Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Bắp Cải Tím

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Bắp Cải Tím xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 26/01/2021 trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Bắp Cải Tím để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 891 lượt xem.

Có 15 tin bài trong chủ đề【Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Bắp Cải Tím】

【#1】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Mít Giai Đoạn Đầu

1. Giống

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều giống mít, tuy nhiên các g i ống được trồng phổ biến và cho hiệu quả kinh tế cao như: mít Gia i đường, mít M ật, mít T ố nữ, mít Thái siêu sớm, mít R uột đỏ, mít không hạt, mít Thái Viên Linh….

2. Đất đai thổ nhưỡng 3. Thời vụ trồng:

4. Mật độ trồng

B ộ rễ của c ây mít rất quan trọng, tuy có thể trồng mít ở nhiều loại đất khác nhau nhưng cây không chịu được úng, do đó ở đồng bằng sông Hồng, nếu trồng mít cần phải lên líp cao , t ạo rãnh thoát nước tránh bị ngập úng khi có mưa. Ở những vùng chuyển đ ổ i, đất trồng mít thường dùng máy múc gạt lớp đất canh tác tạo thành các luống để trồng mít, phần trũng tạo rãnh thoát nước.

5. Cách trồng

Có thể trồng quanh năm, nhưng thời tiết thích hợp nhất là vào mùa xuân hoặc mùa thu (tháng 2 – 4 và tháng 8 – 10), thời điểm này cây bén rễ nhanh, tỉ lệ sống cao và phát triển tốt.

7. Chăm sóc

Tán mít không quá to nên bà con trồng với mật độ 200-300 cây/ha (hàng cách hàng 5 – 7m; cây cách cây 5 – 6m). Nếu trồng dày cần phải thường xuyên tỉa cành, tạo tán để đảm bảo vườn thông thoáng từ đó tăng năng suất vườn mít.

Đào hố rộng 50cm, sâu 50cm, xới tơi đất, bón phân hữu cơ hoai mục và phân NKP, nên đào hố trước khi trồng 10 – 20 ngày. Đối với những vùng chuyển đổi từ đất lúa sang trồng mít, không đào hố sâu mà cần dùng máy múc, gạt tầng đất phía trên măt tạo luống (líp) sau đó mới đào hố trồng ở trên luống, như thế rễ mít sẽ không ăn trực tiếp xuống lớp đất chua phèn, mít sẽ phát triển tốt và bền cây.

Nhẹ nhàng xé túi bầu, đặt cây ngay ngắn sau đó lấp đất trồng ngang mặt bầu; sau trồng cần tưới ngay để cây nhanh bén rễ. Nếu trồng mùa thu, trời nắng, khô có thể dùng rơm rạ hoặc bèo tây tủ quanh gốc. Lưu ý, cần tưới thường xuyên cho cây sau khi trồng.

– Rễ mít mọc nổi nên chú ý không cuốc sâu xung quanh gốc cây làm tổn thương bộ rễ dẫn đến múi mít nhỏ và dễ bị sượng.

Lưu ý: Khi cây đã cho thu hoạch ổn định thì bón phân định kỳ như sau: Sau khi th u hoạch xong ( tháng 7), khi cây ra hoa và khi cây đậu quả được 1 tháng , bón 5kg phân chuồng hoai mục kết hợp với 1 – 2kg phân NPK cho một gốc cây; bón cách gốc 50 – 70cm . Có thể kết hợp dùng Kaliclorua pha loãng tưới bổ sung cho cây khi quả đậu được 1 tháng.

Bón phân cho cây : Phân bón rất quan trọng quyết định đến năng suất và chất lượng của cây trồng . Nên sử dụng phân NPK loại 13:13:13+TE hoặc 16:16:8,… để bón cho cây. Đ ối với cây m ít thường bón ở các thời điểm sau:

Sau khi t rồng 2 – 3 tháng, khi cây đã phát triển ổn định, có thể sử dụng phân NPK pha loãng tưới bổ sung dinh dưỡng cho cây, cứ 1 tháng tưới hoặc b ó n phân 1 lần. Đối với các giống mít Thái, thường cho quả sau trồng 1 – 2 năm nên cần bổ sung d inh dưỡng để cây phát triển tốt, tạo bộ tán để nuôi quả sau này.

Trước khi cây ra hoa cần bón 0, 5 kg NPK cho m ỗ i gốc cây, bón cách xa gốc 40-50 cm.

Trước khi thu hoạch quả 1 tháng: Bón 0,3 – 0,5kg phân NPK giúp quả mau lớn, cứng cáp không bị thối rụng , có thể tưới bổ sung Kali cho cây để tăng mẫu mã và độ ngọt cho quả.

Tỉa cành, tạo tán cho cây

Loại bỏ các cành cành nhỏ, cành sát mặt đất, các cành mọc không đúng hướng và các cành sâu bệnh. Cần giữ lại các cành cành cấp 1, các cành này cách gốc cây khoảng 45cm, mọc theo các hướng khác nhau, khoảng cách giữa cành trên và cành dưới là 45cm, chỉ để 4 hoặc 5 cành cấp 1. Những cành cấp 2 cũng không nên để nhiều, cần phải tỉa bớt tránh tình trạng để quá dày cây nhiều sâu bệnh hại. Thường tỉa cành tháng 7, tháng 8 sau khi thu hoạch xong.


【#2】Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Rau Bắp Cải Tại Nhà

Cách trồng và chăm sóc cây rau bắp cải tại nhà đơn giản, theo đúng kỹ thuật sẽ giúp cho bắp cải cuộn chặt, xanh tươi mơn mởn, không bị sâu bệnh.

Cải bắp có tên tiếng Anh là Brassica oleracea. Bắp cải xanh rất thích hợp với khí hậu lạnh vào mùa đông và mùa xuân. Đây là loại rau chủ lực được trồng nhiều ở Bắc Bộ, miền Trung và Tây Nguyên.

Với bộ rễ cây chùm phát triển tốt, cây cải bắp có khả năng chịu hạn khá tốt. Bắp cải được nhiều người sử dụng trong bữa ăn gia đình, nhất là trong dịp tết Nguyên đán. Đặc biệt, bắp cải là “thần dược” có hiệu quả chống suy nhược thần kinh, giảm đau nhức, phòng chống ung thư và các bệnh tim mạch.

– Hạt giống hoặc cây con: Có thể dễ dàng tìm mua hạt giống bắp cải ở các cửa hàng, siêu thị, khoảng 12.000đ/gói 1 gam. Tùy vào thời vụ hay sở thích, bạn có thể chọn loại giống bắp cải ngăn ngày hoặc dài ngày phù hợp. Nếu trồng trong vụ sớm trồng cuối tháng 8 thì nên chọn hạt ngắn ngày để sớm có rau ăn. Lưu ý chọn hạt tròn, to, đều.

Chuẩn bị hạt giống để trồng cây rau bắp cải

– Đất trồng: Chọn loại đất giàu dinh dưỡng, nên chọn trồng ở đất thịt nhẹ, cát pha, tốt nhất là đất phù sa bồi, độ pH từ 6 – 6,5, có hàm lượng mùn cao, thoát nước tốt, đủ ẩm. Để đất tốt hơn, bạn có thể trộn với phân bò hoai mục, phân gà, phân trùn quế, vỏ trấu, xơ dừa…

Đục lỗ nhỏ dưới đáy thùng xốp để thoát nước. Với thùng xốp thể tích 50 x 37 x 30cm, bạn có thể trồng được hai cây.

– Trước khi gieo, ngâm hạt giống trong nước ấm 50 độ C trong khoảng 20 phút. Sau đó ngâm nước lạnh từ 8 – 10 giờ để vỏ mềm hơn và dễ nứt nanh.

– Cần chú ý làm đất kỹ, tơi xốp, sau đó, bón lót phân chuồng mục, phân supephôtphat vàphân kali sulphat cho đất.

– Tiến hành gieo hạt đã ngâm vào đất trồng đã chuẩn bị sẵn. Lượng hạt gieo 1,5-2,0 g/m2. Khi đã gieo xong, bạn phủ lên một lớp rơm, rạ mục, đất hoặc trấu dày 1-2 cm. Sau đó tưới đẫm nước. Trong 5 ngày đầu tiên, bạn tưới nước 1-2 lần/ngày.

Một tuần sau khi gieo cây đã cao 5cm với hai lá mầm

– Khi hạt nảy mầm nhô lên khỏi mặt đất, bạn ngưng tưới 1-2 ngày, sau đó trong 1 ngày đảm bảo 2 lần tưới. Sau 1 tuần gieo cây, cải bắp đã cao 5cm với hai lá mầm.

– Theo các chuyên gia nông nghiệp, thời điểm trồng tốt nhất là khi cây có 4 – 6 lá thật. Đến tuần thứ 2, 3, cây con bắt đầu ra khoảng số lá này. Bạn bắt đầu lấy cây trồng trong chậu hoặc thùng xốp.

Đến tuần thứ 2, 3, cây con bắt đầu ra khoảng 4 – 6 lá thật

Trồng cây con là sự lựa chọn hoàn hảo khi bạn ngại chờ đợi và không có nhiều kinh nghiệm trồng hạt. Bạn cần chọn mua ở những cửa hàng uy tín.

Chọn mua cây giống nơi uy tín để có được loại giống tốt, lớn nhanh, sinh trưởng khỏe, khả năng chịu bệnh cao.

Cây bắp cải cần không gian rộng để xòe lá. Do đó, bạn cần chú ý đặt các thùng xốp cách xa nhau.

Khi bắp cải đã cuộn lá lại, bạn có thể trồng xen canh vài cây xà lách nhỏ.

Những ngày đầu sau khi cấy cây, bạn đảm bảo tưới nước 2 lần/ngày. Nên tưới nước cho cây vào sáng sớm và chiều mát. Sau khi cấy khoảng 7 tuần, bạn giảm lượng nước tưới 1 lần/ngày.Tiến hành nhổ tỉa cây bệnh, cây không đúng giống. Mật độ giữa các cây khoảng 3-4 cm.

Sau khi cấy cây được khoảng 15 ngày, bón lót bằng phân bò, phân trùn quế, phân gà, phân dê hoặc phân hữu cơ. Khi cây trải lá nhỏ, bạn bón phân lần 2. Chờ đến khi cây trải lá rộng thì bạn bón lần 3. Lần 4 bón khi cây sắp vào cuốn. Bón lần 5 khi cây cuốn xong.

Muốn thu được cây bắp cải có cuốn bắp, chắc khỏe, chống chịu được sâu bệnh thì cần chú trọng việc bón phân đầy đủ cho cây.

Để cây bắp cải phát triển tốt nhất, bạn cần bổ sung lượng phân đạm và kali lớn với phân hữu cơ và vô cơ. Với cách trồng bắp cải tại nhà, nếu muốn thu được rau sạch thì bạn có thể chỉ bón phân hữu cơ và tưới nước tiểu pha loãng. Tuy nhiên, bắp cải thu được sẽ nhỏ hơn.

Khi trồng được trong khoảng từ 80-90 ngày, bắp cải bắt đầu cuốn chắc tay thì tiến hành thu hoạch. Thời điểm tốt để thu hoạch là vào lúc sáng sớm và chiều mát, loại bỏ các lá gốc và lá bị bệnh.

Bắp cải cuộn

Theo phunusuckhoe.vn


【#3】Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Rau Bắp Cải Tại Nhà Đúng Kỹ Thuật

Cách trồng và chăm sóc cây rau bắp cải tại nhà đơn giản, theo đúng kỹ thuật sẽ giúp cho bắp cải cuộn chặt, xanh tươi mơn mởn, không bị sâu bệnh. Bắp cải là “thần dược” có hiệu quả chống suy nhược thần kinh, giảm đau nhức, phòng chống ung thư và các bệnh tim mạch

Cải bắp có tên tiếng Anh là Brassica oleracea. Bắp cải xanh rất thích hợp với khí hậu lạnh vào mùa đông và mùa xuân. Đây là loại rau chủ lực được trồng nhiều ở Bắc Bộ, miền Trung và Tây Nguyên.

Với bộ rễ cây chùm phát triển tốt, cây cải bắp có khả năng chịu hạn khá tốt. Bắp cải được nhiều người sử dụng trong bữa ăn gia đình, nhất là trong dịp tết Nguyên đán. Đặc biệt, bắp cải là “thần dược” có hiệu quả chống suy nhược thần kinh, giảm đau nhức, phòng chống ung thư và các bệnh tim mạch.

Cách trồng và chăm sóc cây rau bắp cải tại nhà Chuẩn bị:

– Hạt giống hoặc cây con: Có thể dễ dàng tìm mua hạt giống bắp cải ở các cửa hàng, siêu thị, khoảng 12.000đ/gói 1 gam. Tùy vào thời vụ hay sở thích, bạn có thể chọn loại giống bắp cải ngăn ngày hoặc dài ngày phù hợp. Nếu trồng trong vụ sớm trồng cuối tháng 8 thì nên chọn hạt ngắn ngày để sớm có rau ăn. Lưu ý chọn hạt tròn, to, đều.

Chuẩn bị hạt giống để trồng cây rau bắp cải

– Đất trồng: Chọn loại đất giàu dinh dưỡng, nên chọn trồng ở đất thịt nhẹ, cát pha, tốt nhất là đất phù sa bồi, độ pH từ 6 – 6,5, có hàm lượng mùn cao, thoát nước tốt, đủ ẩm. Để đất tốt hơn, bạn có thể trộn với phân bò hoai mục, phân gà, phân trùn quế, vỏ trấu, xơ dừa…

Đục lỗ nhỏ dưới đáy thùng xốp để thoát nước. Với thùng xốp thể tích 50 x 37 x 30cm, bạn có thể trồng được hai cây.

– Trước khi gieo, ngâm hạt giống trong nước ấm 50 độ C trong khoảng 20 phút. Sau đó ngâm nước lạnh từ 8 – 10 giờ để vỏ mềm hơn và dễ nứt nanh.

– Cần chú ý làm đất kỹ, tơi xốp, sau đó, bón lót phân chuồng mục, phân supephôtphat vàphân kali sulphat cho đất.

– Tiến hành gieo hạt đã ngâm vào đất trồng đã chuẩn bị sẵn. Lượng hạt gieo 1,5-2,0 g/m2. Khi đã gieo xong, bạn phủ lên một lớp rơm, rạ mục, đất hoặc trấu dày 1-2 cm. Sau đó tưới đẫm nước. Trong 5 ngày đầu tiên, bạn tưới nước 1-2 lần/ngày.

Một tuần sau khi gieo cây đã cao 5cm với hai lá mầm

– Khi hạt nảy mầm nhô lên khỏi mặt đất, bạn ngưng tưới 1-2 ngày, sau đó trong 1 ngày đảm bảo 2 lần tưới. Sau 1 tuần gieo cây, cải bắp đã cao 5cm với hai lá mầm.

– Theo các chuyên gia nông nghiệp, thời điểm trồng tốt nhất là khi cây có 4 – 6 lá thật. Đến tuần thứ 2, 3, cây con bắt đầu ra khoảng số lá này. Bạn bắt đầu lấy cây trồng trong chậu hoặc thùng xốp.

Đến tuần thứ 2, 3, cây con bắt đầu ra khoảng 4 – 6 lá thật

Trồng cây con là sự lựa chọn hoàn hảo khi bạn ngại chờ đợi và không có nhiều kinh nghiệm trồng hạt. Bạn cần chọn mua ở những cửa hàng uy tín.

Chọn mua cây giống nơi uy tín để có được loại giống tốt, lớn nhanh, sinh trưởng khỏe, khả năng chịu bệnh cao.

Trồng cây con là sự lựa chọn hoàn hảo khi bạn ngại chờ đợi và không có nhiều kinh nghiệm trồng hạt Chăm sóc cây rau bắp cải tại nhà

Cây bắp cải cần không gian rộng để xòe lá. Do đó, bạn cần chú ý đặt các thùng xốp cách xa nhau.

Khi bắp cải đã cuộn lá lại, bạn có thể trồng xen canh vài cây xà lách nhỏ.

Những ngày đầu sau khi cấy cây, bạn đảm bảo tưới nước 2 lần/ngày. Nên tưới nước cho cây vào sáng sớm và chiều mát. Sau khi cấy khoảng 7 tuần, bạn giảm lượng nước tưới 1 lần/ngày.Tiến hành nhổ tỉa cây bệnh, cây không đúng giống. Mật độ giữa các cây khoảng 3-4 cm.

Sau khi cấy cây được khoảng 15 ngày, bón lót bằng phân bò, phân trùn quế, phân gà, phân dê hoặc phân hữu cơ. Khi cây trải lá nhỏ, bạn bón phân lần 2. Chờ đến khi cây trải lá rộng thì bạn bón lần 3. Lần 4 bón khi cây sắp vào cuốn. Bón lần 5 khi cây cuốn xong.

Muốn thu được cây bắp cải có cuốn bắp, chắc khỏe, chống chịu được sâu bệnh thì cần chú trọng việc bón phân đầy đủ cho cây

Muốn thu được cây bắp cải có cuốn bắp, chắc khỏe, chống chịu được sâu bệnh thì cần chú trọng việc bón phân đầy đủ cho cây.

Để cây bắp cải phát triển tốt nhất, bạn cần bổ sung lượng phân đạm và kali lớn với phân hữu cơ và vô cơ. Với cách trồng bắp cải tại nhà, nếu muốn thu được rau sạch thì bạn có thể chỉ bón phân hữu cơ và tưới nước tiểu pha loãng. Tuy nhiên, bắp cải thu được sẽ nhỏ hơn.

Thu hoạch

Khi trồng được trong khoảng từ 80-90 ngày, bắp cải bắt đầu cuốn chắc tay thì tiến hành thu hoạch. Thời điểm tốt để thu hoạch là vào lúc sáng sớm và chiều mát, loại bỏ các lá gốc và lá bị bệnh.


【#4】Củ Chi (Tp. Hcm): Nông Dân Trồng Lan Mokara Lợi Nhuận Cao

Một lão nông ở ấp Trung, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi cho biết, gia đình ông có 3.400 m2 đất vườn tạp, trước đây chủ yếu trồng các loại rau ngắn ngày, dù đã bỏ ra nhiều công sức để chăm sóc, nhưng do thường hay bị sâu bệnh, ảnh hưởng thiên tai, đạt năng suất thấp, giá cả bấp bênh, nên cuộc sống không ổn định vẫn luôn thiếu trước hụt sau.

Củ Chi (TP. HCM): Nông dân trồng lan Mokara lợi nhuận cao

Từ khi TP. HCM triển khai thực hiện Chương trình hoa lan, cây cảnh, ông đã đăng ký tham gia các lớp học về kỹ thuật trồng lan và đi tham quan học hỏi kinh nghiệm mô hình trồng lan cắt cành hiệu quả của một số hộ nông dân ở Hóc Môn, Bình Tân.

Sau khi đã nắm khá vững về kỹ thuật trồng, chăm sóc, ông quyết định lập dự án, vay vốn ngân hàng 500 triệu đồng, đầu tư cải tạo 3.400 m2 vườn trồng rau sang trồng lan Mokara cắt cành.

Đây là giống lan đơn thân, sống ký sinh, dễ trồng, phát triển nhanh được lai tạo từ các giống: Arachnis,Vanda, Ascocentrum được nhập giống từ Thái Lan. Hoa lan Mokara có ưu điểm dễ thích nghi với điều kiện nhiệt đới ẩm của TP. HCM và rất phù hợp với trồng sản xuất hoa cắt cành, do nhanh chóng ra hoa, phát hoa mọc ngay nách lá giữa thân, phát hoa dài, mang nhiều hoa, cánh đài hoa cỡ từ trung bình đến lớn và có thể đạt từ 6 – 8 phát hoa/năm/đơn thân.

Với mô hình trồng lan Mokara cắt cành đem về lợi nhuận cao, nhiều nông dân Củ Chi đang vươn lên làm giàu

Chính vì thế hiện nay mô hình trồng lan Mokara đang thu hút nhiều hộ nông dân các huyện ngoại thành TP. HCM đầu tư phát triển. Ông cho biết, lan Mokara là loài hoa đẹp, màu sắc phong phú: trắng, tím, hồng đỏ, vàng nâu, cam, xanh đang rất được thị trường trong nước và xuất khẩu ưa chuộng, có nhu cầu tiêu thụ lớn, giá cả ổn định, tỷ suất lợi nhuận cao.

Nhưng, để có một vườn lan quy hoạch đúng kỹ thuật thì chi phí ban đầu còn khá cao, nhất là lan giống. Để trồng lan, trước hết phải xây dựng nhà lưới thoáng mát với chiều cao trung bình từ 3,5 – 3,8 m và loại lưới dùng để che phủ được nhập từ Thái Lan, có độ che phủ mát 50%.

Lan được trồng theo luống, mỗi luống rộng từ 0,8 – 1,2 m, trồng được từ 2 – 3 hàng, được xây xung quanh bằng gạch ống, khoảng 3 hàng tính từ mặt đất lên, có lỗ thoát nước, ống nhựa cung cấp nước…

Bình quân khoảng 1000 m2 nhà lưới trồng được khoảng 4000 cành lan và lớp nền chất trồng để rễ lan bám xuống phải được rải bằng 1 lớp vỏ đậu phộng, hoặc xơ dừa, than (nhưng tốt hơn cả là vỏ đậu phộng) dày khoảng Vitagrowthheight.com khi trồng, thời gian đầu nên sử dụng loại phân bón có chứa B1 và NAA để kích thích cây lan phát triển rễ nhanh, đồng thời sử dụng mỗi tuần/lần loại phân bón lá dạng hữu cơ và từ 3 – 6 tháng trở lên sử dụng liên tục luân phiên các loại phân bón lá trên. Ngoài ra cần phun một số thuốc đề phòng và chống các loại vi nấm gây bệnh theo đúng định lượng…

Theo một số hộ trồng lan lâu năm ở Củ Chi, khi đã nắm vững quy trình kỹ thuật trồng và chăm sóc lan thì mọi nông dân nếu có điều kiện về mặt bằng, vốn đầu tư đều có thể triển khai thực hiện hiệu quả theo mô hình trồng lan Mokara.

Hiện nay, nhiều vườn lan Mokara của nhiều gia đình ở Củ Chi phát triển tốt, mỗi đợt cắt hoa bán cho thương lái tại vườn, với giá khoảng từ 10.000 – 15.000 đ/cành thu nhập ổn định, chất lượng cuộc sống của người trồng được nâng cao rõ rệt.

Nhiều hộ trồng lan không chỉ hoàn nợ cho ngân hàng mà cón có tích lũy đáng kể để phát triển thêm vườn lan, để tiếp tục vươn lên làm giàu từ loài lan Mokara có những sắc màu làm mê đắm lòng người này trên vùng đất Củ Chi “đất thép” năm xưa.


【#5】Phương Pháp Biệt Dưỡng 14 Ngày Dành Cho Gà Chọi

1. Thức ăn trong giai đoạn biệt dưỡng

Để tôi tiết lộ điều mà một số sư kê gọi là “bí mật” trong biệt dưỡng gà chọi để đá trường. Bắt đầu, hãy nói về thức ăn.

Một số sư kê nói rằng bí mật trong biệt dưỡng gà chọi là thức ăn. Không thể chối cãi rằng thức ăn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc biệt dưỡng, nhưng cũng xin lưu ý rằng nó phải tương quan với những yếu tố khác mà một sư kê phải theo dõi trong khi sửa soạn chiến kê đá trường. Bằng tất cả lòng trân trọng đối với những sư kê khác, tôi xin lưu ý rằng những gì tôi viết ở đây thực sự là những điều mà chính tôi áp dụng.

Trước khi áp dụng “Phương pháp biệt dưỡng 14 ngày”, chúng ta phải chọn các ứng viên. Nếu bạn tham gia giải derby 5-chiến kê, thì số lượng ứng viên cần chọn đơn giản nhiều gấp 3 lần (15 con). Giả sử rằng những chiến kê này trải qua giai đoạn tiền biệt dưỡng một cách mạnh khỏe, đầy đặn và tươi tốt nhưng không tích mỡ tức “sapola”. Trọng lượng trong giai đoạn tiền biệt dưỡng tốt nhất nên cao hơn trọng lượng đá trường khoảng 200 gram. Tốt nhất nên giảm cân trong quá trình biệt dưỡng hơn là tăng cân, điều vốn mất thời gian, công sức mà lại không hiệu quả. Nên nhớ rằng, chúng ta đang thực hiện phương pháp biệt dưỡng 14 ngày, không phải là 21 hay 30 ngày.

Còn bây giờ, bạn có thể sẽ hỏi “vậy đâu là trọng lượng đúng?”. Trọng lượng đá trường tối ưu là trọng lượng mà gà của bạn xổ hay nhất trong khi tiền biệt dưỡng. Trong giai đoạn này, hãy ghi nhận trọng lượng của từng con trước khi xổ. Chấm điểm theo cách nhìn của bạn. Chiến kê có thể đá tốt, rất tốt, xuất sắc hay bình thường ở công đoạn này. Sau tối thiểu 5 lần xổ, bạn phải có khả năng nhận biết đâu là trọng lượng tối ưu. Coi trọng lượng mà nó đá hay nhất như là trọng lượng đá trường.

Hãy cho gà ăn bánh mì nhúng sữa như là thức ăn nhẹ vào ngày tuyển chọn chiến kê. Xổ lải theo cách thông thường, và diệt rận bằng cách xịt thuốc lên lông. Đừng nhúng hẳn gà vào nước thuốc. Bây giờ chúng được xem là sạch sẽ, từ trong ra ngoài.

Để phòng bệnh và lây nhiễm trong quá trình biệt dưỡng, tôi tiêm Combiotic (chỉ 1cc. mỗi con) vào ngực gà ở ngày đầu tiên.

Về thức ăn, tôi cố gắng duy trì mức 16% đạm thô (crude protein) từ ngày 1 cho đến ngày 11. Để thực hiện, hãy trộn nhiều loại theo công thức sau:

50% – bắp thô

20% – lúa mì đỏ

10% – yến mạch nguyên hay chà vỏ (hiệu Jockey)

10% – hiệu thức ăn Royal Pigeon Feed

10% – thức ăn viên 16% đạm (16% C.P.)

Bắp là khẩu phần chủ lực của gà chọi, cung cấp rất nhiều carbohydrate và một số đạm. Tôi sử dụng lúa mì đỏ thay vì trắng bởi vì nó dễ tiêu và giàu đạm hơn. Nếu bạn không thể mua hiệu thức ăn Royal Pigeon Feed, bạn có thể thay bằng 5% đậu hà lan tươi (green pea) và 5% đậu hà lan khô (yellow pea). Những thứ này cung cấp hầu hết lượng đạm mà gà cần đến. Thức ăn viên có thể là hiệu Holding Ration Pellet hay đơn giản là Pigeon Pellet. Chỉ cần đảm bảo viên mà bạn dùng chứa 16% đạm thô. Hãy đọc thông tin trên bao bì. Tỷ lệ ở trên được tính theo trọng lượng khô.

