Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm, Phòng Trừ Bệnh Hại Nấm Rơm An Toàn

--- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Bưởi Da Xanh Trên Đất Phèn
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Cam Sành Cho Năng Suất Cao
  • Các Kĩ Thuật Fifa Online 3 Siêu Bá Giúp Phá Tan Lưới Đối Thủ
  • Kỹ Thuật Trồng Hoa Hồng Leo Trong Chậu
  • Trồng Nấm Bào Ngư Trên Phế Phẩm Nông Nghiệp
  • Nấm rơm là loại nấm trồng quen thuộc ở Châu Á, nhất là vùng Đông Nam Á có khí hậu nhiệt đới. Nó được trồng từ thời xa xưa, được phát triển mạnh ở Trung Quốc từ 2 thế kỷ trước CN. Số liệu chính thức ghi nhận năm 1822 ở Quảng Đông có trồng nấm rơm cung cấp cho các bữa tiệc của Hoàng đế. Nấm rơm có giá trị dinh dưỡng cao, được dùng trong nhiều món ăn cao cấp. Ngày nay nấm rơm được xuất nhiều sang các nước Âu Mỹ. Năm 1983, sản lượng nấm rơm trên thế giới đạt 50.000 tấn (chưa kể Việt Nam).

    -Trồng nấm rơm trong nhà theo kiểu công nghiệp, một kỹ thuật tiên tiến hơn đang được ứng dụng rộng rãi ở các nước Đông Nam Á, chưa được phát triển.

    -Việc cung cấp meo giống nấm rơm chưa thật ổn định chắc chắn và chưa thỏa mãn nhu cầu.

    -Sự hỗ trợ đồng bộ về nhiều mặt chưa được tiến hành như chưa có hướng dẫn cụ thể và cung cấp phương tiện để phòng trừ sâu bệnh, hoặc hướng dẫn chế biến.

    Về kỹ thuật trồng, nấm rơm thuộc vào loại dễ trồng nhất, nhưng đồng thời cũng là loại nấm mà việc đưa năng suất lên cao khó nhất.

    Các đặc điểm hình thái Nấm Rơm

    1.Phân loại học nấm rơm

    Theo Singer (1975) nấm rơm nằm trong hệ thống phân loại như sau:

    Lớp nấm đảm (Basidiomycetes)

    Lớp phụ đồng đảm khuẩn (Homobasidiomycetes) Bộ Agaricales Họ Plutaceae Giống Volvariella

    Họ Plutaceae có đặc điểm bào tử màu hồng và giống Volvariella có đặc trưng bởi vỏ bao (volve) bọc cả chân lẫn mũ nấm. Việc phân biệt giữa các loài của nấm rơm với nhau chưa rõ ràng. nấm rơm hiện được nhiều nơi trồng là Volvariella volvacea (Bull.ex Fr.). Còn có loài Volvariella esculenta. Ở An Độ dùng tên Volvariella diplasia.Vì màu sắc mũ nấm dễ thay đổi do chiếu sáng nên chưa khẳng định được chắc chắn các loài kể trên là riêng biệt. Loài Volvariella bombycina mọc trên gỗ mục, mũ nấm có màu vàng lúa có vảy sợi nên phân biệt rõ với các loài kia.

    2. Chu trình sống nấm rơm

    Chu trình sống của nấm rơm bắt đầu từ đảm bào tử (basidiospore) (hình 3.1). Đảm bào tử có màu nâu hồng nên khi nấm già dưới mũ nấm các phiến có màu nâu hồng. Đảm bảo tử chỉ chứa 1/2 số nhiễm sắc thể (n) so với các tế bào khác của cái nấm (2n). đảm bào tử nẩy mầm tạo ra tơ sơ cấp có tế bào chứa n nhiễm sắc thể. Các sợi tơ sơ cấp có thể tự kết hợp với nhau tạo thành tơ thứ cấp tế bào có 2n nhiễm sắc thể. Tơ thứ cấp tăng trưởng dẫn đến sự tạo thành quả thể. Tơ thứ cấp có thể tạo thành bì bào tử (chlamydospore) (còn gọi là hậu bào tử hoặc bào tử vách dày) là bào tử sinh sản vô tính có 2n nhiễm sắc thể. Bì bào tử có sức chịu đựng cao với điều kiện bất lợi cao hơn sợi tơ nấm. chúng được tạo thành nhiều khi sợi tơ già hoặc môi trường kém dinh dưỡng. các bì bào tử nẩy mầm cho tơ thứ cấp 2n.

    Quá trình hình thành quả thể ở nấm rơm qua các giai đoạn sau: đầu đỉnh ghim (nụ nấm), hình nút nhỏ, hình nút áo, hình trứng, hình trứng kéo dài hay hình chuông và nở xòe. Khi nấm nứt bao trên các phiến mỏng phía dưới mũ nấm diễn ra quá trình hợp nhân và phân chia giảm nhiễm (số lượng nhiễm sắc thể từ 2n cho ra 4 tế bào có n nhiễm sắc thể) để tạo thành 4 đảm bào tử. Quá trình đó được gọi là quá trình tạo bào tử (sporulation). Các đảm bào tử gặp điều kiện thuận lợi nẩy mầm và như vậy chu trình sống khép kín.

    Các đặc điểm sinh lý của Nấm Rơm

    1. Dinh dưỡng nấm rơm mang lại

    Tên gọi nấm rơm có được do thường gặp nó mọc trên rơm rạ lúa nước. hiện nay ở nước ta và các nước, rơm rạ là nguồn nguyên liệu chủ yếu để trồng nấm rơm. Những công trình nghiên cứu trên nhiều loại nguyên liệu khác nhau cho thấy nấm rơm có khả năng mọc, nhưng trừ bông phế thải, rơm rạ lúa nước cho năng suất cao nhất.

    Các thí nghiệm được tiến hành ở nhiều nước khác nhau, không cùng giống nấm, trên nguyên liệu không như nhau nên có chênh lệch và đôi khi mâu thuẫn. Tuy nhiên từ nhiều kết quả có điểm khẳng định được là nấm rơm trồng trên bông phế thải cho năng suất cao nhất. Vì bông chứa nhiều cellulose nên người ta cho rằng nguồn dinh dưỡng carbon chủ yếu của nấm rơm là cellulose và hemicellulose. Thí nghiệm đánh giá rơm rạ trước và sau khi trồng nấm rơm cho thấy trong 15% trọng lượng khô mất đi sau khi trồng thì 8% là cellulose, 4% là hemicellulose. Như vậy 55% cellulose và 27% hemicellulose được sử dụng trong tổng số chất khô bị mất khi trồng nấm rơm.

    Các nghiên cứu về tỉ lệ C/N thì không thống nhất và đôi khi khác nhau rất xa. Có ý kiến cho rằng tỉ lệ C/N ở khoảng 50 là tốt hơn cả, người khác cho là 80.

    Để tăng thêm N cho nguyên liệu trồng người ta có thể bổ sung thêm đạm vô cơ và hữu cơ. Kết quả cho thấy đạm hữu cơ có tác dụng tốt hơn đối với nấm rơm. Các chất bổ sung thường được dùng là cám phân gà, bột đậu, bùn cống và các phế liệu nông nghiệp khác. các chất này làm tăng thêm đạm, vitamin hoặc chất khoáng cho nguyên liệu. Phân gà và bùn cống đều giàu đạm, ngoài ra bùn cống còn giàu phostpho.

    Thử nghiệm các chất kích thích tăng trưởng như acid gibberellic, Kinetin, acid 2,4 dichlorophenolacetic, acid indoleacetic với nồng độ 0,001% cho thấy chỉ có acid gibberellic tác dụng tốt, còn các chất khác kìm hãm. Gibberellic do bộ môn Vi sinh sản xuất cũng có tác dụng kích thích ở nồng độ thích hợp.

    2. Các yếu tố môi trường

    Bảng 1. Anh hưởng các yếu tố môi trường đối với nấm rơm (theo Delmas)

    Đặc biệt phức tạp hơn cả là mối quan hệ giữa hệ sợi tơ nấm rơm với nhiệt độ, pH và các vi sinh vật khác trong đống nguyên liệu trồng nấm. thí nghiệm cho thấy nếu xếp rơm rạ đã ngâm nước thành đống 1m x 1m x 0,5m thì nhiệt độ ở giữa đống sẽ đạt 44oC vào ngày thứ tư rồi hạ xuống còn 33oC cho đến ngày thứ 15. Nếu đống rơm rạ lớn hơn, nhiệt độ có thể lên đến 80oC. Cũng vào ngày thứ 4 pH có thể tăng thêm một ít (pH=8) rồi hạ xuống 7. Trong nguyên liệu trồng nấm có các vi sinh vật như vi khuẩn, nấm mốc và các nấm khác. Người ta chia chúng thành 3 nhóm theo tiến trình thay đổi nhiệt độ của compost. Nhóm thứ nhất gồm các mốc Aspergillus và Mucor được gọi là các vi nấm ăn đường , chúng sử dụng các đường tự do và xuất hiện sớm nhất. Nhóm thứ 2 xuất hiện tiếp theo gồm các nấm chịu nhiệt như Aspergillus fumigatus.

    Chaetomium thermophile và Humicola. Nhóm thứ 3 gồm có nấm gió Coprinus cinereus và nấm rơm.

    Các bào tử nẩy mầm tốt ở nhiệt độ cao và môi trường kiềm. Với pH = 7,5 ở 30oC. sợi tơ của nấm rơm chịu được 45oC trong vòng 24 giờ. Như vậy nhiệt độ cao của đống rơm rạ ủ lúc đầu chỉ kích thích bào tử nẩy mầm chứ không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của hệ sợi tơ nấm. Những nấm tạp có nhiều tác động xấu đến sự tăng trưởng của nấm rơm :

    – Tiết ra các chất cản trở sự tăng trưởng của sợi nấm rơm ở pH thấp. Mốc đen Aspergillus niger tiết chất này ở khoảng pH = 4,5 – 7,5. Aspergillus fumigatus và Coprinus cenereus tiết các chất ở pH = 6 và 4,5.

    – Các nấm tạp tăng trưởng nhanh ở pH thấp (4,5). Aspergillus còn lên men đường tạo acid làm hạ pH.

    Bản thân sự tăng trưởng của hệ sợi tơ nấm rơm giảm cùng với sự giảm pH.

    Các số liệu trên giúp dễ hiểu vì sao trồng nấm rơm cần ngâm vôi, tưới nước vôi để có pH cao.

    Trong đống ủ rơm ra, nấm gió Coprinus có cùng nhu cầu về các yếu tố sinh khối giống nấm rơm. Chúng xuất hiện sớm hơn và điểm khác biệt rõ nhất là nhu cầu đạm (N2) cao hơn nấm rơm.

    Sự dư thừa đạm dù ở dạng nào đều làm nấm gió mọc tốt hơn và giảm năng suất nấm rơm. Kết luận này không mâu thuẫn với thí nghiệm bổ sung phân gà và bùn cống, vì ở đó thêm 5% đá vôi nghiền duy trì pH cao, lại trong điều kiện có hấp khử trùng. Trồng nấm ngoài trời nếu muốn bổ sung dinh dưỡng, chỉ nên thêm vào lúc hệ sợi tơ nấm rơm đã choáng hết rơm rạ đã qua ủ đống.

    Phương pháp trồng Nấm Rơm

    Nấm rơm có thể trồng công nghiệp trong nhà và có năng suất cao nhất, nhưng rất dễ nhiễm. Trồng nấm ngoài trời kỹ thuật đơn giản hơn, nhưng bản thân hệ sợi tơ nấm rơm lại tồn tại và phát triển trong những điều kiện môi sinh phức tạp hơn nhiều. Hệ sợi tơ nấm rơm không những phải chịu ảnh hưởng giao động của thời tiết, mà còn trong mối quan hệ với các vi sinh vật và nấm tạp. Việc phòng ngừa sâu bệnh khó thực hiện hơn.

    Do điều kiện khí hậu, đất đai, nguyên liệu từng nước, từng nơi có khác nhau nên các phương pháp trồng không giống nhau. Vì vậy việc thử nghiệm là tích lũy kinh nghiệm để chọn phương pháp thích hợp cho từng địa phương và từng thời kỳ trong năm là cần thiết.

    Nguyên liệu trồng nấm rơm rất đa dạng. Nguyên liệu thường dùng là rơm rạ lúa không bị nhiễm mặn. Nguyên liệu thật khô để một năm trồng tốt. Rơm rạ lúa nếp tốt hơn rơm rạ lúa mùa. Rơm rạ lúa thần nông cũng dùng trồng nấm được nhưng năng suất kém, phải ngâm lâu hơn để trôi bớt các thuốc trừ sâu và ủ lâu để rơm rạ mềm dễ phân hủy cung cấp dinh dưỡng cho nấm. Có thể trồng nấm rơm bằng nhiều loại chất xơ thực vật khác như cây lục bình khô, lá chuối khô, thân cây đậu, bã củ chuối (dong riềng) sau khi làm miếng,…

    Hiện nay ở TPHCM và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có 2 phương pháp trồng phổ biến :

    – Phương pháp cũ có đốt mô nấm có từ lâu ở Nam bộ nên còn gọi là phương pháp Nam Bộ.

    – Phương pháp mới được du nhập sau này không đốt mà ủ đống rơm rạ trước khi xếp luống.

    1. Phương pháp có đốt luống

    Trước đây, phương pháp này được sử dụng rộng rãi ở các vùng trồng nấm của Nam Bộ. Hiện nay phương pháp này được áp dụng ở Bình Chánh TP HCM, Long An và một số nơi. Điểm độc đáo của phương pháp này so với các nước là có đốt mô nấm.

    Nguyên liệu thường dùng là gốc rạ lúa không bị nhiễm mặn. Nguyên liệu thật khô để một năm trồng tốt. Thường nấm rơm được trồng trên luống có bề ngang 7080cm đắp cao giữa nhô lên để khỏi đọng nước và nện. Cần rắc vôi bột lên luống đất để diệt sâu bọ, côn trùng và mầm bệnh. Nơi đã trồng nấm nhiều lần nên sử dụng thuốc sát trùng mạnh hơn để diệt côn trùng hại và mầm bệnh.

    Rạ thấm nước nhanh hơn rơm, có thể ngâm 2-3 giờ với nước vôi 1% (1kg vôi bột trong 100l nước). Có thể không ngâm, vừa rưới nước vừa đậm cho rạ ngã màu, sau đó mới tưới nước vôi. Rơm cần ngâm lâu hơn 3-4 giờ, có thể 12-18 giờ.

    Có thể sau ngâm chất đống ủ một vài ngày để cho sự thấm nước được đều và độ ẩm giữa các phần được cân bằng tốt hơn, rồi mới đem xếp mô nấm.

    – Tăng nhiệt độ cho mô nấm. khi rơm rạ được thấm nước bà chất đống trong đó xảy ra các quá trình phân hủy làm tăng nhiệt độ. Nhiệt độ cao giúp cho sự phân hủy rơm rạ tốt hơn làm thức ăn cho sợi tơ nấm. nhiệt độ cao hạn chế các vi sinh vật có hại cho nấm, tạo thuận lợi cho các vi sinh vật chịu nhiệt phát triển.

    – Sát trùng bề mặt mô nấm. bề mặt mô nấm ẩm lại tiếp xúc nhiều với không khí nên là môi trường thuận lợi cho nhiều loại vi sinh vật phát triển. Nước bốc hơi làm bề mặt mô nấm không tăng nhiệt độ lên cao. Meo nấm nằm sâu bên trong phải có thời gian mới mọc đến bìa mô. Đốt mô nấm có tác dụng diệt các vi sinh vật ở bìa mô và cả các sâu bọ côn trùng bám phía ngoài.

    -Tăng chất khoáng và pH. Khi rơm rạ được đốt các chất hữu cơ bị cháy thành khí CO2 bay hơi, còn lại tro chứa nhiều chất khoáng. Trong tro có nhiều kali làm tăng pH môi trường.

    Đốt mô có nhược điểm là tốn nhiều rơm để đốt và khi thu hái nấm bị dính tro.

    Phương pháp cải tiến: không làm áo mô chỉ phủ rơm cọng lên khi xuất hiện nấm đầu đinh ghim để giữ ẩm cho quả thể.

    Tiếp theo làm áo mô: Trên bề mặt mô rải rơm vụn, phía ngoài đậy bằng rơm được xếp lại thành tấm. Có nơi vào lúc lạnh đậy nylon sát lên mô, bên ngoài phủ rơm. Có người dùng nylon điều chỉnh nhiệt độ: ban đêm và sáng sớm lạnh phủ nylon, trưa nóng bỏ ra để hạ nhiệt. Bằng cách này có thể giảm tối thiểu giao động nhiệt độ trong mô nấm và giữ ở mức thích hợp nhất.

    Thường đến ngày thứ 4 nhiệt độ trong mô thích hợp cho sự tăng trưởng củ hệ sợi tơ. Giai đoạn nuôi tơ kéo dài 8-9 ngày. Thời gian này càng ít tác động đến mô nấm càng tốt. Cần kiểm tra độ ẩm bằng cách rút cọng ra vắt nếu có nước ứa ra là vừa, không ứa thì khô, nước nhỏ giọt là quá ẩm. Nếu khô tưới ít và đều trên lớp rơm vụn phủ ngoài. Nếu quá ẩm dở áo mô cho nước bốc hơi bớt. Đối với các giống nấm dài ngày, thời gian nuôi tơ có thể lâu hơn.

    Cuối giai đoạn nuôi tơ cần chuẩn bị cho nấm ra quả thể. Hệ sợi tơ nấm đã mọc choáng hết compost nên có thể bổ sung dinh dưỡng. Rút bớt rơm phủ cho thông thoáng hơn và để ánh sáng lọt vào trong mô nấm. tưới nước hạ nhiệt độ và bổ sung Lúc nấm tượng nụ khi tưới, nên tưới trên áo mô, giữ sao không đọng nước và bề mặt ngoài mô không khô. Như các loại nấm khác, giai đoạn nuôi tơ của nấm rơm không cần ánh sáng, nhưng ánh sáng cần cho tượng nụ và ít bị bệnh.

