiệm nước tưới từ 30-60% so với phương pháp tưới cổ truyền.

+Dẫn nước ( hoặc hỗn hợp phân bón, thuốc thuốc bảo vệ thực vật) đến đúng nơi cần tưới, giữ được độ ẩm đồng đều trong tầng đất canh tác góp phần nâng cao năng suất cây trồng.

– Lượng phân bón cho 1 sào Bắc Bộ:

Bón thúc lần 2

(Khi cây có 4 – 5 lá thật kết hợp vun xới)

(kg)

Sau khi trồng thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho cây, trong giai đoạn cây con cứ cách 4-5 ngày tưới nước phân đạm urê pha loãng quanh gốc cây.

Sau mỗi lần thu trái, nên bón bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây (có thể bằng phân bón qua rễ hoặc qua lá).

Lưu ý:

– Cây bí ngồi là loài cây cho quả ít vì khả năng thụ phấn của cây thấp vì vậy, bà con cần thụ phấn nhân tạo cho cây tăng năng suất quả:

B1: Vào lúc sáng sớm, bà con ngắt hoa đực vừa mới nở.

B2: Lấy nhị của hoa đực và cọ xát vào nhụy của hoa cái (giúp hạt phấn được thụ tinh).

– Bà con thường xuyên theo dõi thời gian, quá trình sinh trưởng của cây để bón phân cho phù hợp.

1. Các loại bệnh thường gặp của cây bí ngồi.

Xuất hiện ngay thời kỳ đầu ở thân lá, ban đầu xuất hiện những chòm màu xanh hóa vàng, bị bao phủ lớp nấm màu trắng như bột phấn bao trùm cả phiến lá. Bệnh nặng xuất hiện toàn thân và cánh hoa.

Phun thuốc Bellat, Topsin, Anvil, các loại thuốc chứa lưu huỳnh (Làm theo hướng dẫn của nhà sản xuất).

Cây bị bệnh đọt non xoăn lại, lá nhạt màu và lốm đốm vàng, loang lổ, các đốt thân rút ngắn, cây chùn lại, phát triển rất chậm, quả ít và biến dạng, sần sùi, có vị đắng.

+Vệ sinh đồng ruộng, dọn sạch cỏ dại trong ruộng và xung quanh để hạn chế nguồn bệnh và côn trùng môi giới.

+Nhổ bỏ thu gom tiêu hủy các cây dưa bị bệnh.

+Sử dụng các giống dưa chống bệnh.

+Kiểm tra ruộng thường xuyên (chú ý quan sát kỹ các đọt non và mặt dưới của những lá non), nếu thấy có nhiều bù lạch, rệp thì sử dụng luân phiên các thuốc để diệt trừ.

+Bệnh nặng phun thuốc Altach 5EC, Mospilan 3EC, Nouvo 3.6EC, Takare 2EC, Wellof 330EC, Nurelle D 25/2.5EC (Làm theo hướng dẫn của nhà sản xuất).

Bệnh hại chủ yếu trên lá, đôi khi có thể tấn công trên thân và quả.

– Trên lá: Vết bệnh lúc đầu là những đốm hình tròn, màu vàng nhạt, sau lớn lên có màu nâu và những vòng tròn đồng tâm màu nâu xẫm, vết bệnh khô đi và rách vỡ.

– Trên thân: lúc đầu có những đốm nhỏ màu nâu sậm, sau lan rộng, hơi lõm và có màu xám. Thân khô rồi chết.

– Trên quả: Vết bệnh tròn, màu trắng vàng, lõm vào vỏ, về sau chuyển màu nâu đen, giữa vết bệnh nứt ra và sinh lớp phấn màu hồng. Bệnh nặng các vết liên kết thành mảng lớn làm quả thối, nhũn nước.

Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 30 – 34 độ C, chết ở 45 độ C trong 10 phút.

Bệnh thường xảy ra vào những tháng có điều kiện thời tiết nóng, mưa nhiều, từ khi cây dưa bắt đầu có hoa đến thu hoạch.

– Tiêu hủy tàn dư thực vật sau mỗi vụ thu hoạch.

– Ruộng bị hại nặng nên luân canh với cây trồng khác.

– Phun thuốc khi bệnh chớm xuất hiện: Aviso 350SC,Carbenda Supper 50SC, Manozeb 80WP, Ridozeb 72WP, Top 70WP (Làm theo hướng dẫn của nhà sản xuất).