Tất cả hạt được ngâm vào nước trong ít nhất 9 giờ. Ngay sau mỗi bữa ăn, hãy ngâm hạt cho bữa sau. Ngâm làm mềm hạt và kích thích nảy mầm. Hạt nảy mầm tạo ra nhiều đạm. Các loại đậu, như đậu hà lan và đậu nành, phải được nấu chín hay mọc mầm để chuyển hoá đạm. Bằng không gà không thể tiêu thụ lượng đạm trong hạt. Chỉ trộn hạt với viên ngay trước bữa ăn. Bây giờ bạn đã có khẩu phần căn bản.

Ngoài khẩu phần căn bản này, bạn có thể bổ sung thêm lòng trắng trứng luộc. Băm nhỏ một lòng trắng trứng luộc cho mỗi bốn đến năm con gà. Thức ăn này giúp duy trì độ ẩm bên trong cơ thể gà. Lòng trắng trứng luộc được cung cấp cho gà trong toàn bộ quá trình biệt dưỡng (từ ngày 1 đến 14).

Bên cạnh lòng trắng trứng, bổ sung thêm chất xơ, vitamin và khoáng chất vào thức ăn bằng cà chua, cải bắp hay xà lách băm nhỏ. Những loại rau này nên chiếm đến 20% lượng thức ăn trộn, trong khi 80% còn lại là khẩu phần căn bản cùng với lòng trắng trứng. Bây giờ chúng ta hãy tính theo tỷ lệ thay vì lượng thức ăn thực. Nếu chúng ta coi 1 muỗng trà tương đương với 20%, thì cần trộn 1 muỗng rau với 4 muỗng khẩu phần căn bản để có 100%. Đây là khẩu phần sau cùng mà bạn áp dụng từ ngày 1 đến 11.

Cung cấp sạn từ ngày 1 đến 9 trong quá trình biệt dưỡng. Sạn giúp gà tiêu hoá thức ăn và luyện mề. Chúng nằm trong mề cả tuần. Do đó, sạn cần được rút khỏi bữa ăn trước khi xuất trường 5 ngày để làm trống mề, cả thức ăn lẫn sạn.

Cho gà ăn đều đặn. Luôn cho ăn đúng giờ mỗi ngày. Tôi cho gà ăn vào 7 giờ sáng và 4 giờ chiều. Cho mỗi con gà ăn 2 muỗng thức ăn trộn như mô tả ở trên. Lượng này tương đương với 30 đến 40 gram thức ăn mỗi con. Vào ban ngày, gà phải tiêu hoá hết thức ăn trong bầu diều vào lúc 2-3 giờ trưa thì mới chứng tỏ hệ thống tiêu hoá hoạt động tốt. Nó chỉ cần từ 6 đến 7 giờ để tiêu hoá hết thức ăn. Nếu con nào mà bầu diều vẫn còn căng trước bữa ăn chiều thì hãy loại bỏ khỏi chương trình biệt dưỡng.

Tôi thích gà ăn ngấu nghiến và tiêu hóa nhanh. Điều này chứng tỏ hệ thống tiêu hoá của chúng thực sự tốt. Gà kén ăn hay bỏ mứa nhất định đang có vấn đề. Chúng cần được theo dõi và điều trị bệnh, và trả về chế độ tiền biệt dưỡng. Hãy theo dõi gà trong quá trình biệt dưỡng vào trước, trong và sau bữa ăn. Nếu có điều kiện, hãy theo dõi chúng cả ngày, mỗi ngày và thậm chí cả khi chúng ngủ.

Với chế độ ăn như thế này, chúng ta hy vọng gà sẽ giảm được 200 gram trọng lượng thừa tính từ khi bắt đầu biệt dưỡng. Gà sẽ giảm cân từ 10 đến 20 gram mỗi ngày và đạt trọng lượng tối ưu vào ngày thứ 11 của quá trình biệt dưỡng hay vào 3 ngày cuối cùng trước trận đấu. Nếu có con sút đến hơn 50 gram trong vòng 24 giờ thì nó nhất định bị bệnh hay quá căng thẳng trong giai đoạn này. Hãy đưa nó về giai đoạn tiền biệt dưỡng. Trong ba ngày trước trận đấu, chúng ta sẽ áp dụng kỹ thuật nạp carbohydrate (carbo-loading).

2. Kỹ thuật nạp carbohydrate

Carbohydrate là nguồn năng lượng chính của gà trong quá trình luyện tập. Tương tự như vận động viên điền kinh chuẩn bị thi đấu, gà chọi phải tích trữ đủ năng lượng để tranh hùng. Những ngày quan trọng nhất trong quá trình biệt dưỡng là ba ngày sau cùng trước khi xuất trường, gà chọi cần được nạp càng nhiều năng lượng càng tốt. Kỹ thuật này gọi là nạp carbohydrate (carbo-loading).

Nói một cách đơn giản, kỹ thuật này gia tăng hay “nạp” carbohydrate vào khẩu phần của gà chọi trong ba ngày sau cùng của quá trình biệt dưỡng như là một phần của công đoạn “ốp”.

Mục đích nhằm gia tăng năng lượng trao đổi (metabolizable energy, M.E.) ở gà chọi mà nó sẽ được sử dụng khi lâm trận. Điều này được thực hiện bằng cách gia tăng hàm lượng calo trong thức ăn của gà. Dựa trên tỷ lệ 16% đạm thô của khẩu phần căn bản mà chúng ta cung cấp từ ngày 1 đến ngày 11, chúng ta tăng dần tỷ lệ cacbohydrate lên 75 hay 80% vào ba ngày cuối. Tăng dần để hệ thống tiêu hoá của gà làm quen.

Với mỗi 100 gram khẩu phần căn bản, tăng thêm 10 gram bắp hay thức ăn tương đương vào ngày thứ 12, 20 gram vào ngày thứ 13 và 30 gram vào ngày thứ 14, như vậy vào ngày cuối cùng, tổng lượng bắp lên đến 80%. Do vậy, tỷ lệ đạm sẽ giảm trong khi tỷ lệ carbohydrate tăng lên. Thông thường, gà được cho hai muỗng thức ăn vào buổi sáng và buổi chiều.

Tại sao lại sử dụng bắp? Trước hết, khẩu phần bắp giúp chiến kê đá có “lực” hơn. Hãy so sánh gà được nuôi bằng bắp với gà không nuôi. Gà được ăn bắp sẽ linh động và cơ bắp hơn dẫu nặng ký hơn một chút, trong khi gà không được ăn bắp khi vô tay sẽ thấy gầy ốm hơn.

Bắp là lựa chọn của tôi khi nạp carbohydrate bởi bắp có hàm lượng carbohydrate (tức năng lượng trao đổi) cao hơn so với các loại thức ăn khác. Bảng dưới đây thể hiện thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn thông thường dùng để biệt dưỡng gà. Chúng ta có thể thấy hạt yến mạch (chà vỏ) có hàm lượng năng lượng trao đổi cao nhất 3400 kcal (kilo calo), kế đó là bắp 3366 kcal. Tuy nhiên, yến mạch chà vỏ cũng có hàm lượng chất béo cao. Điều này sẽ khiến gà tích mỡ hay “sapola”. Kinh nghiệm cũng cho thấy rằng gà ăn yến mạch chà vỏ sẽ ra phân rất xanh và nạp thiếu “lực”. Do vậy, tôi chuộng bắp vốn cũng có hàm lượng năng lượng trao đổi cao nhưng hàm lượng chất béo lại thấp. Năng lượng trao đổi này được tích trữ trong cơ thể gà trong ít nhất hai ngày trước khi chuyển hoá thành mỡ nếu không được dùng tới.

Trong ba ngày cuối trước trận đấu, vẫn ngâm hạt như bình thường. Độ ẩm của gà bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cả tự thân lẫn môi trường. Bởi vậy, lượng nước uống được kiểm soát trong ba ngày cuối cùng của quá trình biệt dưỡng.

Dữ liệu được lấy từ: The Merck Veterinary Manual, Seventh Edition

3. Kiểm soát nước uống và độ ẩm

Thân thể chiến kê chứa tối thiểu 65% nước. Chỉ riêng điều này, chúng ta có thể thấy rằng nước thực sự là một yếu tố quan trọng trong quá trình biệt dưỡng gà chọi. Hãy tìm hiểu sâu hơn. Tại sao chúng ta phải quan tâm đến nước uống và độ ẩm trước tiên? Để biệt dưỡng đúng cách, chúng ta phải đạt được cái gọi là “đỉnh”, nghĩa là gà ở trạng thái “tới độ” hay theo thuật ngữ chuyên môn, gà có trọng lượng thấp nhất có thể, nhưng lại mạnh hay xung nhất. Chúng ta có thể tác động đến trạng thái này thông qua việc kiểm soát nước uống và độ ẩm một cách đúng đắn.

Nước uống thực sự tác động đến việc tập luyện gà chọi theo hai nghĩa: 1) duy trì những chức năng thông thường của cơ thể, và 2) điều hoà thân nhiệt. Về tiêu hoá, nước đóng vai trò dung môi đối với các hạt và viên, và trợ giúp việc lên men. Thực phẩm mà gà ăn vào được chứa ở diều, nơi nó lên men. Tại đây, acid, đạm và carbohydrate được tăng cường hơn nữa trước khi chúng được chuyển sang mề để tiêu hoá. Do vậy, mỗi khi gà bị ké diều, chúng ta phải tìm mọi cách để làm sạch bầu diều vốn chứa đầy thức ăn lên men, bằng không gà có thể bị chết vì ngộ độc. Nếu không được cung cấp đủ nước, việc tiêu hoá và lên men thức ăn sẽ không thuận lợi và có thể đe doạ đến tính mạng chiến kê yêu quý của bạn. Bởi vậy, hãy theo dõi chế độ ăn và uống của gà, đặc biệt là thời gian mà chúng đang tập luyện.

Từ ngày 1 đến 11 của quá trình biệt dưỡng, nước uống luôn được cung cấp cho gà ngay sau bữa ăn. Độ ẩm cũng được đảm bảo bằng cách ngâm hạt qua đêm. Tuy nhiên, vào ngày thứ 12, trong vai trò sư kê bạn phải cảm nhận được điều mà tôi gọi là “dấu hiệu bệnh lý” và thật cẩn trọng trọng việc đánh giá tình trạng của mỗi chiến kê. Mỗi khi quan sát, bạn hãy tự đặt những câu hỏi sau đây: Lượng nước mà gà uống vào ban ngày? Có một cách để biết là hãy cung cấp một lượng nước nhất định vào buổi sáng kể từ ngày đầu tiên. Vào ban đêm, lấy lượng nước còn lại trong máng đem đo bằng lọ chia vạch. Đến ngày thứ 10, bạn có thể ít nhiều đoán được lượng nước mà gà sẽ uống trong ngày. Vào ngày thứ 12 của quá trình biệt dưỡng, theo dõi lượng nước mà gà uống. Gà có ăn hết lượng thức ăn bình thường? Nó phản ứng với việc nạp carbohydrate như thế nào?

Vào ngày thứ 12, chúng ta bắt đầu điều chỉnh lượng carbohydrate trong thức ăn, nhớ không? Nếu vào thời điểm này gà có độ ẩm thích hợp, nó sẽ ăn lượng thức ăn tương tự như trước đây. Phân gà như thế nào? Nó lỏng, khô hay ẩm?

Chúng ta đánh giá độ ẩm trong cơ thể gà thông qua phân. Nghĩa là, với phân ẩm, phân không bét mà có hình dạng thích hợp. Thử đạp nhẹ lên và nó sẽ dính vào giày của bạn, và đấy là độ ẩm thích hợp. Cũng quan sát gà khi chúng ỉa. Nếu ỉa khó khăn, gà quá khô. Nếu gà quá khô thì sẽ không chém tốt. Nếu gà quá ướt thì nó sẽ chậm và chém không chính xác. Còn thời tiết như thế nào? Trời râm, có nắng, ấm áp, có mưa hay nóng nực?

Vào những tháng mùa hè, gà chắc chắn sẽ uống nhiều hơn để bù mất nước và đồng thời điều hoà thân nhiệt. Một con gà bị sốt sẽ uống nước thường xuyên hơn so với con gà có nhiệt độ cơ thể thích hợp. Bởi vậy nên phân của nó sẽ rất lỏng (watery).

Gió cũng làm khô gà. Dù ở nhiệt độ bình thường nhưng mất nước qua da và lông bị tác động mạnh bởi gió hay luồng khí. Bạn có thể chưa phát hiện ra nhưng gà có thể bị quá khô, nên để yên chúng trong chuồng một khi gió quá lạnh.

Trong những tháng mùa mưa, gà thường nhiễm bệnh. Những bệnh như CRD và Coryza khiến gà bị sốt. Ban đầu, gà có thể chưa thể hiện dấu hiệu bệnh lý nhưng bạn sẽ thấy chúng uống nước thường xuyên hơn không chỉ để bù mất nước mà còn để điều hoà thân nhiệt. Chúng bị sốt. Hãy loại chúng khỏi chương trình biệt dưỡng.

Tầm thân nhiệt của gà trong giai đoạn biệt dưỡng từ 38.5 đến 39.5 độ C. Đây là thân nhiệt bình thường của gà. Hãy dùng nhiệt kế (loại nhét hậu môn) để đo thân nhiệt gà. Sau cùng, cảm giác khi bồng gà như thế nào? Đây là điều mà không phương tiện khoa học hay y học nào có thể đo lường được. Bạn phải có cảm nhận về một con gà được biệt dưỡng thích hợp. Các sư kê Mỹ gọi điều này là “kê cảm” (corky), có lẽ ám chỉ đến cảm nhận phảng phất khi bạn bồng gà trong tay.

Khi bồng, một số con đầy đặn, nặng, và cơ bắp căng cứng. Một số con mảnh mai, nhẹ và lỏng, trong khi có con lại mảnh mai, nặng và căng cứng. Chúng ta tìm kiếm những con đầy đặn nhưng nhẹ và hơi lỏng. Nếu cảm thấy cứng, gà có lẽ bị căng cơ. Chúng ta không muốn điều này xảy ra vào ngày xuất trường. Gà căng cơ có lẽ do cơ bắp vẫn còn mệt mỏi. Một khi nói “lỏng” chúng ta ám chỉ cơ bắp thả lỏng. Cơ bắp đúng độ phải vừa căng vừa lỏng. Luôn kiểm tra trọng lượng qua sổ tay. Gà của bạn phải có trọng lượng tối ưu. Vào ngày thứ 12, chúng ta phải thấy cơ bắp gà thả lỏng bởi vì trong hai ngày kế tiếp chúng ta sẽ ốp để gà căng và khô hơn.

Nếu chiến kê của bạn được biệt dưỡng một cách thích hợp, chúng sẽ uống ít nước trong thời gian còn lại. Trường hợp vào ngày thứ 12, bạn phát hiện gà đi phân lỏng hay quá khô, thì bạn vẫn còn ngày thứ 13 và 14 để điều chỉnh.

4. Ốp và xử lý sự cố

Ngày xuất trường là ngày quan trọng nhất. Vào ngày này, chiến kê phải tới độ trước khi lâm trận vài giờ. Chúng ta thực hiện điều này thông qua một quá trình gọi là ốp.

Ốp là quá trình mà chiến kê đạt trọng lượng thấp nhất, nhưng thể lực vẫn tốt nhất. Gà đạt đến trạng thái này được gọi là “tới độ” hay “đủ pin”. Chiến kê đạt đến điểm này phải có lông mướt, mặt đỏ au, phân ẩm, mắt long lanh, cảnh giác và thư thái, và nhiệt độ cơ thể bình thường.

Nhưng trước khi ốp gà, tôi nghĩ cần giải thích một chút về cách thức tham gia một giải derby. Giải thường được tổ chức từ tối cho đến sáng sớm hôm sau. Trong các giải lớn, trọng lượng đăng ký được thực hiện trước đó một ngày và lịch đá được thông báo vào buổi chiều. Trong các giải nhỏ, trọng lượng đăng ký được thông báo vào buổi sáng của ngày thi đấu.

Buổi sáng, trước khi đăng ký trọng lượng, trước cả khi cho ăn, dưỡng gà trong lồng kẽm và quan sát phân của chúng. Đợi cho đến khi gà thải hết phân rồi mới đem cân. Từ trọng lượng của mỗi con, trừ đi từ 30-50 gram và đăng ký với trường gà như trọng lượng thi đấu. Nếu trọng lượng bằng hay vượt quá trọng lượng đăng ký 40 gram thì sẽ bị phạt. Gà sẽ sút ký trong quá trình ốp và 30 gram ít nhiều là giới hạn an toàn. Chẳng hạn, nếu trọng lượng gà là 2.1 kg, trừ di 30 g, thì trọng lượng đăng ký là 2.070 kg, trọng lượng phạt là 2.110 kg trở lên. Vào thời điểm thi đấu, gà của bạn nhất định sẽ nhẹ hơn 2.1 kg nhờ ốp. Thậm chí nếu gà của bạn không sút cân trong quá trình ốp, thì trọng lượng vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Nhớ điều chỉnh cân của bạn giống như cân của trường gà, nơi bạn thi đấu.

Thời điểm thi đấu cũng quan trọng. Gà tiêu thụ khẩu phần ăn bình thường trong vòng từ 6-8 giờ và hấp thu dưỡng chất trong từ 4-6 giờ nữa. Vì vậy, hãy cố nắm lịch đấu để lên sẵn lịch trình cho gà ăn. Nếu bạn đấu vào 6 giờ tối, đếm ngược từ 6-8 giờ (khoảng 12 giờ trưa) và cho gà ăn 1/2 khẩu phần ốp bình thường. Vào 6 giờ tối, gà phải sạch bụng và “tới độ”.

Khi ốp, tốt nhất nên cho ăn hơi thiếu còn hơn là hơi thừa. Kiểm tra bầu diều và không thấy còn thức ăn bên trong. Nếu phát hiện thấy còn chút thức ăn, hãy cho ăn ít hơn 1/2 khẩu phần bình thường. Diều trống không có nghĩa là mề và ruột cũng trống. Để chắc chắn không còn chút thức ăn nào trong bụng gà, hãy cho ăn ít hơn.

Bây giờ nói về phần tinh tuý của ốp, độ ẩm. Khi vừa đến trường gà, để gà nghỉ ngơi trong tối thiểu 30 phút trước khi cho uống từ 3-5 ngụm nước. Điều này sẽ kích thích nhu động ruột. Như đã giải thích ở trên, độ ẩm có thể được đo lường bằng cách quan sát phân gà. Có bốn trạng thái hay chu kỳ biến đổi của phân khi chúng ta tiến hành công đoạn ốp. Trước hết là dạng phân ẩm và chắc mà bạn thấy vào buổi sáng ngay trước khi cân gà và sau bữa ăn cuối. Sau đó, khi gà thải hết chất xơ và những thành phần khác trong thức ăn, bạn sẽ thấy cái gọi là “phân nâu” (cecal dropping). Đây là loại phân bốc mùi, màu nâu mà gà luôn thải ra trong quá trình biệt dưỡng. Nhưng lúc này, phân nâu là dấu hiệu cho thấy ruột trống. Bạn cũng sẽ thấy một số phân xanh lỏng với chóp trắng tiếp tục ra nhưng ngày càng nhỏ hơn. Khi gà hoàn toàn trống (từ diều cho đến ruột) thì loại phân mà tôi gọi là “phân sáp” (moisture dropping) sẽ xuất hiện. Chúng giống như nhớt trắng đường kính khoảng 5 cm. Chúng càng nhỏ đi khi gần tới độ. Gà được coi là tới độ khi kích thước phân sáp nhỏ như đồng 25 xu và hơi dính.

Một hiện tượng khác thường mà tôi thấy ở chiến kê tới độ là hội chứng mà tôi gọi là “lắc mặt”. Khi tới độ, gà bắt đầu lắc mặt (giống như hiện tượng co giật cơ mặt ở người). Hiện tượng này phải xuất hiện trong khi dưỡng gà trước giờ lâm trận. Rất khó mô tả hiện tượng này bằng lời, nhưng một khi bạn thấy, thì đó là dấu hiệu chiến kê đã tới độ. Một dấu hiệu khác nữa là con ngươi bắt đầu nở to. Nhưng đôi khi, dấu hiệu này không đáng tin cậy.

Đấy là những dấu hiệu cho thấy gà đang ở trạng thái tới độ. Cẩn thận đừng để gà “qua độ” khiến chúng bị “xuống”.

Hiện tượng “xuống độ” đến ngay sau đó. Điều này có nghĩa gà đã xài hết năng lượng và dưỡng chất trong cơ thể, và bắt đầu thấy đói. Một số sư kê quả quyết rằng “xuống độ” là vì chơi thuốc quá liều, táo bón hay chùng cơ. Gà chơi thuốc quá liều thường bị đờ đẫn. Gà táo bón lại không xung bởi nhu động ruột kém và gà chùng cơ (nhốt tủ quá lâu) thường chậm và lơ đễnh. Nhưng tôi nghĩ, nguyên nhân chủ yếu của triệu chứng “xuống độ” là đói. Bạn có thể nói rằng việc làm cho gà đói là điều mà chúng ta thực hiện khi ốp. Vâng, phần nào là vậy bởi vì chúng ta rút bớt thức ăn, nhưng nên nhớ rằng cơ thể vẫn tiếp tục hấp thu dưỡng chất thậm chí cả sau khi hạt và những thứ khác đã được tiêu hoá hết. Một khi dưỡng chất được tiêu thụ hết, cơn đói xuất hiện vì thiếu năng lượng và dưỡng chất cần thiết khiến tình thế trở nên rất nghiêm trọng và tai hại. Trong ốp gà, chúng ta muốn gà trống rỗng nhưng lại không bị đói. Do vậy, khi dưỡng gà trước trận đấu, một con gà bồn chồn, kích động, thèm ăn, là con đã “xuống độ”. Tâm trí nó chỉ tập trung vào thức ăn, chứ không phải là trận đấu.

Để kéo dài thời gian “tới độ”, bạn chỉ cần cho gà ăn vài hạt hay vụn bắp hoặc 1/4 muỗng trà thực phẩm ốp vài giờ trước khi dưỡng. Để thúc gà mau tới độ, cho ăn ít đi vào bữa cuối. Không thể duy trì mãi tình trạng tới độ một khi đã sắp đặt. Nó tiến triển, bởi vậy hãy sắp đặt để trận đấu diễn ra trong vòng từ 4-6 giờ trùng với chu kỳ tới độ.

Để tránh hiện tượng “xuống độ”, phải biết dùng một lượng thuốc đúng và chính xác. Tránh táo bón và chùng cơ bằng cách thả dưỡng gà thường xuyên và kiểm tra nhiệt độ phòng xem có quá lạnh không. Kiểm tra gà xem có dấu hiệu sốt không. Đây là dấu hiệu chắc chắn gà bị bệnh và xuống độ. Nếu kiểm tra phân thấy quá ẩm, hãy cho ăn một ít viên hoặc bắp vụn để hút bớt chất ẩm trong cơ thể. Tuy nhiên, gà sút cân 70 gram hay hơn trong ngày xuất trường không được phép đá. Chắc chắn nó bị bệnh. Nếu nó phục hồi cân nặng khi ốp (điều tôi nghĩ chẳng bao giờ xảy ra) thì còn chấp nhận được một khi bụng trống.

5. Luyện tập trong giai đoạn biệt dưỡng – Phương pháp xoay tua

Có cả ngàn lẻ một cách luyện gà. Mỗi sư kê đều có phương pháp và quy trình huấn luyện khác nhau. Thời còn đá gà, tôi học hỏi những thầy gà nổi danh ở trong và ngoài nước, những người mà tôi gặp gỡ và có quan hệ. Việc gặp gỡ những người như James Pope và Buddy Mann là vô cùng hữu ích cho việc luyện gà của tôi. Với James Pope, xổ là lối luyện tập tốt nhất đối với chiến kê; với Buddy Mann, đó là sự kết hợp những bài tập tự nhiên với bàn tập. Từ kinh nghiệm của họ và cá nhân tôi, tôi xin chia sẻ những điều mà tôi biết về cách luyện gà trong quá trình biệt dưỡng.

Kể từ lần xổ gà đầu tiên, tôi nhận thấy mỗi lần thi đấu, gà thở gấp; chúng đặc biệt thở gấp hơn trong những tháng mùa hè; chúng cũng thở gấp khi độ ẩm cơ thể quá cao. Do đó, mối quan tâm chính của các sư kê trong quá trình biệt dưỡng là phát triển cơ chế chịu đựng (coping mechanism) nhằm hạn chế thở gấp. Thở gấp là dấu hiệu cho thấy cơ thể bị áp lực vì phải gia tăng nhịp tim để cung cấp thêm ô-xy cho các cơ quan. Hô hấp là phản ứng tự nhiên. Luyện tập giúp cải thiện hơn nữa cơ chế chịu đựng.

Trước hết, tôi xin nói rõ rằng việc huấn luyện gà chọi thực sự bắt đầu từ khi mới nở. Chế độ dinh dưỡng và chăm sóc thích hợp, hầu như là nền tảng của việc tập luyện. Bạn không thể làm được gì nhiều trong 14 hay 21 ngày biệt dưỡng, ngoài việc giữ cho gà tập trung, gia tăng độ bền và săn (tone) của cơ bắp. Năng lực bắt nguồn từ bổn bang, và cơ bắp được phát triển trong giai đoạn chăm sóc và tiền biệt dưỡng. Tập luyện sẽ giúp cải thiện sự dẻo dai, sức mạnh, độ săn, hình dáng và sức chịu đựng của hệ tim mạch. Không gì có thể cải thiện thể chất, khả năng tuần hoàn và hô hấp của một gà bệnh. Vì vậy, hãy bắt đầu từ khi chúng còn non và chăm sóc đúng cách trong quá trình tăng trưởng.

Trong quá trình biệt dưỡng, sư kê nhắm đến việc giữ cho chiến kê luôn tập trung bởi vì đây chính xác là điều mà chúng cần đến khi lâm trận. Sự linh hoạt, dẻo dai và phản ứng nhanh nhẹn là vốn liếng trong những trận đấu, đôi khi chỉ kéo dài vài giây. Bạn phải tránh cái gọi là “hội chứng sức ỳ” khi gà ủ rũ, trở nên đờ đẫn và buồn chán.

Mục đích khác của việc luyện tập trong quá trình biệt dưỡng là luyện cơ bắp chắc khoẻ. Luyện cơ bắp khác với phát triển cơ bắp bởi điều sau có được trong quá trình tăng trưởng và tiền biệt dưỡng, trong khi luyện cơ bắp chỉ đơn giản là làm việc trên những thứ đã có sẵn. Với cơ bắp được tập luyện, chiến kê thư thái, không căng cơ và không bao giờ chùng cơ (coop-stale).