    2. Phương pháp ủ đống

    Phương pháp này đang được sử dụng rộng rãi hơn ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ, có ưu điểm :

    – Sử dụng rơm sau khi tuốt lúa, không tốn công nhổ gốc rạ.

    – Ủ đống tạo điều kiện thích hợp cho sự phát triển tơ nấm.

    3. Phương pháp trồng nấm rơm trong nhà của Việt Nam

    Trồng cách này vẫn làm áo, có thể đốt mô hoặc không, như trồng ngoài trời, khác là mô nấm nấm đặt trong nhà nên khống chế các yếu tố môi trường tốt hơn. Có thể trồng nhiều tầng trên giàn và sử dụng hơi nóng khử trùng nguyên liệu.

    a. Khuôn gỗ: Có thể dùng khuôn to rộng 60cm x dài 100cm x cao 80cm hoặc khuôn nhỏ rộng 40cm, dài 60cm, cao 50cm (hình 3. 19).

    b. Cách gieo meo nấm:

    Khuôn hở mặt trên và đáy. Đáy rộng hơn mặt trên nên các mặt bên có hình thang.

    Khuôn đặt trên nền nhà hoặc kệ trải một lớp trấu dày 3-5cm rồi rắc meo. meo gieo từng cụm cách nhau 15 – 20cm, cách bìa 5cm. Mỗi khuôn xếp 4 lớp trấu, 4 lớp rơm rạ.(hình 13). Khi xếp nguyên liệu vào khuôn nên lấy tay nén chặt để lúc nhất khuôn lên rơm rạ và trấu không bể ra.

    Sau khi nhấc khuô gỗ ra lấy nylon phủ lại giữ nhiệt độ 35oC. trong 7 ngày đầu không cần tưới nước, nhưng cần quan sát tơ nấm. nếu xuất hiện tơ nấm lạ cần rải vôi dập ngay. Ngày thứ 7 rạch nylon ra và tuới cho mỗi mô 2 lít nước. tưới đẫm mặt mô và 4 bên xong đậy lại. Ngày 8-9 cần nhấc tấm nylon cho thoáng để nấm ra nụ.

    Thực tế ở nhiều nước cho thấy trồng nấm rơm trong nhà có hấp khử trùng nguyên liệu đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với trồng ngoài trời. Do đó phương pháp này ngày càng được mở rộng ở nhiều nước. nó cho phép trồng nấm rơm quanh năm với sản lượng ổn định. Tuy nhiên, nó đòi hỏi đầu tư vốn ban đầu nhiều hơn, quy trình kỹ thuật phức tạp hơn và một điều kiện không thể thiếu được là phải có đủ thuốc sát trùng để xử lí nhà trồng sau mỗi đợt nhằm chống nhiễm tạp.

    Sâu bệnh Nấm Rơm – Các Phòng và trị bệnh

    1. Phòng bệnh

    Phòng bệnh nấm là ngâm, nhúng rơm rạ vào nước vôi. Lúc lựa meo cũng là phòng bệnh vì lựa meo bị nhiễm sẽ làm cho cả luống nấm bị nhiễm. Lựa nơi trồng nấm tránh xa cho đỡ dơ bẩn, tránh dùng nguồn nước bẩn là phòng bệnh cho nấm rất hữu hiệu. Nơi trồng nấm ít người lui tới, không cho gà bới, bắt ốc sên, cuốn chiếu, làm đất kỹ trước khi lên luống rắc vôi cho chết trứng sâu bệnh cũng là phòng bệnh cho nấm.

    Lựa rơm rạ không mốc meo, phơi khô mới đem trồng nấm là tránh bệnh cho nấm đúng mức.

    2. Nấm tạp

    Trồng nấm rơm, nếu thấy những chấm trắng sáng ở ngày thứ 9-10, phát triển nhanh trong 1-2 ngày sau và trên chóp có 1 điểm đen hay xám tro đó là nụ nấm rơm. Ngược lại điểm trắng bằng đầu đinh ghim nhưng hơi nhọn ở chóp, mọc trước khoảng ngày thứ 7-8 là nụ nấm gió. Thấy nấm gió cần nhổ bỏ sớm.

    Nếu thấy điểm trắng nhưng tròn, 2-3 ngày sau cũng không mà ngã màu vàng, bóp thấy cứng, đó là nấm trứng cá. Nấm này thường xuất hiện sớm, khoảng ngày thứ 6 rơm rạ.(hình 13). Khi xếp nguyên liệu vào khuôn nên lấy tay nén chặt để lúc nhất khuôn lên rơm rạ và trấu không bể ra.

    Thực tế ở nhiều nước cho thấy trồng nấm rơm trong nhà có hấp khử trùng nguyên liệu đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với trồng ngoài trời. Do đó phương pháp này ngày càng được mở rộng ở nhiều nước. nó cho phép trồng nấm rơm quanh năm với sản lượng ổn định. Tuy nhiên, nó đòi hỏi đầu tư vốn ban đầu nhiều hơn, quy trình kỹ thuật phức tạp hơn và một điều kiện không thể thiếu được là phải có đủ thuốc sát trùng để xử lí nhà trồng sau mỗi đợt nhằm chống nhiễm tạp.

    3. Bệnh hoại khô (Verticillium)

    Hiện nay ở miền Nam, bệnh này lây lan rất mạnh. Thông thường dễ nhận dạng, bệnh nất là nấm đang lớn. Tai nấm bị bệnh không có hình dạng rõ ràng, đặc trưng cho một tai nấm mà sù sì, méo mó, chóp nấm bị nứt nẻ, màu sắc không mượt mà, bàng bạc hoặc lốm đốm, không được người tiêu dùng ưa chuộng. Bệnh này có điểm đặc biệt là tai nấm tuy có hình dạng lạ nhưng không mềm ướt mà vẫn khô. Trừ bệnh này rất khó, tạm thời có thể dùng CaCl2 hoặc formol 1,5-2% để phun sau khi thấy xuất hiện bệnh.

    4. Bệnh vàng mặt (niêm khuẩn Myxomycètes)

    Mặt mô nấm xuất hiện màu trắng hồng, sau chuyển sang vàng tươi, phủ một lớp dày, nhày nhụa trên mặt mô. Bệnh gây bất thụ lớn nếu để lây lan. Khi thấy mô nấm có bệnh, rắc vôi bột lên toàn bộ mô rồi dẹp bỏ luôn mô này để tránh lây sang các mô khác.

    5. Bệnh bông cải

    Nụ nấm mới tượng không lớn lên được mà chỉ chẻ ra nhiều nhánh thoạt trông như dạng sang hô nhỏ. đây là bệnh khó trị tận gốc, dễ làm thất thu. Chỗ trồng đã bị bệnh này cần được đốt rơm rạ kỹ, cuốc luống, rắc vôi lại để sang năm bệnh không tái diễn.

    6. Tuyến trùng

    Tuyến trùng trong vắt khó nhìn thấy bằng mắt thường nhưng có thể nhận biết được là thấy tai nấm bị nhớt, bị nhũn dùng formol 2-5% để phun.

    Nấm rơm còn bị cuốn chiếu bị nhiều côn trùng, nấm khác phá hoại xong những thứ trên là thường gặp, cần hết sức lưu ý. năng suất của nấm rơm thay đổi từ 5-16% trọng lượng nguyên liệu. Sau khi trồng 2 tuần là bắt đầu thu hoạch.

    Tóm lại nấm rơm là loại nấm dễ trồng, trồng nhiều ở nước ta, được thị trường thế giới chấp nhận. cần tổ chức tốt mạng lưới cung cấp meo giống tốt rộng khắp để nhiều người trồng tận dụng nguồn rơm rạ phế thải và hàng xuất khẩu. Tuy nhiên cần ham khảo kỹ thuật các nước để nâng cao năng suất, để sử dụng nhiều hơn nữa nguồn phế liệu nông nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Ủ Rơm Khi Trồng Nấm Rơm Và Cách Xử Lý
  • Cách Trồng Nấm Rơm, Kỹ Thuật Chăm Sóc Nấm Rơm Đạt Hiệu Quả Cao
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Măng Tây Xanh Đúng Kỹ Thuật
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Măng Tây Xanh
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Dưa Chuột (Dưa Leo) Đạt Năng Suất Cao
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Măng Cụt

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Măng Cụt
  • Có Nên Trồng Cây Nha Đam Ở Trong Nhà Không?
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Nho Pháp
  • Hướng Dẫn Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Phật Thủ
  • Tìm Hiểu Loài Hoa Đỗ Quyên Và Cách Trồng, Chăm Sóc Cây
  • HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY MĂNG CỤT

    26/05/2020

    HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY MĂNG CỤT I/-GIỚI THIỆU

    Là cây ăn quả nhiệt đới, trên thế giới được trồng nhiều ở Thái lan, Mã lai, Philipin, Indonesia. Ở Việt Nam được trồng nhiều ở các tỉnh đông nam bộ như Đồng nai, Bà rịa, Bến Tre, Tiền giang …ở khu vực miền trung có Quảng Nam, Huế…;

    Măng cụt được nhiều người ưa chuộng và được mệnh danh là nữ hoàng của cây ăn trái nhiệt đới bởi lẽ dáng trái đẹp và chứa nhiều chất bổ dưỡng, vitamin, khoáng chất tự nhiên, ăn măng cụt thường xuyên tốt cho hệ tim mạch, chống lão hóa, đẹp da và có khả năng chữa nhiều bệnh về tim mạch và bồi bổ sức khỏe.

    Hiện nay, măng cụt ở Việt Nam chỉ cho trái khi cây trồng từ 8 -10 tuổi hay lâu hơn nữa tuỳ vào phương thức chăm sóc.

    II/- KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC 1./ Nơi trồng:

    – Cây măng cụt có thể sinh trưởng ở nhiều loại đất khác nhau nhưng tốt nhất là ở thịt nhẹ, đất pheralit giàu hữu cơ, tầng canh tác dầy, thoát nước tốt và gần nguồn nước tưới.

    – Măng cụt là loại cây đòi hỏi khí hậu nhiệt đới với nhiệt độ và ẩm độ cao, lượng mưa dồi dào.

    – Ở Tiên Phước măng cụt phát triển tốt và cho hiệu quả kinh tế cao ở các xã Tiên Mỹ, Tiên Châu, Tiên Cảnh, Tiên Sơn và một số xã khác…

    2./ Giống:

    Cây măng cụt là loại cây có hạt, nhưng hạt bất thụ, mầm phát triển từ phôi cái không qua thụ phấn, nên cây trồng từ hạt cũng có đặc tính giống như cây mẹ, không bị lai tạp. Hiện nay cây măng cụt chỉ có 1 giống, do đó nhà vườn yên tâm sản xuất.

    3./ Nhân giống:

    Cần làm nhà lưới hoặc làm dàn để che nắng cho cây măng cụt vì cây rất kém chịu ánh nắng trực tiếp, gây cháy lá. Có rào kín giữ côn trùng và các loại sinh vật gây hại.

    Khi cây con đạt 4 – 5 tháng tuổi mới chuyển sang bầu, đến khi cây con được 1 tuổi lại chuyển sang bầu to hơn, lúc này bầu phải có kích thước 25cm x 30cm để rễ măng cụt phát triển thuận lợi trong năm thứ 2.

    Cả 2 giai đoạn này cần chọn vật liệu thoát nước tốt, giàu dinh dưỡng làm bầu cho cây, có thể dùng hỗn hợp như xơ dừa + phân HCVS + đất = 3:1:1, tưới nước điều đặn và che mát cho cây. Đặc điểm cây măng cụt mới nãy mầm bộ rễ phát triển rất chậm, do đó chưa hút được nhiều dinh dưỡng, rất chậm phát triển nên cần phải bổ sung dinh dưỡng qua lá bằng các loại phân bón lá cao cấp hoặc tưới dung dịch hữu cơ để cung cấp dinh dưỡng cho cây kịp thời.

    Cần tưới nhẹ phân 2 tháng/lần, chọn phân có tỷ lệ N:P:K theo công thức 15:15:15, hoặc có thể chọn phân NPK sao Việt 16:19:12+6S+TE kết hợp thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh nấm giúp cây phát triển tốt.

    + Ghép cây: cây măng cụt có thể ghép được bằng phương pháp ghép nêm, tuy nhiên qua thực tiển cây măng cụt ghép sinh trưởng phát triển kém hơn so với cây trồng bằng hạt, quả nhỏ hơn, do vậy hiện nay vẫn sử dụng cây trồng bằng hạt là tốt nhất.

    4./ Thiết kế vườn trồng, cải tạo đất, chuẩn bị hố trồng:

    – Trước khi trồng các loại cây ăn quả nói chung và cây măng cụt nói riêng nhất thiết cần có thiết kế cụ thể cho từng lô, từng khoảnh. Thực hiện cải tạo đất bằng thủ công hoặc cơ giới tạo thành thửa bậc thang, chất bờ đá, bậc đá để chống xói mòn, đồng thời thiết kế hệ thống tưới nước và thoát nước một cách bài bản, khoa học.

    – Do cây măng cụt có tầng táng lớn, tuổi thọ cao nên để tận dụng đất đai, không gian, ánh sáng, công lao động và lấy ngắn nuôi dài, hiện nay trên địa bàn huyện Tiên Phước chúng tôi khuyến cáo bà con nông dân nên thiết kế cây trồng xen với cây măng cụt giữa khoảng cách 2 cây măng cụt với một loại cây khác có tần tán thấp, tuổi thọ ngắn hơn cây măng cụt để khai thác trước và thanh lý nhanh cây trồng xen và về sau để lại cây măng cụt phát triển lâu dài về sau. Có thể chọn một số cây trồng xen như cây chuối, cam, chanh, các loại cây dược liệu như sả, đinh lăng, ba kích…

    – Do cây măng cụt có tầng lá dày, nên bộ rễ phát triển rất mạnh và ăn sâu, rộng. Cây còn có khả năng chịu hạn, chịu gió bão. Để tạo điều kiện cho cây phát huy được đặc tính đó, ngay từ đầu chúng ta phải đào hố, cải tạo đất thật kỹ. Hố được đào với kích thước 60 x 60 x 60cm, bón lót 10-15 kg phân chuồng hoai mục hoặc 5-10 kg phân HCVS kết hợp với 50-100g phân NPK K/gốc.

    5./ Khoảng cách trồng:

    Cây măng cụt có tuổi thọ rất cao trung bình trên 100 năm, có cây 300 năm (malaisia), cây có tầng tán rộng trên 3-4m; do vậy khi trồng cần bố trí mật độ thưa để cây đến tuổi trưởng thành không bị giao tán, cây vẫn phát triển tốt và cho năng suất cao. Vì vậy nên trồng măng cụt với khoảng cách 8-10 m/cây (100-160 cây/ha) theo kiểu hình vuông hoặc nanh sấu.

    6./ Kỹ thuật trồng cây:

    Tiêu chuẩn cây giống: theo tiêu chuẩn ngành 10 TCN 475:2001 của Bộ Nông nghiệp&PTNT (ban hành theo Quyết định số 106/2001/QĐ-BNN của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngày 12 tháng 11 năm 2001)

    Khi cây con đạt tiêu chuẩn mới đưa ra ruộng sản suất (cây 2 năm tuổi và có khoản 12- 13 cặp lá).

    Đặt cây vào hố và lấp đất ngang mặt bầu, cắm cọc, giúp cây khỏi đổ ngã và che bóng cho cây.

    7./ Che bóng:

    Măng cụt là cây ưa bóng, đặc biệt trong giai đoạn từ 1-4 năm đầu.

    Việc che bóng cho cây là điều cần thiết (giảm bớt 50- 60% ánh sáng) trong giai đoạn cây con phải dùng mái che, khi trồng nên che mát cho cây bằng vật liệu hay trồng chuối xung quanh đến cuối năm thứ 4, trồng chuối cách gốc măng cụt ít nhất 1m.

    8./ Tưới nước:

    Măng cụt là cây có nhu cầu nước rất lớn, tuy nhiên cần điều khiển nước một cách hợp lý theo từng gia đoạn. Thời kỳ cây con chưa cho quả (KTCB) cây cần nước liên tục quanh năm đủ ẩm để sinh trưởng tốt, ra lá nhiều đợt thì sẻ nhanh lớn và nhanh cho quả.

    Thời kì kinh doanh cần phải điều khiển đúng thời điểm, để cây ra hoa nhiều và đồng loạt thì trước thời vụ chính ra hoa cây cần có một thời kỳ khô hạn để phân hóa mầm hoa. Ở Tiên Phước, Quảng Nam thường rơi vào tháng 6-7 dương lịch và cũng thường đúng vào tháng khô hạn nhất trong năm nên rất thuận lợi cho cây măng cụt phân hóa mầm hoa và sang tháng 8, đầu tháng 9 khi thời tiết có mưa đầu mù thì cây măng cụt sẻ ra hoa, nếu ít mưa thì phải tưới nước bổ sung 2-3 ngày/lần để duy trì độ ẩm cho cây ra hoa và đậu quả. Tuy nhiên nếu mưa nhiều, hoặc tưới quá nhiều nước thì sẻ gây rụng quả, còn nếu thiếu nước ở giai đoạn này thì trái nhỏ và giảm phẩm chất.

    9./ Tỉa cành tạo tán:

    Mục đích tỉa cành, là tạo sự thông thoáng cho cây để ánh sáng đến được tất cả các lá giúp quang hợp tốt, cắt bỏ những cành sống nhờ là những cành phía bên trong tán, hạn chế sự phát triển của rong rêu làm hại cây.

    Khi cây còn nhỏ cần tỉa bỏ cành dày đặc, cành vượt, cành đan chéo nhau… để tạo cho cây có tán cân đối sau này.

    Khi cây cho trái vào mỗi cuối vụ trái cần tỉa bỏ các cành bị sâu bệnh, cành già không còn khả năng cho trái, cành vô hiệu bên trong tán cây.