Biểu hiện

Phòng trừ

Triệu chứng điển hình là cây đang sinh trưởng bình thường thì bị héo trong khi các lá vẫn còn xanh. Hiện tượng héo xẩy ra ban ngày khi trời nắng, ban đêm cây xanh lại, sau 2 – 3 ngày cây không hồi phục được nữa và chết. Khi cắt ngang thân cây bệnh thấy mạch dẫn bị nâu đen. Nếu cắt đoạn thân cây bệnh để vào trong cốc nước sẽ thấy những giọt dịch vi khuẩn màu trắng sữa chảy ra.

Đây là loại bệnh rất khó phòng trị, sử dụng thuốc hoá học không có hiệu quả cao, do vậy áp dụng các biện pháp phòng trị tổng hợp có hiệu quả cao hơn.

+Luân canh với cây khác họ cà hoặc luân canh với lúa nước.

+Xử lý hạt giống trong nước nóng 50 độ C trong 25 phút.

+Sử dụng cây giống ở vườn ươm không bị bệnh.

+Vệ sinh đồng ruộng dọn sạch cỏ dại.

+Sử dụng phân hữu cơ hoai mục để bón.

+Nhổ bỏ và tiêu hủy cây bị bệnh.

+Tránh tiếp xúc giữa cây bệnh và cây khỏe, lưu ý khi tưới nước, tỉa cành, thu hái trái.

+Phun thuốc ngừa để hạn chế bệnh: Bonny 4SL (Làm theo hướng dẫn của nhà sản xuất).

Chúc bà con thành công!

Bà con có nhu cầu xin liên hệ với chúng tôi theo số sau để được cung cấp các sản phẩm tốt nhất.

Công ty CP Đầu Tư Tuấn Tú

Trụ sở chính: Số 60, Tổ dân phố Trù 2, P. Cổ Nhuế 2, Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội

VPGD: Ngõ 2, Đường Liên Mạc, P. Liên Mạc, Q. Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Điện thoại hỗ trợ khách hàng tại Miền Bắc: 024 22 050505 – 0948912688 – 0916478186

Điện thoại hỗ trợ khách hàng tại Miền Nam: 0945796556 – 0984930099.

【#8】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Mít Giai Đoạn Đầu

1. Giống

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều giống mít, tuy nhiên các g i ống được trồng phổ biến và cho hiệu quả kinh tế cao như: mít Gia i đường, mít M ật, mít T ố nữ, mít Thái siêu sớm, mít R uột đỏ, mít không hạt, mít Thái Viên Linh….

2. Đất đai thổ nhưỡng 3. Thời vụ trồng:

4. Mật độ trồng

B ộ rễ của c ây mít rất quan trọng, tuy có thể trồng mít ở nhiều loại đất khác nhau nhưng cây không chịu được úng, do đó ở đồng bằng sông Hồng, nếu trồng mít cần phải lên líp cao , t ạo rãnh thoát nước tránh bị ngập úng khi có mưa. Ở những vùng chuyển đ ổ i, đất trồng mít thường dùng máy múc gạt lớp đất canh tác tạo thành các luống để trồng mít, phần trũng tạo rãnh thoát nước.

5. Cách trồng

Có thể trồng quanh năm, nhưng thời tiết thích hợp nhất là vào mùa xuân hoặc mùa thu (tháng 2 – 4 và tháng 8 – 10), thời điểm này cây bén rễ nhanh, tỉ lệ sống cao và phát triển tốt.

7. Chăm sóc

Tán mít không quá to nên bà con trồng với mật độ 200-300 cây/ha (hàng cách hàng 5 – 7m; cây cách cây 5 – 6m). Nếu trồng dày cần phải thường xuyên tỉa cành, tạo tán để đảm bảo vườn thông thoáng từ đó tăng năng suất vườn mít.

Đào hố rộng 50cm, sâu 50cm, xới tơi đất, bón phân hữu cơ hoai mục và phân NKP, nên đào hố trước khi trồng 10 – 20 ngày. Đối với những vùng chuyển đổi từ đất lúa sang trồng mít, không đào hố sâu mà cần dùng máy múc, gạt tầng đất phía trên măt tạo luống (líp) sau đó mới đào hố trồng ở trên luống, như thế rễ mít sẽ không ăn trực tiếp xuống lớp đất chua phèn, mít sẽ phát triển tốt và bền cây.