Có vô số quan điểm liên quan đến vấn đề luyện gà. Hầu hết các sư kê kỳ cựu trước đây, làm theo “hướng dẫn” hay bài bản luyện tập, nghĩa là sư kê theo dõi và thực hiện việc luyện gà. Điều này đòi hỏi hàng loạt những bài tập, chẳng hạn như xổ kéo (tailing), bay, bật, xoay… Những người khác lại làm theo cách “tự nhiên” tức con người không can thiệp nhiều đến việc luyện tập của chiến kê. Đây là phương pháp xoay tua và áp dụng lồng bay và lồng bới vào bài tập của gà. Cả hai phương pháp đều có những ưu và nhược điểm riêng và tôi thấy việc kết hợp cả hai là cần thiết trong khi luyện gà.

Phương pháp xoay tua (rotation method). Xoay tua ở đây đơn giản là chuyển gà từ dây cột vào lồng bay, qua lồng bới, vào tủ dưỡng (resting coop), rồi trở về dây cột hay tee-pee. Với phương pháp này, sư kê phải có lồng bay dài 4 m, rộng 1m2 và cao 4 m. Lồng rộng hơn thì tốt hơn. Phải có chạc điều chỉnh với độ cao 1m2, 1m5 và 1m7 so với mặt đất. Nền là hỗn hợp phân ngựa, cát sông và đất vườn. Nền phải xốp để gà bay nhảy và kích thích chúng đào bới.

Lồng bới (scratch box). Mặt khác, lồng bới được làm bằng tre với kích thước dài 1 m, rộng 1 m và cao 1 m. Lồng phải đủ cao để khi vỗ cánh, cánh gà không chạm lồng. Lồng phải có sàn gỗ để gà có thể vươn chân và cánh hết cỡ về phía sau khi bới. Chất liệu để gà bới có thể là lõi bắp vụn, lá chuối, hay cỏ khô. Lồng dùng vào mục đích cào bới chứ không phải tắm cát, vì vậy không bỏ đất cát vào đó.

Tee-pee. Tee-pee hay chỗ cột dây là nơi ăn ngủ của gà, nơi chúng phơi sương và tắm nắng vào sáng sớm. Vị trí của tee-pee phải về hướng đông nơi hứng nắng sáng.

Tủ dưỡng (coop). Loại tủ đặc biệt dùng khi xoay tua. Đây là tủ nhỏ, rộng 6 tấc, dài 6 tấc và cao 6 tấc. Gà được cho nghỉ ở đây vào ban ngày – một loại phòng nghỉ trưa.

Việc xoay tua được thực hiện bằng cách chuyển gà từ lồng này sang lồng kia sau một thời gian. Khi chuyển lồng, luôn rửa mặt và chân gà trước khi thả vào lồng mới. Sử dụng bình xịt với thuốc Vet Rx. Điều này giúp nở phổi và tăng cường hô hấp. Trong lồng bới, khuyến khích việc cào bới bằng cách đổ vào 1/2 muỗng trà yến mạch chà vỏ mỗi lồng. Vào ngày đầu tiên, bố trí vật liệu bới và để gà cào trong vòng 5 phút. Lần thứ hai, hãy tăng vật liệu và thời gian bới lên 10 phút. Gia tăng vật liệu và thời gian bới cho đến ngày thứ 7, khi lớp vật liệu dày đến 15 cm và thời gian bới lên đến 30 phút. Từ ngày thứ 8, giảm dần lượng vật liệu và thời gian bới cho đến khi đạt mức zero vào ngày thứ 12 của quá trình biệt dưỡng.

Có những loại vật liệu bới khác nhau tuỳ theo bài tập nặng hay nhẹ. Tôi dùng lá chuối cho bài tập nhẹ, chỉ áp dụng trong những tháng hè, và sử dụng lõi bắp vụn hay lá mía cho bài tập nặng trong những tháng lạnh. Chính bạn là người quyết định cho gà tập nhẹ hay nặng và điều chỉnh khi cần.

Thực hiện bài tập bới khi gà đói bằng không bạn sẽ không đạt được kết quả như ý. Tôi thả gà vào lồng bới khoảng 4 giờ sáng khi chúng bắt đầu thấy đói. Sau khi bới, tôi bồng gà, rửa mặt và chân, rồi trả về tee-pee để phơi sương và tắm nắng.

Vào 7 giờ sáng, tôi cho gà ăn theo khẩu phần biệt dưỡng. Bạn có thể tham khảo khẩu phần thức ăn ở phần 1.

Vào 9 giờ sáng, bắt gà, rửa mặt và chân, rồi thả vào lồng bay cho đến trưa.

Vào 12 giờ trưa, bắt gà thả vào tủ dưỡng. Thời gian nghỉ dưỡng không quá 2 giờ để tránh chùng cơ.

Vào 2 giờ chiều, bắt một cặp gà đem xổ kéo (salida) hay tập kéo (kahig) và cho phép chúng nạp vài cú trong khi vẫn nắm đuôi. Sau khi xổ kéo, đưa về chỗ cột dây trong khi chờ bữa ăn. Vào ban đêm, chúng tôi luyện gà trên bàn tập (table workout).

Ghi chú:

Bổ sung một số lưu ý của tác giả về quá trình biệt dưỡng:

* Hạt ngũ cốc chứa những dòng vi khuẩn nhất định, tùy thuộc vào cách chúng được lưu trữ, sấy hay xử lý. Độ ẩm của từng loại hạt cũng phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ của chúng… khí hậu… và cách thức xử lý (sấy khô). Nếu bạn mua hạt vào những thời điểm khác nhau trong quá trình biệt dưỡng thì chất lượng hạt sẽ không đồng đều. Điều này sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tiêu hóa của chiến kê và tiếp theo là khả năng đá của chúng. Với những sư kê cực kỳ cẩn trọng, điều tôi muốn nói là bạn không nên thay đổi chủng loại vi khuẩn trong hạt ngay trong quá trình biệt dưỡng, đặc biệt vào giai đoạn ốp. Chẳng hạn, bạn đang biệt dưỡng đến ngày thứ 18, rồi bạn lại đưa lượng bắp mới vào khẩu phần, thì hệ thống tiêu hóa sẽ bị áp lực bởi vì dòng vi khuẩn mới sẽ gây xáo trộn quần thể vi sinh vật trong ruột. Bắp mới sẽ khiến phân có màu xanh (chân đá thiếu lực), điều mà bạn không muốn xảy ra vào ngày thi đấu. Tóm lại, nên chuẩn bị đầy đủ thức ăn trước khi bắt đầu biệt dưỡng.

* Bắp vụn hay bắp giã (cracked corn) dùng trong công đoạn ốp thực chất cũng là loại bắp dùng trong quá trình biệt dưỡng. Bởi vậy thành phần vi khuẩn và độ ẩm không có gì thay đổi.

*Hạt càng trữ lâu và cũ thì khả năng mất chất càng cao.

* Hệ thống tiêu hóa của chiến kê không thích nghi với thức ăn có chất xơ. Nếu bạn cho ăn yến mạch khô, có khả năng bạn sẽ phát hiện thấy những phần chưa tiêu hóa hết trong phân. Cách tốt nhất là ngâm yến mạch trước khi cho ăn. Trên thực tế, bạn phải ngâm cho đến khi chúng hơi chua (trong khoảng 3 ngày) để dễ tiêu hóa. Tuy nhiên, nếu để quá đến 4 ngày thì chúng sẽ bị ôi và bốc mùi khó chịu. Để tránh điều này, hãy ngâm một lượng vừa ăn và trữ trong tủ lạnh, thêm một muỗng canh mật ong. Điều này sẽ giúp làm chậm quá trình kên men. Lưu ý là không ngâm quá 3 ngày. Ngâm quá lâu sẽ khiến hạt lên men, gà ăn vào sẽ bị tiêu chảy.


【#6】Kỹ Thuật Trồng Bắp Cải Tại Nhà Hiệu Quả

Ảnh: Ruộng bắp cải sắp thu hoạch (nguồn: thiennhien.net)

———————

1. Thời vụ trồng:

———————

  Cải bắp là cây ôn đới nên có thể trồng vào 3 vụ trong năm:

– Vụ sớm: gieo cuối tháng tháng 7 đến đầu tháng 8

– Vụ chính: gieo cuối tháng 9 đến đầu tháng 10

– Vụ muộn: gieo tháng 11 đến giữa tháng 12

——————————-

2. Gieo hạt, ươm cây con:

——————————-

– Làm đất kỹ, bón lót 3-5kg phân chuồng hoai mục + 1kg lân cho 1 thùng xốp 40 lít.

– Hạt giống nên ngâm vào nước 2 sôi 3 lạnh (khoảng 40 độ C) trong 3 giờ.

– Vớt hạt ra, rửa sạch, để ráo nước.

– Cho hạt vào miếng vải cotton nhúng nước, vắt kiệt rồi gói lại.

– Cho miếng vải bọc hạt vào túi nilon, buộc kín rồi cất vào tủ lạnh, ngăn mát (khoảng 15-23 độ C).

– Sau 2-7 ngày, hạt nẩy mầm, dem gieo.

– Gieo xong, phủ lên một lớp rạ dày 1-2cm, sau đó dùng ô doa tưới đẫm nước.

– Độ sâu gieo hạt thích hợp: 2 -3 cm.

– Trong 3-5 ngày sau gieo, tưới 1-2 lần/1 ngày, khi hạt nhô lên khỏi mặt đất, ngừng tưới 1-2 ngày, sau đó cứ 2 ngày tưới 1 lần.

– Nhổ tỉa cây bệnh, cây không đúng giống, để mật độ 3-4cm cây cứng cáp. Sau mỗi lần nhổ tỉa kết hợp tưới thúc bằng phân chuồng + nước tiểu ngâm ủ sẵn, pha loãng. Không tưới phân đạm ure.

– Tiêu chuẩn cây giống tốt: Phiến lá tròn, đốt sít, mập, lùn. Cây có từ 4-6 lá thật thì nhổ trồng là tốt nhất.

————–

3. Làm đất:

————–

– Cải là cây ưa đất thịt nhẹ, mùn, độ phì cao nên trước khi trồng nên chuẩn bị đất thịt nhẹ hoặc đất phù sa có độ pH ổn định, trong khoảng 5,6 – 6,5, hàm lượng hữu cơ khoảng 1,5%

– Làm đất kỹ: trộn vôi bột với đất, rồi phơi ải đất ít nhất từ 5 – 7 ngày trước khi trồng.

– Nếu trồng vào thùng xốp thì trộn khoảng 1 vốc tay vôi bột. Nếu trồng ở vườn, thì lên liếp rộng 1-1,2m cao 20-30 cm, vét đất ở rãnh cho lên liếp. Vào mùa mưa (vụ sớm) thì cần lên liếp dạng mai rùa, vụ chính và vụ muộn chỉ cần lên liếp bằng phẳng là được.

– Mật độ trồng:

+ Trồng 2 cây/thùng xốp 40 – 60lít.

+ Nếu trồng trong vườn, ruộng thì mật độ nên là: cây cách cây 30-40cm, hàng cách hàng 50cm (vụ sớm), vụ chính: cây cách cây 50 cm, hàng cách hàng 50 cm để đạt hiệu quả cao nhất.

– Nên sử dụng màng phủ nông nghiệp (polietylen) để phủ đất hạn chế tối đa cỏ dại. Dùng đất chèn mép luống và đục lỗ trồng.

—————-

4. Chăm sóc:

4.1. Bón phân:

——————

– Chỉ sử dụng phân chuồng ủ mục, tuyệt đối không dùng phân tươi. Lượng phân chuồng cho 1 thùng xốp là từ 3-6kg; 800 – 1000kg/sào Bắc Bộ, dùng bón lót.

– Sử dụng phân vô cơ để bón thúc theo liều lượng sau:1: ½ : ¼ (lân:kali:đạm).

+ Nếu trồng trong thùng xốp thì cứ 1 thùng xốp, sử dụng 1 chén uống nước lân trộn với ½ chén kali trộn tiếp với ¼ chén đạm (ure) thành hỗn hợp A. Pha hỗn hợp này với bình 10-15 lít, tưới cho cây vào buổi chiều mát.

+ Nếu trồng trong vườn, có thể sử dụng lượng phân bón cho 1 sào Bắc Bộ: 40-50 kgN; nếu sử dụng lân hữu cơ vi sinh thì lượng bón cần thiết là: 20 kg P2O5 (100 kg supe lân); lượng kali cần thiết là: 30-50 kg/sào Bắc Bộ.

———————————-

(*) Bón thúc làm 3 thời kỳ:

———————————-

– Thời kỳ cây hồi xanh: bón nốt lượng kali còn lại +1/3 lượng đạm còn lại.

Cách bón: bón gốc cây kết hợp xới vun

Số đạm còn lại chia đôi, hoà với nước tưới gốc vào 2 thời kỳ :

– Thời kỳ trải lá bàng : 30-35 ngày sau khi trồng

– Thời kỳ cuốn bắp : 45-50 ngày sau trồng.

– Ngoài biện pháp bón vào đất, có thể phun qua lá các dung dịch dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng theo hướng dẫn sử dụng của hãng sản xuất.

——————-

4.2. Tưới nước:

——————-

– Tuyệt đối không được dùng nguồn nước thải, nước ao tù chưa được xử lý để tưới. Có thể dùng nước giếng khoan, đã được xử lý, tốt nhất là dùng nước thuỷ cục (n

ước sạch nhà máy).

– Sau khi trồng phải tưới nước ngay, ngày tưới 2 lần vào sáng sớm và chiều mát cho đến khi cây hồi xanh, sau đó 2-3 ngày tưới 1 lần;

– Các đợt bón thúc đều phải kết hợp làm cỏ, xới xáo, vun gốc, tưới nước;

– Khi cây trải lá bàng có thể tưới ngập rãnh, sau đó phải tháo nước ngay tránh ngập úng.

—————————–

5. Phòng trừ sâu, bệnh:

—————————–

– Nếu trồng diện tích hạn hẹp, dùng cho gia đình thì không nên dùng thuốc bảo vệ thực vật hoặc nếu bắt buộc dùng do sâu quá nhiều thì chỉ nên dùng các thuốc có thành phần thảo mộc, thuốc sinh học như dầu khoáng đầu trâu Biohopper hoặc SK enspray 99 EC. Nếu các thuốc trên vẫnkhông có tác dụng thì buộc phải dùng thuốc hoá học nhưng nên lưu ý các hướng dẫn sử dụng ở vỏ bao bì, đặc biệt là nồng độ và thời gian cách ly. Áp dụng nguyên tắc 4 đúng trong việc sử dụng thuốc trừ sâu hoá học: đúng thuốc, đúng nồng độ và liều lượng, đúng cách và đúng lúc.

————–

5.1. Sâu hại:

————–

– Cải bắp thuộc họ rau thập tự nên tất cả các loại sâu hại có trên rau họ thập tự đều có ảnh hưởng đến cải bắp, trong đó có các loại sâu hại chính:

+ Sâu tơ (tên khoa học: Plutella xylostella) là sâu gây hại nguy hiểm nhất. Chúng phát sinh và gây hại liên tục từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, đặc biệt từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Sâu rất nhanh quen thuốc nên khả năng kháng thuốc cao.

+ Các loại sâu khác như: Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae), sâu khoang (Spodoptera liture), rệp (Aphis sp.) thường phòng trừ kết hợp với sâu tơ. Nếu chỉ riêng có rệp hại nặng, thì dùng thuốc Sherpa 20EC, Sumicidin 10EC, Trebon 10EC, Suprathion và Pegasus.

————————————————–

(*) Biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM):

————————————————–

– Phải xử lý cây giống trước khi trồng bằng cách nhúng từng cây con vào dung dịch thuốc Sherpa 20EC nồng độ 0,1% hoặc Regent 800 WG pha nồng độ 1g/10 lít nước, trong 5-10 giây rồi vớt ra để khô nước mới đem trồng;

– Khi cây lớn phải sử dụng luân phiên giữa các nhóm thuốc: Thuốc sinh học (BT, Delfin WP (32 BIU), Dipel 3,2WP, Aztron 700 DMBU, Xentary 35 WDG,…), thuốc hóa học (Sherpa 20EC, Atabron 5 EC, Regent 800WG, Pegasus 500 SC,…) và thảo mộc (HCĐ 95 BTN, Rotenone, Neembon A-EC Nimbecidin 0,03EC,…). Nồng độ và lượng nước phải pha theo hướng dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc.

– Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch ít nhất 10 ngày. Trong thời gian này, nếu sâu còn gây hại nặng, thì chỉ dùng nhóm thuốc sinh học hoặc thảo mộc.

– Trồng luân canh giữa rau cải bắp với các họ rau khác: đậu, cà. Trên cùng một chân đất, có thể trồng xen canh rau họ thập tự với cà chua để hạn chế gây hại của sâu tơ (Cà chua có mùi mà sâu không ưa). Cứ 2 luống cải bắp lại trồng 1 luống cà chua.

—————–

5.2. Bệnh hại: 

—————–

– Một số bệnh thường gặp:

+ Bệnh thối nhũn do vi khuẩn (Erwinia carotovora sp.)

+ Bệnh thối do nấm (Sclerotinia sclerotium)

+ Bệnh đốm lá (Cereospora sp.).

– Để phòng trừ, cần tránh ruộng quá ẩm, úng kéo dài, thường xuyên làm vệ sinh, làm cỏ, thu gom các lá già,… làm cho ruộng sạch, thông thoáng.

– Khi cần có thể dùng các thuốc:

+ Trừ bệnh thối nhũn: Zineb Bul 80WP, Macozeb 80WP, Ridomil MZ 72 WP, Anvil 5SC, Aliette 80WP, Curzate MB 72WP;

+ Trừ bệnh đốm lá, dùng thuốc: Score 250EC, Anvil 5SC, Rovral 50WP, Antracol 70WP.

+ Khi sử dụng phải theo đúng hướng dẫn bao bì của từng loại thuốc, thời gian cách ly không dưới 10 ngày.

—————–

6. Thu hoạch:

—————–

– Thu hoạch khi bắp cải cuộn chặt, loại bỏ lá gốc, lá bị bệnh, không ngâm nước, không làm giập nát.

————————————————————————————

(*) Đọc thêm về quy tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:

————————————————————————————

   Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để bảo vệ cây trồng, bảo vệ mùa màng là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong hệ thống các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp cho cây trồng. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất của người dân, hiện tượng lợi bất cập hại vẫn còn thường xuyên xẩy ra, gây ảnh hưởng xấu đến năng suất, sản lượng, thu nhập, bản thân, xã hội, môi trường…Vì vậy để nâng cao hiệu quả của công tác sử dụng thuốc BVTV để phòng và trị sâu bệnh cho cây trồng, chúng tôi xin giới thiệu cùng bà con về nguyên tắc 4 đúng như sau:

Trong hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV ngành BVTV thường hướng dẫn tuyên truyền nông dân phải áp dụng nguyên tắc 4 đúng gồm : Đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ liều lượng và đúng cách.

1. Nguyên tắc sử dụng đúng thuốc:

   Khi quyết định sử dụng thuốc BVTV cần phải biết rõ loài dịch hại cần tham khảo cán bộ chuyên môn BVTV hoặc ban nông nghiệp tại địa phương. Ưu tiên lựa chọn sử dụng các loại thuốc có tác động chọn lọc, có hiệu lực cao, thời gian cách ly ngắn và ít độc đối với sinh vật có ích, động vật máu nóng. Cần tìm hiểu kỹ xem loại thuốc định mua có an toàn với cây trồng sẽ được phun hay không đặc biệt chú ý khi mua và sử dụng thuốc trừ cỏ

   Thay đổi loại thuốc trong quá trình sử dụng, không nên sử dụng một loại thuốc trong thời gian dài hoặc từ năm này qua năm khác để ngăn ngừa hiện thượng quen thuốc, kháng thuốc của dịch hại .

2- Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng lúc

   Phun thuốc vào thời điểm dịch hại dễ bị tiêu diệt, phun ở giai đoạn tuổi nhỏ đối với sâu và ở giai đoạn đầu đối với bệnh . Phun vào lúc trời má, không có gió to để thuốc tiếp xúc bám dính tốt hơn trên bề mặt lá. Hạn chế phun lúc cây đang ra hoa, không phun thuốc khi trời nắng nóng sẽ làm giảm hiệu lực của thuốc hoặc trời sắp mưa có thể làm rửa trôi thuốc. Không phun thuốc vào thời điểm quá gần ngày thu hoạch (tuỳ thuộc vào thời gian cách ly của từng loại thuốc để xác định thời gian ngừng phun thuốc trước thu hoạch). Phun khi mật độ sâu, tỷ lệ bậnh đạt đến ngưỡng gây hại kinh tế (điều này cần có cán bộ kỹ thuật hướng dẫn xác định đối với từng loại sâu, bệnh ở từng thời kỳ và mức độ sinh trưởng phát triển của cây trồng).

3. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng nồng độ, liều lượng.

   Đúng nồng độ liều lượng ở đây bao gồm lượng thuốc và lượng nước trên đơn vị diện tích theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật. Không được tuỳ ý tăng nồng độ của thuốc cao sẽ gây hại cho người sử dụng, cây trồng, môi trường và làm tăng chi phí, hoặc phun ở nồng độ quá thấp sẽ làm cho dịch hại quen thuốc, kháng thuốc tạo nguy cơ bùng phát dịch.

4. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng cách .

   Về nguyên tắc này trước hết phải kể từ khâu pha thuốc. Khi quyết định sử dụng thuốc phải tính toán kỹ lượng thuốc và lượng nước cần sử dụng. Khi pha thuốc nên cho vào bình 1/3 – 1/2 lượng nước rồi cho nước vào rồi khuấy đều, sau đó tiếp tục cho đủ lượng nước còn lại vào khuấy kỹ để thuốc phân tán đều trong nước. Không tự ý hỗn hợp hay nhiều loại thuốc BVTV với nhau bởi khi hỗn hợp có trường hợp làm gia tăng hiệu lực thuốc song có nhiều trường hợp hỗn hợp sẽ giảm hiệu lực thuốc, hoặc dễ gây cháy nổ, độc hại cho cây trồng và cho người sử dụng. Do đó chỉ thực hiện hỗn hợp thuốc nếu có hướng dẫn trên nhãn thuốc hay hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và sau khi hỗn hợp phải sử dụng ngay.

(*) Lưu ý: 

    Thông thường chỉ nên phối trộn hai loại thuốc trong cùng một lần phun sẽ cho hiệu quả cao, đồng thời kiểm soát được tác hại ngược lại do quá trình phối trộn. Tuy nhiên, đa số bà con nông dân chưa hiểu rõ nguyên tắc phối trộn và tuỳ tiện phối trộn thuốc BVTV nên hiệu lực phòng trừ dịch hại thấp, ngoài ra còn gây ngộ độc cho cây trồng. Để giúp bà con sử dụng thuốc BVTV hiệu quả và an toàn đối với cây trồng chúng tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm như sau:

   Những nhóm thuốc bà con có thể pha trộn:

– Chỉ nên phối hợp các loại thuốc bảo vệ thực vật thuộc các nhóm gốc khác nhau thì hiệu quả mới cao như: thuốc nhóm lân phối hợp với nhóm các ba mát, lân + cúc, các ba mát + cúc, các ba mát + điều hòa sinh trưởng, thuốc vi sinh phối hợp với gốc lân

hoặc cúc.

– Chỉ nên phối hợp thuốc có các tác dụng khác nhau như (tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp, lưu dẫn.

– Chỉ nên phối hợp thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh, thuốc trừ sâu với thuốc trừ cỏ, trừ cỏ với phân bón.

– Không nên phối hợp thuốc trừ bệnh với phân bón qua lá hoặc chất điều hòa sinh trưởng,

– Không phối hợp thuốc trừ sâu vi sinh với thuốc trừ bệnh có nguồn gốc chất kháng sinh….

– Không phối hợp thuốc trừ sâu, trừ bệnh với các loại thuốc gốc đồng như Coc 85, Coper B. Vì thuốc gốc đồng thường có tính kiềm cao, trong khi đó thuốc trừ sâu, trừ bệnh lại có tính axit. Khi pha trộn với nhau chúng sẽ trung hòa làm giảm hiệu lực thuốc.

   Để biết chắc chắn hơn bà con nên lấy một ít thuốc nguyên chất pha với lượng tương đương thuốc loại kia trong một cốc sành, sứ, thủy tinh, nhựa, dùng que khuấy nhẹ cho hòa tan để trong 2 – 5 phút. Quan sát nếu thấy có hiện tượng kết tủa bên dưới, đóng váng trên bề mặt, bốc khói tỏa nhiệt, sủi bọt hoặc biến đổi màu bất thường thì không nên pha trộn các loại thuốc đó với nhau để phun cho cây trồng.

   Nếu đã khẳng định trộn được 2 loại thuốc với nhau thì trong quá trình pha chế, bà con nên lần lượt cho từng loại thuốc thứ nhất vào bình rồi cho nước vào khoảng nửa bình khuấy đều sau đó cho loại thuốc thứ 2 vào rồi tiếp tục thêm nước cho đầy bình đủ lượng nước mình cần. Lưu ý trước khi pha thuốc trong bình phải có một lượng nước vừa phải và không nên cho 2 loại thuốc vào cùng một lúc, nồng độ của mỗi loại phải giữ nguyên như khi dùng riêng rẽ. Sau khi pha phải phun ngay.

Để tránh hiện tượng quen thuộc đối với các loại dịch hại trên cây trồng, khi sử dụng bà con cần luân phiên các nhóm thuốc có gốc khác nhau.

   Khi phun thuốc tuỳ vào đặc điểm, vị trí gây hại của từng loại dịch hại để hướng vòi phun sao cho tia thuốc tập trung vào nơi định phun để thuốc tiếp xúc được nhiều nhất với dịch hại, không đi ngược chiều gió khi phun .

Như vậy để sử dụng thuốc BVTV, phòng trừ dịch hại đạt hiệu quả cao thì việc hiểu và tuân thủ các nguyên tắc trên là rất cần thiết. Kính mong mọi người lưu tâm và thực hiện tốt.

 Theo: Nhân Sang

Trạm KN Anh sơn

————————

Tài liệu tham khảo:

————————

– Báo nông nghiệp Việt Nam

– http://wikipedia.org

– http://khuyennong.gov.vn

– Cục trồng trọt: www.cuctrongtrot.gov.vn

– http://nghean.gov.vn

– Chi cục bảo vệ thực vật nghệ an


【#7】Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Quản Lý Chiến Kê

Gà tơ được bắt từ sân và chuyển vào lồng tôi (hardening pen), mỗi con một lồng. Chúng được nhốt trong lồng này từ 15 đến 30 ngày. Các nhà lai tạo tin rằng gà được tôi càng lâu (đến 30 ngày) thì chúng càng được chuẩn bị tốt cho cuộc đời của một chiến kê.