    Đặc biệt phải tỉa ngắn lại những cành ở mặt ngoài tán, nhằm không cho tán cây giao nhau đồng thời kích thích cây ra đọt nhanh và nhiều hơn, công tác tỉa cành phải tiến hành sau khi thu hoạch quả và trước đợt bón phân lần 1.

    Dụng cụ tỉa ở giai đoan này là loại kéo lớn.

    Ở cây có cành phát triển tốt hoặc cành chạm đất, cần thiết phải dùng dây kéo cành lên trên, nhánh măng cụt dòn nên dùng dây nilon chắt kéo cành vào thân chính để tránh gãy nhánh.

    10./ Bón phân:

    * Giai đoạn cây con (thời kỳ KTCB): Mỗi năm nên bón 5-10 kg phân chuồng hoai, hoặc phân hữu cơ vi sinh HCVS cho mỗi cây và phân vô cơ NPK Sao Việt 18:8:10+6S+TE hỗ hợp với NPK Sao Việt 16:19:12+6S+TE và ở giai đoạn cây chưa cho trái như sau:

    * Giai đoạn cây cho trái (thời kỳ kinh doanh): phân bón được áp dụng làm 3 lần như sau:

    – Lần 1: Ngay sau khi thu hoạch xong, cần tỉa cành tạo tán và bón 1,5 – 3,0 kg phân NPK Sao Việt 18:8:10+6S+TE kết hợp với 10-20 kg phân chuồng hoai, hoặc phân HCVS/cây bổ sung dinh dưỡng cho cây tái tạo vật chất cho năm sau.

    – Lần 2: Khoảng tháng 4-5 khi thời tiết có mưa dông, bón 1,0 – 2,0 phân NPK Sao Việt 18:8:10+6S+TE kết hợp với 10-20 kg phân chuồng hoai, hoặc phân HCVS/cây để cây tập trung ra lá non.

    – Lần 3: Trước khi ra hoa 20 ngày bón 2,0-4,0 kg phân NPK Sao Việt 16:19:12+6S+TE và các loại phân vi lượng, kích thích ra hoa để tạo điều kiện cây ra hoa, thụ phấn, thụ tinh tăng đậu quả và hạn chế rụng quả do thiếu hụt dinh dưỡng và gặp thời tiết mưa lớn, bất lợi cho cây, khi cây đậu quả non tưới hoặc phun sản phẩm Canxi-bo để hạn chế rụng quả và bổ sung thêm Sunphatkali để tăng phẩm chất, mẫu mã quả.

    Urê(46%N): 1,7 kg + Super lân(16,5% P2O5): 14,5 kg + Kali (50 %K2O): 4,8 kg

    Đối với cây có đường kính tán 7-8 m đang phát triển bình thường thì có thể bón 3-4kg hỗn hợp đã phối trộn hư trên cho 1 cây.

    Trong giai đoạn này tránh bón nhiều phân đạm vì sẽ kích thích ra lá mới làm chậm quá trình ra hoa và gây rụng trái.

    Sâu non mới nở ăn biểu bì lá, tấn công mặt dưới lá tạo thành những đường ngoằn ngoèo và có thể gây cháy từng mãng trên lá ảnhhưởng sức khoẻ của cây.

    Có thể cắt tỉa đầu cành, để cây ra đọt non đồng lọat, khi đọt non dài khỏang 2-3 Cm

    Phòng trị bằng cách phun các loại thuốc sau: Con fidor, Sherzol, Dầu khóang SK Enspray, vào thời điểm sâu non theo liều lượng khuyến cáo trên bao bì.

    3.2/ Bọ trĩ (Thrips spp):

    Thời kỳ trái non bù lạch làm chảy nhựa trên vỏ trái.

    Trị bằng Sumialpha, sumicidin Sherpa, theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì.

    Có thể dùng dầu khóang SK 99 theo liều lượng khuyến cáo (hỗn hợp Dầu khóang 0,25 % + thuốc trừ sâu) được sử dụng hiệu quả đối với Thrips.

    3.3/ Ruồi đục trái:

    Khi trái sắp chín ruồi đục trái làm rí nhựa trên vỏ trái phòng trị bằng cách dùng bẫy ruồi đục trái cây với hợp chất dẫn dụ và duyệt ruồi Vizubond… mật độ bẫy 3-5 bẫy/1000m2.

    3.4/ Nhện đỏ:

    Thành trùng rất nhỏ, màu vàng lợt hay nâu, có 8 chân.

    Nhện ăn phá vỏ trái gây sần sùi như da cám.

    Làm giảm chất lượng và giá trị thương phẩm của trái Phòng trị bằng cách phun nước có công suất mạnh trên cây, trái để nhện bị cuốn trôi hoặc phun các loại thuốc trừ nhện như Saipromite, Danitol, Dầu SK Enspray 99, vào giai đoạn cây mang trái non.

    2/ Bệnh hại: 2.1/Bệnh thán thư (do nấm Collectotrichum):

    Bệnh có thể phát sinh trên lá, cành và trái. Trên lá, bệnh tạo thành các đóm cháy màu nâu, nhiều đóm có thể liên kết với nhau làm khô cả một mảng lá. Trên trái bệnh tạo thành những đóm màu nâu đen, có thể làm trái thối khô và rụng.

    Nấm gây bệnh tồn tại trên các lá và trái bị bệnh, phát tán lây lan do gió và nước.

    Bệnh phát triển mạnh khi trời mưa nhiều, thời tiết ẩm thấp, ẩm độ cao.

    Phòng trị bằng các biện pháp tỉa cành tạo tán, để cây thông thóang, nhiều ánh sáng và khô ráo.

    Khi phát hiện mới có bệnh, dùng các lọai thuốc như Carbenzim, Antra Col, Dinthane M45, Mexyl chúng tôi liều lượng hướng dẫn, phun ướt đều lên tán lá, trên trái lúc còn non.

    2.2/ Bệnh chết nhánh (do nấm Pestaliotopsi sp):

    Triệu chứng là nấm tấn công gây cháy lá và làm chết từng nhánh nhỏ trên cây, bệnh có thể lây lan rất nhanh trong điều kiện ẩm độ cao, lúc mưa nhiều.

    Phòng trị bệnh chết nhánh bằng cách tỉa bỏ các cành nhánh trong tán cây, giúp cho cây thông thóang, kết hợp phun xịt các lọai thuốc sau: Carben zim, Bendazol, Benomyl, theo liều hướng dẫn trên bao bì.

    2.3/ Bệnh chảy mủ vàng trên trái:

    Do chưa xác định chính xác được nguyên nhân gây bệnh chảy mủ vàng trên trái măng cụt.

    Vì vậy, hiện nay chưa thể đề ra biện pháp phòng trừ nào thích hợp bằng thuốc trừ sâu, trừ bệnh, mà trước mắt chỉ có thể khuyến cáo bà con cần phải giữ đảm bào thóat nước tốt trong mùa mưa và có thể xử lý cho cây ra hoa sớm, để cho thu họach trái, trước khi mùa mưa đến.

    IV/ THU HOẠCH- BẢO QUẢN

    – Hái lúc trái có màu hồng chuyển sang tím, khi hái phải thật cẩn thận và giảm đến mức thấp nhất sự xây xát và va chạm mạnh trên trái, nên dùng vợt để hái trái tránh rơi xuống đất làm dập nát và nhiễm bẩn.

    – Bảo quản nơi thoáng mát, tránh nhiệt độ cao.

    KS NN Tống Phước Thuần

    CV Phòng Nông nghiệp&PTNT

    Email: [email protected]

    ĐT 0981154440

    Tài liệu tham khảo :

    • Kỹ thuật trồng, thâm canh cây măng cụt – Ths Trần Văn Phúc
    • Kỹ thuật trồng măng cụt – Trần Văn Minh – Nguyễn Lân Hùng
    • Chọn và nhân giống cây măng cụt : TS Trần Vĩnh
    • Một số tài liệu khác và ứng dụng từ thực tế địa phương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Mai Vàng Yên Tử
  • Bán Cây Hoa Trà Hồng Hay Trà Cung Đình Hoa Đẹp Sai Hoa Và Chơi Rất Bền
  • Bán Cây Trà Cung Đình Cảnh Khỏe Và Đẹp
  • Bán Cây Hoa Trà Cung Đình Thơm Nhẹ Lại Sai Hoa
  • Cách Chăm Sóc Cây Đinh Lăng Trồng Xen Trong Vườn Hồ Tiêu (P1)
  • Chuẩn Bị Giá Thể, Công Thức Làm Giá Thể Nuôi Trồng Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chăm Sóc Hoa Lan Trong Mùa Mưa
  • Kỹ Thuật Chăm Sóc Lan Trong Mùa Mưa
  • Hướng Dẫn Cách Trồng Và Chăm Sóc Thủy Tiên Mỡ Gà
  • Vườn Lan Ngọc Điểm Đài Loan Rất Đẹp
  • Lan Bạch Hạc Là Lan Gì? Cách Trồng Và Chăm Sóc Lan Nở Hoa Cực Đẹp
  • Giá thể là môi trường sống của lan, tùy thuộc vào từng loại lan, điều kiện trồng trọt để chọn giá thể phù hợp. Trong trồng lan công nghiệp hay qui mô hộ gia đình có thể sử dụng các loại giá thể sau:

    Chuẩn bị giá thể, công thức làm giá thể nuôi trồng lan

    1.1. Xơ dừa

    Xơ dừa là nguyên liệu rất cần trong thành phần giá thể nuôi trồng lan, xơ dừa có nhược điểm là dễ mọc rêu, không thoáng, dễ mục, mặt trên mau khô và nhẹ nên cây trong chậu hay bị đổ. Do vậy khi dùng xơ dừa trồng trong chậu phải chú ý chế độ tưới không để bị ngậm nước gây thối rễ. Nên dùng để lót đáy chậu hay rổ treo hoặc trồng những loại lan cần ráo nước. Cần chú ý các loại xơ dừa đều có nhiều muối ở trong, nên cần phải ngâm nước vài ngày, xả cho sạch rồi mới trồng được. Theo kinh nghiệm các giống lan Laelia không ưa trồng bằng xơ dừa.

    1.2. Vỏ cây

    Vỏ cây cũng là loại nguyên liệu quan trọng trong giá thể trồng lan, có rất nhiều vỏ cây có thể làm giá thể trồng lan nhưng nên chọn loại cây nào lâu mục để không làm chậu lan bí, đọng nước gây thối rễ, đồng thời vỏ cây cũng là môi trường thích hợp cho một số loại sâu hại rễ lan sinh sống, do vậy trồng lan bằng vỏ cây cần phải quan sát tình trạng của vỏ cây để thay chậu. Trong các loại vỏ cây thì vỏ thông là loại vỏ cây thích hợp nhất cho trồng lan vì trong vỏ thông có chất resin có tính sát khuẩn cao, lâu mục, không đóng rêu và ít các mầm bệnh gây hại.

    1.3. Dớn

    Dớn là gì? Đây là sợi của thân và rễ cây dương xỉ, dớn không bao giờ bị rêu đóng và hút ẩm rất tốt, tuy nhiên nếu chỉ trống riêng dớn thì chậu lan cũng không có độ thoáng. Không nên lấy dớn quá vụn vì dễ bị mục nát, gây bí, không thoát nước ở chậu lan.

    1.4. Rêu

    Loại rêu bản xứ hoặc Canada mầu nâu đen hoặc nâu xanh không nên dùng vì phẩm chất xấu và trong rêu có nhiều chất làm cho cây lan yếu đi. Chỉ nên dùng loại rêu nhập cảng từ New Zealand hoặc Brasil mầu vàng rơm để trồng lan vì trong rêu có tác dụng trừ nấm mốc. Khi trồng, không nên nén quá chặt mới chứa được nhiều nước. rất tốt để trồng lan trên cành cây và chậu gỗ nhưng quá đắt tiền, chóng hư mục và giữ muối cho nên cứ vài tháng phải xả nước cho nhiều hay ngâm trong nước.

    1.5. Than củi

    Than trồng lan không phải là thứ than đốt lò đã làm sẵn từng viên, than phải đốt từ củi. Than có ưu điểm lâu bền từ 5-6 năm mới phải thay chậu và chỉ dùng một cỡ cho đủ thứ cây lớn nhỏ. Một số loại côn trùng trong đó sên không vỏ (Slug) không ưa sống trong than, do vậy giá thể có than đã hạn chế sự phá hại rễ của một số loại côn trùng. Nhược điểm than giữ chất muối và phân bón cho nên thỉnh thoảng (1-2 tháng) phải xả thật nhiều nước cho giá thể không bị mặn.

    1.6. Đá núi lửa

    Đá núi lửa có ưu điểm dễ ngấm nước, không bị mục, thoáng hơi và không quá nặng. Rất tốt để lót đáy chậu. Nhược điểm là giữ chất muối cho nên cứ 2 tháng phải xả nước cho sạch. Sên không vỏ ưa trú ngụ trong kẽ đá núi lửa này.

    1.7. Đá bọt

    Đá bọt rất nhẹ và thấm nước, dùng để trộn với vỏ thông hoặc rễ cây để cho thoáng khí rất thích hợp cho các loại lan có rễ nhỏ.

    2. Một vài công thức phối chế giá thể trồng lan

    Người ta trồng lan với khá nhiều công thức khác nhau, sau đây là một vài công thức khá thông dụng cho một số nhóm lan chính hiện trồng phổ biến:

    2.1. Giá thể trồng Địa lan (Cymbidium)

    Vỏ thông nhỏ: 5 phần

    Vỏ thông nhỏ – 5 phần

    Vỏ thông vừa – 2 phần

    Vỏ dừa nhỏ hoặc lớn – 2 phần

    Cát số to – 1 phần

    Gỗ thông đỏ – 1/2 phần.

    2.2. Giá thể trồng Lan Cattleya, Lealia, Phalaenopsis

    Vỏ thông cỡ vừa – 6 phần

    Vỏ dừa lớn – 2 phần

    Đá xanh hay đá xốp 2 phần

    Đá bọt – 1 phần

    Gỗ thông đỏ – 1/2 phần

    2.3. Giá thể trồng Lan Dendrobium

    Vỏ thông cỡ vừa – 4 phần

    Vỏ dừa lớn – 2 phần

    Đá xanh hay đá xốp 4 phần

    Gỗ thông đỏ – 1/2 phần

    2.4. Giá thể trồng Lan Hài, lan Vũ nữ

    Vỏ thông cỡ nhỏ 4 phần

    Vỏ dừa cỡ nhỏ – 2 phần

    Than nhỏ – 1 phần

    Đá bọt – 1 phần

    Gỗ thông đỏ – 1/2 phần

    Nguồn: Giáo trình Hoa Lan – Đại học Thái Nguyên (Trường Đại học Nông Lâm)

    Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa lan

    Nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, độ thông thoáng… đều ảnh hưởng rất nhiều đến sự sinh trưởng, phát triển và ra hoa của cây hoa lan. Muốn cho cây lan sinh trưởng tốt ra hoa đẹp chúng ta cần nắm rõ đặc điểm của loại hoa lan đang trồng…

    Dinh dưỡng cây trồng đối với hoa lan

    Dinh dưỡng cây trồng đối với lan hết sức quan trọng, tuy không đòi hỏi số lượng lớn nhưng phải đầy đủ các thành phần dinh dưỡng và tùy thuộc vào từng thời kỳ sinh trưởng của cây lan mà nhu cầu đối với thành phần dinh dưỡng có khác nhau…

    Kỹ thuật nhân giống hoa lan (phong lan, địa lan)

    Trong thực tế hoa lan ít khi nhân giống hữu tính, bởi vì hạt của lan rất nhỏ, kỹ thuật gieo ươm phức tạp, tỷ lệ nẩy mầm thấp và tính phân ly lớn khi trồng bằng hạt, khó duy trì được đặc tính tốt của cây mẹ…

    Bán Cytokinin Kinetin 99% (Nuôi cấy mô, đánh thức mắt ngủ hoa lan, hoa hồng…)

    Kinetin thường được sử dụng trong nuôi cấy mô thực vật để kích thích sự hình thành callus (mô sẹo) (kết hợp với auxin) và tái tạo các mô chồi, ứng dụng trong việc đánh thức chồi ngủ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Trồng Lan Bằng Than Củi
  • Nhận Biết Hoa Lan Rừng: Giả Hạc Hay Trầm Rừng
  • Ý Nghĩa Hoa Lan Hồ Điệp Trong Phong Thủy
  • Ý Nghĩa Của Hoa Lan Rừng
  • Hoa Lan Vanda Nhiều Màu, Mua Bán Vanda Tại Hà Nội
  • Tất Tần Tật Về Cách Chăm Sóc Lan Hồ Điệp Từ A Đến Z

    --- Bài mới hơn ---

  • Bán Cây Hoa Bách Thủy Tiên Trồng Ngoại Thất
  • Làm Thế Nào Có Thể Nhận Biết Được Phong Lan U Lồi
  • Cửu Bảo Tiên, Cửu Bảo Tiên Nuôi Thuần, Cây Khỏe Phát Triển Tốt
  • Hướng Dẫn Cách Chăm Sóc Hoa Phong Lan Giả Hạc
  • Hướng Dẫn Chăm Sóc Phong Lan Giả Hạc Pháp
  • Lan hồ điệp là biểu tượng của vẻ đẹp quý phái, cao cấp và lộng lẫy trong các không gian trang trí, hoa lan hồ điệp có thể kéo dãn thời gian ra hoa từ 3 đến 4 tháng, thậm chí 6 tháng nếu người chơi lan biết cách trồng và chăm sóc cẩn thận. Sau khoảng thời gian hoa tàn có thể chăm chút để cho ra hoa đợt sau. Bài viết hôm nay sẽ hướng dẫn cho bạn cách chăm sóc lan hồ điệp một chi tiết và tỉ mỉ nhất từ các người chơi lan chuyên nghiệp.