Nhẹ nhàng xé túi bầu, đặt cây ngay ngắn sau đó lấp đất trồng ngang mặt bầu; sau trồng cần tưới ngay để cây nhanh bén rễ. Nếu trồng mùa thu, trời nắng, khô có thể dùng rơm rạ hoặc bèo tây tủ quanh gốc. Lưu ý, cần tưới thường xuyên cho cây sau khi trồng.

– Rễ mít mọc nổi nên chú ý không cuốc sâu xung quanh gốc cây làm tổn thương bộ rễ dẫn đến múi mít nhỏ và dễ bị sượng.

Lưu ý: Khi cây đã cho thu hoạch ổn định thì bón phân định kỳ như sau: Sau khi th u hoạch xong ( tháng 7), khi cây ra hoa và khi cây đậu quả được 1 tháng , bón 5kg phân chuồng hoai mục kết hợp với 1 – 2kg phân NPK cho một gốc cây; bón cách gốc 50 – 70cm . Có thể kết hợp dùng Kaliclorua pha loãng tưới bổ sung cho cây khi quả đậu được 1 tháng.

Bón phân cho cây : Phân bón rất quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của cây trồng . Nên sử dụng phân NPK loại 13:13:13+TE hoặc 16:16:8,… để bón cho cây. Đ ối với cây m ít thường bón ở các thời điểm sau:

Sau khi t rồng 2 – 3 tháng, khi cây đã phát triển ổn định, có thể sử dụng phân NPK pha loãng tưới bổ sung dinh dưỡng cho cây, cứ 1 tháng tưới hoặc b ó n phân 1 lần. Đối với các giống mít Thái, thường cho quả sau trồng 1 – 2 năm nên cần bổ sung d inh dưỡng để cây phát triển tốt, tạo bộ tán để nuôi quả sau này.

Trước khi cây ra hoa cần bón 0, 5 kg NPK cho m ỗ i gốc cây, bón cách xa gốc 40-50 cm.

Trước khi thu hoạch quả 1 tháng: Bón 0,3 – 0,5kg phân NPK giúp quả mau lớn, cứng cáp không bị thối rụng , có thể tưới bổ sung Kali cho cây để tăng mẫu mã và độ ngọt cho quả.

Tỉa cành, tạo tán cho cây

Loại bỏ các cành cành nhỏ, cành sát mặt đất, các cành mọc không đúng hướng và các cành sâu bệnh. Cần giữ lại các cành cành cấp 1, các cành này cách gốc cây khoảng 45cm, mọc theo các hướng khác nhau, khoảng cách giữa cành trên và cành dưới là 45cm, chỉ để 4 hoặc 5 cành cấp 1. Những cành cấp 2 cũng không nên để nhiều, cần phải tỉa bớt tránh tình trạng để quá dày cây nhiều sâu bệnh hại. Thường tỉa cành tháng 7, tháng 8 sau khi thu hoạch xong.

【#9】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Rau Muống Đạt Năng Suất

1. Đặc điểm sinh học của cây rau muống

– Với tên khoa học là Ipomea aquatica, rau muống chứa các thành phần dinh dưỡng như KCal, protit, microgam vitamin A, vitamin C.

– Rau muống là loại cây dễ trồng, dễ thích ứng với các điều kiện tự nhiên, môi trường và khí hậu ở nhiều tỉnh thành trong cả nước.

– Tính từ thời điểm gieo trồng cho đến thời gian thu hoạch của cây rau muống từ 3 tháng – 1 năm.

– Rau muống có thể ăn sống, luộc, xào, nấu canh, và ăn cả lá lẫn thân, trừ phần thân cứng, nằm gần với gốc.

– Là loại cây sinh trưởng mạnh, sức sống cao, dễ chăm sóc, cần nhiều nước, và không kén đất, bà con có thể thu hoạch nhiều lần khi vẫn giữ lại gốc rau muống và tiếp tục chăm sóc.

– Hiện nay, có nhiều cách gọi tên các loại rau muống, như dựa vào môi trường sống thì rau muống được gọi là rau muống cạn, rau muống nước hay dựa vào màu sắc gọi là rau muống đỏ, rau muống trắng.

2. Hướng dẫn cách chuẩn bị đất trồng

– Bước 1: Phát hoang, làm sạch cỏ dại, thu gom tàn dư.

– Bước 2: Thực hiện cày bừa và xới đất, tạo độ thông thoáng, giúp cây rau muống hấp thụ dưỡng chất và phát triển tốt.