Lồng tôi là nhà của gà trong toàn bộ giai đoạn tôi gà. Chúng được cho ăn uống ở đấy. Trước khi đưa vào lồng, dây cột được gắn vào chân bên phải để cho gà quen dần.

Khi vào lồng, những công đoạn quản lý như tiêm chủng, tẩy giun, diệt rận và những thứ tương tự được thực hiện, giúp gà tơ làm quen với người chăm sóc. Điều này khiến chúng thuần hơn và dễ ôm, bắt. Bởi vì ở tuổi này gà tơ bắt đầu de mái, một con gà mái được thả vào mỗi lồng để khích lệ tinh thần và bản năng giới tính, điều vốn liên quan đến sự gan lỳ và dày dạn.

Gà tơ trong giai đoạn tôi được cot day ong khi chờ đợi để biệt dưỡng. Do vậy, không có giới hạn về thời gian nhốt ở sân cột, nơi trở thành ngôi nhà kế tiếp của chúng.

Là một phần trong chương trình tuyển chọn liên tục để biệt dưỡng cũng như lai tạo, gà tơ trong sân cột được cho xổ hàng tuần để quan sát độ gan lỳ và tình trạng sức khỏe, và ghi nhận mức độ tiến bộ về khả năng và lối đá của chúng. Nên xổ nhanh, khoảng vài ba cú nạp là đủ để tránh gây thương tích và làm gà mệt mỏi một cách không cần thiết.

Tin Mong

Tỉa là cắt bỏ mồng và tích của gà tơ. Chiến kê được tỉa mồng bởi vì mồng và tích làm gà vướng víu khi đá. Nó cũng giúp gà đối phương dễ dàng nắm đá, điều khiến cho chiến kê không tỉa mồng bị bất lợi.

Gà tơ dự định đem đá được tỉa mồng khi đạt từ 7 đến 8 tháng tuổi. Ở tuổi này, nó phải có khả năng chịu đau khi bị cắt mồng và tích. Khi còn non, đặc biệt là khi chưa gọi mái, tỉa mồng sẽ khiến gà bị tổn thương. Điều có thể ảnh hưởng đến sự gan lỳ và khiến gà bỏ chạy khi nó nhớ lại kinh nghiệm đau đớn này. Nhiều nhà lai tạo lợi dụng việc tỉa mồng làm công cụ để tuyển chọn chiến kê. Những con kêu la hay chết nhát khi tỉa mồng sẽ bị loại bỏ, bởi vì đấy biểu hiện cho thấy chúng không gan lỳ.

Tỉa mồng thường được thực hiện bằng một cây kéo phẫu thuật, kéo thường hay dao cực sắc. Để tránh rắc rối, việc này được thực hiện vào ngày thích hợp.

Hai người thực hiện việc tỉa mồng. Một người giữ gà trong khi người kia tỉa mồng. Mồng và tích được cắt đến tận gốc, để mà khi lành lặn, gà tơ có bề ngoài thật nhẵn nhụi. Sau khi tỉa mồng, đầu gà được rửa bằng nước sạch, lau khô bằng khăn và được bôi hay rịt bằng thuốc kháng sinh (chẳng hạn Quick Heal® Wound Spray).

Nếu tỉa mồng một mình, tốt nhất nên duỗi chân gà về phía đuôi và gà được bao bằng khăn hay một túi sạch. Tom Wilson có lần tự tay tỉa mồng cho 80 con gà tơ trong vòng 3 giờ ở trại Tanay của Boy Diaz. Đây là kỷ lục tỉa mồng, tích và tai với 2.25 phút mỗi con. Qua thực hành thường xuyên, phương pháp này sẽ tiết kiệm thời gian và nhân lực.

Vận chuyển chiến kê.

Bởi vì các trại gà thường được xây dựng ở vùng nông thôn, chiến kê luôn được vận chuyển một cách tương đối xa từ trại cho đến trường đấu. Nếu chuyến đi không thoải mái, nó sẽ khiến chiến kê căng thẳng và ảnh hưởng đến lối đá của chúng. Do vậy, điều quan trọng là quá trình vận chuyển không được làm biến đổi trạng thái tâm lý cũng như thể chất của chiến kê, bởi vì bất kỳ biến động nào cũng tác động đến việc thi đấu. Trạng thái sẵn sàng trước trận đấu sinh tử là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài và kỹ càng mà nó bắt đầu từ khâu lai tạo và tuyển chọn cho đến ốp, và không nên bị phá hỏng bởi việc quản lý kém trong quá trình vận chuyển đến trường đấu.

Bằng mọi giá đem gà đến trường đấu trước lúc bình minh. Bằng cách này, gà sẽ thức dậy ngay tại trường đấu một cách tự nhiên như thể chúng không biết gì đến việc vận chuyển. Một hiện tượng phổ biến là khi để lọt chút ánh sáng, chiến kê sẽ tỉnh giấc và bắt đầu gáy, báo hiệu bắt đầu một ngày mới. Nếu điều này xảy ra, nó sẽ khiến cho chiến kê căng thẳng một cách không cần thiết.

Thời điểm vận chuyển gà tệ nhất là vào ban ngày. Với những ai phải di chuyển xa hơn bình thường, chẳng hạn lâu hơn 3 giờ, có lẽ cách tốt nhất là vận chuyển gà đến trường đấu trước 1 ngày để chúng có thời gian nghỉ ngơi và phục hồi từ những căng thẳng phát sinh trong quá trình vận chuyển. Như đề nghị về sau trong chương này, bữa ăn tối trước và sau khi vận chuyển phải hơi loãng (tức trộn thêm thức ăn lỏng) và hạt được nấu chín để dễ tiêu hóa. Trong khi vận chuyển, luôn giữ gìn để gà thoải mái và tránh làm chúng căng thẳng. Sau đây là những bí quyết mà bạn nên cân nhắc:

Danh sách. Đêm trước chuyến đi, một danh sách tất cả những thứ cần mang theo phải được chuẩn bị sẵn. Mọi thiết bị và dụng cụ phải chuẩn bị từ trước để khi cần là có để dùng.

Khởi hành sớm. Như đã nói ở trên, gà phải có mặt tại trường đấu trước 5 giờ sáng. Nhờ vậy mà chúng có thời gian để nghỉ ngơi và phục hồi từ những căng thẳng gây ra bởi chuyến đi.

Bố trí nằm ngang. Vị trí của gà phải nằm ngang so với chiều xe. Điều này sẽ giảm thiểu, nếu không nói là loại bỏ, những dằn sóc và khó chịu khi xe dừng và đề-pa so với việc bố trí dọc theo chiều di chuyển.

Không sử dụng chất khử mùi, nước hoa hay cồn. Gà rất nhạy mùi. Tránh sử dụng nước hoa, khử mùi xe hơi, thuốc lá và những thứ tương tự, mà chúng có thể ảnh hưởng đến chiến kê vào giai đoạn nhạy cảm nhất trong ngày thi đấu.

Máy lạnh. Việc vận chuyển chiến kê trong xe máy lạnh sẽ khiến chuyến đi thoải mái hơn. Tuy nhiên, bởi vì máy lạnh cũng làm khô, nên phải rảy nước vài lần lên lỗ thông hơi và xung quanh ca-bin sau mỗi 10 phút. Để đảm bảo thoáng khí, hãy hé cửa sổ phía sau cỡ 2 cm. Không khí sẽ tự động trao đổi. Đương nhiên, bạn phải dựa vào cảm quan chung chẳng hạn nếu đi sau một xe tải phun khói nồng nặc thì phải khép cửa sổ lại cho đến khi vượt qua nó.

Vào sau, ra cuối. Khi chất đồ lên xe tải, lồng xách phải được xếp sau cùng. Khi đến trường gà, hãy chuẩn bị kê phòng trước và khi mọi thứ đều sẵn sàng thì lồng gà mới được dỡ khỏi xe.

Biệt dưỡng và ốp tự nhiên

Những chủ đề về phương pháp biệt dưỡng và huấn luyện có đầy rẫy trên giang hồ. Tuy nhiên, tất cả đều có chung một mục đích là đưa chiến kê đến đỉnh cao của trạng thái tâm lý và thể chất trước khi bước vào trận đấu. Phương pháp biệt dưỡng ở đây, tập trung vào đường lối tự nhiên. Đa phần dựa vào phương pháp mà John Paul Trotter học từ đại sư kê Joe Goode, vốn được nhiều người ở Mỹ xem như là một trong những cao thủ dưỡng gà bậc nhất. Nghe kể, trong khi Joe bận đá gà ngoài trường, thì John ở lại trại để chăm gà cho giải lần sau. John Paul Trotter cũng chăm gà cho những tay chơi có máu mặt ở địa phương và hợp tác với Boy Diaz một thời gian. Từ Boy Diaz mà phương pháp này được truyền đến Emoy Gorgonia (đồng tác giả bài này) với một số điều chỉnh để phù hợp với điều kiện ở Philippine. Phương pháp biệt dưỡng ở đây có nhiều điểm tương đồng với biệt dưỡng ngựa đua và một vài nguyên lý xuất phát từ công tác huấn luyện đấm bốc và vận động viên điền kinh nói chung.

Yêu cầu cơ bản

Dòng giống tốt. Nếu bạn không tự lai tạo chiến kê thì tốt nhất, bạn nên tìm kiếm chiến kê nòi từ các trại danh tiếng với đặc điểm lì lợm, khả năng đá và chém. Những con do dự và những con quá toan tính, né tránh hay phòng thủ theo một lối nhất định cần được phát hiện để loại bỏ trong quá trình biệt dưỡng, kể cả những con không đạt tiến bộ theo yêu cầu. Paeng Araneta tổng kết tất cả bằng một lời khuyên cho người mới chơi rằng “hãy chọn chiến kê có cá tính”.

Tiện nghi. Để có thể biệt dưỡng tốt, những tiện nghi đề cập ở đầu sách là bắt buộc. Lồng bay , lồng bới, lồng ốp , sàn xổ và những thứ liên quan phải có sẵn ở khu vực biệt dưỡng.

Kê cảm. Đây là điều khó khăn nhất. Với những người có khiếu này, họ may mắn sở hữu cảm nhận tự nhiên về chiến kê, tức nhận thức bản năng điều nên hay không nên làm trong toàn bộ quá trình biệt dưỡng. Đa phần, kê cảm (chicken sense) chỉ xuất hiện thông qua kinh nghiệm. Một số người thậm chí coi kê cảm chẳng qua là cảm nhận bình thường. Tuy nhiên, ai cũng biết cảm nhận này bất thường như thế nào. Khởi đầu, bạn phải đủ sáng suốt để hiểu được căn nguyên đằng sau từng khía cạnh của phương pháp biệt dưỡng này. Chẳng hạn, nếu phương pháp yêu cầu gà tập bay 50 lần, thì sư kê phải biết TẠI SAO mình phải tập cho gà từng đấy lần.

Tuyển chọn

Khi tuyển chọn chiến kê trong trại, lưu ý từ xa những chiến kê nào thu hút sự chú ý của bạn. Từ cách đi đứng, di chuyển cho đến thể hiện, những chiến kê này cần được kiểm tra cặn kẽ hơn.

Lông: Thể hiện sức khỏe của chiến kê. Vì vậy khi lựa gà, kiểm tra lông thật kỹ và lựa những con có tông màu tự nhiên, lông cứng nhưng đàn hồi – không được khô và xơ xác.

Thân: Cảm nhận thân hình. Nếu gà mồng dâu hay có máu dòng phương Đông và Roundhead, thì thân hình chúng phải đầy đặn và tròn. Gà mồng lá phù hợp với ngực dẹp và ngả hơn. Những sư kê hàng đầu khẳng định về mức độ quan trọng của việc xương lườn càng kéo dài về phía sau càng tốt, gần với hậu môn. Họ quan sát thấy trong một trận đấu thực sự, cẳng chân dài sẽ không bị cản trở nếu như ngực không tròn. Khi giữ gà hướng về phía bạn, cố gắng rà ngón cái vào khoảng giữa xương đòn và cơ ngực. Điểm này càng dày hay cứng càng tốt bởi vì điều này cũng đồng nghĩa với cơ bắp mạnh mẽ.

Đầu: Kiểm tra mắt gà. Chúng phải đỏ tươi như màu cà chua bởi vì nó đồng nghĩa với sức khỏe tốt. Tròng đen phải tách biệt – bằng không, đấy là dấu hiệu của bệnh tật trong quá trình nuôi dưỡng. Điều này cũng đúng với mắt nhợt nhạt. Con ngươi phải tròn một cách hoàn hảo. Bất kỳ biến dạng nào đều dẫn đến thị giác phần nào bị ảnh hưởng. Cũng vậy, kiểm tra phần giữa mắt với mũi. Nếu bị lõm ở bất kỳ bên nào, thì điều này có nghĩa chiến kê bị mắc bệnh đường hô hấp khi còn non.

Dáng: Tiêu chuẩn này là chủ đề cho những tranh luận không có hồi kết, nhưng qua hàng ngàn trận đấu thực sự và phim chiếu chậm cho thấy rằng chiều cao lý tưởng của chiến kê là trung bình. Dĩ nhiên, các nhà lai tạo thương mại vẫn đổ gà dáng cao bởi vì đấy là những con mà người chơi chuộng hơn. Còn nếu lai gà để dùng riêng thì dáng trung bình là tốt nhất. Tom Wilson từng sử dụng 6 con Butcher dáng thấp ở giải International Derby 1992 tại trường đấu Araneta Coliseum. Đá với những con gà hàng đỉnh, 5 trong số 6 con gà cùng bầy của ông thắng trận trong khi con còn lại hòa. 3 trong số 5 con thắng trận không bị một vết xước nào. Sau khi phát biểu về gà Butcher của mình lùn như thế nào, Tom chỉ mỉm cười. Ông nhấn mạnh rằng điều quan trọng là phải tính tới độ dài đùi 15 cm hay nhiều hơn chứ không phải là cẳng chân. Thậm chí nếu cẳng chỉ dài có 5 cm, chân gà Butcher của ông vẫn dài đến 20 cm, đủ để diệt gà đối thủ. Những sư kê ở La Carlota vẫn sở hữu những con gà Lemon thắng trận cho đến tận ngày nay. Và đúng là dáng của chúng chỉ từ trung bình cho đến thấp.

Khẩu vị: Một nhà lai tạo nổi tiếng, bác sĩ Teddy Tanchanco, thích đến trại thật sớm để lựa gà. Lý do? Ông muốn thấy con nào trong bầy chiến kê ăn uống ngấu nghiến vào bữa sáng. Đấy cũng là nhận định chung, trong số chiến kê, những con ăn uống tốt thì đá cũng tốt, còn những con ăn uống kén chọn thì tốt nhất nên “cho vô nồi”. Do đó, hãy chọn những con “gõ đáy nồi” – nghĩa là mỏ của chúng chạm vào khay mỗi lần mổ thức ăn.

Lối đá: Hầu hết các sư kê đều yêu cầu xổ để đánh giá tiềm năng của chiến kê. Dưới đây là những điều cần lưu ý trong những trận đấu như vậy:

1. “Angat sarado” – đến nay, đây là đặc điểm được săn lùng nhiều nhất. Khi cả hai chiến kê giao nhau trên không, con hơi cao hơn chiếm lợi thế vị trí. Từ vị trí này nó ra đòn dễ hơn. Một số chiến kê sở hữu khả năng siêu việt này để ghim đối thủ trên không vào khoảnh khắc sinh tử. “Sarado” theo thổ ngữ Tagalog nghĩa là “luôn luôn”. Vì vậy “angat sarado” nghĩa là “luôn ở bên trên”, luôn chiếm thế thượng phong.

2. Đầu ra sau, chân ra trước – Ngược với những chiến kê luôn cố nắm lông trước, những con đá mà không cần nắm lông với đầu ngả ra sau, dễ thắng hơn. Trên thực tế, những con chăm chăm đá lông (bill-hold) đều bị loại. Khi đá thực sự ngoài trường, chúng lao đầu về phía đối thủ và đấy là điều không được phép trong các trận đấu ngày nay khi mà việc di chuyển sai sẽ dẫn đến thất bại. Cũng để ý chân đá của chúng. Hãy chọn những con đá chân sâu chạm vào người đối thủ.

3. Đá bồi 1-2 phát – Đặc điểm này phần nào bổ sung cho “angat sarado”. Sau khi nạp cú đầu, ngay khi vừa chạm đất, chiến kê liền nạp bồi 1-2 cú nữa. Đấy là những đòn sát thương mà đối phương hầu như không cách nào tránh khỏi.

Chế độ tiền biệt dưỡng

Như tên gọi, đây là giai đoạn trước khi chiến kê được biệt dưỡng để thi đấu. Mục đích là để chuẩn bị một cách thích hợp cho quá trình biệt dưỡng. Giai đoạn diễn ra từ vài ngày cho đến một tuần.

Tẩy giun sán

Hầu hết các loại giun đều dễ tẩy ngoại trừ sán (tapeworm). Do vậy khi tẩy, không cho gà ăn bữa chiều trước khi cho uống thuốc vào buổi tối (chẳng hạn Worm Out-Bulex). Vào ngày hôm sau, chỉ cho gà ăn một nửa khẩu phần thông thường. Một số người cho thức ăn loãng cũng thu được kết quả tốt. Ăn kiêng là phương sách để thuốc tiếp cận tốt hơn với đầu sán. Nếu thức ăn còn trong ruột thì chỉ có phần thân bị ảnh hưởng còn đầu sán vẫn không sao, rồi nó mọc đốt trở lại. Bởi vì thuốc tẩy chỉ diệt con giun, hãy tẩy lại sau từ 8-10 ngày để diệt nốt tất cả giun nở ra từ trứng còn sót lại lần trước. Lần tẩy sau rất quan trọng vì nó giúp gà sạch giun trong 30 ngày sau đó. Việc tái nhiễm thường diễn ra trong vòng một tháng, vì vậy điều quan trọng là phải duy trì một chương trình tẩy giun hàng tháng cho cả trại.

Một loại ký sinh nữa có thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho gà là giun chỉ (eyeworm). Giun chỉ hiện diện ở mắt có thể ảnh hưởng đến thị giác của chiến kê khi thi đấu và khiến nó bị thua.

Kiểm tra xem mắt gà có bị nhiễm giun chỉ hay không. Nếu có, hãy nhỏ mắt bằng thuốc diệt giun chỉ (chẳng hạn như Oxy-Rid).

Diệt mạt

Ngoài giun sán, những loại ký sinh độc hại khác ở chiến kê là mạt và ve. Bét đỏ (red mite) là mối quan tâm chính. May thay, các loại dầu tắm gà (chẳng hạn như Zero Mite) có thể xử lý bệnh này. Những ai còn sử dụng các hiệu Malathion hay Sevin hay những hóa chất khác cần phải dùng đúng liều, nhớ mang găng tay bảo vệ bởi hóa chất có hại cho da.

Kháng sinh phòng ngừa

Người ta thường nói “nếu mọi thứ đều ổn, tại sao phải sửa?”, nói cách khác, nếu chiến kê mạnh khỏe, tại sao phải dùng thuốc? Tuy nhiên, nên sử dụng kháng sinh phòng ngừa với mục đích tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh mà chiến kê nhiễm phải ngay khi bắt đầu quá trình biệt dưỡng. Sử dụng kháng sinh phổ rộng (chẳng hạn như Doxyvet) trong 3 ngày là đủ.

Tỉa lông

Để thoáng khí, vùng lông xung quanh hậu môn nên được tỉa bớt. Điều này nhằm giúp sư kê đánh giá gà mập hay ốm chính xác hơn bằng cách ấn vào vùng này. Với chiến kê, tất cả những thứ râu ria như mồng, tích và tai đều phải tỉa gọn. Về mặt lý thuyết, một khi những phần này này được cắt bỏ, khả năng bị đối phương nắm đá là tối thiểu. Tỉa cựa, để dài cỡ một phân là đủ (dẫu một số sư kê muốn để dài và nhọn tự nhiên nhằm có thêm lợi thế). Với chiến kê, hiệp hội các nhà lai tạo hiện cho phép các thí sinh cắt chóp sắc để bảo vệ nài gà.

Chế độ biệt dưỡng

Dưỡng tâm đóng một vai trò quan trọng trong phương pháp biệt dưỡng này. Nó khởi đầu thậm chí từ giai đoạn tiền biệt dưỡng. Trong những ngày tiếp theo, các thí sinh phải trải qua tất cả các bước huấn luyện trong khu vực biệt dưỡng và tất cả những công đoạn mà một chiến kê phải trải qua trong giai đoạn này. Bởi vì gà là sinh vật sống theo bản năng, ban đầu chúng sẽ hơi căng thẳng khi được đặt vào môi trường mới – chẳng hạn như lồng tập. Tuy nhiên, một khi trở nên quen thuộc với khung cảnh và công tác huấn luyện, chúng sẽ thuần thục hơn và làm quen nhanh chóng.

Dưỡng thể

Sau giai đoạn tiền biệt dưỡng đến giai đoạn biệt dưỡng. Nó thường kéo dài 3-4 tuần. Phương pháp ở đây cũng theo chế độ từng-bước-một như những phương pháp khác. Nó thường tập trung vào khẩu phần, dưỡng tâm và những ngày cuối trước khi xuất trường. Điều quan trọng là phải nắm vững các nguyên tắc của phương pháp này.

Hướng dẫn cho ăn

Cho chiến kê ăn với khẩu phần 16%-18% protein thô (crude protein) sẽ giúp cơ thể chúng cân đối nhất. Vấn đề đối với hầu hết các sư kê ở chỗ, lượng protein thô trong khẩu phần thức ăn tổng hợp thường ở trên mức 16%. Khi điều này xảy ra, gà tích mỡ trong ruột hay còn gọi là “sapola”. Một dấu hiệu chứng tỏ gà bị “sapola” là xổ yếu, gà không thể nhảy cao và hơi chậm. Rà soát vùng hậu môn sẽ thấy rất khó bấu, bởi vì nó dày như một tấm cao su nằm dưới da. Nói cách khác, nếu cho ăn với tỷ lệ protein cao, chẳng hạn lên đến 35%, ngoài việc tốn kém tiền thức ăn, gà sẽ trở nên nặng nề, mau mệt và lờ đờ. Theo kinh nghiệm, khẩu phần đạm từ 16% đến 18% sẽ giúp cho chiến kê có tỷ lệ cơ thể-cân nặng lý tưởng nhất.

Tuy nhiên, các chuyên gia dinh dưỡng gia cầm cảnh báo về quan điểm cho ăn bị đơn giản hóa này. Họ nhấn mạnh rằng điều quan trọng hơn cả là cân bằng lượng amino acid trong khẩu phần ăn. Hướng dẫn cho ăn dưới đây thỏa mãn yêu cầu này, bởi vì các nhà dinh dưỡng học tin tưởng rằng nó không mâu thuẫn với những phương pháp dinh dưỡng gia cầm.

Lượng thức ăn tổng hợp cơ bản theo phương pháp biệt dưỡng tự nhiên ở đây thích hợp với 18-24 chiến kê.

Bắp – 1 phần

Tinh hạt hiệu Royal Concentrate – 2 phần

Yến mạch vỏ hiệu Jockey Oat – 4 phần

Thức ăn viên hiệu Power Pellet – 4 phần

Thức ăn viên hiệu Calf Manna – ½ phần

Thực phẩm bổ sung

Buổi sáng:

Đậu hà lan & cà rốt – 2 muỗng canh

Nước cam tươi – 4 muỗng canh

Sữa chua – 4 muỗng canh

Rau xanh – 2 đến 3 lá xà lách (hoặc cải thảo)

Trứng – 2 trái trứng luộc

Buổi chiều:

Giống như buổi sáng, kèm thêm:

Dầu ăn – 1 muỗng canh dầu đậu nành (hay dầu bắp, mù tạt…)

Cá mòi ngâm dầu đậu nành – 1 hay 2 miếng

Nước mận – 4 muỗng canh

Cà chua luộc – 1 miếng lớn

Phương pháp cho ăn

Ngâm. Cả bắp lẫn hạt xay Royal ngâm qua một, hai đêm để những độc tố trong hạt như phytic acid tiết ra hết. Khác với thông lệ, việc tách vỏ cứng ra khỏi hạt là không cần thiết. Bên dưới lớp vỏ có nhiều vitamin, khoáng chất, xơ và những chất bổ dưỡng khác.

Lên men/mọc mầm. Yến mạch Jockey cũng có thể ngâm trong vài ngày hay để lên men. Việc lên men sẽ làm nảy sinh những enzyme có ích cho chiến kê. Cũng có thể ngâm qua đêm và chuyển vào hũ đựng có lỗ ở đáy. Để trong hũ thêm một ngày, yến mạch sẽ bắt đầu nảy mầm – do vậy, mỗi hạt mầm sẽ có nhiều tỷ lệ vitamin và khoáng chất hơn so với hạt khô.

Nấu. Chất avidin ở lòng trắng trứng bao xung quanh biotin và vô hiệu hóa nó. Nấu chín sẽ giải quyết được vấn đề này. Tương tự như vậy, cà rốt, đậu hà lan và cà chua phải được nấu chín để dưỡng chất dễ tiêu hóa và hấp thu hơn. Nấu chín giải phóng dưỡng chất bên trong các thành tế bào vốn rất khó phá vỡ.

Dầu ăn. Dầu ăn được cung cấp cho chiến kê bởi nó giàu acid béo không no và acid béo linoleic. Cá mòi cũng có nhiều protein và acid béo omega 3, 6 và 9, vốn rất tốt cho sự phát triển của não. Tuy nhiên, dầu ăn nên được cung cấp một cách vừa phải bởi chúng có xu hướng tráng ruột và tác dụng nhuận tràng.

Sữa chua. Trên thực tế, sữa không có ích gì với chiến kê. Vấn đề chủ yếu ở chỗ, lactose vốn chiếm phần lớn trong sữa, chỉ có thể được tiêu hóa bởi những sinh vật có enzyme lactase. Không may, gà không có loại enzyme này. Thật ngạc nhiên, không biết được điều đó, các sư kê lại khẳng định về hiệu quả của sữa không béo, sữa bột và sữa tươi. Ngoài ra, gà có thể thoải mái lấy những dưỡng chất như vậy từ các loại thực phẩm khác rẻ tiền hơn sữa. Hay chúng có thể được cho ăn sữa chua.

Sữa chua về cơ bản là sữa lên men. Lactose được phân hủy thành dạng đơn giản hơn và do đó, gà có thể tiêu hóa được. Sau khi nhỏ một hay hai giọt dấm ăn vào một lít sữa bò tươi, để qua đêm ở nhiệt độ phòng. Trộn thêm một hũ yogurt và một lọ Yakult hay Chamyto. Quậy mạnh và lắc cho đến khi dung dịch đặc sánh như kem. Dùng trong một tuần và làm lọ mới khi dùng hết. Loại sữa chua chế biến tại gia này chứa nhiều vi khuẩn tiêu hóa và có ích cho chiến kê.