    Bí quyết chăm sóc lan hồ điệp mới vào chậu

    Lan Hồ Điệp là loại cây ưa sang và rất cần ánh sáng để có thể phát triển tốt. Lúc vừa mua lan về nhà ta nên để lan hồ điệp ở chỗ có ánh sáng vừa phải như: vị trí ngay gần cửa sổ, phòng khách với các loại đèn chiếu sáng …

    Nguồn ánh sáng lý tưởng nhất để lan Hồ Điệp lớn mạnh chính là ánh mặt trời vào lúc sáng sớm và chiều tối. Lan Hồ Điệp phát triển tốt nhất ở nơi có độ ẩm từ 50-80%.

    Chú ý: Tuyệt đối không được để chậu lan hồ điệp trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời, vì cây có khả năng sẽ bị vàng lá, cháy thân lá và hoa nhanh tàn.

    Đối với các loại chậu dung để trồng Lan cần chọn chậu có độ nông để cho rễ phát triển ích lợi và cho cây dễ dàng quang hợp. Cây con ta bắt buộc dùng chậu 5cm, sau 4 – 6 tháng cây lớn thì chuyển hẳn qua chậu 8, 3cm, sau 9 – 12 tháng đổi sang chậu 12cm.

    Giá thể trồng là một yếu tố rất trọng yếu quyết định việc sống sót và tăng trưởng của cây. Nên chọn các loại giá thể có độ tơi xốp, thoáng khí có khả năng giữ nước cũng như thoát nước tốt như: rễ quyết, dớn trắng, cốt gừa, than bùn, vụn sứ, đá chân chu,… Đối với mỗi loại giá thể khác nhau cần có giải pháp chăm sóc khác nhau đặc biệt là việc tưới nước.

    Để nhân giống cây con bạn có thể tách mầm cây từ các chậu lan to đã trồng lâu ngày, mỗi chậu trồng từ 2-3 nhánh. Trước khi cắt cần dùng cồn để khử trùng dao, vết cắt cần gọn, sau khi cắt xong bạn cần bôi một ít vôi vào vết cắt để vết cắt mau liền lại.

    Trước khi lấy cây ra khỏi bình buộc phải đặt bình nuôi vào nhà ấm 3 -4 ngày để luyện cây, sau đó lấy cây con ra, dùng nước không bẩn rửa hết aga & chất nuôi, cần cực kỳ cẩn thận để tránh gây thương tổn rễ. Sau đó bạn hãy dùng dung dịch Bicromat Kali 0, 05% hoặc các loại nước khử trùng để ngâm 5 phút diệt trùng. Sau khi khử trùng lấy cây ra và chia thành từng cái: hai lá cách nhau hơn 5cm là đặc cấp, từ 3 – 5cm là cấp một, 2 -3 cm là cấp hai.

    Cây Lan hồ điêp con sau khi đã được hong khô rồi sử dụng giá thể bọc rễ lại chỉ để hở gốc và lá. Bình thường đối với cây con đặc cấp, bạn nên trồng thẳng vào chậu 7cm, cây cấp một trồng vào chậu 5cm. Đối với cây cấp hai bạn có thể trồng vào khay 128 lỗ hoặc khay ươm cây non đều được.

    Trong khoảng thời gian này cần đảm bảo tưới vừa đủ lượng nước cho cây vì lúc này sức chịu hạn của cây con vẫn còn rất yếu. Nhiệt độ ở thời kỳ này cần được cố định không được thấp hơn 20 oC, tốt nhất là duy trì ở khoảng 23 o C, đồng thời cần đảm bảo độ thông gió tốt cho cây. Sau khi trồng Lan hồ điệp 1 tháng chớ nên vội bón phân do rễ chưa vươn dài nhiều, rất cần phải xem xét cụ thể tình hình sinh trưởng, cách 7 – 10 ngày bón 1 đợt phân loãng mật độ N: P: K = 30: 10: 10 nồng độ 30 – 40 mg/lít và thêm vào một trong những lượng KH2PO­4 và nhân tố vi lượng để kích thích rễ phát triển & tăng sức chống bệnh cho cây.

    Cây con sau khoảng thời gian 4 – 6 tháng trồng trong chậu 5cm lúc này khoảng cách giữa 2 lá khoảng 12 cm, thì nên tiến hành thay chậu lần thứ nhất. Lấy cây con ra, sử dụng giá thể thích hợp để bao bọc rễ, rồi cho cây vào chậu nhựa 8, 3cm trong suốt để đảm bảo độ thoát nước tốt cho cây. Sau khi thay chậu cho cây bạn nên phun dung dịch diệt khuẩn và nhớ kỹ là không được phun nước trong vòng 3 – 5 ngày nhưng vẫn cần giữ ẩm cho cây. Sau khi thay chậu được từ 3 đến 10 ngày phun bạn có thể hoà phân vào nước để phun cho cây. Lúc này bạn chỉ nên sử dụng các loại phân hữu cơ như Komix, thường dung dịnh ngâm đầy đủ loại xác động thực vật với mức 3 – 5ml/lít.

    Chăm sóc lan hồ điệp chơi Tết

    Có thể nói trong những năm gần đây thì việc chọn lan hồ điệp làm hoa trang trí dịp Tết càng ngày càng phát triển. Tuy nhiên nhiều người mới bắt đầu chơi lan do không biết được đặc tính của cây lan hồ điệp, kỹ thuật trồng, chăm sóc buộc phải có năm lan hồ điệp nở sớm, sở hữu năm nở muộn ko đúng vào dịp Tết hoặc không thể làm cho lan hồ điệp ra hoa.

    Để mỗi năm lan hồ điệp đều ra hoa vào đúng vào dịp Tết Nguyên Đán, người trồng lan hồ điệp cần phải nắm bắt được tính cách khá “đỏng đảnh” của các nàng lan này là chịu ẩm nhưng lại hoàn toàn không ưa ướt. Dưới đây có một số mẹo nhỏ giúp cho bạn trồng lan hồ điệp tốt hơn: Mẹo nuôi lan hồ điệp và kích thích lan ra hoa vào dịp tết.

    *Thời gian để thực hiện việc kích thích

    Lan hồ điệp đề xuất thời gian 2 tháng từ lúc vừa mới nhú ra nhánh hoa đến lúc các bông hoa trên nhánh đều nở. Đồng thời, do lan hồ điệp vốn có ưu điểm là lâu tàn nên ta hoàn toàn có thể thoải mái cho nó ra hoa trước mùng 1 Tết khoảng từ 15 đến 20 ngày để hoa có thể nở hết vào ba ngày Tết.

    Do đó, bài toán chăm sóc, bón phân như thế nào để lan Hồ Điệp ra hoa đúng Tết cần được thực hiện ngay từ 15 đến 20 tháng 9 (Âm Lịch) sao cho lúc này cây phải nhú nụ rồi thì mới có khả năng nở hoa đúng Tết.

    *Cách tuyển chọn lan hồ điệp để kích hoa tết:

    Bạn cần phải chọn những cây lan đã thật sự trưởng thành, là những cây đã ra hết lá non, với ít nhất khoảng từ 3 đến 4 cặp lá.

    *Cách bón phân cho lan hồ điệp ra hoa tết:

    Bạn nên sử dụng các loại phân bón lá có phần trăm NPK 10-30-20 (hàm lượng Photpho, Kali cao), liều lượng cho mỗi lầ bón từ 1/2-1g cho 4lit nước để kích thích cây nhanh ra hoa, tốt nhất là cách 1 tuần nên phun 1 lần. Thực hiện trong suốt từ 3 đến 4 tuần thì bạn chắc chắn sẽ thấy cây bắt đầu cho ra vòi hoa.

    Thời điểm vòi hoa đã đạt đến độ dài từ 2 đến 3 cm, bạn hãy chuyển sang sử dụng phân bón lá NPK 15-20-30 (hàm lượng Kali cao hơn NPK 10-30-20 ). Cứ 6 đến 7 ngày thì hãy phun cho cây 1 lần để kích thích cho vòi hoa vững mạnh và nhanh dài hơn. Đồng thời, với loại phân bón lá này cũng có khả năng giúp cho màu sắc của hoa sau khi nở đc thắm hơn, lâu tàn hơn và tránh được nguy cơ tiềm ẩn thối hoa.

    Chăm sóc đều đặn trong suốt 45 đến 50 ngày như thế, đến khoảng tháng 12 (âm lịch), lúc này là thời điểm cành hoa bắt đầu nở bông thứ 1, và sau 2 tháng thì cây lan vẫn nở hoa rộ.

    Phương pháp chăm sóc lan hồ điệp sau Tết

    Như đã giới thiệu ở phần trên, Lan hồ điệp vốn là loại cây chuyên sống ở vùng khí hậu ôn đới, đồng thời cây chỉ ra vòi hoa khi khí hậu bắt đầu chớm lạnh. Vì vậy việc chăm sóc Lan hồ điệo sau Tết cần đòi hỏi phải có công nghệ và thời gian. Tuy nhiên, nhiều gia đình lại thường quên hoặc chăm chút lan không chu đáo, bởi thế phần lớn lan đều bị chết hoặc không thể phát triển tiếp sau khi chưng tết xong.

    Bởi thế, nếu muốn những cây lan hồ điệp đã chưng qua trong dịp Tết có thể tiếp tục nở hoa vào tết năm sau, người trồng hoa cần có một phương pháp giải quyết và chăm sóc cây lan hồ điệp sau khi tàn hoa.

    Đầu tiên, bạn cần dùng kéo cắt bỏ vòi hoa đã nở hết và có dấu hiệu héo úa . Việc làm này khiến cho cây không bị kiệt lực khi cung cấp dưỡng chất để nuôi hoa. Đồng thời cũng giảm thiểu việc để cây trong khu vực thiếu ánh sáng quá lâu.

    Khi cắt bỏ vòi hoa không nên cắt sát gần cuống của vòi hoa, vì như vậy sẽ dễ làm dập gãy lá lan và dễ bị thối lây vào thân cây. Chỗ vòi hoa còn lại vẫn có khả năng mọc ra cây con, bạn có thể dùng bông y tế chấm một ít thuốc atonic đặt vào khoảng 1 tuần rồi mở ra, sau khoảng thời gian ngắn từ 1 đến 2 tháng có khả năng mọc ra cây con.

    Đối với các chậu mà lá bị vàng úa không nhiều (chưa quá 1/3) thì bạn hãy cố gắng giữ lại những lá đó bằng cách dùng dao bén cắt bỏ phần bị lá hư. Nếu lá bị bệnh nhiềuthì bắt buộc phải cắt bỏ hoàn toàn.

    Bước tiếp theo, bạn cần quan sát phần rễ cây, nếu rễ vẫn còn xanh, không bị thối rễ thì có thể giữ nguyên cả bầu. Nếu rễ cây bị hỏng càng nhiều thì phải lập tức cắt bỏ tất cả các rễ bị dập, gãy, thối rồi bôi vôi hoặc keo hoặc nước sơn bóng móng tay vào vết cắt. Sau đó bạn nên lấy 1 miếng xốp hình chữ nhật để đặt vào ở giữa gốc cây, buộc dây rồi buộc dây cố định để giúp cây đứng vững vì cây đã không còn rễ nữa.

    Bước tiếp theo, bạn buộc phải rải một lớp sỏi dưới đáy chậu để cây khỏi úng. Sau đó bạn hãy đặt cây và phần xơ dừa để trồng cây mới vào đến 2/3 bộ rễ, rồi treo cây lên hoặc có thể để cây trong vùng không có ánh sáng trực tiếp. Bởi lá hồ điệp hết sức dễ bị hỏng lúc cường độ sáng cao. Đây cũng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thực trạng thối nhũn trên lan hồ điệp.

    Sau 3 ngày bạn có thể tưới nước cho hoa đừng quên lan hồ điệp chỉ thích ứng ở độ ẩm từ 50-80% giả dụ độ ẩm thấp hơn bạn cũng có thể dùng màn che, tuy nhiên việc làm này còn có thể gây ra nấm bệnh nên bạn nhất định phải lưu ý. Sau khi chăm sóc cẩn thận từ 1 đến 2 tháng thì cây lan hồ điệp của bạn sẽ phát triển ổn định trở lại, kể từ đây bạn có thể bón phân, tưới nước cho lan như bình thường.

    Trên đây là một vài kinh nghiệm chăm sóc lan hồ điệp từ cây non mới mua về đến lúc nở hoa vào dịp tết và chăm sóc để tái nở hoa vào năm tiếp theo. Chúc các bạn sớm có được 1 chậu lan ưng ý và có thể chưng thật lâu vừa làm đẹp cho căn nhà vừa có thêm một thú chơi mới tao nhã và thú vị.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Lan Đùi Gà
  • Cách Chăm Sóc Lan Kiếm Đẹp, Khỏe Và Ra Hoa
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Lan Trầm
  • 3 Quá Trình Sinh Trưởng Phát Triển Của Cây Phong Lan Giả Hạc Phi Điệp
  • Lan Mokara: Kỹ Thuật Và Cách Trồng Để Thành Công
  • Cách Trồng Lan Hồ Điệp Nuôi Cấy Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Trồng Lan Kiếm Và Một Số Loại Lan Kiếm Phổ Biến
  • Ý Nghĩa Của Hoa Lan Trắng Loài Hoa Của Sự Tinh Khiết Ngây Thơ Trong Sáng
  • Lan Hồ Điệp Tím Có Ý Nghĩa Gì Và Giá Bao Nhiêu?
  • Điểm Danh Các Loại Lan Giáng Hương Tại Việt Nam
  • Nhân Giống Hoa Dendro Không Khó…
  • Sau khi trồng trong chậu nhỏ khoảng 6 tháng thì chuyển sang chậu lớn. Sau thời gian chuyển chậu một tuần, khi cây đã phục hồi tưới được bón các chất dinh dưỡng.

    1. Giá thể và chậu nuôi trồng:

    a. Chuẩn bị giá thể trồng lan Hồ Điệp cấy mô :

    – Than gỗ chặt nhỏ vừa (kích thước 1 x 3 x 2cm), ngâm rửa sạch và để khô ráo.

    – Vỏ dừa già chặt thành những miếng nhỏ, chiều ngang 2-3 cm; chiều dài 4-5 cm, ngâm vào nước vôi 5% từ 3-5 ngày để vỏ dừa mềm và bớt chất tanin, rửa sạch nước vôi, và vớt ra để ráo nước.

    – Dớn: ngâm trong nước sạch tối thiểu 24 giờ để cho đớn đủ mềm và sạch cát, rửa lại nhiều lần bằng nước sạch, vớt ra để ráo.

    b. Chuẩn bị chậu trồng lan Hồ Điệp cấy mô:

    – Kích thước chậu tùy theo tuổi cây mà chọn cho thích hợp (cây từ 0 – 6 tháng tuổi trồng chung trong rổ nhựa, cây từ 6 -12 tháng tuổi cỡ chậu 8 – 9 cm; cây trên 12 tháng tuổi cỡ chậu 12 – 14 cm).

    – Đối với chậu đất nung chỉ dùng giai đoạn cây lớn trên 12 tháng tuổi, chọn các chậu đã được nung chín (tay ướt sờ vào không hút bám vào chậu, gõ nghe thanh trong), có nhiều lỗ thoáng (cho cây rễ mập và cây có rễ gió nhiều), chậu không úng nước, miệng chậu không có gờ vì rất khó gắn ti tơ.

    – Đối với chậu nhựa với lợi điểm là nhẹ và dễ dàng vận chuyển, không hấp thụ các chất khoáng từ nước và phân bón, rễ không bám chặt vào thành chậu, có nhiều lỗ thoáng. Phải rửa sạch trước khi trồng. Tốt nhất nên chọn chậu nhựa trong.

    2. Các giai đoạn trồng Hồ Điệp cấy mô:

    a. Lấy từ chai cấy mô ra: Khi cây lan có 2-3 lá, đầu rễ có nhiều lông màu trắng là đạt tiêu chuẩn ra vườn ươm.

    b. Trồng chung trên giàn: Để vào rổ nhựa nhỏ (thường là rổ chữ nhật kích thước: 15 x 20 cm) 1 lớp dớn đã xử lý dày khoảng 3 cm; cấy cây con vào rổ; xếp các rổ cây lên giàn. Duy trì ẩm độ từ 70 – 80%; cường độ ánh sáng 30 – 35%, nhiệt độ dưới 25°C.

    d. Sau khi trồng trong chậu nhỏ khoảng 6 tháng thì chuyển sang chậu lớn. Sau thời gian chuyển chậu một tuần, khi cây đã phục hồi tưới được bón các chất dinh dưỡng.

    Cách thay chậu lan Hồ Điệp cấy mô: Muốn thay chậu thì phải tưới thật đẫm nước trước 5-10 phút hoặc ngâm vào xô nước, nhẹ nhàng lấy bụi lan ra. Sau đó, làm vệ sinh, cắt bỏ hết rễ hư thối và các lá đã khô trồng vào chậu mới, đặt bụi lan vào giữa chậu lớn rồi thêm than và dớn vào quanh gốc, tránh không làm tổn thương bộ rễ cây.

    3. Nhiệt độ nuôi cây Hồ Điệp cấy mô:

    Đối với Hồ Điệp: cây tăng trưởng và phát triển tốt ở vùng có nhiệt độ khoảng 15 – 28 độ C. Cụ thể:

    – Lan từ 0 – 6 tháng tuổi: nhiệt độ tối ưu dưới 25 độ C;

    – Lan từ 6 – 12 tháng tuổi: nhiệt độ tối ưu trong khoảng 25 độ C – 28 độ C;

    – Lan từ 12 – 18 tháng tuổi: nhiệt độ tối ưu trong khoảng 25 độ C – 28 độ C;

    – Lan từ 18 – 24 tháng tuổi: nhiệt độ tối ưu dưới 25 độ C (trong khoảng 21 độ C – 23 độ C);

    Lưu ý:

    – Vào khi nhiệt độ vườn ươm cao cần che kín vườn lan, dùng hơi nước phun mù trên mái nilon để tạo không khí ẩm mát, dùng quạt thổi điều hòa không khí trong vườn lan.