– Bước 3: Dùng vỏ trấu, phân chuồng đã qua xử lý trộn đều với với lớp đất đã được cày, xới.

– Bước 4: Khi lên luống để trồng cây rau muống, bà con cần chú ý kích thước luống: như chiều rộng dài từ 1,2 – 1,3m, cao 12 -15cm nhằm giúp cho đất dễ thoát nước và tiện cho việc chăm sóc. Khoảng cách giữa các hàng từ 15 – 20cm nhằm tạo không gian đi lại, thăm vườn và nhổ cỏ, chăm sóc cho vườn cây rau muống.

3. Cách trồng và chăm sóc cây rau muống

a. Chuẩn bị giống cây rau muống và cách trồng

Bà con có thể trồng rau muống bằng hạt hoặc bằng cây giống.

– Đối với việc trồng rau muốn bằng cây, khi trồng bà con cần rạch hàng theo chiều rộng của luống với khoảng cách trung bình từ 5 – 10 cm. Trên hàng, mỗi cây cách nhau từ 10 – 15mm.

+ Mỗi cây (khóm) trồng 2 – 3 ngọn. Khi trồng chọn giống bánh tẻ, dài 20 – 25cm, đặt hơi nghiêng, lấp đất sâu 3 – 4 đốt nén chặt và tưới nước ngay sau khi trồng. Bà con cần lưu ý là ngọn giống đem trồng phải còn đủ sinh trưởng và sau khi trồng phải giữ ẩm thường xuyên cho rau muống bằng cách tủ rơm trên bề mặt, hoặc rải vỏ trấu.

– Đối với việc gieo trồng cây rau muống bằng hạt, bà con có thể ngâm hạt giống với nước ấm trong một đêm trước khi gieo trực tiếp xuống đất.

+ Tạo rạch ngang trên mặt luống cách nhau 10cm, gieo hạt xuống và lấp đất lại, tưới đủ ẩm tránh làm xói đất.

– Đối với rau muống trồng dưới nước thường được trồng ở những ruộng trũng, thường xuyên bị ngập nước hoặc trồng trên mặt nước.

+ Cách chuẩn bị đất trồng giống như chuẩn bị đất để trồng cây lúa. Trên khu đất đã được chuẩn bị trồng cây rau muống, bà con chia đất thành từng luống rộng, và dâm cành trực tiếp xuống đất.

+ Với cây rau muống trồng trên mặt nước, bà con cần chọn các thân rau muống xơ có tuổi đời từ 50 – 60 ngày, cắt xơ ủ thành đống từ 2 – 3 ngày nhằm tạo kích thích cho các mầm cây phát triển mạnh. Sau đó chỉ cần, bà con thả chúng xuống các vị trí ao hồ mình muốn trồng, dùng cọc kết thành bè.

b. Cách chăm sóc và thu hoạch cây rau muống

– Đối với rau muống cạn, bà con chỉ cần mỗi ngày tưới nước cho cây râu muống 2 lần vào buổi sáng sớm và buổi chiều tối. Tính từ thời điểm trồng từ 20 – 25 ngày, bà con đã có thể thu hoạch lứa đầu. Tuy nhiên, khi cắt cây rau muống, bà con cần lưu ý để lại từ 2 – 3 đốt tính từ mặt đất trở lên. Làm cỏ, bón phân hữu cơ, dùng cào 3 răng xới tơi đất từng hàng. Tránh sử dụng phân bón hóa học, bởi chúng ta đang hướng đến xây dựng một nền nông nghiệp sạch.

– Đối với rau muống nước, bà con không cần phải chăm sóc nhiều, chỉ cần thực hiện cắt tỉa cành để giúp cây phát triển tốt và loại bỏ cỏ dại, nhằm tránh cạnh tranh chất dinh dưỡng, tạo không gian thoáng cây phát triển.

4. Hướng dẫn cách phòng trừ sâu bệnh trên cây rau muống

– Rau muống được biết đến là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc, có sức sống cao, và ít sâu bệnh. Do đó, với cây rau muống các vấn đề về sâu bệnh rất ít được chú ý.

– Bên cạnh đó, với đặc điểm của cây và kỹ thuật canh tác, nên bệnh hại trên cây rau muống thường gây hại ít, và không tạo thành ổ dịch, không lây lan, và dễ kiểm soát.