Luyện tập

Chế độ luyện tập giúp chiến kê gia tăng độ bền và đá đúng cách thức mong muốn khi xuất trường. Tương tự như luyện điền kinh, nguyên tắc luyện đối kháng tăng tiến được áp dụng cho chiến kê. Khởi đầu, chỉ thực hiện bài tập trung bình. Ở những ngày tiếp theo, khối lượng phải tăng dần, đạt đến đỉnh điểm của huấn luyện thể chất ở một tuần trước khi đá. Ngày tiếp theo, chia khối lượng luyện tập ra làm hai và chỉ thực hiện một nửa. Ngày kế tiếp, lại chia khối lượng luyện tập ra làm hai và thực hiện một nửa. Vào ngày thứ ba, lại giới hạn công việc chỉ còn một nửa và cứ như vậy. Hai ngày trước trận đấu, ngưng tập luyện. Một ngày trước trận đấu, chiến kê được cho nghỉ trong lồng ốp che kín.

Xổ. Xổ là một dạng luyện tập. Người ta có thể nhận thấy lợi ích của việc xổ khi huấn luyện gà tơ. Trong đợt xổ đầu tiên, chúng chỉ đá những cú sơ đẳng và ra chân bừa bãi. Vào đợt xổ thứ hai, chúng sẽ thể hiện một số tiến bộ. Vào đợt xổ kế tiếp, chúng đã biết cách đá. Bạn có thể áp dụng phương pháp Narraganssett vào việc thả gà trong lúc xổ: hiệp đầu tiên, thả cách nhau 1.2 m. Hiệp thứ hai, thả xa hơn một chút. Hiệp cuối cùng, bạn có thể nhận thấy chiến kê trở nên cảnh giác như thế nào bất kể đối phương được thả từ xa. Ngoại lệ, một số dòng gà vốn có bản tính cực kỳ cảnh giác. Những chiến kê này thích được thả cách xa để tính đường “tránh né” hay tập kích đối phương.

Dẫu không muốn những người làm găng bị thất nghiệp, xổ gà không cần phải bịt cựa và mỏ. Với chỉ ba, bốn cú nạp, gà xổ không cần đeo găng. Khi bị đá trúng, nó sẽ học hỏi từ kinh nghiệm đau đớn này. Trong lần xổ kế tiếp, gà sẽ đá mạnh hơn, bắt đầu đá trước, rồi đẩy chân ra sâu hơn với thân hơi ngả về phía sau, cố vươn ra ngoài tầm đá của đối phương. Quan trọng hơn, bạn có thể kiểm tra xem chiến kê có thực sự chém sâu hay không bằng cách quan sát dấu lông dính trên cựa hay móng. Bạn không phải lo gà bị mù bởi khả năng xảy ra là rất nhỏ.

Bới. Khoảng 4 giờ sáng, đặt mỗi chiến kê vào lồng bới (scratch box) trong khoảng 15 phút. Để chúng đi dạo trong trường đấu hay sân xổ cũng trong 15 phút. Lúc này, gắn găng lên chân trái trong lúc gà đi bộ để cho quen. Sau đó, cho hai con đâu mỏ, nắm đuôi và nhử để chúng nổi xung, và sau cùng thả ra để chúng đá. Để gà bị đối phương đá nhằm giúp nó biết tránh né và đá lại đối phương mỗi khi chúng xáp lại. Sau cữ tập, nhốt gà vào lồng bay (flypen) cho đến giờ ăn. Lập lại quy trình này trước bữa chiều.

Xoay tua. Phương pháp xoay tua đơn giản chuyển một chiến kê từ nơi này sang nơi khác. Chẳng hạn, bắt đầu từ teepee, rồi đến lồng bay, rồi đến lồng vuông (tức lồng bới), rồi sang teepee khác, rồi lại sang lồng khác kèm gà mái, vân vân. Điều này cho phép chiến kê có thể tự vận động, thích nghi theo cách thức riêng. Quan trọng là người chăm sóc phải theo dõi từng con một cách sát sao. Khi chiến kê được đưa vào một môi trường mới, theo bản năng nó sẽ trở nên linh hoạt, kên với con bên cạnh, vỗ cánh, bới xung quanh… sau một thời gian nó sẽ trầm lại. Đấy là lúc mà người chăm sóc cần chuyển nó sang chỗ mới để giúp nó linh hoạt trở lại, và cứ như vậy. Nếu người chăm sóc tin rằng phương pháp xoay tua là tốt cho gà thì phải luôn động não, bởi biệt dưỡng gà không phải chuyện đùa một khi bạn phải luôn để mắt đến chúng cả ngày trong thời gian khoảng ba tuần.

Tập tay. Bật (flip) – để gà lên kệ, đặt một tay trước ngực gà và tay kia bợ phần phao câu, các ngón tay xòe ra. Bật ngực lên 5 lần liên tục. Rồi đổi bên, bật phần phao câu. Đảm bảo rằng mỗi lần bật, gà đều vỗ cánh. Bật mỗi con một lượt/ngày (5 lần) và tăng dần đến 5 lượt/ngày (35 – 40 bật mỗi ngày tùy dòng gà). Đổi hướng bật nhưng đặt trọng tâm vào bật ngực. Hatch và những dòng gà nặng ký phù hợp với lối tập tay (workout) này trong khi Roundhead và những dòng nhẹ ký khác sẽ đá tốt hơn nếu tập tay ít hơn.

Bay – Bay khác với bật ở chỗ bạn giữ ngực gà bằng hai tay, bên dưới cánh và ngón cái đặt trên lưng, với đuôi hướng vào sư kê. Cách kệ khoảng 60 cm, buông gà trong không khí với một cú bật nhẹ để nó vỗ cánh. Ngay khi buông, theo bản năng nó sẽ bay lên kệ.

Kết hợp. Như tên gọi, đây là sự kết hợp giữa tập tay đều đặn với xoay tua. Vào sáng sớm, bạn có thể thực hiện các bước bật và bay và trong cả ngày, chuyển chiến kê từ lồng bay sang teepee… Luôn nhớ rằng lượng vận động nên tăng dần và giảm đột ngột khi cận ngày thi đấu.

Dưỡng tâm

Một khía cạnh cũng quan trọng không kém dưỡng thể (physical conditioning) hay thậm chí còn nhiều hơn, là dưỡng tâm (metal conditioning). Mục tiêu của phương pháp biệt dưỡng này là sửa soạn để chiến kê xuất trận. Do đó, bên cạnh việc bồi dưỡng thể lực để có thể đá những cú trời giáng và gia tăng độ bền thông qua luyện tập, chiến kê còn phải làm quen với mọi thứ mà nó sẽ phải trải qua khi bước vào trận đấu thực sự.

Nên nhớ rằng, gà rất nhạy cảm đối với sự căng thẳng. Chẳng hạn, chỉ cần thay đổi một chút về khẩu phần ăn thì gà công nghiệp sẽ bị căng thẳng – chúng ngừng đẻ. Nếu chúng nghe thấy âm thanh vốn chưa từng nghe bao giờ, chúng ngừng đẻ. Nếu chúng thấy màu sắc không quen mắt, chúng sẽ bị căng thẳng – chúng cũng ngừng đẻ. Mọi người có thể thấy tầm quan trọng của việc giúp chiến kê trong giai đoạn biệt dưỡng làm quen với mọi yếu tố tác động bên ngoài, mà chúng sẽ phải đối mặt ở trường đấu và ngay trong trận đấu.

Nói cách khác, gà cũng có địa bàn sinh sống tự nhiên, như đề cập ở trên. Nếu chúng từng trải qua những yếu tố tác động bên ngoài một thời gian, chúng sẽ dễ dàng thích nghi. Để minh họa điều này, có một trại gà đẻ ở Samar nằm cuối con đường nhánh. Ban đầu, mỗi khi máy bay hạ hay cất cánh, gà đều bị căng thẳng, thậm chí có con bị chết. Tuy nhiên, không lâu sau chúng quen với việc này đến nỗi mỗi lần máy bay lên xuống ầm ì, sản lượng trứng không giảm mà còn tăng lên. Nếu lịch đáp không đúng và bị hủy bỏ, những con gà mái bị căng thẳng và ngừng đẻ! Chủ trại gà công nghiệp luôn cầu nguyện cho các chuyến bay đến thành phố của họ không bị trục trặc để gà mái của ông có thể đẻ trứng. Điều tương tự cũng xảy ra với chiến kê được biệt dưỡng.

Đi dạo

Mỗi lần đi dạo 15 phút trong trường đấu vào lúc 4 giờ sáng với bịt cựa ở chân trái, chiến kê thực sự được dưỡng tâm để quen với ánh sáng, và cảm giác có gì đó gắn ở chân trái. Có quá nhiều chiến kê ngoài trường đấu ngày nay mổ liên tục vào cựa sắt hay cựa dao, đôi khi quên béng mất đối thủ đang lao vào đá mình. Đấy thường là trường hợp khi chiến kê không quen với thứ gì gắn quanh chân trái của nó.

“Xổ kéo” (salida)

Mỗi lần sư kê luyện gà “nạp bồi” (saltik), ông không chỉ tập cho nó đá vào đối phương khi chúng đến đủ gần, mà còn nhảy cao lên không để giao nạp với địch. Nó cũng khiến chiến kê nhập tâm rằng một vài giây sau khi giáp mặt đối phương, nó liền đá ngay.

Tiếng ồn trường đấu

Một trong những điều khiến chiến kê căng thẳng là tiếng ồn trường đấu, tiếng người la hét, tiếng ầm ĩ khi các sư kê (sabungero) đặt cược. Chẳng mấy con giữ tập trung và bình tĩnh trong trường đấu bởi những tiếng ồn như thế này. Những gì mà bạn có thể làm là ghi những âm thanh này và phát lại mỗi lần xổ gà và để chúng đi dạo dưới ánh sáng. Điều giúp chiến kê nhập tâm coi tiếng ồn này là điều bình thường và nhập trận ngay khi vừa nghe thấy nó.

Màu sắc

Như đã đề cập, chiến kê phải được luyện tâm bằng cách yêu cầu người chăm sóc mặc áo mỗi lần mỗi khác màu, từ đỏ đến lam đến trắng đến lục, để mà chúng không bị căng thẳng trong trận đấu một khi nhìn thấy vô số người ngoài trường đấu. Nếu chiến kê không quen thấy màu đỏ tươi, mà lại thấy tay hàng xáo “cazado” ở trường đấu mặc áo màu đó, thì chiến kê đấy có thể mất tập trung vào đối thủ và bị sao nhãng bởi màu áo của đám hàng xáo.

Ốp

Ốp là phần cực điểm của biệt dưỡng. Nhiều chiến kê thua trận bởi vì quy trình ốp kém. Có ba yếu tố chính cần cân nhắc trong giai đoạn ốp: nghỉ ngơi, kiểm soát độ ẩm và khẩu phần, sự tương tác giữa chúng sẽ đem lại thành công hay thất bại trong việc đưa chiến kê “tới độ”.

Nghỉ ngơi

Nếu đá vào tối thứ bảy, thì nhốt chiến kê vô lồng ốp sau bữa ăn vào chiều thứ năm và toàn bộ ngày thứ sáu. Bắt chúng ra khỏi lồng ốp và thả về teepee hay lồng bay chỉ vài phút trước bữa ăn. Quan sát phân vào lúc này. Tuyển chọn chiến kê linh lợi, phân ẩm nhưng chắc, không quá nhão hoặc quá nhiều nước. Sau khi cho ăn, giúp chiến kê tươi tỉnh bằng cách rửa chân cho chúng. Nhốt lại lồng ốp sau khi cho ăn và uống nước. Vào chiều thứ sáu, thả gà đi dạo trong sàn đấu để chúng thư giãn và thải phân. Lại kiểm tra phân. Rồi nhốt lại vào lồng ốp. Vài phút trước bữa ăn chiều, lại để chúng thư giãn bằng cách lần lượt cột dây ở teepee, thả lồng kẽm hoặc lồng bay. Lại quan sát phân bởi đây là dấu hiệu chính cho biết tình trạng của gà. Về lồng ốp, luôn nhớ rằng để gà nghỉ ngơi thoải mái, chúng phải được nhốt ở nơi cố định và tiện nghi. Che lồng bằng vải sẫm màu, nhưng vẫn đảm bảo thoáng khí. Không nên che kín toàn bộ lồng. Điều quan trọng là tạo cho chúng môi trường thoải mái để có thể hoàn toàn tĩnh dưỡng.

Kiểm soát độ ẩm

Quy trình làm khô. Trong số những vấn đề về ốp gà, kiểm soát độ ẩm (moisture control) là vấn đề được quan tâm nhất, có lẽ cũng vì nó không được hiểu biết một cách cặn kẽ. Các chuyên gia đều đồng ý rằng, nếu một chiến kê có quá nhiều nước trong cơ thể thì không thể ốp một cách hiệu quả bởi nó quá nặng nề và không thể bật cao, và một khi bị đâm nó sẽ bị xuất huyết rất nhiều so với gà khô. Mặt khác, nếu gà quá khô, cơ bắp sẽ thiếu lượng nước cần thiết để gà đá chân sâu hết cỡ. Quá khô sẽ khiến gà chém nông.

Điều quan trọng là phải quan sát lông của chiến kê. Nếu rờ thấy quá khô, hoặc tệ hơn, lông quăn lên thì chiến kê đã quá khô. Bằng cách bợ bên dưới lườn và ngực gà, bạn sẽ biết được gà quá khô, quá ướt hay vừa tới. Nếu bạn cảm thấy trọng tâm nằm ngay lườn, giống như cảm giác khi bạn nhấc cục chì 2 kg, thì gà quá ướt. Nếu bạn cảm thấy trọng lượng giống như “cục gạo rang” (ampaw), thì gà quá khô. Khi tay bạn cảm nhận trọng tâm phân bố đều trên hai chân, vai và ngực, thì bạn đang nắm giữ một chiến kê có tiềm năng thắng trận.

Việc làm khô phức tạp ở chỗ Philippine là xứ nhiệt đới, nơi mà mọi thứ ở bất kỳ đâu đều ẩm ướt, tức môi trường tương đối ẩm ướt. Khi bạn ở trong phòng máy lạnh nguyên một ngày, bạn sẽ thấy khát và đôi khi môi khô khốc. Đấy là vì bạn bị “khô” đi bởi máy lạnh, vốn cũng là máy hút ẩm. Thêm minh họa nữa, phòng lưu trữ của bất kỳ hãng phim nào cũng có 3 máy lạnh và 2 máy hút ẩm chạy suốt ngày đêm. Cửa sổ được đóng kín và cửa chính được gắn roăng cao su để giữ lạnh. Hai lần mỗi ngày, khoảng 40 lít nước được thu từ bồn chứa của các máy hút ẩm. Đấy là lượng hơi nước trong không khí của phòng được máy hút ẩm lấy ra. Nó cho thấy lượng hơi nước có trong một căn phòng nhỏ. Tương tự, chiến kê có thể trở nên quá khô bởi vì máy lạnh hoạt động mạnh. Chuyên gia máy lạnh Jun Sevilla khuyên điều này để tránh sai sót trong kiểm soát độ ẩm: chỉ cần mở hé cửa sổ hay cửa chính của kê phòng để cân bằng hiệu ứng hút ẩm của máy lạnh, và giữ nhiệt độ ở mức trung bình, giữa cao nhất và thấp nhất. Điều kiện này góp phần vào cái gọi là “vùng tiện nghi” (comfort zone).

Kiểm soát khẩu phần

Năm ngày trước trận đấu. Cắt bỏ thực phẩm bổ sung tức cá mòi, dầu, nước mận và những thứ khác, vào buổi chiều. Những thứ vào bữa chiều chỉ là các loại hạt cơ bản và thực phẩm bổ sung cho bữa sáng. Nguyên tắc được vận dụng ở đây là “nước vào, nước ra”. Đây là lúc mà lượng nước trong thức ăn nên giảm nhẹ. Thực phẩm bổ sung như vitamin và những thứ tương tự, phải giảm tương ứng cho đến khi không còn gì hết vào bữa ăn thứ ba trước trận đấu.

Ba bữa ăn trước trận đấu. Các hạt nên nấu chín (đổ và nước sôi và để nguội tự nhiên) để gà có thể tiêu hóa tốt hơn. Đấy là điều bắt buộc nếu gà được vận chuyển xa. Việc tiêu hóa sẽ dễ hơn và làm giảm căng thẳng cho gà trong quá trình vận chuyển dài. Bổ sung lòng trắng trứng luộc băm nhỏ (nếu được, nên bắt đầu trước đó một tuần) vào khẩu phần.Vào các buổi sáng cận ngày thi đấu, tăng nhẹ lượng bắp trong khi giảm nhẹ yến mạch và hạt xay. Điều này thực sự giúp nạp carbohydrate. Một ngày trước trận đấu, buổi sáng cho gà ăn ít ơn ¼ so với khẩu phần bình thường. Cho uống 8-10 ngụm nước. Lại tiếp tục giảm thêm ¼ khẩu phần vào bữa tiếp theo. Cho uống 5-8 ngụm nước. Vào ngày thi đấu, giả sử gà đá vào buổi tối cùng ngày, buổi sáng chỉ cho gà ăn 50% khẩu phần bình thường (khoảng 20-25 gram). Chỉ cho uống 3-5 ngụm nước. Lượng này là đủ cho chiến kê đến 9-10 giờ đêm.

Buổi chiều của ngày thi đấu. Nếu biết sớm lịch đấu, bạn có thể dự đoán thời gian gà sẽ đá, dựa trên tốc độ khoảng 6 trận mỗi giờ. Nếu đá sớm vào buổi chiều, như thường diễn ra ở tỉnh lẻ, nếu được nên cắt khẩu phần bữa sáng và bữa trước đó nhiều hơn. Nếu trận đấu diễn ra vào buổi tối và trước 10 giờ tối, không nên cho ăn gì vào buổi chiều. Lượng thức ăn vào buổi sáng đủ để duy trì thể lực cho gà đến lúc đá. Nếu trận đấu diễn ra sau 10 giờ tối nhưng trước nửa đêm, cho gà ăn 3-5 miếng thức ăn viên, 2-3 miếng lòng trắng băm, 1-2 hạt bắp nấu vào bữa chiều và cho uống một ngụm nước, thường vào khoảng 5 giờ chiều. Ở một số giải derby lớn, thường kéo dài đến sáng hôm sau, nếu gà đá sau 4 giờ sáng, thì cho ăn 1 muỗng canh thức ăn viên, bắp và lòng trắng trứng luộc băm cùng với 5 ngụm nước. Hoạt cảnh trên đây chỉ là dự đoán. Nguyên tắc quan trọng cần ghi nhớ đó là tùy vào lịch thi đấu của chiến kê mà điều chỉnh lượng thức ăn vào buổi chiều của ngày thi đấu.

Khi vào giờ ăn chiều mà vẫn chưa lấy được lịch đá thì không có cách nào để dự đoán lượng thức ăn cho chiến kê. Do vậy, bạn phải đi lối an toàn bằng cách cho ăn giống như nó sẽ đá vào lúc 9-10 giờ tối. Bạn sẽ không cho gà ăn gì vào bữa chiều. Vào lúc 8 hay 9 giờ tối, cho chiến kê ăn một hai miếng thức ăn ốp (pointing feed) mỗi giờ. Điều này giúp chiến kê không bị “xuống độ”. Hai miếng sẽ giúp chiến kê giữ “độ” trong những giờ tiếp theo. Nhớ duy trì sát sao lịch cho ăn mỗi giờ. Mọi chậm trễ sẽ làm chiến kê bị căng thẳng. Nếu đá cáp, hãy ốp chiến kê giống như đá giải nhưng chỉ cần dự tính sớm hơn (ở Việt Nam hầu như chỉ đá cáp, thường diễn ra vào buổi sáng hay chiều chứ không bao giờ kéo dài đến… đêm!).

Để chuẩn bị thức ăn ốp, lấy nửa chén cơm gạo lức hay trắng, trộn với một ít nho khô, cho thêm ít mật ong và một ly nửa sữa bột-nửa nước. Dùng đường vàng trộn với sữa và nước cũng được. Rưới lên cơm và để trong một giờ. Trữ lạnh để khỏi thiu. Đem theo đến trường đấu.

Quan sát phân

Nếu chiến kê được nhốt vào lồng kẽm sau bữa sáng, bạn cần quan sát 4 loại phân trong một chu kỳ tiêu hóa. Loại đầu thường vón cục (solid) nhưng mềm, phớt xanh. Nó thường đi kèm chút chóp trắng như kem. Điều này có nghĩa vẫn còn ít thức ăn trong ruột của gà. Phân sẽ nhỏ dần mỗi lần gà thải ra. Loại thứ hai là phân nâu (cecal), mà nó có màu nâu, nhão. Nó nặng mùi và sẫm như chocolate. Khi gà thải loại phân này, giống như loại đầu, nó cũng giảm dần kích thước. Lớp chất lỏng dày màu trắng cũng giảm dần kích thước. Chúng thuộc về loại phân thứ 3: phân lỏng hay nước tiểu (urate). Chúng có màu trắng, đôi khi có bọt và luôn giống như kem va-ni chảy. Cũng vậy, như những loại phân khác, càng về sau thì kích thước phân này càng giảm cho đến hết. Ở thời điểm này, ruột gà trống rỗng và nếu biệt dưỡng đúng cách, nó sẽ “tới độ” (on peak). Sau cùng, gà sẽ thải “nọc” hay phân sáp (moisture). Chúng trong suốt, giống như chất lỏng nhưng lại đặc, tương tự như lòng trắng trứng tươi, hay nước mũi khi người ta bị cảm lạnh. Khác với ba loại đầu, loại phân này càng về sau thì kích thước càng tăng. Một khi phân sáp ra hết, đó là dấu hiệu rõ rệt cho thấy gà đã “xuống” và vượt quá điểm rơi phong độ của nó.

Dấu hiệu tới độ

Bên cạnh phân sáp, có những dấu hiệu khác mà một chiến kê “tới độ” thể hiện. Một trong số đó là lắc đầu. Chiến kê trong trạng thái cảnh giác nhưng bình tĩnh. Chân gà trở lạnh từ đầu ngón trở lên. Đầu di chuyển giật cục. Nó dường như cố lắc cho văng thứ gì bị dính ra khỏi đầu. Hiện tượng này được gọi là “lắc đầu” (head knocking syndrome), và cũng là dấu hiệu tốt. Rỉa lông là một dấu hiệu khác. Trong bất kỳ trường hợp nào, bạn có thể nhận thấy chiến kê được nghỉ ngơi sẽ dần dần “tới độ”, cơ thể căng lên của nó khiến người nuôi có cảm giác rằng nó nhẹ đi. Bạn có thể liên hệ việc căng lên này với hiện tượng chiến kê đổi phân từ dạng nâu sang dạng lỏng. Khi điều này xảy ra, hơi lạnh bắt đầu lan dần từ ngón chân lên trên cho đến khi gà “tới độ”. Do đó, khi gà bắt đầu “xuống”, phân sáp ra nhiều, và hơi lạnh ở chân được thay thế bằng nhiệt. Nếu điều này xảy ra và nếu vẫn còn cơ hội thoái lui thì không nên để chiến kê đá nữa bởi cửa thua nhiều hơn là cửa thắng.

Đăng ký trọng lượng

Ngày nay, đá giải bao gồm hai loại: một loại yêu cầu cân gà một ngày trước khi đá và một loại yêu cầu cân gà vào buổi sáng của ngày đá.

Kiểm tra phân

Khi đến trường đấu, để gà nghỉ 30 phút trước khi cho ăn bữa sáng. Bắt từng con ra khỏi hộp dưỡng và để chúng thải phân. Sẽ tốt nhất nếu thực hiện việc này tại trường đấu để gà làm quen với không khí ở đó. Từng con một, để chúng đi dạo và thải phân trong vài phút. Sau đó, ghi nhận từng loại phân mà gà thải ra: phân xanh vón cục với chóp trắng, phân nâu hay trắng hay gì nữa. Rồi ghi chép cân nặng của gà trước khi cho ăn. Sau khi cho ăn và uống nước, cân gà lần nữa. Điều này sẽ thể hiện chính xác lượng thức ăn mà nó tiêu thụ trong bữa đó.

Cắt giảm trọng lượng phụ trội

Còn bây giờ đến phần cực kỳ mánh lới. Chẳng hạn, một chiến kê nặng 2.050 g sau khi thải phân xanh cỡ ngón tay. Sau bữa ăn và 3 ngụm nước, giờ nó nặng đến 2.080 g. Trọng lượng đăng ký sẽ được tính như sau:

*** 2.050 – trọng lượng sau khi thải phân

trừ đi: 20 g – trọng lượng thức ăn còn tồn bên trong bụng

——————

*** 2.030

trừ đi: 35 g – giả sử rằng trọng lượng phụ trội là 35 g

——————

*** 1.995

trừ đi: 15 g – trọng lượng tối thiểu mà chiến kê sẽ sút ký trong ngày (đôi khi lên đến 20 gram)

——————

*** 1.980

Từ trọng lượng 2.080 g vào buổi sáng sau bữa ăn, trọng lượng đăng ký chỉ là 1.980 g.

Một ví dụ khác: gà B nặng 2.170 g sau khi thải phân nâu. Sau khi ăn bữa sáng và uống nước, nó nặng 2.210 g, có nghĩa nó vừa nạp thêm 40 g. Trọng lượng đăng ký sẽ được tính như sau:

*** 2.170

trừ đi: 10 g – trọng lượng thức ăn còn tồn bên trong bụng

——————

*** 2.160

trừ đi: 35 g – trọng lượng phụ trội

——————

*** 2.125

trừ đi: 15 g – trọng lượng mà chiến kê thải thêm trong ngày

——————

*** 2.110 kilograms

Trong trường hợp này, trọng lượng đăng ký là 2.110 g.

Nếu chiến kê thải hết nước tiểu trước khi ăn tức bụng nó đã trống hoàn toàn. Trong trường hợp này, trọng lượng phụ trội cùng với 15-20 g nữa được khấu trừ vào trọng lượng đăng ký.

Trong các giải derby đòi hỏi trọng lượng phải được đăng ký vào đêm hôm trước, hãy tăng lên 30-40 g thay vì 15-20 g. Nói cách khác, chiến kê sẽ tiếp tục giảm cân vào ngày đá. Dĩ nhiên, hoạt cảnh này thay đổi tùy vào mỗi dòng gà và những yếu tố khác nữa. Nếu trời mưa, chiến kê sẽ khó giảm trọng lượng vì độ ẩm trong không khí cao và nó sẽ hấp thụ vào người. Để an toàn, hãy thực hành theo công thức này cho đến khi bạn xác định được số lượng mà chiến sụt ký vào giai đoạn quyết định này.