    – Vào mùa mưa phải có mái che cho luống lan; vào mùa đông và khi nhiệt độ thấp che kín gió và thổi ấm để điều chỉnh nhiệt độ phù hợp cho vườn lan.

    – Vào thời điểm lan ra hoa cần chuyển cây lan vào trong nhà kín hoặc phòng kín có ánh sáng để xử lý nhiệt độ thấp tạo cảm ứng ra hoa. Sau khi lan ra hoa có thể đặt cây lan trong điều kiện nhiệt độ đến 28°C.

    Cường độ ánh sáng nuôi cây:

    – Lan từ 0 – 6 tháng tuổi: tối ưu 30 – 35% ánh sáng tự nhiên;

    – Lan từ 6 – 12 tháng tuổi: tối ưu 30 – 35% ánh sáng tự nhiên;

    – Lan từ 12 – 18 tháng tuổi: tối ưu 30 – 35% ánh sáng tự nhiên;

    – Lan từ 18 – 24 tháng tuổi: tối ưu 50% ánh sáng tự nhiên;

    (Sử dụng màu sắc và cấu tạo đặc tính của lưới che để điều chỉnh cường độ ánh sáng).

    Điều kiện độ ẩm nuôi cây:

    Lan từ 0 – 24 tháng tuổi: độ ẩm tối ưu 70 – 80%;

    (Dùng hơi nước phun mù để tạo ẩm cho vườn lan).

    4. Kỹ thuật bón phân Hồ Điệp cấy mô:

    – Nguyên tắc: tưới phân cho lan cần đủ các thành phần đạm (N), lân (P), ka li (K), canxi (Ca), magie (Mg) và các chất vi lượng như Fe, Mn, Zn, Cu, Bo, Mo… và các vitamin C, B1, B6. Tùy theo giai đoạn tưới cây lan có chế độ bón phân phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây. Kỹ thuật bón phân và loại phân sử dụng chung như sau:

    – Bón phân dưới gốc (theo hệ rễ): Sử dụng phân hữu cơ sinh học hoặc phân hữu cơ – khoáng chậm tan; phân khoáng có màng bọc túi nhỏ có kích thước 7 x 4cm. Đặt lên mặt chậu (1 túi/chậu), khi tưới nước phân sẽ tan từ từ cung cấp cho hệ rễ của cây (Hiện có bán ở các cơ sở dịch vụ cây trồng và phân bón trong tỉnh).. Ngoài ra có thể sử dụng một số loại phân chậm tan (phân chì) để bón nhằm tăng hiệu quả sử dụng phân.

    – Bón phân trên lá (theo hệ lá): Phun bổ sung phân lỏng Humix phun định kỳ 2 lần/ tháng; phân HVP 3ml/l phun định kỳ 2 lần/ tháng; các loại phân hữu cơ sinh học dạng lỏng: Fish Emulision và Seaweed và VitaminC, B1 phun định kỳ 2 lần/ tháng. (Hiện có bán ở các cơ sở dịch vụ cây trồng và phân bón trong tỉnh).

    – Các loại NPK (bón theo hệ lá), cụ thể như sau:

    + Cây lan từ 0 – 6 tháng tuổi: phun NPK 30-10-10 với nồng độ 0,5g/lít, định kỳ 3 ngày/lần.

    + Cây lan từ 6- 12 tháng tuổi: phun xen kẽ NPK 30-10-10 và NPK 20-20-20; nồng độ NPK 1 gam/lít, định kỳ 5 ngày/lần.

    + Cây lan từ 12-18 tháng tưổi: phun xen kẽ NPK 30-10-10 và NPK 20-20-20; nồng độ NPK 2 gam/lít, định kỳ 5 ngày/lần.

    + Cây lan từ 18-24 tháng tuổi: phun xen kẽ NPK 10-30-30 + NPK 10-60-10; nồng độ NPK 2gam/lít, định kỳ 5 ngày/lần.

    5. Nguyên tắc tưới nước cho hồ điệp cấy mô:

    + Nước tưới phải tuyệt đối không bị mặn, không bị phèn, không quá kiềm và không có clo (nếu dùng nước giếng để tưới phải qua lọc; nếu dùng nước máy để tưới phải có bể dự trữ để cho bay hết clo). Độ pH của nước có độ axit nhẹ pH = 5,2.

    + Tưới nước nhiều hay ít tùy thuộc vào mùa vụ, độ ẩm, sự thông thoáng, giá thể, loài lan, mùa tăng trưởng, nhiệt độ, sự che sáng nơi trồng, tình hình bệnh trạng của lan.

    – Cách tưới thông thường như sau:

    + Mùa nắng, mùa khô hanh: tưới 2 lần; lần 1 từ 9 – 10 giờ sáng; lần 2 từ 3 – 4 giờ chiều; khi hết ánh nắng lá cây và vườn phải khô ráo.

    + Mùa mưa: Khi sờ tay vào gốc lan có cảm giác lớp vỏ dừa đã khô, tưới phun mù nhẹ trên lá.

    + Khi cây bị bệnh, ngừng tưới đến khi cây có dấu hiệu phục hồi.

    + Khi cây 0-6 tháng tuổi tưới phun mù, khi cây trên 6 tháng tuổi tưới béc phun.

    6. Phòng trừ sâu bệnh Hồ Điệp cấy mô:

    – Thông thường cần phun định kỳ thuốc phòng trừ sâu bệnh hại lan theo hướng dẫn trên bao bì mỗi loại thuốc; nếu để cây bị bệnh mới phun trị thì rất dễ thiệt hại lớn cho người sản xuất vì bệnh lây lan rất nhanh.

    Thường xuyên thay đổi thuốc BVTV để tăng hiệu quả của thuốc và tránh hiện tượng sâu bệnh lờn thuốc.

    – Các loại sâu bệnh thường gặp trên lan Hồ Điệp cấy mô và thuốc phòng trừ:

    1. Bệnh thối nâu (bệnh thối mềm) do vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra: Khi xuất hiện bệnh cần tập trung các cây bệnh vào một nơi để tránh lây lan, cắt bỏ hết chỗ bị bệnh, xử lý vết cắt bằng vôi rồi phun Ditacin 8L, Kasumin 2L hoặc thuốc kháng sinh Argimycine 1% liên tiếp 3 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày, ngưng tưới nước để vết cắt mau lành. Nếu bệnh nặng, nhổ cả cây nhúng vào dung dịch Kasumin 2L 0,1% để khô rồi trồng lại. Lưu ý phải xử lý cả cây và giá thể trồng.

    2. Nhện đỏ (Red spider mites): Dùng Nissorun, Danitol, Ortus, Dầu SK enspray 99, Chlocide.

    3. Bệnh thối đen do nấm Phytophthora palmivo gây ra: Dùng Alpine, Mexyl-mz, Ridomil, Curzate-M8, Appencarb 75 DE, Score 250 EC.

    4. Bệnh héo rễ do nấm Sclerotium rolfsi gây ra: Dùng Hexin, Monceren.

    5. Rệp sáp (Parlatoria proteus, Pseudococcus):Dùng Sago Super, Dragon, Supracid, Dầu SK enspray 99 hoặc hỗn hợp dầu và thuốc.

    6. Bọ trĩ (Thrip palmi): Dùng Dragon, Sumicidin, Confidor, Polytrin.

    7. Sâu khoang, sâu róm ăn lá: Dùng thuốc trừ sâu sinh học BT, Vicidi – M 50 ND.

    8. Ốc sên: Dùng bả độc Deadline hoặc bả cám gạo trộn với các loại thuốc sâu thông thường.

    9. Các côn trùng có cánh: Đặt bẫy côn trùng treo trên mái luống trồng lan, định kỳ từ 3 – 4 tháng thay bẫy 1 lần; Thường xuyên dọn vệ sinh vườn lan.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoa Lan Dendro, Hoa Lan Đen Rô, Các Màu Lan Đen Rô, Dendro Đẹp
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Lan Hoàng Thảo Vôi
  • Cách Trồng Hoàng Thảo Kèn Và Lời Khuyên Cho Người Mới Chơi Lan
  • Luận Văn Đề Tài Nhanh Nhanh Invitro Hoa Phong Lan Mokara
  • Cách Xử Lý Cụ Thể Khi Lan Bị Nhiễm Bệnh
  • Cây Lan Ma Ở Florida

    --- Bài mới hơn ---

  • Cây Phong Lan Có Mùi Chân Thối
  • Cây Nữ Hài Mới: Pap. X Cribbii
  • Thêm Một Cây Trúc Lan Mới
  • Lan Kiếm Hoàng Lan Cymbidium Finlaysonianum
  • Các Giống Lan Stanhopea
  • Hình: Andrew West

    Một cây lan ma hiếm có với nhiều hoa bám chắc vào cây bách tại khu bảo tồn Corkscrew Swamp Sanctuary. Cây hoa có nguy cơ mất giống đã được tìm thấy hôm thứ Bảy bởi những người đến thăm tìm kiếm cú.

    Cây lan ma hiếm có được tìm thấy trong khu bảo tồn Collier.

    Loài hoa đầu tiên được tìm thấy trong 12 năm.

    News-pss.com – 11/7/2007 – Với những cánh hoa duyên dáng ngả xuống giống bộ ria mép của Mark Twain, nhợt nhạt, những bông hoa như bóng ma mọc trên thân cây bách cổ tại Corkscrew Swamp Sanctuary ở Collier County, Florida.

    Cây hoa lan ma đầu tiên được khám phá gần đường lót ván trong khu bảo tồn trong 12 năm, nhưng bạn sẽ không nhìn thấy cây hiếm có này nếu không có ống nhòm trợ giúp. Cây lan có 9 hoa (đa số những cây lan ma có 2 hay 3 hoa), bám vào cây bách 400-500 năm tuổi cao 150 feet (45 m) ở độ cao 45 feet (13.5 m) ở trên mặt đất, tạo một đường nhìn 156 feet (47 m) từ đường đi.

    Các cây lan ma được đưa vào danh sách của các loài quý hiếm cần bảo vệ, và hai mối đe doạ lớn nhất là sự thay đổi môi trường sống và khai thác trộm. Do đó bạn đừng có ý nghĩ lén lút để ăn trộm hoa. Dick Brewer một thiện nguyện viên của Corkscrew nói “Nếu ai đó có thể leo lên cái cây và hái hoa, hãy để cho người ta hái nó. Cây đó có rất nhiều nhánh, người ta không có khả năng để với tới cây lan. Người ta sẽ té xuống đất chết nếu làm như vậy.”

    Ngoài ra, sưu tầm hoa lan rừng là bất hợp pháp, và Ed Carlson viên quản lý khu Corkscrew nói “Nếu người nào đó đến khu đất của tôi khi chúng tôi đóng cửa, người đó phạm luật xâm nhập bất hợp pháp.”

    Cây phong lan ma ở Corkscrew đã được khám phá vào ngày Thứ bảy bởi hai người khách đến thăm khu bảo tồn tìm kiếm cú và tình cờ nhìn vào đúng chỗ cây lan. Phát hiện một cây phong lan từ 156 feet (47 m) xuyên qua đám lá rậm rạp lốm đốm ánh sáng lấp lánh.

    Những viên chức khu bảo tồn nói, cây phong lan ma nở hoa trong khoảng hai tuần, mặc dù họ không xác định cây lan nở hoa bao lâu. Carlson nói cây có thể là già hàng chục tuổi. Ông ta nói “Cây hoa lớn, khối lượng rễ cằn cỗi nhiều. Chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy cây nào như thế trước đây. Tôi chắc chắn nó đang nở hoa trong tháng 6 và 7, khi cây bách rụng lá. Một nhánh bách đã bao trùm lên trên cây hoa nhiều năm và rơi ra sau cơn bão Wilma. Không ai biết?”Brewer nói “có nhiều điều để nói về kỹ năng, kiến thức và thiết bị. Nhưng khi bạn đến với cây hoa, điều may mắn nào đã xảy đến. Cây hoa sẽ làm bạn ngạc nhiên rằng có nhiều những thứ khác đang lớn lên ở đó mà không ai nhìn thấy.”

    Khi một cây như vậy được khám phá, rõ ràng nó thu hút các giới nghệ thuật, và khi nhiếp ảnh gia Ralph Arwood ở Naples nghe nói về cây lan, ông ta vội vã tới khu bảo tồn và mất 2 giờ “chờ đợi dưới nắng” nóng oi ả ẩm ướt, nhiều muỗi.Một điều kỳ lạ khác là cây phong lan ở cao như vậy trên cây bách, thông thường cây lan được tìm thấy vào khoảng 20 feet (6 m) hay ít hơn.

    Arwood nói “Cây lan rất hiếm có, và nó khác thường bởi vì cây rất nhiều hoa. Cây hoa rất đẹp, lớn bằng bàn tay của bạn. Cây hoa lan rất đẹp và an toàn khi nó sống tại Corkscrew.”

    Viên quản lý khu bảo tồn tài nguyên Mike Knight nói “Mỗi lần chúng tôi có một cây phong lan đẹp vươn ra lối đi, cây lan đã thu hút mọi người đến thăm”.Có thể nói cây lan thật an toàn nếu nó sống ở khu bảo tồn Corkscrew, bám trên độ cao 45 feet (13.5 m) trên một cái cây cao 150 feet (45 m) từ đường đi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Hiện Loài Lan Kim Tuyến Quý Hiếm
  • Phát Hiện 5 Loài Phong Lan Mới Tại Vn
  • Một Loài Phong Lan Mới Cho Việt Nam
  • Những Cây Lan Mới Của Việt Nam
  • “cha Đẻ” Của Hơn 400 Giống Lan Lai Tạo
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Quản Lý Chiến Kê

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Thấy Loài Phong Lan Nhỏ Nhất Thế Giới
  • Mùa Xuân Mới, Cây Lan Mới
  • Lan Hài Xuân Cảnh (Paphiopedilum Canhii)
  • Ghi Nhận Thêm 2 Loài Lan Cho Việt Nam
  • Lan Lê Nhiều Hoa – Phú Quốc
  • Gà tơ được bắt từ sân và chuyển vào lồng tôi (hardening pen), mỗi con một lồng. Chúng được nhốt trong lồng này từ 15 đến 30 ngày. Các nhà lai tạo tin rằng gà được tôi càng lâu (đến 30 ngày) thì chúng càng được chuẩn bị tốt cho cuộc đời của một chiến kê.

    Lồng tôi là nhà của gà trong toàn bộ giai đoạn tôi gà. Chúng được cho ăn uống ở đấy. Trước khi đưa vào lồng, dây cột được gắn vào chân bên phải để cho gà quen dần.

    Khi vào lồng, những công đoạn quản lý như tiêm chủng, tẩy giun, diệt rận và những thứ tương tự được thực hiện, giúp gà tơ làm quen với người chăm sóc. Điều này khiến chúng thuần hơn và dễ ôm, bắt. Bởi vì ở tuổi này gà tơ bắt đầu de mái, một con gà mái được thả vào mỗi lồng để khích lệ tinh thần và bản năng giới tính, điều vốn liên quan đến sự gan lỳ và dày dạn.

    Gà tơ trong giai đoạn tôi được cot day ong khi chờ đợi để biệt dưỡng. Do vậy, không có giới hạn về thời gian nhốt ở sân cột, nơi trở thành ngôi nhà kế tiếp của chúng.

    Là một phần trong chương trình tuyển chọn liên tục để biệt dưỡng cũng như lai tạo, gà tơ trong sân cột được cho xổ hàng tuần để quan sát độ gan lỳ và tình trạng sức khỏe, và ghi nhận mức độ tiến bộ về khả năng và lối đá của chúng. Nên xổ nhanh, khoảng vài ba cú nạp là đủ để tránh gây thương tích và làm gà mệt mỏi một cách không cần thiết.

    Tin Mong

    Tỉa là cắt bỏ mồng và tích của gà tơ. Chiến kê được tỉa mồng bởi vì mồng và tích làm gà vướng víu khi đá. Nó cũng giúp gà đối phương dễ dàng nắm đá, điều khiến cho chiến kê không tỉa mồng bị bất lợi.

    Gà tơ dự định đem đá được tỉa mồng khi đạt từ 7 đến 8 tháng tuổi. Ở tuổi này, nó phải có khả năng chịu đau khi bị cắt mồng và tích. Khi còn non, đặc biệt là khi chưa gọi mái, tỉa mồng sẽ khiến gà bị tổn thương. Điều có thể ảnh hưởng đến sự gan lỳ và khiến gà bỏ chạy khi nó nhớ lại kinh nghiệm đau đớn này. Nhiều nhà lai tạo lợi dụng việc tỉa mồng làm công cụ để tuyển chọn chiến kê. Những con kêu la hay chết nhát khi tỉa mồng sẽ bị loại bỏ, bởi vì đấy biểu hiện cho thấy chúng không gan lỳ.

    Tỉa mồng thường được thực hiện bằng một cây kéo phẫu thuật, kéo thường hay dao cực sắc. Để tránh rắc rối, việc này được thực hiện vào ngày thích hợp.

    Hai người thực hiện việc tỉa mồng. Một người giữ gà trong khi người kia tỉa mồng. Mồng và tích được cắt đến tận gốc, để mà khi lành lặn, gà tơ có bề ngoài thật nhẵn nhụi. Sau khi tỉa mồng, đầu gà được rửa bằng nước sạch, lau khô bằng khăn và được bôi hay rịt bằng thuốc kháng sinh (chẳng hạn Quick Heal® Wound Spray).

    Nếu tỉa mồng một mình, tốt nhất nên duỗi chân gà về phía đuôi và gà được bao bằng khăn hay một túi sạch. Tom Wilson có lần tự tay tỉa mồng cho 80 con gà tơ trong vòng 3 giờ ở trại Tanay của Boy Diaz. Đây là kỷ lục tỉa mồng, tích và tai với 2.25 phút mỗi con. Qua thực hành thường xuyên, phương pháp này sẽ tiết kiệm thời gian và nhân lực.

    Vận chuyển chiến kê.