– Các loại sâu thường gây hại cho cây rau muống chủ yếu là sâu khoang, sâu ba ba, sâu đo gang,… Chúng thường xuất hiện khi vào tháng 3 trở đi, lúc thời tiết ấm áp, cùng độ ẩm cao, thích hợp cho chúng phát triển, sinh sôi.

– Bà con có thể để vịt bắt sâu hoặc dùng thuốc trừ sâu, tuy nhiên chính vì hướng đến phương thức canh tác trồng rau hữu cơ, bà con nên hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu trong việc loại trừ sâu bệnh gây hại cho cây rau muống.

【#10】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Dổi Xanh Hiệu Quả

Cây dổi xanh có thể sinh trưởng rất tốt trên nhiều loại đất khác nhau. Đây là một trong những loại cây ưa ẩm nên rất thích hợp với những nơi có tầng đất dày và đất ẩm cũng như thoát nước. Tùy theo, điều kiện mà giống cây dổi xanh có các cách thức trồng khác nhau.

Nguồn và tiêu chuẩn cây giống dổi xanh

  • Cây giống phải lấy từ những vườn ươm nhân giống được cấp giấy phép tại cơ quản nhà nước quản lý. Cây giống dổi xanh có lý lịch rõ ràng.
  • Cây giống khi đem trồng cần đạt trên 8 tháng tuổi và đạt chiều cao tầm 40-50cm và đường kính gốc đạt 0,3-0,5 cm và cây sinh trưởng tốt cũng như không sâu bệnh và thân thẳng.
  • Cây dổi xanh ghép cần được luyện trước khi xuất vườn cần phải bỏ che mái hoàn toàn trước 1- 2 tháng như điều kiện tự nhiên cần đảo bầu và loại những cây chưa đủ tiêu chuẩn.

Thời vụ trồng cây dổi xanh

    Vụ xuân tháng 2 và 3 hay vụ thu vào tháng 8 và 9.

    Trồng phân tán cũng như tùy vào số lượng cây tái sinh và mục đích còn lại mà mật độ đưa vào trồng từ 400-500 cây/ha. Nếu như trồng thuần loài từ 900-1000 cây/ ha.

Làm đất để trồng dổi xanh

      Với kích thước hố trồng tầm 40 x 40 x 40 cm. Đào hố trước khi trồng 1 tháng và trước trồng khoảng 2 tuần khi trộn phân NPK với tỷ lệ 5:10:3 vào đất với số lượng 0,2 -0,3 kg/ hố và lấp hố.
    Tranh thủ trồng vào thời điểm thời tiết thường xuyên có mưa hay đất ẩm để cây nhanh bén rễ. Bà con cần chọn cây giống đủ tiêu chuẩn để trồng và xé bỏ vỏ và không làm vỡ bầu trước khi trồng. Cần tiến hành moi đất, đặt cây dổi ghép ngay thẳng giữa hố và mặt trên bầu ngang với mặt đất. Tiến hành, lấp đất đầy mặt hố và ấn chặt đất xung quanh bầu cũng như vun lớp đất mặt xung quanh cao hơn cổ rễ tầm 3-5 cm.

Tiến hành trồng dặm

    Sau khi trồng cây 1 tháng, bà con cần kiểm tra hoenej trường để trồng dặm những cây chết để có thể đảm bảo sự đồng đều cá thể trong vườn và rừng sản xuất.

Quá trình chăm sóc cây dổi ghép

    Chăm sóc cây dổi ghép xanh trong 3 năm đầu, mỗi năm 2 lần. Lần 1 vào tháng 2-3 và lần 2 vào tháng 8-9. Bà con nông dân cần phát dọn dây leo, cây bụi và cỏ dại trong băng trồng cây dổi, cần tiến hành xới đất xung quanh hố với đường kính rộng tầm 60-80 cm. Khi xới cần kết hợp bón thúc từ 0,2-0,3 kg phân NPK/cây. Đồng thời, cần bảo vệ không cho gia súc phá hoại cây.

Bà con nào đang có nhu cầu mua giống dổi xanh ghép uy tín và chất lượng. Hãy nhanh chóng liên hệ theo địa chỉ sau.

Trung tâm cây giống – vườn ươm Eakmat.

Địa chỉ: Thôn 10, xã Hoà Thắng, TP. Buôn Ma Thuột, Daklak.

Số điện thoại: 0966.25.17.86.

Email: [email protected] .

Cung cấp những cây giống cây giống dổi xanh ghép đầu dòng tốt nhất cho bà con nông dân với mức giá hợp lý.