Quản lý kê phòng

Chọn kê phòng

Nhiều chiến kê bị thua bởi sai sót trong việc chọn kê phòng. Nên nhớ, gà rất nhạy cảm với yếu tố mới lạ. Nếu không quen bị nhốt, chúng sẽ bị căng thẳng. Nếu vị trí kê phòng gần với toa-lét hôi hám, chúng sẽ bị căng thẳng. Nếu bị phơi dưới ánh nắng chói chang, chúng sẽ bị căng thẳng. Luôn nhớ rằng, tất cả đều phụ thuộc vào quyết định của bạn. Nếu bạn cảm thấy thoải mái trong một kê phòng nhất định thì hãy chọn nó. Nếu thời gian cho phép, lau dọn và khử trùng (bằng loại thuốc không có mùi gắt) các lồng và kê phòng một vài ngày trước khi vào giải. Đừng chờ đến ngày xuất trường hoặc trong khi đang vận chuyển gà mới làm. Để đạt kết quả tốt nhất, hãy tự mang theo tủ dưỡng tháo lắp với chạc gắn vừa tầm. Điều này sẽ giúp gà thư giãn tốt hơn bởi vì chúng đã quen với tủ dưỡng của mình trong quá trình biệt dưỡng. Nhiều sư kê cũng đặt lưới muỗi bên dưới các lồng được bao lưới này để ngừa muỗi vào ngày đá giải.

Bảo vệ

Nhiều người thua trận bởi kẻ xấu lẻn vào kê phòng thực hiện hành vi bất chính. Nghe nói có chiến kê bỗng dưng bị thương ở chân, hay thải phân rất lạ mà không có lý do rõ ràng. Người điều hành phải luôn có ai đó đủ tin cậy và không quá khù khờ túc trực bên trong hoặc ngay cửa kê phòng để ngăn ngừa những tay “điếm gà” như vậy. Trong khi khởi động, đảm bảo không chiến kê nào mổ thức ăn rơi vãi vốn có thể bị tẩm độc. Đừng bao giờ bị mắc bẫy kiểu như thế này “Xếp đang ở đầu dây và muốn nói chuyện với anh, có việc khẩn cấp. Đừng lo, tôi sẽ trông kê phòng cho anh”.

Mức độ thoải mái

Như đã thảo luận trước đây, nếu sử dụng máy lạnh có thang đo nhiệt độ và độ ẩm, thì nhiệt độ lý tưởng của kê phòng phải từ 23-26 độ C trong khi độ ẩm từ 40% đến 60%. Còn nếu không thang đo thì có thể cài đặt nhiệt độ ở khoảng giữa của mức lạnh nhất và nóng nhất, bật chế độ “low cool”, và hé cửa sổ hoặc cửa chính. Một lần nữa, cảm của nhận bạn là chủ yếu. Nếu bạn thấy kê phòng quá lạnh thì có lẽ nó cũng quá lạnh với chiến kê. Nếu bạn thấy quá nóng thì có lẽ kê phòng nóng hơn 26 độ C. Nếu bạn cảm thấy thoải mái, dẫu điều này rất chủ quan, thì nhiều khả năng chiến kê cũng thoải mái.

Thả gà

Thả gà (pitting) một cách phù hợp và bình tĩnh là điều quan trọng. Nên nhớ rằng, từ khi bắt đầu quá trình biệt dưỡng, từ khâu tuyển chọn cho đến quá trình ốp, thả gà là điều cuối cùng mà bạn có thể làm để giúp chiến kê thắng trận.

Lăn

Tưởng tượng một máy bay đang hạ cánh trên phi trường. Đấy là cách mà một chiến kê chủ công (aggressive) được thả. Thả quá nhanh thì nó sẽ tiếp đất bằng ngực hay tệ hơn, bằng đầu. Thả quá chậm và bạn kéo nó trên không rồi tiếp đất có thể gây ra vấn đề sau đó. Thực hành đem lại sự hoàn thiện. Hoạt cảnh hoàn hảo là một khi chiến kê được khởi động vừa đúng lúc, khi bạn “lăn” (rolling) gà lúc thả, gà sẽ đá ngay vào đối phương, “ghim” trên không và “đè” nó xuống mặt đất.

Thả bên

Với loại chiến kê thận trọng và phòng thủ (defensive), tốt nhất nên thả cách xa đối phương, bằng lối “thả bên” (sideway). Điều này sẽ giúp nó có thời gian để điều chỉnh và lập kế hoạch tấn công hay phản đòn. Nếu đối phương thuộc loại đá nạp tốc độ, sẽ khôn ngoan nếu thả chiến kê ở mặt bên để phòng ngừa mọi biến cố. Nếu trường đấu đủ rộng, cách thả bên sẽ thuận lợi hơn.

Luôn sẵn sàng

Dẫu chiến kê thuộc loại tấn công hay phòng thủ, điều bắt buộc là nó phải được thả nhanh hơn đối thủ trong nháy mắt. Chạm đất trước có nghĩa nó sẽ có nhiều thời gian và cơ hội hơn để chuẩn bị hay nạp đối phương trong nháy mắt. Nếu chiến kê của bạn chủ công, chạm đất trước đồng nghĩa với việc nhanh hơn đối phương một hoặc hai chân. Trong khi đối phương hãy còn đang xoay trở, chiến kê của bạn đã có mặt giữa trường đấu và đá cật lực vào nó. Tác động chắc chắn sẽ nhân đôi bởi vì nó được gia tốc. Mặt khác, nếu chiến kê của bạn thuộc loại phòng thủ mà nó thích đợi đối phương công trước, chạm đất trước đồng nghĩa với việc có thêm nhiều thời gian để canh nạp khi đối phương lao đến, tức có thêm thời gian để “ghim”đối thủ trên không một cách chính xác. Trong bất kỳ trường hợp nào, thả gà trước luôn có nhiều lợi thế hơn.

Phần kết

Làm mọi thứ để chiến thắng, miễn đừng ăn gian

Đại sư Paeng Araneta luôn đưa ra lời khuyên này cho tất cả những người mới chơi mà ông gặp. Sau tất cả, đá gà là bộ môn thể thao, trung thực, sòng phẳng và thể hiện tất cả những gì tinh túy nhất của các sư kê. Danh dự và tính cách là nguyên tắc hơn là biệt lệ. Các sư kê danh tiếng, kể cả những người được tôn kính, có thể không bao được gọi là “sư kê” nếu họ bị phát hiện chơi ăn gian hay tham gia vào các trận đấu được dàn xếp.

Hãy cao thượng

Khi bạn thua, hãy bắt tay người thắng trận ngay trong trường đấu, không phải ở bên ngoài. Điều này nhằm gửi một thông điệp rõ ràng đến tất cả khán giả rằng bạn là người cao thượng và đủ nhân cách để chấp nhận thất bại. Khi nâng xác chiến kê bại trận của mình, luôn giữ cho đầu nó ngẩng cao một cách kiêu hãnh. Các cựu sư kê sẽ không hài lòng nếu thấy nài gà (pitter/sultador) xách đuôi hay chân gà ra ngoài. Dẫu có thất bại, chiến kê đã cống hiến cuộc đời cho bạn. Giữ đầu nó ngẩng cao khi rời trường đấu là vinh dự tối thiểu mà bạn có thể mang lại cho đấu sĩ lông vũ bại trận này. Khi bạn thắng, hãy tỏ ra khiêm tốn với những phát biểu đại loại “chúng tôi chỉ ăn may”. Hành vi hả hê và nhảy cẫng sẽ phải nhận những lời chê bai. Như thường lệ, dẫu bạn có thắng, hãy phân tích từng trận đấu, cách mà bạn thắng hay thua trận, để trở nên hoàn thiện hơn trong tương lai. Trong các đánh giá như vậy, những thuật ngữ như “thắng hay”, “bại hay”, “thắng dở” và “bại dở” được sử dụng để đặc trưng hóa trận đấu. Sư kê xuất sắc có “thắng hay” và “bại hay”. “Thắng dở” và tệ hơn là “bại dở” đồng nghĩa với rất nhiều công việc cần phải hoàn thiện.

Cựa dao Philippine

“Khi chiến kê thắng trận, nó thực sự là hảo kê. Nhưng khi chiến kê bại trận, mọi lỗi lầm đều quy cho người gắn cựa”. Đây là câu thường được nghe mỗi khi sư kê phân tích các trận đấu của mình. Ngoài việc quá thành kiến đối với người gắn cựa (gaffer/mananari), nó còn thể hiện thái độ chua chát và thiếu cao thượng mà một sư kê Filipino không nên mắc phải. Sách này không chỉ có mục đích đặt loại cựa dao Filipino vào đúng vị trí thích hợp của nó, mà còn nâng tầm bộ môn lên cấp độ khoa học. Hy vọng rằng, qua bài này, nghệ thuật cột cựa sẽ được làm sáng tỏ.

Cựa truyền thống

Thành phần của cựa dao (tari)

– Chạc (tinidor)

– Chóp chạc (tenga)

– Khoen ngón

– Tay (mesa)

– Cán (leeg)

– Mũi dao

– Lưỡi dao (talim)

– Sống dao (batok)

Thiết kế và mẫu dao

Thiết kế của cựa dao chỉ thay đổi chút ít trong cả thế kỷ qua. Về cơ bản, dân đá gà ở Philippine thường sử dụng lưỡi cong bởi một điểm đáng chú ý là chiến kê quạt chân theo một đường vòng cung, bởi vậy mà thiết kế của lưỡi dao thuận theo chuyển động tự nhiên của chân. Thiết kế mũi dao về cơ bản cũng tương tự như mũi giáo. Theo các chuyên gia chế tạo dao, mẫu này thích hợp với việc đâm (piercing) hơn là cắt và chém (slashing). Do đó, người ta thường thấy đa phần vết thương luôn có dạng đâm (puncture-like).

Mẫu mã về tiết diện lưỡi dao đa dạng hơn so với mũi dao. Dưới đây là các mẫu tiết diện khác nhau của cựa dao. Mẫu cuối cùng là loại được chuộng nhất ngày nay bởi vì nó nhẹ và mỏng, đồng nghĩa với việc chém tốt hơn.

Hướng lắp cựa (alignment).

Đây là chủ đề gây tranh cãi nhiều nhất bởi vì nó đa phần phụ thuộc vào kinh nghiệm. Cựa thường được lắp theo hướng ngón thới với mũi dao chạm vào đường vuông góc với cẳng chân ngang qua cựa. Đây là cách mà nhiều tay gắn cựa gọi là “lắp vuông góc”.

Một hướng “lắp vuông góc” khác với mũi dao chạm vào đường vuông góc từ hậu môn xuống mặt đất.

Một hướng lắp phổ biến với hầu hết các tay gắn cựa là khi bạn kéo duỗi cẳng chân, cựa dao sẽ trỏ thẳng vào hậu môn. Vấn đề của cách lắp này ở chỗ nó quá chủ quan, tức người ta có thể kéo cẳng chân theo bất kỳ hướng nào mà họ muốn – bởi vậy nếu người gắn cựa muốn đâm hướng này và kéo chân về phía đó thì cựa dao cũng sẽ hướng… về đó.

Sáng tạo

“Phi điểu” hay “dao bầu”. Nếu bạn để ý đến lưỡi của loại dao làm bếp, bạn sẽ thấy nó cong về hướng mũi dao. Các chuyên gia chế dao từ lâu đã phát hiện thấy điều này là cần thiết nếu bạn muốn chém tốt. Mũi dao hướng lên trên trông giống như “cánh chim” bay. Hầu hết những lời truyền khẩu đều nói rằng kiểu thiết kế này là của nghệ nhân Dave Aranez quá cố, người có lẽ có ảnh hưởng nhiều nhất đến những chuyên gia chế dao khác. Loại dao này thường được gọi là “phi điểu” (pakpak langaw) hay “dao bầu” (buntis), hiển nhiên do lưỡi dao có dạng “bầu”.

“Cầu răng” (pustiso). Theo nghệ nhân Carding Manaloto, vào năm 1980, một tay chế cựa dao ở Bulacan sáng tạo ra một “siêu dao” mới, có lẽ chịu ảnh hưởng bởi loại cựa dao Malay. Hiện nay, nó được biết đến một cách phổ biến như là loại cựa dao đế tròng cân chỉnh được  – một cách dùng từ sai bởi nó thực sự không có đế tròng như là cựa dao Mỹ. Nó được đặt tên là “pustiso” bởi trông giống như là cầu răng giả kim loại.

Khoen ngón thực sự vô tác dụng. Các kỹ sư-sư kê giải thích rằng nó không chỉ làm cho cựa dao nặng thêm vài gram, mà cấu trúc còn không thuận lợi hay hỗ trợ cho chạc. Một số tay chế cựa loại bỏ hẳn khoen ngón trong khi số khác vẫn giữ lại một phần như là ngàm phụ để giúp lắp cựa chặt hơn.

Lưỡi mỏng. Tương tự như dao xếp, lưỡi dao mỏng và dẹp đồng nghĩa với việc chém dễ hơn và cựa cũng nhẹ hơn.

. Ngoài việc giúp cột dao nhanh hơn, nhờ độ dày của da, lượng dây cước hay dây vải dùng để cột cũng chỉ bằng 2/3 so với chiều dài thông thường. Việc cột dao nhờ đó đơn giản hơn. Nhờ ủng da vừa khít, với một đầu tròng vào cựa trong khi đầu kia ép sát vào “ngàm” (paunan), cựa sẽ không bị xê dịch thậm chí với cú đá dữ dội nhất. Các sợi da ngắn được dùng để điều chỉnh góc xoay của cựa dao theo bất kỳ hướng nào mà người lắp cựa muốn.

Chất liệu làm cựa dao

Những người làm cựa dao truyền thống chọn loại chất liệu cứng như mũi khoan, ổ bi, cưa và lò xo, nghĩ rằng đấy là những chất liệu tốt nhất. Họ nung thép để làm mềm hay tôi, rồi gò nó thành hình dạng và kích thước mong muốn. Vấn đề ở chỗ, độ cứng của vật liệu không đến lõi nếu làm theo cách này. Bởi vì nhiệt độ và thời gian nung cần thiết trong từng công đoạn không đạt, dao sẽ bị hỏng sau vài lần mài lại.

Nên sử dụng loại thép gió (high speed steel) để làm cựa dao, mặc dù cũng có thể dùng thép gia công nguội (cold-work steel). Thép gió chứa thành phần hợp kim cao được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị cắt bởi độ cứng và kháng mòn. Thép gió dòng M bao gồm khoảng 10% molybdenum cùng với thành phần hợp kim chromium, vanadium, tungsten và cobalt. Thép gió dòng T bao gồm từ 12% đến 18% tungsten cùng với thành phần hợp kim chromium, vanadium và cobalt. Trong hai loại trên, thép dòng T ít bị biến dạng khi nung và rẻ tiền hơn. Để gia cố lớp vỏ bảo vệ, thép này có thể được mạ thêm lớp titanium nitride và titanium carbide.

Trên diện rộng, giá cả ảnh hưởng đến việc lựa chọn chất liệu được sử dụng để làm cựa dao. Dẫu thép gió là tốt nhất, giá của chúng cao hơn nhiều so với thép gia công nguội.

Quy trình nung để làm cựa dao

Lò luyện kim chạy điện thông thường dùng cho dụng cụ và tiệm xi mạ nhỏ là yêu cầu tối thiểu, nhưng lò luyện kim chân không thích hợp hơn để chế tạo cựa dao. Trong khi cả hai loại đều có vi mạch điều khiển nhằm điều chỉnh nhiệt độ phù hợp cho từng giai đoạn gia công thép, lò luyện chân không không có không khí, do đó, ngăn cản ô-xy hóa vào thải loại carbon. Điều này có nghĩa thép không bị cháy. Thép cháy tạo ra xỉ mà nó làm giảm lượng carbon trên bề mặt. Lượng carbon suy giảm đồng nghĩa với chất liệu làm cựa dao không tốt, những thiểt bị công nghiệp như máy cán và đánh bóng được dùng để chế tạo cựa dao nhằm đem lại độ chính xác về kích thước và khả năng sản xuất hàng loạt.


【#8】Cách Giâm Cành Lan

Đây là kỹ thuật nuôi cấy mắt cây hay còn gọi là kỹ thuật giâm cành, mà ở VN gọi là cấy mô phân sinh. Từ các chồi mắt (buds) “ngủ” bạn có thể sản xuất ra một hoặc nhiều cây (sinh sản vô tính).

Mắt cây (node) là gì?

Cây thường tạo ra các chồi “ngủ” để chắc chắn rằng cây có thể sống còn, nếu chồi ngọn chết đi hoặc bị sâu bọ ăn. Trong một thời dài, khi ngọn lớn lên và sản xuất chất điều hoà sinh trưởng (hormone – kích thích tố) để ngăn cản sự phát triển của các chồi khác trên thân cây. Nếu ngọn chết đi, chất điều hoà sinh trưởng bị thiếu hụt và các chồi “ngủ” bắt đầu phát triển.

Phalaenopsis Mắt cây Phalaenopsis(hình chi tiết)

Bạn có thể tìm chồi ngủ ở đâu?

Mắt cây có thể tìm thấy như:

• trên thân Phalaenopsis, Doritisvà Phaius

• trên thân hành của Dendrobium

• dưới gốc của Cattleya…

Giâm cành trên đất

Sửa soạn mắt cây

Chúng ta hãy thử làm theo kỹ thuật sau với Phaius tankervilleaevà sẽ có kết quả rất tốt. Trong một lớp học, những người tham gia đã nhân giống thành côngPhalaenopsistrên bổi rêu (peat, sphagnum moss). Bạn hãy xem hình câyPhalaenopsisở phần dưới đây:

Nhân giống Phalaenopsistrên bổi rêu

Một trong những người tham gia lớp học của chúng tôi nhân giống thành công Phalaenopsis trên những bổi rêu.

Cách làm:

• nhúng ướt bổi rêu dưới vòi nước.

• trải rộng trên một cái khay nhựa, đổ lấp đầy khoảng trống giữa những bổi rêu với cát sa thạch (silica) và đổ một ít nước + nước dừa và trong khay nhựa.

• đặt khay nhựa vào trong lò microwave khoảng chừng 3 phút.

• bỏ một ít rêu (moss) vào trong cát khi đã nguội.

• cắt cành hoa khoảng 3 cm trên và dưới mắt cây.

• lột bỏ các màng bao (bracts).

• đặt các đoạn mắt cây và trong bổi rêu .

• đậy khay nhựa với lớp plastic và đặt khay dưới ánh đèn trồng cây.

Mắt cây phù hợp là bạn cắt 3 cm ở phía trên và dưới mắt của cành hoa. Điều rất quan trọng là phải dùng dao bén, bởi vì dao cùn làm các mô bị tổn thương rất nhiều. Kế đó bạn hãy cẩn thận gỡ bỏ các màng bao.

Đặt mắt cây vào trong đất trồng:

Đặt mắt cây đã sửa soạn nằm ngang trong đất trồng, mắt cây phải ở phía trên.

Tưới ẩm và đậy khay với lớp plastic giống như trong hình dưới đây.

Chăm sóc:

Đặt cái khay với những mắt cây vào nơi sáng và ấm và tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp chiếu vào. Kiểm soát mỗi 3-4 ngày để có độ ẩm đầy đủ.

mắt cây tươi 4 tuần sau đó
4 tuần kế tiếp 2 tuần sau nữa

Nuôi cấy mắt cây trong môi trường nuôi trồng (in vitro)

Sửa soạn mắt cây

Ưu điểm của kỹ thuật này là cây mới sinh sản sau này hoa sẽ trông giống cha mẹ chúng. Chúng ta dùng kỹ thuật này để nhân giống: Phalaenopsis, Doritis pulcherima, Phaius tankervilleaevà Chiloschista lunifera.

Mắt cây phù hợp là bạn cắt chéo với 1 cm ở trên và dưới mắt của nhánh (cây) hoa. Điều rất quan trọng là dùng dao bén bởi vì dao cùn làm các mô bị tổn thương rất nhiều.

Nhánh hoa Phalaenopsis với vỏ bao Nhánh hoa (mắt cây) Phalaenopsis không có vỏ bao

Chất dung môi nào bạn xử dụng?

Để khởi đầu phát triển của “mắt ngủ” chúng ta hãy dùng chất dung môi gồm có cytocinins (chất kích thích sinh trưởng – phytohormon). Chúng ta dùng Sigma’s P6793 (Phytotechlab P793) (Web site http://www.sigma-aldrich.com/).

Sửa soạn chỗ:

Bạn có thể dùng dụng cụ và thiết bị giống như trong bài “Kỹ thuật Gieo hạt từ trái xanh”

Đồ dùng cần thiết:

Thiết bị cần thiết:
Bếp lò
Nồi nấu nước đường kính miệng 30cm
Đèn cồn (dùng sát trùng dụng cụ)
Bao tay cao su
Nhíp, kẹp (inox)
Dao mổ (inox)
Cái móc lấy hạt lan (dụng cụ cấy chuyền)
Ống nghiệm chứa môi trường cấy
Bình cấy (lọ, ống nghiệm…)
Giấy lau nhà bếp (kitchen paper)
Cồn 70%
Thuốc tẩy (như là Clorox) dùng tẩy trùng.
Lọ (hũ) có nắp vặn (như là hũ thức ăn trẻ em – babyfood jar)

Bỏ mắt cây vào lọ (flask):

Ngâm mắt cây đã cắt vào cồn 70% vài giây. Sau đó đặt các mắt cây vào trong nước Oxi già 0,5% (hydrogen peroxide H2O2) trong 30 phút. Kế đó đặt chúng vào trong nước Oxi già (H2O2) 3% trong 15 phút. Sau 15 phút, đặt các mắt cây đã khử trùng (trong ống nghiệm) nằm trên vỉ trong vùng hơi nước sôi (vùng khử trùng). Bây giờ, lấy ống nghiệm và mở ra trên hơi nước sôi. Nắp đậy phải đặt trong miếng giấy nhà bếp (kitchen paper) tẩm cồn. Lấy cái nhíp và khử trùng bằng đèn cồn. Đưa cái nhíp vào vùng khử trùng (vùng hơi nước) và lấy một cái mắt cây đã đức ngâm trong dung dịch Oxi già và đặt nó với phần đuôi vào đắy lọ trong dung môi nuôi.

Kế tiếp, nhúng cái nhíp vào trong nước sôi để rửa sạch các chất dung môi bám vào nhíp và ngâm nhíp vào trong lọ cồn 70%. Đậy ống nghiệm lại (trên hơi nước sôi) và đặt nó trên bàn để dán nhãn. Với ống nghiệm kế tiếp bạn cũng làm giống như vậy.

Gợi ý:Để tạo dung dịch khử trùng có hiệu quả hơn, hãy nhỏ vài giọt nước rửa chén (dish washing solution) vào trong nước Oxi già.

Chăm sóc:

Đặt các ống nghiệm bạn đã làm các mắt cây vào nơi ấm và sáng (khoảng 20°C). Tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp bởi vì ánh sáng mặt trời sẽ làm ống nghiệm trở nên nóng bên trong.

chồi Chiloschista luniferađang lớn

Bởi vì kích thước và cấu trúc của các mắt cây làm tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn dùng cách nẩy mầm không cộng sinh (asymbiotic seed germination). Như vậy, điều rất quan trọng là chúng ta phải kiểm soát mỗi ngày trong tuần đầu tiên ,nếu có triệu chứng nhiễm trùng. Nếu bạn tìm thấy nấm hay vi khuẩn, bạn có thể khử trùng n thêm một lần nữa.

Có nhiều mắt cây tiết ra các hợp chất (exudate phenolic compounds) vào trong dung môi nuôi cấy làm đen dung môi nuôi cấy. Các hợp chất tiết ra sẽ giết chết các mắt cây nếu bạn không thay dung môi nuôi mới. Nhiều mắt cây sẽ ngừng tiết ra các hợp chất sau 3 hay 4 lần thay.

phenolic exudations

Khi mắt cây có 2 hay 3 lá bạn nên thay dung môi không có chất kích thích tố (như Sigma P6668) để rễ bắt đầu phát triển.

Tôi phải làm gì nếu muốn có nhiều hơn một cây?

Nếu bạn muốn sản sinh nhiều hơn mộy mầm bạn nên cắt 1/3 trên mắt cây. Bởi vì điều này mắt cây phát triển hàng chục chồi thay vì một chồi.

Nuôi cấy mắt cây

Phaius tankervilleae

Cây con từ một mắt cây

Phalaenopsis equestris

Chất điều hoà sinh trưởng (hormones)

Chất điều hoà sinh trưởng là gì?

Chất điều hoà sinh trưởng là các hợp chất hữu cơ hay nhân tạo mà tác động sự phát triển và nhân giống. Chúng sản sinh trong cây (như phát triển nụ) để kiểm soát sự phát triển.

Auxins

Auxins tác dụng tăng dài các tế bào, phát triển rễ và chồi tự hình thành. Chúng ngăn chận sự phát triển chồi nhánh (điều này chồi bảo đảm tính di truyền ổn định). Auxins thông thường dùng trong môi trường nuôi cấy mô, hoặc là phối hợp với cytokinins lúc tăng dài của thân hoặc không có cytokinins cho bộ rễ.

Tên Chữ viết tắt
Indole-3-Acetic Acid IAA
Indole-3-Butyric Acid IBA
Naphthalene Acitic Acid NAA
Phenylacetic Acid PAA
Dichlorphenoxyacetic Acid 2,4D
2,4,5-Trichlorphenoxyacetic Acid 2,4,5-T
Picloram
Dicamba
p-chlorophenoxyacetic Acid CPA

Cytokinins

Cytokynins, trước đây gọi là kinins, đóng vai trò chính trong môi trường nuôi cấy mô để phân cắt tế bào, shoot multiplication và sự tăng trưởng của chồi nhánh. Chúng giúp làm chậm sự lão hóa, và chúng tác động chuyển hoá auxin. Nếu việc nuôi cây quá ốm yếu, tăng lượng Cytokynin sẽ giúp việc nuôi trồng ngắn hơn, thân mần khoẻ chắc.

Tên Chữ viết tắt
Benzyladenin BA
6-Benzylaminopurine BAP
Pentyladenin
Dimethylallyladenin
Kinetin
Zeatin Z
Zeatinriboside ZR
Isopentenyladenine iP
Isopentenyladenosine iPA
Thidiazuron TDZ

Gibberellins

Gibberellins là một nhóm của chất liệu thiên nhiên xuất hiện với tác dụng phát triển tế bào và kích thích sự tăng dài của thân. Năm 1926 E. Kurasawa (người Nhật) ghi lại rằng việc nhiễm một loài nấm mốc (tên Gibberella fugikuroi), kết quả là hạt lúa phát triển nhanh hơn bình thường. Chất liệu đó là gibberellic acid, mà sau đó được người ta đã phân lập và kết tinh từ cả nấm mốc và thực vật.