    Bởi vì các trại gà thường được xây dựng ở vùng nông thôn, chiến kê luôn được vận chuyển một cách tương đối xa từ trại cho đến trường đấu. Nếu chuyến đi không thoải mái, nó sẽ khiến chiến kê căng thẳng và ảnh hưởng đến lối đá của chúng. Do vậy, điều quan trọng là quá trình vận chuyển không được làm biến đổi trạng thái tâm lý cũng như thể chất của chiến kê, bởi vì bất kỳ biến động nào cũng tác động đến việc thi đấu. Trạng thái sẵn sàng trước trận đấu sinh tử là kết quả của một quá trình chuẩn bị lâu dài và kỹ càng mà nó bắt đầu từ khâu lai tạo và tuyển chọn cho đến ốp, và không nên bị phá hỏng bởi việc quản lý kém trong quá trình vận chuyển đến trường đấu.

    Bằng mọi giá đem gà đến trường đấu trước lúc bình minh. Bằng cách này, gà sẽ thức dậy ngay tại trường đấu một cách tự nhiên như thể chúng không biết gì đến việc vận chuyển. Một hiện tượng phổ biến là khi để lọt chút ánh sáng, chiến kê sẽ tỉnh giấc và bắt đầu gáy, báo hiệu bắt đầu một ngày mới. Nếu điều này xảy ra, nó sẽ khiến cho chiến kê căng thẳng một cách không cần thiết.

    Thời điểm vận chuyển gà tệ nhất là vào ban ngày. Với những ai phải di chuyển xa hơn bình thường, chẳng hạn lâu hơn 3 giờ, có lẽ cách tốt nhất là vận chuyển gà đến trường đấu trước 1 ngày để chúng có thời gian nghỉ ngơi và phục hồi từ những căng thẳng phát sinh trong quá trình vận chuyển. Như đề nghị về sau trong chương này, bữa ăn tối trước và sau khi vận chuyển phải hơi loãng (tức trộn thêm thức ăn lỏng) và hạt được nấu chín để dễ tiêu hóa. Trong khi vận chuyển, luôn giữ gìn để gà thoải mái và tránh làm chúng căng thẳng. Sau đây là những bí quyết mà bạn nên cân nhắc:

    Danh sách. Đêm trước chuyến đi, một danh sách tất cả những thứ cần mang theo phải được chuẩn bị sẵn. Mọi thiết bị và dụng cụ phải chuẩn bị từ trước để khi cần là có để dùng.

    Khởi hành sớm. Như đã nói ở trên, gà phải có mặt tại trường đấu trước 5 giờ sáng. Nhờ vậy mà chúng có thời gian để nghỉ ngơi và phục hồi từ những căng thẳng gây ra bởi chuyến đi.

    Bố trí nằm ngang. Vị trí của gà phải nằm ngang so với chiều xe. Điều này sẽ giảm thiểu, nếu không nói là loại bỏ, những dằn sóc và khó chịu khi xe dừng và đề-pa so với việc bố trí dọc theo chiều di chuyển.

    Không sử dụng chất khử mùi, nước hoa hay cồn. Gà rất nhạy mùi. Tránh sử dụng nước hoa, khử mùi xe hơi, thuốc lá và những thứ tương tự, mà chúng có thể ảnh hưởng đến chiến kê vào giai đoạn nhạy cảm nhất trong ngày thi đấu.

    Máy lạnh. Việc vận chuyển chiến kê trong xe máy lạnh sẽ khiến chuyến đi thoải mái hơn. Tuy nhiên, bởi vì máy lạnh cũng làm khô, nên phải rảy nước vài lần lên lỗ thông hơi và xung quanh ca-bin sau mỗi 10 phút. Để đảm bảo thoáng khí, hãy hé cửa sổ phía sau cỡ 2 cm. Không khí sẽ tự động trao đổi. Đương nhiên, bạn phải dựa vào cảm quan chung chẳng hạn nếu đi sau một xe tải phun khói nồng nặc thì phải khép cửa sổ lại cho đến khi vượt qua nó.

    Vào sau, ra cuối. Khi chất đồ lên xe tải, lồng xách phải được xếp sau cùng. Khi đến trường gà, hãy chuẩn bị kê phòng trước và khi mọi thứ đều sẵn sàng thì lồng gà mới được dỡ khỏi xe.

    Biệt dưỡng và ốp tự nhiên

    Những chủ đề về phương pháp biệt dưỡng và huấn luyện có đầy rẫy trên giang hồ. Tuy nhiên, tất cả đều có chung một mục đích là đưa chiến kê đến đỉnh cao của trạng thái tâm lý và thể chất trước khi bước vào trận đấu. Phương pháp biệt dưỡng ở đây, tập trung vào đường lối tự nhiên. Đa phần dựa vào phương pháp mà John Paul Trotter học từ đại sư kê Joe Goode, vốn được nhiều người ở Mỹ xem như là một trong những cao thủ dưỡng gà bậc nhất. Nghe kể, trong khi Joe bận đá gà ngoài trường, thì John ở lại trại để chăm gà cho giải lần sau. John Paul Trotter cũng chăm gà cho những tay chơi có máu mặt ở địa phương và hợp tác với Boy Diaz một thời gian. Từ Boy Diaz mà phương pháp này được truyền đến Emoy Gorgonia (đồng tác giả bài này) với một số điều chỉnh để phù hợp với điều kiện ở Philippine. Phương pháp biệt dưỡng ở đây có nhiều điểm tương đồng với biệt dưỡng ngựa đua và một vài nguyên lý xuất phát từ công tác huấn luyện đấm bốc và vận động viên điền kinh nói chung.

    Yêu cầu cơ bản

    Dòng giống tốt. Nếu bạn không tự lai tạo chiến kê thì tốt nhất, bạn nên tìm kiếm chiến kê nòi từ các trại danh tiếng với đặc điểm lì lợm, khả năng đá và chém. Những con do dự và những con quá toan tính, né tránh hay phòng thủ theo một lối nhất định cần được phát hiện để loại bỏ trong quá trình biệt dưỡng, kể cả những con không đạt tiến bộ theo yêu cầu. Paeng Araneta tổng kết tất cả bằng một lời khuyên cho người mới chơi rằng “hãy chọn chiến kê có cá tính”.

    Tiện nghi. Để có thể biệt dưỡng tốt, những tiện nghi đề cập ở đầu sách là bắt buộc. Lồng bay , lồng bới, lồng ốp , sàn xổ và những thứ liên quan phải có sẵn ở khu vực biệt dưỡng.

    Kê cảm. Đây là điều khó khăn nhất. Với những người có khiếu này, họ may mắn sở hữu cảm nhận tự nhiên về chiến kê, tức nhận thức bản năng điều nên hay không nên làm trong toàn bộ quá trình biệt dưỡng. Đa phần, kê cảm (chicken sense) chỉ xuất hiện thông qua kinh nghiệm. Một số người thậm chí coi kê cảm chẳng qua là cảm nhận bình thường. Tuy nhiên, ai cũng biết cảm nhận này bất thường như thế nào. Khởi đầu, bạn phải đủ sáng suốt để hiểu được căn nguyên đằng sau từng khía cạnh của phương pháp biệt dưỡng này. Chẳng hạn, nếu phương pháp yêu cầu gà tập bay 50 lần, thì sư kê phải biết TẠI SAO mình phải tập cho gà từng đấy lần.

    Tuyển chọn

    Khi tuyển chọn chiến kê trong trại, lưu ý từ xa những chiến kê nào thu hút sự chú ý của bạn. Từ cách đi đứng, di chuyển cho đến thể hiện, những chiến kê này cần được kiểm tra cặn kẽ hơn.

    Lông: Thể hiện sức khỏe của chiến kê. Vì vậy khi lựa gà, kiểm tra lông thật kỹ và lựa những con có tông màu tự nhiên, lông cứng nhưng đàn hồi – không được khô và xơ xác.

    Thân: Cảm nhận thân hình. Nếu gà mồng dâu hay có máu dòng phương Đông và Roundhead, thì thân hình chúng phải đầy đặn và tròn. Gà mồng lá phù hợp với ngực dẹp và ngả hơn. Những sư kê hàng đầu khẳng định về mức độ quan trọng của việc xương lườn càng kéo dài về phía sau càng tốt, gần với hậu môn. Họ quan sát thấy trong một trận đấu thực sự, cẳng chân dài sẽ không bị cản trở nếu như ngực không tròn. Khi giữ gà hướng về phía bạn, cố gắng rà ngón cái vào khoảng giữa xương đòn và cơ ngực. Điểm này càng dày hay cứng càng tốt bởi vì điều này cũng đồng nghĩa với cơ bắp mạnh mẽ.

    Đầu: Kiểm tra mắt gà. Chúng phải đỏ tươi như màu cà chua bởi vì nó đồng nghĩa với sức khỏe tốt. Tròng đen phải tách biệt – bằng không, đấy là dấu hiệu của bệnh tật trong quá trình nuôi dưỡng. Điều này cũng đúng với mắt nhợt nhạt. Con ngươi phải tròn một cách hoàn hảo. Bất kỳ biến dạng nào đều dẫn đến thị giác phần nào bị ảnh hưởng. Cũng vậy, kiểm tra phần giữa mắt với mũi. Nếu bị lõm ở bất kỳ bên nào, thì điều này có nghĩa chiến kê bị mắc bệnh đường hô hấp khi còn non.

    Dáng: Tiêu chuẩn này là chủ đề cho những tranh luận không có hồi kết, nhưng qua hàng ngàn trận đấu thực sự và phim chiếu chậm cho thấy rằng chiều cao lý tưởng của chiến kê là trung bình. Dĩ nhiên, các nhà lai tạo thương mại vẫn đổ gà dáng cao bởi vì đấy là những con mà người chơi chuộng hơn. Còn nếu lai gà để dùng riêng thì dáng trung bình là tốt nhất. Tom Wilson từng sử dụng 6 con Butcher dáng thấp ở giải International Derby 1992 tại trường đấu Araneta Coliseum. Đá với những con gà hàng đỉnh, 5 trong số 6 con gà cùng bầy của ông thắng trận trong khi con còn lại hòa. 3 trong số 5 con thắng trận không bị một vết xước nào. Sau khi phát biểu về gà Butcher của mình lùn như thế nào, Tom chỉ mỉm cười. Ông nhấn mạnh rằng điều quan trọng là phải tính tới độ dài đùi 15 cm hay nhiều hơn chứ không phải là cẳng chân. Thậm chí nếu cẳng chỉ dài có 5 cm, chân gà Butcher của ông vẫn dài đến 20 cm, đủ để diệt gà đối thủ. Những sư kê ở La Carlota vẫn sở hữu những con gà Lemon thắng trận cho đến tận ngày nay. Và đúng là dáng của chúng chỉ từ trung bình cho đến thấp.

    Khẩu vị: Một nhà lai tạo nổi tiếng, bác sĩ Teddy Tanchanco, thích đến trại thật sớm để lựa gà. Lý do? Ông muốn thấy con nào trong bầy chiến kê ăn uống ngấu nghiến vào bữa sáng. Đấy cũng là nhận định chung, trong số chiến kê, những con ăn uống tốt thì đá cũng tốt, còn những con ăn uống kén chọn thì tốt nhất nên “cho vô nồi”. Do đó, hãy chọn những con “gõ đáy nồi” – nghĩa là mỏ của chúng chạm vào khay mỗi lần mổ thức ăn.

    Lối đá: Hầu hết các sư kê đều yêu cầu xổ để đánh giá tiềm năng của chiến kê. Dưới đây là những điều cần lưu ý trong những trận đấu như vậy:

    1. “Angat sarado” – đến nay, đây là đặc điểm được săn lùng nhiều nhất. Khi cả hai chiến kê giao nhau trên không, con hơi cao hơn chiếm lợi thế vị trí. Từ vị trí này nó ra đòn dễ hơn. Một số chiến kê sở hữu khả năng siêu việt này để ghim đối thủ trên không vào khoảnh khắc sinh tử. “Sarado” theo thổ ngữ Tagalog nghĩa là “luôn luôn”. Vì vậy “angat sarado” nghĩa là “luôn ở bên trên”, luôn chiếm thế thượng phong.

    2. Đầu ra sau, chân ra trước – Ngược với những chiến kê luôn cố nắm lông trước, những con đá mà không cần nắm lông với đầu ngả ra sau, dễ thắng hơn. Trên thực tế, những con chăm chăm đá lông (bill-hold) đều bị loại. Khi đá thực sự ngoài trường, chúng lao đầu về phía đối thủ và đấy là điều không được phép trong các trận đấu ngày nay khi mà việc di chuyển sai sẽ dẫn đến thất bại. Cũng để ý chân đá của chúng. Hãy chọn những con đá chân sâu chạm vào người đối thủ.

    3. Đá bồi 1-2 phát – Đặc điểm này phần nào bổ sung cho “angat sarado”. Sau khi nạp cú đầu, ngay khi vừa chạm đất, chiến kê liền nạp bồi 1-2 cú nữa. Đấy là những đòn sát thương mà đối phương hầu như không cách nào tránh khỏi.

    Chế độ tiền biệt dưỡng

    Như tên gọi, đây là giai đoạn trước khi chiến kê được biệt dưỡng để thi đấu. Mục đích là để chuẩn bị một cách thích hợp cho quá trình biệt dưỡng. Giai đoạn diễn ra từ vài ngày cho đến một tuần.

    Tẩy giun sán

    Hầu hết các loại giun đều dễ tẩy ngoại trừ sán (tapeworm). Do vậy khi tẩy, không cho gà ăn bữa chiều trước khi cho uống thuốc vào buổi tối (chẳng hạn Worm Out-Bulex). Vào ngày hôm sau, chỉ cho gà ăn một nửa khẩu phần thông thường. Một số người cho thức ăn loãng cũng thu được kết quả tốt. Ăn kiêng là phương sách để thuốc tiếp cận tốt hơn với đầu sán. Nếu thức ăn còn trong ruột thì chỉ có phần thân bị ảnh hưởng còn đầu sán vẫn không sao, rồi nó mọc đốt trở lại. Bởi vì thuốc tẩy chỉ diệt con giun, hãy tẩy lại sau từ 8-10 ngày để diệt nốt tất cả giun nở ra từ trứng còn sót lại lần trước. Lần tẩy sau rất quan trọng vì nó giúp gà sạch giun trong 30 ngày sau đó. Việc tái nhiễm thường diễn ra trong vòng một tháng, vì vậy điều quan trọng là phải duy trì một chương trình tẩy giun hàng tháng cho cả trại.

    Một loại ký sinh nữa có thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho gà là giun chỉ (eyeworm). Giun chỉ hiện diện ở mắt có thể ảnh hưởng đến thị giác của chiến kê khi thi đấu và khiến nó bị thua.

    Kiểm tra xem mắt gà có bị nhiễm giun chỉ hay không. Nếu có, hãy nhỏ mắt bằng thuốc diệt giun chỉ (chẳng hạn như Oxy-Rid).

    Diệt mạt

    Ngoài giun sán, những loại ký sinh độc hại khác ở chiến kê là mạt và ve. Bét đỏ (red mite) là mối quan tâm chính. May thay, các loại dầu tắm gà (chẳng hạn như Zero Mite) có thể xử lý bệnh này. Những ai còn sử dụng các hiệu Malathion hay Sevin hay những hóa chất khác cần phải dùng đúng liều, nhớ mang găng tay bảo vệ bởi hóa chất có hại cho da.

    Kháng sinh phòng ngừa

    Người ta thường nói “nếu mọi thứ đều ổn, tại sao phải sửa?”, nói cách khác, nếu chiến kê mạnh khỏe, tại sao phải dùng thuốc? Tuy nhiên, nên sử dụng kháng sinh phòng ngừa với mục đích tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh mà chiến kê nhiễm phải ngay khi bắt đầu quá trình biệt dưỡng. Sử dụng kháng sinh phổ rộng (chẳng hạn như Doxyvet) trong 3 ngày là đủ.

    Tỉa lông

    Để thoáng khí, vùng lông xung quanh hậu môn nên được tỉa bớt. Điều này nhằm giúp sư kê đánh giá gà mập hay ốm chính xác hơn bằng cách ấn vào vùng này. Với chiến kê, tất cả những thứ râu ria như mồng, tích và tai đều phải tỉa gọn. Về mặt lý thuyết, một khi những phần này này được cắt bỏ, khả năng bị đối phương nắm đá là tối thiểu. Tỉa cựa, để dài cỡ một phân là đủ (dẫu một số sư kê muốn để dài và nhọn tự nhiên nhằm có thêm lợi thế). Với chiến kê, hiệp hội các nhà lai tạo hiện cho phép các thí sinh cắt chóp sắc để bảo vệ nài gà.

    Chế độ biệt dưỡng

    Dưỡng tâm đóng một vai trò quan trọng trong phương pháp biệt dưỡng này. Nó khởi đầu thậm chí từ giai đoạn tiền biệt dưỡng. Trong những ngày tiếp theo, các thí sinh phải trải qua tất cả các bước huấn luyện trong khu vực biệt dưỡng và tất cả những công đoạn mà một chiến kê phải trải qua trong giai đoạn này. Bởi vì gà là sinh vật sống theo bản năng, ban đầu chúng sẽ hơi căng thẳng khi được đặt vào môi trường mới – chẳng hạn như lồng tập. Tuy nhiên, một khi trở nên quen thuộc với khung cảnh và công tác huấn luyện, chúng sẽ thuần thục hơn và làm quen nhanh chóng.

    Dưỡng thể

    Sau giai đoạn tiền biệt dưỡng đến giai đoạn biệt dưỡng. Nó thường kéo dài 3-4 tuần. Phương pháp ở đây cũng theo chế độ từng-bước-một như những phương pháp khác. Nó thường tập trung vào khẩu phần, dưỡng tâm và những ngày cuối trước khi xuất trường. Điều quan trọng là phải nắm vững các nguyên tắc của phương pháp này.

    Hướng dẫn cho ăn

    Cho chiến kê ăn với khẩu phần 16%-18% protein thô (crude protein) sẽ giúp cơ thể chúng cân đối nhất. Vấn đề đối với hầu hết các sư kê ở chỗ, lượng protein thô trong khẩu phần thức ăn tổng hợp thường ở trên mức 16%. Khi điều này xảy ra, gà tích mỡ trong ruột hay còn gọi là “sapola”. Một dấu hiệu chứng tỏ gà bị “sapola” là xổ yếu, gà không thể nhảy cao và hơi chậm. Rà soát vùng hậu môn sẽ thấy rất khó bấu, bởi vì nó dày như một tấm cao su nằm dưới da. Nói cách khác, nếu cho ăn với tỷ lệ protein cao, chẳng hạn lên đến 35%, ngoài việc tốn kém tiền thức ăn, gà sẽ trở nên nặng nề, mau mệt và lờ đờ. Theo kinh nghiệm, khẩu phần đạm từ 16% đến 18% sẽ giúp cho chiến kê có tỷ lệ cơ thể-cân nặng lý tưởng nhất.

    Tuy nhiên, các chuyên gia dinh dưỡng gia cầm cảnh báo về quan điểm cho ăn bị đơn giản hóa này. Họ nhấn mạnh rằng điều quan trọng hơn cả là cân bằng lượng amino acid trong khẩu phần ăn. Hướng dẫn cho ăn dưới đây thỏa mãn yêu cầu này, bởi vì các nhà dinh dưỡng học tin tưởng rằng nó không mâu thuẫn với những phương pháp dinh dưỡng gia cầm.

    Lượng thức ăn tổng hợp cơ bản theo phương pháp biệt dưỡng tự nhiên ở đây thích hợp với 18-24 chiến kê.

    Bắp – 1 phần

    Tinh hạt hiệu Royal Concentrate – 2 phần

    Yến mạch vỏ hiệu Jockey Oat – 4 phần

    Thức ăn viên hiệu Power Pellet – 4 phần

    Thức ăn viên hiệu Calf Manna – ½ phần

    Thực phẩm bổ sung

    Buổi sáng:

    Đậu hà lan & cà rốt – 2 muỗng canh

    Nước cam tươi – 4 muỗng canh

    Sữa chua – 4 muỗng canh

    Rau xanh – 2 đến 3 lá xà lách (hoặc cải thảo)

    Trứng – 2 trái trứng luộc

    Buổi chiều:

    Giống như buổi sáng, kèm thêm:

    Dầu ăn – 1 muỗng canh dầu đậu nành (hay dầu bắp, mù tạt…)

    Cá mòi ngâm dầu đậu nành – 1 hay 2 miếng

    Nước mận – 4 muỗng canh

    Cà chua luộc – 1 miếng lớn

    Phương pháp cho ăn

    Ngâm. Cả bắp lẫn hạt xay Royal ngâm qua một, hai đêm để những độc tố trong hạt như phytic acid tiết ra hết. Khác với thông lệ, việc tách vỏ cứng ra khỏi hạt là không cần thiết. Bên dưới lớp vỏ có nhiều vitamin, khoáng chất, xơ và những chất bổ dưỡng khác.

    Lên men/mọc mầm. Yến mạch Jockey cũng có thể ngâm trong vài ngày hay để lên men. Việc lên men sẽ làm nảy sinh những enzyme có ích cho chiến kê. Cũng có thể ngâm qua đêm và chuyển vào hũ đựng có lỗ ở đáy. Để trong hũ thêm một ngày, yến mạch sẽ bắt đầu nảy mầm – do vậy, mỗi hạt mầm sẽ có nhiều tỷ lệ vitamin và khoáng chất hơn so với hạt khô.

    Nấu. Chất avidin ở lòng trắng trứng bao xung quanh biotin và vô hiệu hóa nó. Nấu chín sẽ giải quyết được vấn đề này. Tương tự như vậy, cà rốt, đậu hà lan và cà chua phải được nấu chín để dưỡng chất dễ tiêu hóa và hấp thu hơn. Nấu chín giải phóng dưỡng chất bên trong các thành tế bào vốn rất khó phá vỡ.

    Dầu ăn. Dầu ăn được cung cấp cho chiến kê bởi nó giàu acid béo không no và acid béo linoleic. Cá mòi cũng có nhiều protein và acid béo omega 3, 6 và 9, vốn rất tốt cho sự phát triển của não. Tuy nhiên, dầu ăn nên được cung cấp một cách vừa phải bởi chúng có xu hướng tráng ruột và tác dụng nhuận tràng.

    Sữa chua. Trên thực tế, sữa không có ích gì với chiến kê. Vấn đề chủ yếu ở chỗ, lactose vốn chiếm phần lớn trong sữa, chỉ có thể được tiêu hóa bởi những sinh vật có enzyme lactase. Không may, gà không có loại enzyme này. Thật ngạc nhiên, không biết được điều đó, các sư kê lại khẳng định về hiệu quả của sữa không béo, sữa bột và sữa tươi. Ngoài ra, gà có thể thoải mái lấy những dưỡng chất như vậy từ các loại thực phẩm khác rẻ tiền hơn sữa. Hay chúng có thể được cho ăn sữa chua.

    Sữa chua về cơ bản là sữa lên men. Lactose được phân hủy thành dạng đơn giản hơn và do đó, gà có thể tiêu hóa được. Sau khi nhỏ một hay hai giọt dấm ăn vào một lít sữa bò tươi, để qua đêm ở nhiệt độ phòng. Trộn thêm một hũ yogurt và một lọ Yakult hay Chamyto. Quậy mạnh và lắc cho đến khi dung dịch đặc sánh như kem. Dùng trong một tuần và làm lọ mới khi dùng hết. Loại sữa chua chế biến tại gia này chứa nhiều vi khuẩn tiêu hóa và có ích cho chiến kê.

    Luyện tập

    Chế độ luyện tập giúp chiến kê gia tăng độ bền và đá đúng cách thức mong muốn khi xuất trường. Tương tự như luyện điền kinh, nguyên tắc luyện đối kháng tăng tiến được áp dụng cho chiến kê. Khởi đầu, chỉ thực hiện bài tập trung bình. Ở những ngày tiếp theo, khối lượng phải tăng dần, đạt đến đỉnh điểm của huấn luyện thể chất ở một tuần trước khi đá. Ngày tiếp theo, chia khối lượng luyện tập ra làm hai và chỉ thực hiện một nửa. Ngày kế tiếp, lại chia khối lượng luyện tập ra làm hai và thực hiện một nửa. Vào ngày thứ ba, lại giới hạn công việc chỉ còn một nửa và cứ như vậy. Hai ngày trước trận đấu, ngưng tập luyện. Một ngày trước trận đấu, chiến kê được cho nghỉ trong lồng ốp che kín.

    Xổ. Xổ là một dạng luyện tập. Người ta có thể nhận thấy lợi ích của việc xổ khi huấn luyện gà tơ. Trong đợt xổ đầu tiên, chúng chỉ đá những cú sơ đẳng và ra chân bừa bãi. Vào đợt xổ thứ hai, chúng sẽ thể hiện một số tiến bộ. Vào đợt xổ kế tiếp, chúng đã biết cách đá. Bạn có thể áp dụng phương pháp Narraganssett vào việc thả gà trong lúc xổ: hiệp đầu tiên, thả cách nhau 1.2 m. Hiệp thứ hai, thả xa hơn một chút. Hiệp cuối cùng, bạn có thể nhận thấy chiến kê trở nên cảnh giác như thế nào bất kể đối phương được thả từ xa. Ngoại lệ, một số dòng gà vốn có bản tính cực kỳ cảnh giác. Những chiến kê này thích được thả cách xa để tính đường “tránh né” hay tập kích đối phương.

    Dẫu không muốn những người làm găng bị thất nghiệp, xổ gà không cần phải bịt cựa và mỏ. Với chỉ ba, bốn cú nạp, gà xổ không cần đeo găng. Khi bị đá trúng, nó sẽ học hỏi từ kinh nghiệm đau đớn này. Trong lần xổ kế tiếp, gà sẽ đá mạnh hơn, bắt đầu đá trước, rồi đẩy chân ra sâu hơn với thân hơi ngả về phía sau, cố vươn ra ngoài tầm đá của đối phương. Quan trọng hơn, bạn có thể kiểm tra xem chiến kê có thực sự chém sâu hay không bằng cách quan sát dấu lông dính trên cựa hay móng. Bạn không phải lo gà bị mù bởi khả năng xảy ra là rất nhỏ.

    Bới. Khoảng 4 giờ sáng, đặt mỗi chiến kê vào lồng bới (scratch box) trong khoảng 15 phút. Để chúng đi dạo trong trường đấu hay sân xổ cũng trong 15 phút. Lúc này, gắn găng lên chân trái trong lúc gà đi bộ để cho quen. Sau đó, cho hai con đâu mỏ, nắm đuôi và nhử để chúng nổi xung, và sau cùng thả ra để chúng đá. Để gà bị đối phương đá nhằm giúp nó biết tránh né và đá lại đối phương mỗi khi chúng xáp lại. Sau cữ tập, nhốt gà vào lồng bay (flypen) cho đến giờ ăn. Lập lại quy trình này trước bữa chiều.

    Xoay tua. Phương pháp xoay tua đơn giản chuyển một chiến kê từ nơi này sang nơi khác. Chẳng hạn, bắt đầu từ teepee, rồi đến lồng bay, rồi đến lồng vuông (tức lồng bới), rồi sang teepee khác, rồi lại sang lồng khác kèm gà mái, vân vân. Điều này cho phép chiến kê có thể tự vận động, thích nghi theo cách thức riêng. Quan trọng là người chăm sóc phải theo dõi từng con một cách sát sao. Khi chiến kê được đưa vào một môi trường mới, theo bản năng nó sẽ trở nên linh hoạt, kên với con bên cạnh, vỗ cánh, bới xung quanh… sau một thời gian nó sẽ trầm lại. Đấy là lúc mà người chăm sóc cần chuyển nó sang chỗ mới để giúp nó linh hoạt trở lại, và cứ như vậy. Nếu người chăm sóc tin rằng phương pháp xoay tua là tốt cho gà thì phải luôn động não, bởi biệt dưỡng gà không phải chuyện đùa một khi bạn phải luôn để mắt đến chúng cả ngày trong thời gian khoảng ba tuần.

    Tập tay. Bật (flip) – để gà lên kệ, đặt một tay trước ngực gà và tay kia bợ phần phao câu, các ngón tay xòe ra. Bật ngực lên 5 lần liên tục. Rồi đổi bên, bật phần phao câu. Đảm bảo rằng mỗi lần bật, gà đều vỗ cánh. Bật mỗi con một lượt/ngày (5 lần) và tăng dần đến 5 lượt/ngày (35 – 40 bật mỗi ngày tùy dòng gà). Đổi hướng bật nhưng đặt trọng tâm vào bật ngực. Hatch và những dòng gà nặng ký phù hợp với lối tập tay (workout) này trong khi Roundhead và những dòng nhẹ ký khác sẽ đá tốt hơn nếu tập tay ít hơn.

    Bay – Bay khác với bật ở chỗ bạn giữ ngực gà bằng hai tay, bên dưới cánh và ngón cái đặt trên lưng, với đuôi hướng vào sư kê. Cách kệ khoảng 60 cm, buông gà trong không khí với một cú bật nhẹ để nó vỗ cánh. Ngay khi buông, theo bản năng nó sẽ bay lên kệ.

    Kết hợp. Như tên gọi, đây là sự kết hợp giữa tập tay đều đặn với xoay tua. Vào sáng sớm, bạn có thể thực hiện các bước bật và bay và trong cả ngày, chuyển chiến kê từ lồng bay sang teepee… Luôn nhớ rằng lượng vận động nên tăng dần và giảm đột ngột khi cận ngày thi đấu.

    Dưỡng tâm

    Một khía cạnh cũng quan trọng không kém dưỡng thể (physical conditioning) hay thậm chí còn nhiều hơn, là dưỡng tâm (metal conditioning). Mục tiêu của phương pháp biệt dưỡng này là sửa soạn để chiến kê xuất trận. Do đó, bên cạnh việc bồi dưỡng thể lực để có thể đá những cú trời giáng và gia tăng độ bền thông qua luyện tập, chiến kê còn phải làm quen với mọi thứ mà nó sẽ phải trải qua khi bước vào trận đấu thực sự.

    Nên nhớ rằng, gà rất nhạy cảm đối với sự căng thẳng. Chẳng hạn, chỉ cần thay đổi một chút về khẩu phần ăn thì gà công nghiệp sẽ bị căng thẳng – chúng ngừng đẻ. Nếu chúng nghe thấy âm thanh vốn chưa từng nghe bao giờ, chúng ngừng đẻ. Nếu chúng thấy màu sắc không quen mắt, chúng sẽ bị căng thẳng – chúng cũng ngừng đẻ. Mọi người có thể thấy tầm quan trọng của việc giúp chiến kê trong giai đoạn biệt dưỡng làm quen với mọi yếu tố tác động bên ngoài, mà chúng sẽ phải đối mặt ở trường đấu và ngay trong trận đấu.

    Nói cách khác, gà cũng có địa bàn sinh sống tự nhiên, như đề cập ở trên. Nếu chúng từng trải qua những yếu tố tác động bên ngoài một thời gian, chúng sẽ dễ dàng thích nghi. Để minh họa điều này, có một trại gà đẻ ở Samar nằm cuối con đường nhánh. Ban đầu, mỗi khi máy bay hạ hay cất cánh, gà đều bị căng thẳng, thậm chí có con bị chết. Tuy nhiên, không lâu sau chúng quen với việc này đến nỗi mỗi lần máy bay lên xuống ầm ì, sản lượng trứng không giảm mà còn tăng lên. Nếu lịch đáp không đúng và bị hủy bỏ, những con gà mái bị căng thẳng và ngừng đẻ! Chủ trại gà công nghiệp luôn cầu nguyện cho các chuyến bay đến thành phố của họ không bị trục trặc để gà mái của ông có thể đẻ trứng. Điều tương tự cũng xảy ra với chiến kê được biệt dưỡng.

    Đi dạo

    Mỗi lần đi dạo 15 phút trong trường đấu vào lúc 4 giờ sáng với bịt cựa ở chân trái, chiến kê thực sự được dưỡng tâm để quen với ánh sáng, và cảm giác có gì đó gắn ở chân trái. Có quá nhiều chiến kê ngoài trường đấu ngày nay mổ liên tục vào cựa sắt hay cựa dao, đôi khi quên béng mất đối thủ đang lao vào đá mình. Đấy thường là trường hợp khi chiến kê không quen với thứ gì gắn quanh chân trái của nó.

    “Xổ kéo” (salida)

    Mỗi lần sư kê luyện gà “nạp bồi” (saltik), ông không chỉ tập cho nó đá vào đối phương khi chúng đến đủ gần, mà còn nhảy cao lên không để giao nạp với địch. Nó cũng khiến chiến kê nhập tâm rằng một vài giây sau khi giáp mặt đối phương, nó liền đá ngay.

    Tiếng ồn trường đấu

    Một trong những điều khiến chiến kê căng thẳng là tiếng ồn trường đấu, tiếng người la hét, tiếng ầm ĩ khi các sư kê (sabungero) đặt cược. Chẳng mấy con giữ tập trung và bình tĩnh trong trường đấu bởi những tiếng ồn như thế này. Những gì mà bạn có thể làm là ghi những âm thanh này và phát lại mỗi lần xổ gà và để chúng đi dạo dưới ánh sáng. Điều giúp chiến kê nhập tâm coi tiếng ồn này là điều bình thường và nhập trận ngay khi vừa nghe thấy nó.

    Màu sắc

    Như đã đề cập, chiến kê phải được luyện tâm bằng cách yêu cầu người chăm sóc mặc áo mỗi lần mỗi khác màu, từ đỏ đến lam đến trắng đến lục, để mà chúng không bị căng thẳng trong trận đấu một khi nhìn thấy vô số người ngoài trường đấu. Nếu chiến kê không quen thấy màu đỏ tươi, mà lại thấy tay hàng xáo “cazado” ở trường đấu mặc áo màu đó, thì chiến kê đấy có thể mất tập trung vào đối thủ và bị sao nhãng bởi màu áo của đám hàng xáo.

    Ốp

    Ốp là phần cực điểm của biệt dưỡng. Nhiều chiến kê thua trận bởi vì quy trình ốp kém. Có ba yếu tố chính cần cân nhắc trong giai đoạn ốp: nghỉ ngơi, kiểm soát độ ẩm và khẩu phần, sự tương tác giữa chúng sẽ đem lại thành công hay thất bại trong việc đưa chiến kê “tới độ”.

    Nghỉ ngơi

    Nếu đá vào tối thứ bảy, thì nhốt chiến kê vô lồng ốp sau bữa ăn vào chiều thứ năm và toàn bộ ngày thứ sáu. Bắt chúng ra khỏi lồng ốp và thả về teepee hay lồng bay chỉ vài phút trước bữa ăn. Quan sát phân vào lúc này. Tuyển chọn chiến kê linh lợi, phân ẩm nhưng chắc, không quá nhão hoặc quá nhiều nước. Sau khi cho ăn, giúp chiến kê tươi tỉnh bằng cách rửa chân cho chúng. Nhốt lại lồng ốp sau khi cho ăn và uống nước. Vào chiều thứ sáu, thả gà đi dạo trong sàn đấu để chúng thư giãn và thải phân. Lại kiểm tra phân. Rồi nhốt lại vào lồng ốp. Vài phút trước bữa ăn chiều, lại để chúng thư giãn bằng cách lần lượt cột dây ở teepee, thả lồng kẽm hoặc lồng bay. Lại quan sát phân bởi đây là dấu hiệu chính cho biết tình trạng của gà. Về lồng ốp, luôn nhớ rằng để gà nghỉ ngơi thoải mái, chúng phải được nhốt ở nơi cố định và tiện nghi. Che lồng bằng vải sẫm màu, nhưng vẫn đảm bảo thoáng khí. Không nên che kín toàn bộ lồng. Điều quan trọng là tạo cho chúng môi trường thoải mái để có thể hoàn toàn tĩnh dưỡng.