Tên Chữ viết tắt
Gibberellic Acid GA
Chlorcholinchlorid CCC


【#9】Hướng Dẫn Cách Chữa Nước Cho Gà Chọi Khi Chiến Đấu

Đã lâu nay có một số các bạn trong mạng  đề nghị và đặt yêu cầu là chúng ta nên có một tài liệu về cách làm nước cho gà dựa trên kiến thức hay kinh nghiệm của những người đã từng là nài nước để truyền đạt lại cho những bạn muốn tìm hiểu thêm về lãnh vực này.

Để giúp các bạn mới bước vào nghề chơi gà biết cách thức phải săn sóc và làm nước cho con gà ra sao khi cần đem ra trường đụng trận hoặc trong những lúc xoay xổ và vần tập tại nhà. Trong loạt bài dưới đây BaLoi cũng mạo muội đem một chút ít kiến thức cá nhân biết được về lãnh vực này và trình bày những điểm căn bản trong cách làm nước giúp cho chủ kê khi ôm gà ra trận có thể “nài nước” cho gà nhà và có được sự tự tin hơn. Dĩ nhiên đây là những kinh nghiệm chuyên biệt của mỗi sư kê và không ai làm nước gà giống ai cả, cũng không có cách nào là tiêu chuẩn chính xác nhất mà hầu hết là do cóp nhặt và học hỏi lẫn nhau từ trường gà.

Nhiều tay sư kê hay nài nước gà có những “tài khéo” hay kinh nghiệm chuyên biệt về cách chữa gà riêng biệt, những kỹ thuật này được dấu kỹ và chỉ truyền đạt lại cho những người đệ tử hay hàng hậu bối tín cẩn và tuyển chọn. Do đó những kỹ thuật cá nhân này dần dần thất truyền đi. Phải nói rõ là kỹ thuật chơi gà nòi của ông cha ta để lại rất hay và đa dạng, có bài bản hẳn hoi.

Những vị sư kê đi trước mà tiên phong là Đức Tả Quân Lê văn Duyệt đã bỏ nhiều công sức tài bồi và làm cho bộ môn đá gà này càng ngày càng được phát triển với nhiều kỹ thuật như xem tướng, chọn gà,… nếu đem so sánh với bộ môn đá gà của nước khác như Thái Lan, Nhật Bản, Ấn Độ thì phải nói toàn bộ kỹ thuật nói trên cộng chung việc săn sóc gà, om gà ra trường và làm nước gà của những vị sư kê Việt Nam “ăn đứt” các kỹ thuật chơi gà của các nước vừa nêu trên. Chỉ tiếc là trong quá khứ cho đến nay không có sách vở nào lưu truyền lại về những kỹ thuật riêng cho người nài nước để những thế hệ đi sau có tài liệu tham khảo và học hỏi.

Loạt bài này được viết ra với mục đích lưu lại một số kiến thức và truyền đạt lại những gì BaLoi còn nhớ cho những bạn trẻ Việt Nam muốn biết thêm về cách làm nước cho thuần gà nòi đòn Việt Nam.

Khi nói về cách làm nước gà thì chúng ta cần phân biệt rõ ràng là gà nòi Việt Nam được phân ra làm 2 loại: đó là gà đòn và gà cựa. Trong quá khứ gà cựa chốt (cựa mọc tự nhiên từ chân gà) không khác gà đòn bao nhiêu về vóc dáng đến thể lực. Cho nên cách làm nước cho gà đòn và gà cựa không khác nhau là mấy nhưng hiện nay gà cựa Việt Nam đã chuyển bộ môn đá cựa chốt này sang môn đá cựa sắt nên cách thức làm nước và săn sóc cho gà cựa sắt đòi hỏi một số kỹ thuật chuyên biệt về cách làm nước và nhất là cách “cứu” gà, khâu vá khi gà bị bị thương tích hay ăn cựa sắt vào người, gà bị ngộp huyết khó thở phải làm sao,vv… BaLoi không phải là người chơi và chuyên về gà cựa sắt nên những loạt bài viết về cách làm nước sau đây chỉ chú trọng về gà nòi đòn mà thôi.

Hy vọng là có một “cao thủ” khác về làng gà cựa sắt (như ThaiTuLungGu chẳng hạn) sẽ đóng góp một số kiến thức, kỹ thuật và kinh nghiệm cá nhân chuyên biệt về bộ môn chơi này để giúp riêng cho các bạn chơi gà cựa sắt.

Sau cùng, như đã nêu ở trên đây là những kinh nghiệm cá nhân đã được BaLoi xử dụng cho gà nòi đòn trong thập niên 70 và 80 nên có thể một số điểm nêu lên dưới đây không còn phù hợp. Lý do là mỗi địa phương hay mỗi trường gà có những luật lệ riêng áp dụng nên nài nước phải nghiên cứu trước và dựa vào luật của Trường gà từng nơi mà du di và thay đổi cho phù hợp.

Phương Pháp Làm Nước.

Trước khi vào phần chính là kỹ thuật làm nước, xin được nhấn mạnh đến một vài kỹ thuật sơ đẳng mà người nài nước cần phải biết. Khi ra trường làm nước cho gà nòi đòn người nài nước phải mang theo “bộ đồ nghề” riêng, trong đó chuẩn bị một số đồ phụ tùng như sau:

• Khăn nhỏ làm nước (loại khăn rửa mặt hình vuông khoảng 25cm x 25cm hay 30cm x 30cm), nên dùng loại khăn dễ thấm nước và dễ dàng vắt khô.

• Cuộn chỉ nhợ (để khớp mỏ gà), lưỡi lam, kéo nhỏ

• Hộp mỏ gà (mỏ trên của gà giữ lại sau mỗi lần làm gà ăn thịt, bóc mỏ trên ra và hong gió cho mỏ khô và cất vào hộp giữ lại).

• 10 Lông cứng ở cánh gà

• 6 Lông cứng ở đuôi gà

• Hộp phó-mát (vaseline) hay kem bôi mắt loại nhỏ.

• Hộp nhỏ chứa ít đất sét trắng (loại làm đồ gốm).

1. Người nài nước luôn cầm chiếc khăn làm nước trong tay. Nên lựa vị trí thích hợp ngồi gần sô nước để dễ nhúng khăn làm ướt cho dễ. Khăn phải được giữ lúc nào cũng ướt đẫm nước để người nài nước có thể lấy miệng hút nước từ khăn để phun sương cho gà. Người nài nước phải tập cách phun sương cho gà bằng cách hút nước từ khăn 1 ngụm nhỏ vừa đủ dễ phun thành sương hơn. Nếu hút nhiều nước quá phun sẽ thành giọt nước làm gà ướt không đều. Khăn phải đủ mềm và nắm gọn trong tay để nài nước có thể dùng 1 tay để vắt khăn nước, vì có thể tay kia phải dùng để giữ gà, nâng gà lên trong lúc nghỉ giải lao để phun nước dưới lườn, trong nách, vv,…

2. Cuộn chỉ nhợ, đừng dùng chỉ may quần áo vì sợi chỉ quá nhỏ khi khớp mỏ dễ bị rối. Nên dùng loại chỉ nhợ bằng bông (cotton) lớn gấp 2 hay 3 sợi chỉ may thông thường. Cách khớp mỏ gà sẽ được hướng dẫn cụ thể hơn ở phần IV.

3. Thường thì người sư kê nên thủ theo một hộp “mỏ gà”. Đây là những mỏ trên của gà giữ lại từ những con gà bị giết làm thịt. Mỏ trên của gà khi được bóc ra nên để trong chỗ mát hong gió cho khô chứ không nên phơi nắng. Khi mỏ đã khô nên bỏ vào hộp cất. Đây là món đồ nghề ít được xử dụng đến. Sau mỗi hiệp ra làm nước là nài nước kinh nghiệm phải xem xét mỏ gà nhà xem có bị lên mỏ không ? Nhất là khi gặp đối phương là con gà đá mé mặt thật hay, hoặc là con gà đối phương giỏi ra chong ngọn mặt và đá vuốt mặt – từ 2 lỗ tai ra tới đầu mỏ. Trong những trường hợp này gà nhà sẽ mau bị rêm và lên mỏ.

Nếu nài nước không chú ý và khớp mỏ gà nhà sớm, trong lúc giao đấu có thể gà nhà sẽ bị đối phương đá văng mất mỏ. Đây là lúc cần hộp mỏ gà để tháp mỏ trên cho gà. Mỏ gà tháp sẽ được khớp bằng lớp chỉ nhợ bên ngoài giúp cho con gà có thể mổ tạm và ghìm đầu đối phương để lên chân. Tốt nhất là nên thử ở nhà trước những mỏ nào vừa vặn có thể dùng cho con gà nhà nếu phải cần dùng đến.

4. Lông cánh mang theo dùng để tháp vào cánh nếu gà bị gãy lông cánh không đập cánh để bay cao. Thường thì ít trường nào cho tháp cánh gà trong đấu trường. Nếu những lông ống trong cánh gà thiếu thì nên tháp trước ở nhà. Theo lối xưa thì tháp bằng chỉ, nhưng hiện nay có nhiều cách tháp cánh gà nhanh và chắc hơn đó là dùng súng bơm keo để dán lông ống ở cánh.

5. Lông đuôi mang theo để tháp vào đuôi nếu gà bị té nhiều do gà yếu gối nên khi nhảy dễ bị té và sẽ làm gà bị gẫy lông đuôi nhiều hơn. Tuy nhiên thường là nên tháp lông đuôi ở nhà trước khi bồng gà ra trường.

A. Làm nước trước khi thả gà: Gà không có những hạch hay tuyến xuất mồ hôi như người. Gà dùng lớp biểu bì (da) để tải nhiệt ra ngoài và làm giảm thân nhiệt bằng cách uống nước để giảm nhiệt trong huyết quản. Do đó Trước khi thả gà con gà phải được làm mát tối đa nhưng không làm ướt lông cánh và những phần lông còn lại trên người làm cho gà nặng mình khó bay nhảy.

Lấy khăn nước và cho gà uống nước một ngụm lớn bằng cách vắt nước chảy từ ngón tay cái vào miệng gà, lúc gà đang nuốt nước là lúc nài nước hút nước từ khăn và bắt đầu phun sương từ trên đầu xuống chân phía trước, rồi chuyển ra phía sau theo thứ tự sau đây cho dễ nhớ. (*) – Ngồi trực diện với con gà, phun sương từ mỏ xuống cổ, rồi phun nước vào 2 nách non (cả hai bên). Nhấc gà lên phun sương vào đùi và 2 chân. Chuyển gà ra phía trước, phun sương sau ót gà phun tới.

Phun sương từ cổ cần xuống giây chằng phía sau chảng ba. Nhấc gà lên, phun vào phía bụng và lườn gà. Lấy khăn nước lau mát 2 đùi và vuốt xuống hai chân gà. Vắt khăn thật khô, lau mặt gà, cổ cần, vuốt nước cho khô ở lông ức, lông cánh, lông mã, lông đùi. Xong rồi xả khăn cho sạch. Lấy nước vào khăn và làm nước lần thứ hai như đã hướng dẫn ở phần A (*). Sau khi đã làm nước xong lần thứ hai là thả gà.

B. Làm nước trong lúc giao đấu: Trong phần này kỹ thuật làm nước hầu hết do tài khéo và kinh nghiệm chiến trường của nài nước. Tùy theo con gà bị khiếm khuyết cái gì thì nài nước săn sóc kỹ phần đó. Tuy nhiên là nài nước thì điều căn bản nhất là trong tay phải có khăn ướt. Khi bắt gà ra hay ôm gà về vị trí mức thả gà là tay có khăn nước phải luôn bợ dưới lườn gà và vuốt xuống phần bụng và hai bên kẹt háng của đùi gà (đã được tỉa lông gọn gàng) để làm mát cấp thời.

Trước khi thả gà lại, hút nước từ khăn và phun sương từ phía sau ót phun tới. Trong khi giao đấu không bao giờ phun sương từ phía mỏ vào vì làm như thế gà sẽ dễ chịu và “lim dim” muốn ngủ. Một điều quan trọng khác là không nên để gà nhìn về phía khác mà luôn cho gà nhà nhìn về phía đối thủ của nó trong khi làm mát. Ngoại trừ khi gà ra ôm làm nước thì khác. Thường thì luật Trường cấm không cho gà uống nước trong lúc thi đấu nhưng không cấm việc xử dụng khăn và làm mát cấp tốc cho gà, miễn sao nài nước đừng ăn gian “kéo dài” thời giờ để làm mát cho gà nhà một cách quá trắng trợn.

C. Làm nước lúc gà ra ôm: Khi trọng tài hay biện tuyên bố ra ôm nước là lúc nài nước đã chuẩn bị khăn ướt và phải bồng con gà bằng cái khăn nước dưới bụng mang về góc của đội mình. Sau đó lấy khăn nước vắt nước cho gà uống ngụm nhỏ, vì gà mệt đang thở nên không cho uống nhiều nước. Trong khi ra ôm làm nước, nài nước không bao giờ nhấc con gà hổng khỏi mặt đất để phun nước như lúc trước khi thả gà vào trận. Phun sương từ mỏ gà xuống cần cổ trạng ba.

Chuyển gà ra phía trước, phun sương từ sau ót tới. Luồn khăn nước xuống ủ vào hai nách non của gà, lau xuống đùi, lườn và bụng. Nếu gà thở nhiều thì vắt khăn lấy nước mát từ sô nước và mở khăn lớn bằng bàn tay và úp tay vào hai bên nách non làm mát cho gà cho đến khi gà bớt thở. Khi thấy gà bớt mệt cho gà uống ngụm nước nhỏ thứ hai từ khăn. Xong vắt sạch nước và nhẹ nhàng lau mặt gà. Xong xuôi mở cái khăn để từ sau chấn sọ gà và dùng miệng mút cổ gà qua cái khăn làm nước từ chấn sỏ xuống tới dây chằng ở gáy xuống lưng gà. Ngày xưa khi làm nước gà ra ôm thì nài nước tay nắm mào gà kéo cổ gà thẳng lên rồi dùng miệng “nút” sạch tang từ phía hẩu xuống cho đến chảng ba và phía sau từ chấn sọ xuống tới giây chằng.

Đây là một hình thức lấy tang và máu bầm và dùng môi làm “massage” cho nhẹ nhàng và không gây đau cho gà. Ngày nay ba cái vụ cúm gà H5N1 nên cách lấy tang bằng miệng này xem ra không còn hợp vệ sinh cho lắm !!! Nài nước có thể dùng khăn và kẹp giữa ngón tay cái và trón tay trỏ và kẹp vào cổ gà phía trước và phía sau rồi giật nhẹ ra như kiểu “giật gió” để lấy tang cũng được. Sau khi lấy tang xong, cho gà uống ngụm nước nhỏ lần thứ ba trước khi thả gà. Làm nước xong nên đẩy gà vận động đi tới lui cho khỏe gà và để cho gà nhà “kên” gà đối phương. Từ lúc này chỉ nên phun sương từ sau ót phun tới.

Khăn nước luôn kẹp làm mát bên hai nách non, dưới lườn, đùi và bụng. Cho gà đi lại tự nhiên. Tránh kiểu đập đuôi cho gà chạy về phía trước rồi kéo giây chằng ở phía sau cổ gà và nhấc gà hổng khỏi mặt đất đem về góc của đội nhà như một số tay nài nước thường làm. Trong lúc gà đang còn thi đấu trong trận kỵ nhất là giở hổng gà khỏi mặt đất.

D. Làm nước vào những hiệp (hồ) về khua: Càng về khua gà trúng đòn nhiều và bị thấm tang, nên cần phải làm nước rất nhẹ tay. Điều này nài nước cần phải để ý. Xử dụng cách làm nước như đã hướng dẫn ở phần (C) bên trên. Khi gà đã bớt thở thì xoay sang cách làm nóng để làm gà thư giãn và giảm đau do các vết tang gây ra. Sau khi làm nước cho gà xong như được hướng dẫn ở phần trên, vắt khô khăn nước và lau lót cho gà khô ráo.

Nhúng khăn nước vào chậu nước nóng ấm (cho tay vào được) vắt hơi khô và lấy khăn trùm lên đầu và dùng hai bàn tay tủ bên ngoài cho hơi nóng thấm vào. Tiếp tục làm dọc theo cổ gà, hai bên hai và dọc theo lưng gà. Nếu không có khăn nóng, nài nước dùng hai tay xoa dọc theo hai bên hông, đùi để tạo nhiệt, sau đó úp 2 bàn tay vào hai bên mặt của gà chừng 5 giây, tiếp tục chà xát vào đùi lấy nhiệt và úp 1 tay vào đỉnh đầu, 1 tay vào bên dưới mỏ gà giữ chừng 5 giây, cứ chà xát và làm nóng từ đỉnh đầu gà và di chuyển hai bàn tay xuống tới chảng ba và di chuyển sang hai bả vai (hai trái chanh).

Riêng từ trên mu lưng dọc xuống thì để cái khăn đã vắt khô lên lưng gà và thổi hơi nóng từ miệng nài nước xuống lưng gà, di chuyển hơi nóng dọc theo sống lưng xuống tới phần cuối của lưng gà. Nếu gà bị ăn đòn dọc và hầu kiềng thì dùng tay trái chà nóng cả cánh tay phải từ cổ tay đến khuỷu tay, sau đó cầm nhẹ đầu gà và để cổ tay vào hầu gà và lăn theo chiều dài cánh tay phải từ hầu gà xuống cho đến bầu diều chừng 3 lần.

Sau đó chuyển tay trái và làm tương tự. Nếu gà bị tang mặt nhiều thì chà nóng hai bàn tay và úp vào nơi gà bị tang nhiều. Ở giai đoạn này chỉ khác ở phần (C) là tránh dùng khăn lau như mấy hiệp đầu mà chỉ dùng khăn nước thấm và chậm nhẹ lên đầu, cổ gà và ủ khăn nóng (nếu có) vào những nơi có vết tang mà thôi. Càng về khua thì các bắp thịt ở đùi và chân gà mỏi nên thường hay run, dân đá gà thường gọi là gà gõ nhịp “song lan”.

Lúc này nên tránh làm nước mát vào đùi gà và chân mà chỉ nên làm nóng bằng khăn nóng hay bằng hai tay xoa bóp nhẹ vào đùi và chân gà là tốt nhất. Nếu trận đấu kéo dài từ 4 hiệp (hồ) trở lên thì vào hiệp thứ 4 có thể lấy vốc cơm trắng để vào tay cho gà ăn mấy hột. Nếu gà không chịu ăn thì vắt cơm chừng 3 vắt lớn bằng ngón tay cái và đút vào họng gà. Sau đó cho gà uống vài hớp nước từ khăn cho cơm hoàn toàn trôi xuống bầu diều.

Nếu gà nuốt chưa trôi xuống mà thả gà có thể bị gà đối phương đá nghẹt ngang. BaLoi đã từng thấy nhưng nài nước hơi “cẩu thả” trong việc cho gà nuốt vội cục cơm, không cho uống nước, thả gà vội vàng bị gà bên kia đá cho đứng nghẹn ngang, ăn đòn oan và không đấm đá làm ăn gì được !!!

E. Làm nước sau trận đấu: Thường thì nài nước rất kỹ làm nước vỗ hen vỗ đờm cho những con gà thắng độ vì được cưng là máy “in ra tiền” cho chủ kê. Bù lại những con gà thua thường được làm qua loa hoặc nhiều khi bỏ thí vì chủ kê thua tiền độ rồi thì còn thiết tha gì đến con “chiến bại kê” nữa !!!

Tuy nhiên bài viết này hướng dẫn đầy đủ chi tiết về cách làm nước nên không thể nào thiếu được phần này. Sau khi trận đấu đã kết thúc, nài nước ôm gà ra khỏi bồ để vỗ đờm trong cổ họng ra cho sạch. Tùy vào vết thương nặng nhẹ trên người gà mà làm nước nhưng nhẹ tay là tốt hơn hết vì sau trận đá là gà không ít thì nhiều cũng bị bầm dập và đau đớn. Pha chậu nước muối hơi ấm rồi lấy khăn nước vắt nước vào cổ họng gà, khi gà chưa kịp nuốt thì nhanh chóng kéo đầu gà bằng tay trái xuống thấp hơn mình gà và lấy tay phải vỗ nhẹ và vuốt lên xuống dưới hầu gà.

Làm như vậy 3 lần để cho gà ọc ra hết đờm rãi trong cổ tránh cho gà khò khè kéo hen về sau. Sau khi vỗ hen xong lấy tay ấn và giữ đầu gà xuống thấp, lấy khăn vắt nước ấm pha muối trong chậu lên đầu, cổ và rửa vết thương cho gà. Xong xuôi vắt khăn khô và lau lót gà cho khô. Tránh không nên tắm gà cho ướt lông tèm nhẹp khi vừa đá xong trận đấu như một số nài nước hay làm mà chỉ nên lau lót qua cho sạch vết máu trên người là đủ.

Pha muối với nước ấm có công dụng sát trùng và tránh cho gà bị sưng hay làm độc ngoài da. Phơi gà ngoài chỗ nắng ấm giúp gà mau khô các vết thương, buổi tối đến khi cho gà vào chuồng có thể dùng “Bài Rượu Thuốc” om gà của BaLoi (đã “kê toa” trong Tàng Kinh Các) và om bóp cho gà thì gà sẽ mau bình phục hơn và sau đó cứ vài ngày bóp rượu thuốc cho gà một lần thì chỉ độ 10 ngày gà sẽ phục hồi và lấy lại phong độ cũ.

Phương Pháp Làm Nóng Có Cần Thiết ?

Thông thường ở Việt Nam các tay nài nước làm nóng rất qua loa. Có thể nói là họ làm nóng gà cho có chiếu lệ, vì như những cách thức làm nóng “cổ truyền” đã được BaLoi nêu ra trong phần làm nước ở phần II (D) như xoa tay, xoa vào đùi thì những cách này không đủ để tạo sức nóng có kiến hiệu (effect) cho gà. Mặc dù thời tiết ở Việt Nam là xứ vùng nhiệt đới và thường nóng vào những ngày giáp Tết vì vậy việc làm nước cho gà mát và hạ hỏa là điều cần thiết.

Nhưng nếu gà đá trận dài thì càng về khua gà sẽ tụt lực và giảm đi “chân khí” do đó gà bị lạnh và cần sức nóng để giữ thân nhiệt trở lại mức trung bình. Nên nhớ là thân nhiệt của gà cao hơn thân nhiệt của người nhiều. Gà có thân nhiệt trung bình từ 39.8 độ C cho tới 43.6 độ C. Ngày trước và có lẽ ngay bây giờ ở các trường gà bên Việt Nam, nếu có tay nài nước nào hỏi xin chậu nước nóng mang ra để làm nước gà chắc mọi người tại trường sẽ tròn xoe mắt ngạc nhiên và nghĩ là người nài nước này “không được bình thường” vì có ai đời làm nước cho gà bằng nước nóng? Bộ tính luộc gà hay sao đây !

Nhưng nếu xét về phương diện khoa học thì thân nhiệt gà cao và gà cần sức nóng ở mức độ 39 đến 43 độ C thì cơ thể gà mới hoạt động bình thường, còn nếu tụt dưới 39 độ là gà sẽ bị “lạnh cẳng” và đứng ủ rũ thương đau. Bên hải ngoại thì việc tạo khăn nóng rất dễ, chỉ cần bỏ vào cái lò vi ba (microwave) vài phút là có khăn nóng ngay. Tuy nhiên nếu không có lò vi ba thì chậu nước nóng dùng để nhúng khăn làm nóng cho gà cũng rất đạt yêu cầu. Có vài cách sau đây giúp cho nài nước mau có khăn nóng tuỳ theo mỗi trường hợp có thể chuẩn bị như sau:

– Ủi khăn bằng bàn ủi

– Bằng nước nóng

– Bỏ vào lò vi ba (microwave)

– Bỏ lên vỉ sắt nóng (loại vỉ sắt có lò nấu di động bằng bình ga nhỏ thường được dùng để ăn lẩu hay bò nhúng dấm). Cách này tiện nếu đi đá vùng xa nơi không có điện, thiếu tiện nghi.

– Ủ khăn bằng bình nước nóng (hot water bottle) loại bình nhựa mềm được bán tại các nhà thuốc tây (tại hải ngoại), loại bình này thường được dùng để chườm bụng cho ấm. Cách này cũng giản tiện nhưng bình nước nóng chỉ giữ sức nóng trong vòng 2 tiếng trở lại.

Những Cách Cứu “Cấp Tốc” Khi Gà Bị Nạn Tại Trường.

1) Lấy 1 đoạn chỉ dài độ 1.2mét, để sợi chỉ vào phía sau mào gà và chia đôi cho đều, mỗi bên độ 60cm. Đánh vòng ra phía trước của mào gà và thắt hai gút lại cho khỏi sổ. Nên thắt vừa phải đừng lỏng quá dễ tụt, và đừng căng quá có thể cứa phần thịt của mào.

2) Lấy đoạn chỉ bên tay phải làm thành một gút tròn, lòn sợi chỉ bên tay trái qua gút tròn đó, xong đưa gút tròn đó vào mỏ trên của gà. Cầm 2 đầu dây kéo lên cho gút nằm sát vào phía trên nơi tiếp giáp của mỏ với vùng da gần chân mào.

3) Lấy đoạn chỉ bên tay trái làm thành gút tròn, lòn sợi chỉ bên tay phải qua gút tròn đó, xong đưa gút tròn đó vào mỏ trên của gà. Cầm 2 đầu dây kéo lên cho gút nằm sát vào cái gút mới buộc phía trên. Nên nhớ sau vài động tác ở phần 2) và 3) là phải xiết 2 đoạn chỉ cầm ở tay ngược lên cho những vòng chỉ khớp mỏ được chắc chắn và sát vào nhau.

4) Tiếp tục luân phiên làm gút tròn bên tay phải như đã hướng dẫn ở phần 2) rồi sang bên trái như đã hướng dẫn ở phần 3) cho đến khi nào phần chỉ buộc thành gút trên mỏ trên của gà ra đến ngoài đầu mỏ. Khi còn cách đầu mỏ chấu (phần mỏ ở đầu cùng của mỏ gà) chừng 0.5 phân (0.5cm) là ngừng thắt gút khớp mỏ. Cầm hai đoạn chỉ ở hai tay kéo ngược lên trên và xiết cho các vòng chỉ khớp vào cho chặt rồi thắt chặt mối cuối bằng 2 gút cho thật chắc. Xong lấy kéo cắt bỏ đoạn chỉ còn dư cho gọn gàng. Sau đó người nài nước lấy taynhúm 1 chút cát ướt ở sân trường và chà vào bên ngoài và bên trong mỏ trên, chỗ vừa được khớp cho gà quen dần với mỏ và lớp chỉ mới vừa được khớp.

Rớt mỏ: Gà bị đá rớt mỏ hơi ít thấy nhưng không phải là không có và không xảy ra. Có vài nguyên nhân có thể làm cho gà dễ bị rớt mỏ trong trận đấu. Thứ nhất để cho gà xói mỏ qua bội, hay qua những lớp ngăn chuồng gà. Khi bị xói mỏ kiểu này các lớp thịt bao bọc quanh miệng gà bị rách và khi lành bị co rút vào khiến cho các lớp da bao quanh miệng gà không còn bám vào mỏ chắc như trước. Thứ hai, gặp đối thủ chuyên đá “ngọn mặt” mỏ gà sẽ mau bị rêm và lên mỏ.

Nài nước kinh nghiệm nhìn nước đá của gà đối phương và nếu đụng con gà chuyên sở trường về đá “ngọn mặt” nên thường xuyên kiểm soát mỏ gà nhà trong khi gà đang đá. Thường thì nếu gà bị lên mỏ sắp rớt trong lúc thi đấu thì chủ kê hay nài nước bên gà bị sắp rớt mỏ có quyền xin nghỉ để khớp mỏ ngay trong hiệp đấu. Nếu gà chỉ mới lên mỏ thì dùng cách khớp mỏ như đã hướng dẫn trong phần Khớp mỏ ở trên. Trong trường hợp gà bị rớt hay mất mỏ thì hơi khó mà khớp lại vì lớp mỏ non bên trong sẽ bị bể, dập chảy máu.

Trước hết nên nhổ vài lông tơ mềm (loại lông mịn và tơ như bông) trong nách gà hay gần phần đùi trên gần lông mã và đặt lên mỏ non của gà. Sau đó lấy cái mỏ đã rớt hay mỏ “sơ-cua” mang theo trong hộp và lắp mỏ này lại cho gà sau đó khớp mỏ gà bằng chỉ như được hướng dẫn trong phần khớp mỏ. Thường gà đã bị đá rớt mỏ thì tháp và khớp mỏ lại chỉ giúp cho gà không bị bể mỏ non và mất máu trong khi tiếp tục thi đấu. Do đó gà được khớp mỏ lại sẽ ít mổ, cắn hơn vì khi mổ gà sẽ bị thốn đau, điều này dễ hiểu cho nên chủ kê đừng kỳ vọng con gà sẽ cắn đá bình thường sau thi được tháp mỏ lại.

Gà bị đánh trúng huyệt: Thường gà bị đánh vào hai yếu huyệt sau đây có thể nằm bại xụi ngay tại trường: – gà bị đánh trúng vào thùy chẩm (chấn sọ sau ót gà). Gà trúng đòn này lập tức gục từ khuỷu chân gục xuống, cổ đưa dài ra, mỏ chấm đất và hai cánh xòe ra. Gà run lẩy bẩy như bị trúng gió độc, – Còn đòn khác là gà bị đánh trúng vào cạnh lườn là huyệt trí mạng. Gà trúng đòn này sẽ nằm lăn ra trường, hai chân co rút, hai cánh xòe ra, đầu cổ thẳng đơ nằm co giựt trên mặt đất không thể đứng lên được.

* Nếu gà bị đánh trúng vào thùy chẩm nhẹ thì sau khi quị xuống một lúc sau nó sẽ tự đứng lên và từ từ trở lại trạng thái bình thường. Một điều nên nhớ là thường các luật trường gà không cho phép nài nước bắt gà ra trong lúc thi đấu dù gà bị đá ngã trong trường hợp này mà chỉ được phép chữa gà khi ra hiệp (ôm) mà thôi. Tùy vào đòn đánh của đối phương nặng chân hay nhẹ chân mà có thể chữa gà nhà như sau: cho gà uống ngụm nước nhỏ, xong lấy ăn ướt trùm lên đầu gà và che 2 mắt gà để gà đứng im tỉnh dưỡng.

Sau đó nài nước ngồi trực diện với con gà và làm nóng 2 bàn tay rồi xoa bóp trước ngực gà ra đến ngoài bả vai (2 trái chanh) và đi sâu vào 2 bên nách non. Lý do làm động tác xoa bóp như thế để giúp cho tim hoạt động mau lẹ điều hòa bơm máu lên đầu cho óc cho gà mau hồi phục chức năng bình thường trở lại. Sau khi làm độ chừng 5 hay 6 lần như vậy thì dở khăn ướt ra và làm nóng bằng cách ủ hai tay hay đắp khăn nóng vào vùng chấn sỏ sau ót gà. Sau đó làm nước gà khi ra ôm bình thường như được hướng dẫn ở phần trên.

* Nếu gà bị đánh trúng huyệt ở lườn thì sẽ té và năm “xuôi cò” tại trường. Gà bị trúng đòn nghiệt này rất khó chữa vì gà chỉ còn nằm chứ không đứng được. Thường thì chủ kê sẽ xin vớt gà ngay sau đó. Tuy nhiên phương pháp chữa gà sau đây có thể giúp cho gà hồi phục phần nào. Trước hết dựng gà dậy cho gà trong tư thế đứng và đưa cho 1 người ngồi ôm lấy gà từ phía sau, đắp khăn nóng phủ dài dọc theo xương sống lưng giữ cho gà ấm. Nài nước làm nóng 2 bàn tay và xoa bóp cho gà từ phần ngực sang hai bả vai, chà nóng cho gà bên hai nách non, hai bên hông và xuống hai bên đùi. Làm độ 5 hay 6 lần cho gà ấm phần trên.

Cho gà đứng vào giữa 2 đùi của người giữ gà, luồn khăn nóng xuống dưới lườn và bụng, nhớ phủ khăn nóng dài xuống hậu môn gà. Cho gà uống vài ngụm nước nhỏ xong bắt đầu chuyển xuống làm nóng phần dưới của gà, xoa bóp lần này từ ngực xuống dưới lườn, sang 2 bên đùi gà và chạy dài xuống 2 quản gà. Nên nhớ cho hai bàn chân gà đứng bằng phẳng vững chãi trên mặt đất. Không nên nhấc chân gà lên để bẻ cong, co giãn các ngón chân vì gà đang bị co giựt và bị rút gân ở đùi và chân. Khi gà đã tỉnh lại và đi đứng được chỉ nên phun sương từ sau ót gà phun tới. Lấy khăn hơi ẩm để lau lót gà qua loa, tránh làm ướt và mát quá mức vì gà cần sức ấm. Cho gà đi lại trong góc của đội nhà cho gà thư giãn. Nên cho gà uống nước bằng nhiều ngụm nhỏ nhiều lần.

Gà bị đá quáng chạy: Thường thì gà bị đá quáng (miền Bắc gọi là trúng đòn cáo), vụt bỏ chạy ra khỏi bồ là do gà bị trúng đòn vào màng tang ngang lỗ tai.Nhiều con gà dữ khi trúng đòn này chỉ chạy vụt ra khỏi bồ trong tích tắc và quay trở lại bồ đá tiếp chứ không cần sự can thiệp của nài nước. Chỉ ngoại trừ gà trúng đòn quáng quá nặng, mặt mày ngơ ngác. Trong trường hợp này gà cần phải dăm ba phút sau mới hồi tỉnh. Đây là lúc cần bàn tay săn sóc của nài nước nhanh chóng vì chưa phải là cuối ôm ra làm nước nên không chần chờ và có đủ thời gian.

Cho gà uống ngụm nước nhỏ và phun sương từ phía sau gà tới từ mào xuống chấn sỏ và tiếp tục từ gáy xuống giây chằng. Cho gà uống thêm một ngụm nước nhỏ nữa trước khi thả gà. Như đã nói ở phần trên nên chú ý là khi gà bị đá quáng hay bị đá trúng huyệt ngặt nghèo không nên cho uống nước ngụm lớn dễ ngộp mà nên cho uống nhiều ngụm nhỏ để cho gà nuốt từ từ. Động tác nuốt nước xuống diều sẽ giúp cho gà mau trở lại quân bình hơn.

Gà bị nhem mắt: Khi gà nhắm mắt lại trong trận đấu như ngủ, không phải gà bị mù nhưng được gọi là “nhem”. Gà bị nhem mắt là do bị gà khác cắn mổ vào viền mí mắt hay bị đá vào ngay hốc mắt làm sưng mí mắt, gây cho gà đau đớn và tạm thời phải nhắm mắt lại. Sau đó nước lớp nhờn huyết thanh rỉ ra khi khô sẽ làm cho hai mí mắt gà dính lại. Do đó khi ra ôm nước, nài nước sau khi làm nước cho gà bình thường sẽ chữa mắt gà như sau : – Thứ nhất tránh không lấy khăn nước lau lên viền mắt vì làm như vậy làm cho gà xót do vết thương gây ra.

Sau khi chậm nước ở mặt gà cho khô, lấy phó-mát (vaseline) bôi trơn lên viền mí mắt gà, quanh hốc mắt để tránh cho huyết thanh chảy vào viền mắt; thứ nhì, ngồi đưa miệng sát vào bên mắt bị nhem và tiếp tục hà hơi ấm vào mắt gà. Sau khi hà hơi ấm vào mắt gà độ 3 lần (mỗi lần chừng ½ phút) cho gà uống nước và đi lại trong sân của đội nhà. Lấy khăn nước đập nhẹ vào đuôi gà và thúc gà đi lại và cho nhìn thấy đối phương, làm gà sung lên và tỉnh táo.

Trong trường hợp gà bị nhem nặng thì có một số nài nước dùng kim may và chỉ để kéo mí mắt gà mở ra để gà tiếp tục nhìn thấy mà ra đòn. Tuy nhiên nếu gặp đối phương là gà hay “mằn” lên da mặt và mổ cắn thì lớp chỉ buộc mí mắt sẽ bị giựt đứt làm rách mí mắt gà. Cách dùng phó-mát bôi lên viền mí rất hiệu nghiệm giúp cho gà bớt xót ở vết thương trên mắt và giúp cho hai mí mắt gà không kéo màng dính lại.

Gà bị trúng cựa/móng thái – ra máu: Thường thì gà đòn ít khi đâm và dùng đến cựa vì hầu hết cựa gà nòi đòn lù như hạt bắp, nếu cựa dài và nhọn thì nài nước phải bịt cựa lại bằng giẻ (vải) và băng keo để tránh gà dùng cựa đâm gà đối phương. Nhiều con gà đòn rất hay và có thể xử dụng móng thái (thới) để đâm. Thường những vết thương này không sâu nhưng vẫn gây cho gà bị chảy máu ở vết bị đâm. Những vết thương do móng thái gây ra thường không rộng miệng nên may lại rất khó.

Khi ra nước để chữa vết thương nài nước giật cọng lông tơ mềm ở trong nách hay gần bên hông đùi để dịt vào vết thương. Có nài nước xử dụng thêm chút thuốc rê và ấn vào chỗ vết thương; sau đó lấy tay đè chặt vào miệng vết thương và giữ lại trong khoảng 2 hay 3 phút sẽ giúp cho vết thương cầm máu. Một cách khác là nài nước dùng đất sét trắng (làm gốm) mang theo trong hộp nhỏ, cho chút nước vào nhào cho hơi mềm, sau khi đắp lông non vào vết thương, lấy một miếng đất sét và trét, dịt vào vết thương. Lấy ngón tay bịt vào vết thương khi phun nước, tránh cho vết thương bị ướt làm đất sét rơi ra. Theo luật của Trường gà thì nếu đang trong hiệp giao tranh dù gà có bị ra máu từ vết thương cũng không được phép chữa gà.


【#10】Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tuyển Chọn Và Nuôi Dưỡng Gà Chọi

Cách thức nuôi gà nòi đòi hỏi nhiều công phu.Cách săn sóc và tuyển lựa gà nòi là một đề tài sâu rộng mà bài viết này không thể đề cập hết được. Tài liệu này chỉ trình bày những điểm căn bản để cho quý độc giả có một hiểu biết khái quát về gà nòi và những phương pháp ứng dụng sẽ được đề cập đến trong những phần sau.

Gây Giống.

Những con gà mái gốc vừa bền vừa dữ cộng với một số đặc tính trổi vượt khác. Gà mái gốc được chọn trong khỏang từ 1 đến 6 năm tuổi. Gà trống để đổ dòng là những con đã có thành tích vẻ vang ngoài trường gà, ít nhất là đã ăn từ 2 độ trở lên. Tuổi từ 1 năm rưỡi đến 5 năm và thuộc dòng gà khác. Thời gian để thả gà phối giống là từ cuối tháng Mười Hai trở đi cho đến đầu tháng Giêng. Các phần dinh dưỡng cao được thêm vào khẩu phần của cặp gà giống gồm có rau, trái, thóc lúa, các hợp chất vôi và tôm tép hay cá. Các dinh dưỡng này thường được vỗ cho gà khỏang 1 tháng trước khi cho chúng phối giống. Gà sẽ bắt đầu ấp và nở vào đầu mùa Xuân.

Vòng lọai đầu :

Cách thức lọai gà trong vòng này tùy thuộc vào mỗi kinh nghiệm riêng của các sư kê. Tuy nhiên dựa theo “Kê Kinh”, một số các sư kê đã lọai bỏ gà con vào lúc 2 tháng tuổi nếu những con gà con này có vảy xấu. Có khỏang chừng 13 vảy xấu để các sư kê dựa vào đó để “xem gà xét vảy” để lọai bỏ.

Vòng lọai hai : 

Khi được 7 tháng tuổi, các con gà tơ sẽ phải vượt qua vòng hai. Những con bị vẹo lườn, vẹo cổ, và hở xương ghim (xương chậu bên dưới gần hậu môn) sẽ bị lọai bỏ.

Chuẩn Bị 

Hớt Lông

Như đã trình bày; có nhiều lọai gà đòn khác nhau do đặc tính di truyền riêng của mỗi dòng. Có lọai gà nòi ít lông và trần trụi hơn lọai khác. Để chuẩn bị gà trước khi mang ra trường thì các tay chơi gà thường hớt lông đầu, lông tơ và lông dưới cánh. Thông thường thì gà nòi không cần phải hớt lông nhiều vì các phần như cổ, đầu và đùi thường trần trụi sẵn. Lông đầu và cổ của gà nòi dòn dễ gẫy nên sau nột vài lần xổ (vần) là gà thường trụi lông nơi đầu và cổ.

Đối với những loại gà có nhiều lông và cần tỉa thì các bạn có thể tỉa như sau:

Đầu – Lông đầu thường được tỉa và hớt sát để các sư kê dễ bề mổ xẻ hút máu bầm và khâu vá. Ngoài ra, sự tỉa hớt cũng giúp cho gà không bị gà đối phương núm lông để đá.

Cổ và đùi – Lông ở cổ và đùi gà nòi thường được hớt để vô nghệ và thuốc cho da gà dầy dạn chịu được những cú đá hay cào (bằng móng) của gà đối phương vào những phần dễ bị trúng đòn như cổ, đầu, đùi và ngực. Gà còn đựơc tắm nghệ để teo mỡ. 

Lông tơ – lọai lông này mọc dưới cánh bên trong nách gà và hai phía bên hông cũng như dưới bụng gà. Khi ra trận gà được hớt lông tơ mềm để sư kê hay nài nước dễ dàng trong lúc làm nước, lau rửa làm gà mát gà vì thời tiết vào những tháng gần Tết bắt đầu nóng, hơn nữa sẽ không làm gà thấm nước vào lông khó bay nhảy trong lúc thi đấu.

Lông ngực – Phần lông ở ngực thường được giữ nguyên không hớt.

Các Phương Pháp Tập Luyện

Đi hơi: Phương pháp này còn được gọi dưới nhiều tên khác như vần hơi, xoay hơi, xổ hơi, quần hơi v.v,… gà tơ vào khoảng 7 hay 8 tháng tuổi trở lên là bắt đầu vào việc tập luyện. Gà được bịt mỏ và cựa (nếu có) và chỉ có thể dùng cổ để xoay trở đối phương vì không dùng mỏ để cắn, ghịt gà khác để ra đòn. Phương pháp này giúp gà quen dần với sức chịu đựng, bền sức và giúp chủ kê khám phá ra tính nết và nước đá của gà nhà nếu nó thiện nghệ một mé hay hai mé khi xoay trở.

Chạy Lồng:

Một con gà mồi sẽ được nhốt trong một cái bội tre, phía bên ngoài chụp thêm một cái bội tre lớn hơn để gà không thể mổ hay cắn lẫn nhau. Con gà bên ngoài sẽ chạy quanh bội gà vì tức khí và muốn tìm cách chui vào bên trong gặp đối thủ. Phương pháp này có thể tập luyện cả giờ và giúp cho gà phát triển bắp thịt nơi đùi và chân.

Vô Nghệ: Tất cả gà chuẩn bị ra trường đều được vào nghệ có pha lẫn với các vị thuốc để giúp cho phần da lộ ra không những mau đỏ da thắm thịt mà còn giúp cho lớp da được chai sạn lại để chịu đòn.

Dầm cán: Chân gà được ngâm vào một dung dịch thuốc pha với nước tiểu hay muối để giúp cho chân gà săn chắc lại. Có thể ngâm chân gà ngày hai lần sáng và tối mỗi lần 30 phút. Phương pháp này giúp cho các ngón chân và quản gà rắn chắc khi ra đòn đá đau và chắc hơn

Quần Sương: Các sư kê tin rằng sương buổi mai tinh khiết giúp cho gà khỏe mạnh trong lúc tập luyện. Mỗi sáng khi gà cất tiếng gáy đầu tiên là gà được thả ra sân sớm trong lúc trời còn đang tờ mờ để vươn vai, đập cánh gáy đi lại trong sân khi sương chưa tan.

Om: Gà được tắm rửa và xông hơi hằng ngày bằng khăn ấm với một nồi nước nấu bằng các vị thuốc Nam như trà xanh, gừng, ngải cứu, v.v,… để gíup gà khỏe mạnh.

Xổ: Gà được cáp với gà cùng chặng, cùng tuổi để “đá thử sức” và tập cho quen dần với cách giao nạp, nhập trận thế và cách làm nước của sư kê. Mỗi lần xổ gà thường là một đến hai hiệp.

Gà nòi có bộ xương rất lớn do đó muốn gà phát triển đúng mức cần phải có thời gian và đủ kiên nhẫn để gà lớn lên một cách bình thường. Trung bình vào một năm tuổi (12 tháng) là lúc gà đã cứng cáp và bắt đầu vào chương trình tập luyện chuẩn bị cho việc ra trường. Sau 6 tháng áp dụng những phương pháp huấn luyện trên, khi được 1 năm rưỡi (18 tháng) là gà đã rắn chắc như một thỏi sắt toi luyện và có nội lực và ngọai hình sung mãn sẵn sàng ra trường đụng gà khác. Các sư kê dầy dạn kinh nghiệm thường nuôi và tập luyện gà đúng độ mới mang ra thi đấu, trong khi các tay chơi gà trẻ tuổi không có nhiều kinh ghiệm và háo thắng hay ép gà đá non chưa đủ lực thường chịu thảm bại dưới tay các bậc đàn anh trong nghề.

Cáp Độ

Cách cáp độ gà ở Việt Nam rất khác nhau tùy theo từng địa phương. Tài liệu này không có đủ dữ kiện để phân tích chi tiết về sự khác biệt giữa các trường gà đang sinh hoạt đều đặn tại các miền Bắc, Trung và Nam. Những chi tiết trình bày trong tập tài liệu này được thu thập tại một số trường gà tiêu biểu và có thể không hoàn toàn đúng cho từng miền hay những trường gà cùng một địa phương.

Tại miền Nam Việt Nam, trước năm 1975, (Năm 1975 đánh dấu một giai đoạn lịch sử Việt Nam khi chính quyền miền Nam mất quyền kiểm soát miền Nam về chính quyền miền Bắc. Cuộc chính biến này đã thay đổi nhiều trên đất nước và thú chơi đá gà cũng không thoát khỏi những thay đổi về cách thức và luật lệ sau năm 1975.) các tay chơi đá gà thường không dùng cân để cân trọng lượng của gà. Tuy nhiên, cũng có sới dùng cân, tỷ như sới gà của cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ thì có dùng cân khi qua cổng.

Thường thì các tay chơi gà định lượng con gà đối phương bằng cách dùng mắt quan sát để cáp độ. Những tay cáp độ gà sẽ mang gà ngồi vào bồ (vòng) có nơi đào lỗ sâu xuống đất để làm đấu trường, để so kè chiều cao và bề ngang của lưng gà để bắt chặng. Mỗi trường đá gà có những luật lệ riêng do chủ trường gà đặt ra. Có nơi cho phép chủ kê được đụng chạm, rờ tay trên con gà đối phương. Có nơi cấm không cho vì lý do an toàn cho gà của khách mang đến.

Trong những nơi cho phép chủ kê được phép lấy tay để đo lưng con gà đối phương để đoán chừng “mấy phân xương” lưng, còn được gọi là “cái ngang” tức là chiều ngang của lưng gà. Những nơi không cho phép đụng chạm gà đối phương thì chủ kê phải dùng mắt để phỏng đoán chiểu ngang cũng như cân nặng của con gà kia. Trong trường hợp này chủ kê có quyền yêu cầu chủ kê phía bên kia kéo cánh xuống để quan sát kích thước lưng của con gà đối phương. Chiều cao của hai con gà được xem xét rất kỹ, thường thì hai con gà được chủ kê đâu lưng lại để so kè chiều cao và chiều ngang của lưng gà.

Chủ trường sẽ đóng góp ý kiến thêm về cáp chặng để cho có độ gà đá. Gà có chiều cao hơn thường có lợi thế khi ra đòn, do đó các tay chơi gà có câu “một phân vai bằng hai phân xương”; có nghĩa nếu con gà có 2 phân (2cm) lớn chiều ngang hơn vẫn không bằng con gà tuy kém 2 phân ngang nhưng hơn 1 phân về chiều cao. Tuy nhiên trong vấn đề cáp độ, hai đơn vị đo lường về chiều cao và chiều ngang như thế bù qua xớt lại thì vẫn được coi là đồng chạng gà và có thể cáp độ được.

Một phương pháp khác được gọi là “vô tay”. Vô tay là thủ thuật dùng tay để nâng dưới lườn con gà đối phương lên để ướm chừng sức nặng. Các sư kê có kinh nghiệm có thể đoán chính xác trọng lượng con gà trên tay bằng cách này. Khi vô tay, sư kê cũng có thể đoán biết được thêm về gân cốt và quá trình toi luyện của gà cũng như sức chịu đựng của nó. Thí dụ như một con gà có lườn dài và sâu hình chữ V ( như lườn tàu đi biển) là loại gà có sức chịu đựng đứng trường bền bỉ. Nhưng phép vô tay không phải trường gà nào cũng cho phép. Sự cẩn trọng này rất cần thiết để đề phòng những kẻ ma giáo áp dụng xảo thuật điểm huyệt hãm hại gà đối phương trong lúc vô tay. Thường thì phép vô tay chỉ được áp dụng ở những trường gà mà mọi người đều là bạn bè thân quen. Trong những trận gà ăn thua lớn phương pháp “vô tay” không được áp dụng.

Luật Trường Gà

Miền Bắc

Luật trường gà khác nhau tùy địa phương. Kế bên là bản nội quy trường gà của sới Yên Sở, miền Bắc Việt Nam.

Ở sới Yên Sở, mỗi hiệp đấu được ấn định là 15 phút. Nghỉ và làm nước là 5 phút. Không có giới hạn mỗi độ gà là bao nhiêu hiệp. Số hiệp của độ gà có thể được thỏa thuận giữa hai chủ kê. Các chi tiết như khớp mỏ, chắp lông, may mắt v.v. có thể khác biệt giữa các trường gà.

Miền Trung

Ở tại tỉnh Bình Định, mỗi một hiệp (ôm) được ấn định là 20 phút. Gà ra hiệp làm nước cho nghỉ 5 phút. Gà nòi ra trường cáp độ được phân loại theo sức nặng như sau :

– Hạng nặng – trên 3.5 ký

– Hạng trung – từ 3 đến 3.5 ký

– Hạng nhẹ – dưới 3 ký

Các trận đá gà thường được tổ chức vào dịp trước Tết và tiếp tục cho đến tháng Tư.

Miền Nam

Tại Sài Gòn, mỗi hiệp là 15 phút, làm nước nghỉ cũng 5 phút như các nơi khác. Các tay chơi gà thường dùng chữ “chặng” (đọc trại thành chạng) để phân loại gà thành 3 cỡ như sau :

– Chặng Nhất: trên 4 ký.

– Chặng Nhì: từ 3 đến 4 ký

– Chặng Ba: dưới 3 ký.

Trong khi phép phân chặng và cáp độ của gà đòn rất cầu kỳ và tốn thì gìơ thì phép cáp độ của gà cựa đơn giản và nhanh chóng hơn nhiều. Các tay chơi gà cựa thường dùng cân để cân trọng lượng của cả 2 con, vừa nhanh vừa giản tiện. Thường thì gà được cân tại nhà và cả hai bên đều đồng ý cáp gà qua điện thoại hay bằng miệng tại quán cà-phê hay các quán ăn rất nhanh chóng trước khi mang gà đến điểm hẹn để xem lại lần chót trước khi vào độ.

Nếu cả hai bên đồng ý họ sẽ mang gà đến một điểm hẹn khác được dùng làm trường gà. Trận chiến kết thúc nhanh chóng cho các trận gà dùng cựa sắt để tránh sự theo dõi và bắt bớ của lực lượng công an, cảnh sát. Trước đây những trận gà cựa đá bằng cựa thật thường được cáp tại trường gần giống như lối cáp của gà đòn nhưng sau này không thông dụng do lệnh cấm của nhà nước nên hiện nay các trận gà cựa được tổ chức tại các trường di động.

Đấu trường là nơi gà tranh tài trong những trận đá được gọi là “sới gà” (tiếng miền Bắc) hay “trường gà” (tiếng miền Nam). Các đấu trường ở miền Bắc và Trung đặc biệt dành riêng cho gà đòn. Thú vui đá gà ở Việt Nam mặc dầu vi phạm luật pháp và không được chấp nhận nhưng nhà nước cũng dễ dãi cho thể loại đá đòn.

Trước năm 1975, hầu hết các trường gà tại miền Nam đều giành riêng cho gà đòn hay gà cựa. Có rất nhiều trường gà nổi tiếng quanh vùng Saigòn, Biên Hòa, Hóc Môn,…v.v. Các đại gia giầu có ở miền Nam thường thích đá gà cựa hơn vì có kết quả ăn thua nhanh chóng. Vào giai đoạn này gà cựa thường ra trận với cặp cựa thiệt của nó. Rất nhiều câu chuyện trong các sách truyện kể lại những trận gà cựa nổi tiếng trong những vùng như Cao Lãnh, Bến Tre và Bạc Liêu.


Bạn đang xem chủ đề Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Bắp Cải Tím trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!