    Kiểm soát độ ẩm

    Quy trình làm khô. Trong số những vấn đề về ốp gà, kiểm soát độ ẩm (moisture control) là vấn đề được quan tâm nhất, có lẽ cũng vì nó không được hiểu biết một cách cặn kẽ. Các chuyên gia đều đồng ý rằng, nếu một chiến kê có quá nhiều nước trong cơ thể thì không thể ốp một cách hiệu quả bởi nó quá nặng nề và không thể bật cao, và một khi bị đâm nó sẽ bị xuất huyết rất nhiều so với gà khô. Mặt khác, nếu gà quá khô, cơ bắp sẽ thiếu lượng nước cần thiết để gà đá chân sâu hết cỡ. Quá khô sẽ khiến gà chém nông.

    Điều quan trọng là phải quan sát lông của chiến kê. Nếu rờ thấy quá khô, hoặc tệ hơn, lông quăn lên thì chiến kê đã quá khô. Bằng cách bợ bên dưới lườn và ngực gà, bạn sẽ biết được gà quá khô, quá ướt hay vừa tới. Nếu bạn cảm thấy trọng tâm nằm ngay lườn, giống như cảm giác khi bạn nhấc cục chì 2 kg, thì gà quá ướt. Nếu bạn cảm thấy trọng lượng giống như “cục gạo rang” (ampaw), thì gà quá khô. Khi tay bạn cảm nhận trọng tâm phân bố đều trên hai chân, vai và ngực, thì bạn đang nắm giữ một chiến kê có tiềm năng thắng trận.

    Việc làm khô phức tạp ở chỗ Philippine là xứ nhiệt đới, nơi mà mọi thứ ở bất kỳ đâu đều ẩm ướt, tức môi trường tương đối ẩm ướt. Khi bạn ở trong phòng máy lạnh nguyên một ngày, bạn sẽ thấy khát và đôi khi môi khô khốc. Đấy là vì bạn bị “khô” đi bởi máy lạnh, vốn cũng là máy hút ẩm. Thêm minh họa nữa, phòng lưu trữ của bất kỳ hãng phim nào cũng có 3 máy lạnh và 2 máy hút ẩm chạy suốt ngày đêm. Cửa sổ được đóng kín và cửa chính được gắn roăng cao su để giữ lạnh. Hai lần mỗi ngày, khoảng 40 lít nước được thu từ bồn chứa của các máy hút ẩm. Đấy là lượng hơi nước trong không khí của phòng được máy hút ẩm lấy ra. Nó cho thấy lượng hơi nước có trong một căn phòng nhỏ. Tương tự, chiến kê có thể trở nên quá khô bởi vì máy lạnh hoạt động mạnh. Chuyên gia máy lạnh Jun Sevilla khuyên điều này để tránh sai sót trong kiểm soát độ ẩm: chỉ cần mở hé cửa sổ hay cửa chính của kê phòng để cân bằng hiệu ứng hút ẩm của máy lạnh, và giữ nhiệt độ ở mức trung bình, giữa cao nhất và thấp nhất. Điều kiện này góp phần vào cái gọi là “vùng tiện nghi” (comfort zone).

    Kiểm soát khẩu phần

    Năm ngày trước trận đấu. Cắt bỏ thực phẩm bổ sung tức cá mòi, dầu, nước mận và những thứ khác, vào buổi chiều. Những thứ vào bữa chiều chỉ là các loại hạt cơ bản và thực phẩm bổ sung cho bữa sáng. Nguyên tắc được vận dụng ở đây là “nước vào, nước ra”. Đây là lúc mà lượng nước trong thức ăn nên giảm nhẹ. Thực phẩm bổ sung như vitamin và những thứ tương tự, phải giảm tương ứng cho đến khi không còn gì hết vào bữa ăn thứ ba trước trận đấu.

    Ba bữa ăn trước trận đấu. Các hạt nên nấu chín (đổ và nước sôi và để nguội tự nhiên) để gà có thể tiêu hóa tốt hơn. Đấy là điều bắt buộc nếu gà được vận chuyển xa. Việc tiêu hóa sẽ dễ hơn và làm giảm căng thẳng cho gà trong quá trình vận chuyển dài. Bổ sung lòng trắng trứng luộc băm nhỏ (nếu được, nên bắt đầu trước đó một tuần) vào khẩu phần.Vào các buổi sáng cận ngày thi đấu, tăng nhẹ lượng bắp trong khi giảm nhẹ yến mạch và hạt xay. Điều này thực sự giúp nạp carbohydrate. Một ngày trước trận đấu, buổi sáng cho gà ăn ít ơn ¼ so với khẩu phần bình thường. Cho uống 8-10 ngụm nước. Lại tiếp tục giảm thêm ¼ khẩu phần vào bữa tiếp theo. Cho uống 5-8 ngụm nước. Vào ngày thi đấu, giả sử gà đá vào buổi tối cùng ngày, buổi sáng chỉ cho gà ăn 50% khẩu phần bình thường (khoảng 20-25 gram). Chỉ cho uống 3-5 ngụm nước. Lượng này là đủ cho chiến kê đến 9-10 giờ đêm.

    Buổi chiều của ngày thi đấu. Nếu biết sớm lịch đấu, bạn có thể dự đoán thời gian gà sẽ đá, dựa trên tốc độ khoảng 6 trận mỗi giờ. Nếu đá sớm vào buổi chiều, như thường diễn ra ở tỉnh lẻ, nếu được nên cắt khẩu phần bữa sáng và bữa trước đó nhiều hơn. Nếu trận đấu diễn ra vào buổi tối và trước 10 giờ tối, không nên cho ăn gì vào buổi chiều. Lượng thức ăn vào buổi sáng đủ để duy trì thể lực cho gà đến lúc đá. Nếu trận đấu diễn ra sau 10 giờ tối nhưng trước nửa đêm, cho gà ăn 3-5 miếng thức ăn viên, 2-3 miếng lòng trắng băm, 1-2 hạt bắp nấu vào bữa chiều và cho uống một ngụm nước, thường vào khoảng 5 giờ chiều. Ở một số giải derby lớn, thường kéo dài đến sáng hôm sau, nếu gà đá sau 4 giờ sáng, thì cho ăn 1 muỗng canh thức ăn viên, bắp và lòng trắng trứng luộc băm cùng với 5 ngụm nước. Hoạt cảnh trên đây chỉ là dự đoán. Nguyên tắc quan trọng cần ghi nhớ đó là tùy vào lịch thi đấu của chiến kê mà điều chỉnh lượng thức ăn vào buổi chiều của ngày thi đấu.

    Khi vào giờ ăn chiều mà vẫn chưa lấy được lịch đá thì không có cách nào để dự đoán lượng thức ăn cho chiến kê. Do vậy, bạn phải đi lối an toàn bằng cách cho ăn giống như nó sẽ đá vào lúc 9-10 giờ tối. Bạn sẽ không cho gà ăn gì vào bữa chiều. Vào lúc 8 hay 9 giờ tối, cho chiến kê ăn một hai miếng thức ăn ốp (pointing feed) mỗi giờ. Điều này giúp chiến kê không bị “xuống độ”. Hai miếng sẽ giúp chiến kê giữ “độ” trong những giờ tiếp theo. Nhớ duy trì sát sao lịch cho ăn mỗi giờ. Mọi chậm trễ sẽ làm chiến kê bị căng thẳng. Nếu đá cáp, hãy ốp chiến kê giống như đá giải nhưng chỉ cần dự tính sớm hơn (ở Việt Nam hầu như chỉ đá cáp, thường diễn ra vào buổi sáng hay chiều chứ không bao giờ kéo dài đến… đêm!).

    Để chuẩn bị thức ăn ốp, lấy nửa chén cơm gạo lức hay trắng, trộn với một ít nho khô, cho thêm ít mật ong và một ly nửa sữa bột-nửa nước. Dùng đường vàng trộn với sữa và nước cũng được. Rưới lên cơm và để trong một giờ. Trữ lạnh để khỏi thiu. Đem theo đến trường đấu.

    Quan sát phân

    Nếu chiến kê được nhốt vào lồng kẽm sau bữa sáng, bạn cần quan sát 4 loại phân trong một chu kỳ tiêu hóa. Loại đầu thường vón cục (solid) nhưng mềm, phớt xanh. Nó thường đi kèm chút chóp trắng như kem. Điều này có nghĩa vẫn còn ít thức ăn trong ruột của gà. Phân sẽ nhỏ dần mỗi lần gà thải ra. Loại thứ hai là phân nâu (cecal), mà nó có màu nâu, nhão. Nó nặng mùi và sẫm như chocolate. Khi gà thải loại phân này, giống như loại đầu, nó cũng giảm dần kích thước. Lớp chất lỏng dày màu trắng cũng giảm dần kích thước. Chúng thuộc về loại phân thứ 3: phân lỏng hay nước tiểu (urate). Chúng có màu trắng, đôi khi có bọt và luôn giống như kem va-ni chảy. Cũng vậy, như những loại phân khác, càng về sau thì kích thước phân này càng giảm cho đến hết. Ở thời điểm này, ruột gà trống rỗng và nếu biệt dưỡng đúng cách, nó sẽ “tới độ” (on peak). Sau cùng, gà sẽ thải “nọc” hay phân sáp (moisture). Chúng trong suốt, giống như chất lỏng nhưng lại đặc, tương tự như lòng trắng trứng tươi, hay nước mũi khi người ta bị cảm lạnh. Khác với ba loại đầu, loại phân này càng về sau thì kích thước càng tăng. Một khi phân sáp ra hết, đó là dấu hiệu rõ rệt cho thấy gà đã “xuống” và vượt quá điểm rơi phong độ của nó.

    Dấu hiệu tới độ

    Bên cạnh phân sáp, có những dấu hiệu khác mà một chiến kê “tới độ” thể hiện. Một trong số đó là lắc đầu. Chiến kê trong trạng thái cảnh giác nhưng bình tĩnh. Chân gà trở lạnh từ đầu ngón trở lên. Đầu di chuyển giật cục. Nó dường như cố lắc cho văng thứ gì bị dính ra khỏi đầu. Hiện tượng này được gọi là “lắc đầu” (head knocking syndrome), và cũng là dấu hiệu tốt. Rỉa lông là một dấu hiệu khác. Trong bất kỳ trường hợp nào, bạn có thể nhận thấy chiến kê được nghỉ ngơi sẽ dần dần “tới độ”, cơ thể căng lên của nó khiến người nuôi có cảm giác rằng nó nhẹ đi. Bạn có thể liên hệ việc căng lên này với hiện tượng chiến kê đổi phân từ dạng nâu sang dạng lỏng. Khi điều này xảy ra, hơi lạnh bắt đầu lan dần từ ngón chân lên trên cho đến khi gà “tới độ”. Do đó, khi gà bắt đầu “xuống”, phân sáp ra nhiều, và hơi lạnh ở chân được thay thế bằng nhiệt. Nếu điều này xảy ra và nếu vẫn còn cơ hội thoái lui thì không nên để chiến kê đá nữa bởi cửa thua nhiều hơn là cửa thắng.

    Đăng ký trọng lượng

    Ngày nay, đá giải bao gồm hai loại: một loại yêu cầu cân gà một ngày trước khi đá và một loại yêu cầu cân gà vào buổi sáng của ngày đá.

    Kiểm tra phân

    Khi đến trường đấu, để gà nghỉ 30 phút trước khi cho ăn bữa sáng. Bắt từng con ra khỏi hộp dưỡng và để chúng thải phân. Sẽ tốt nhất nếu thực hiện việc này tại trường đấu để gà làm quen với không khí ở đó. Từng con một, để chúng đi dạo và thải phân trong vài phút. Sau đó, ghi nhận từng loại phân mà gà thải ra: phân xanh vón cục với chóp trắng, phân nâu hay trắng hay gì nữa. Rồi ghi chép cân nặng của gà trước khi cho ăn. Sau khi cho ăn và uống nước, cân gà lần nữa. Điều này sẽ thể hiện chính xác lượng thức ăn mà nó tiêu thụ trong bữa đó.

    Cắt giảm trọng lượng phụ trội

    Còn bây giờ đến phần cực kỳ mánh lới. Chẳng hạn, một chiến kê nặng 2.050 g sau khi thải phân xanh cỡ ngón tay. Sau bữa ăn và 3 ngụm nước, giờ nó nặng đến 2.080 g. Trọng lượng đăng ký sẽ được tính như sau:

    *** 2.050 – trọng lượng sau khi thải phân

    trừ đi: 20 g – trọng lượng thức ăn còn tồn bên trong bụng

    ——————

    *** 2.030

    trừ đi: 35 g – giả sử rằng trọng lượng phụ trội là 35 g

    ——————

    *** 1.995

    trừ đi: 15 g – trọng lượng tối thiểu mà chiến kê sẽ sút ký trong ngày (đôi khi lên đến 20 gram)

    ——————

    *** 1.980

    Từ trọng lượng 2.080 g vào buổi sáng sau bữa ăn, trọng lượng đăng ký chỉ là 1.980 g.

    Một ví dụ khác: gà B nặng 2.170 g sau khi thải phân nâu. Sau khi ăn bữa sáng và uống nước, nó nặng 2.210 g, có nghĩa nó vừa nạp thêm 40 g. Trọng lượng đăng ký sẽ được tính như sau:

    *** 2.170

    trừ đi: 10 g – trọng lượng thức ăn còn tồn bên trong bụng

    ——————

    *** 2.160

    trừ đi: 35 g – trọng lượng phụ trội

    ——————

    *** 2.125

    trừ đi: 15 g – trọng lượng mà chiến kê thải thêm trong ngày

    ——————

    *** 2.110 kilograms

    Trong trường hợp này, trọng lượng đăng ký là 2.110 g.

    Nếu chiến kê thải hết nước tiểu trước khi ăn tức bụng nó đã trống hoàn toàn. Trong trường hợp này, trọng lượng phụ trội cùng với 15-20 g nữa được khấu trừ vào trọng lượng đăng ký.

    Trong các giải derby đòi hỏi trọng lượng phải được đăng ký vào đêm hôm trước, hãy tăng lên 30-40 g thay vì 15-20 g. Nói cách khác, chiến kê sẽ tiếp tục giảm cân vào ngày đá. Dĩ nhiên, hoạt cảnh này thay đổi tùy vào mỗi dòng gà và những yếu tố khác nữa. Nếu trời mưa, chiến kê sẽ khó giảm trọng lượng vì độ ẩm trong không khí cao và nó sẽ hấp thụ vào người. Để an toàn, hãy thực hành theo công thức này cho đến khi bạn xác định được số lượng mà chiến sụt ký vào giai đoạn quyết định này.

    Quản lý kê phòng

    Chọn kê phòng

    Nhiều chiến kê bị thua bởi sai sót trong việc chọn kê phòng. Nên nhớ, gà rất nhạy cảm với yếu tố mới lạ. Nếu không quen bị nhốt, chúng sẽ bị căng thẳng. Nếu vị trí kê phòng gần với toa-lét hôi hám, chúng sẽ bị căng thẳng. Nếu bị phơi dưới ánh nắng chói chang, chúng sẽ bị căng thẳng. Luôn nhớ rằng, tất cả đều phụ thuộc vào quyết định của bạn. Nếu bạn cảm thấy thoải mái trong một kê phòng nhất định thì hãy chọn nó. Nếu thời gian cho phép, lau dọn và khử trùng (bằng loại thuốc không có mùi gắt) các lồng và kê phòng một vài ngày trước khi vào giải. Đừng chờ đến ngày xuất trường hoặc trong khi đang vận chuyển gà mới làm. Để đạt kết quả tốt nhất, hãy tự mang theo tủ dưỡng tháo lắp với chạc gắn vừa tầm. Điều này sẽ giúp gà thư giãn tốt hơn bởi vì chúng đã quen với tủ dưỡng của mình trong quá trình biệt dưỡng. Nhiều sư kê cũng đặt lưới muỗi bên dưới các lồng được bao lưới này để ngừa muỗi vào ngày đá giải.

    Bảo vệ

    Nhiều người thua trận bởi kẻ xấu lẻn vào kê phòng thực hiện hành vi bất chính. Nghe nói có chiến kê bỗng dưng bị thương ở chân, hay thải phân rất lạ mà không có lý do rõ ràng. Người điều hành phải luôn có ai đó đủ tin cậy và không quá khù khờ túc trực bên trong hoặc ngay cửa kê phòng để ngăn ngừa những tay “điếm gà” như vậy. Trong khi khởi động, đảm bảo không chiến kê nào mổ thức ăn rơi vãi vốn có thể bị tẩm độc. Đừng bao giờ bị mắc bẫy kiểu như thế này “Xếp đang ở đầu dây và muốn nói chuyện với anh, có việc khẩn cấp. Đừng lo, tôi sẽ trông kê phòng cho anh”.

    Mức độ thoải mái

    Như đã thảo luận trước đây, nếu sử dụng máy lạnh có thang đo nhiệt độ và độ ẩm, thì nhiệt độ lý tưởng của kê phòng phải từ 23-26 độ C trong khi độ ẩm từ 40% đến 60%. Còn nếu không thang đo thì có thể cài đặt nhiệt độ ở khoảng giữa của mức lạnh nhất và nóng nhất, bật chế độ “low cool”, và hé cửa sổ hoặc cửa chính. Một lần nữa, cảm của nhận bạn là chủ yếu. Nếu bạn thấy kê phòng quá lạnh thì có lẽ nó cũng quá lạnh với chiến kê. Nếu bạn thấy quá nóng thì có lẽ kê phòng nóng hơn 26 độ C. Nếu bạn cảm thấy thoải mái, dẫu điều này rất chủ quan, thì nhiều khả năng chiến kê cũng thoải mái.

    Thả gà

    Thả gà (pitting) một cách phù hợp và bình tĩnh là điều quan trọng. Nên nhớ rằng, từ khi bắt đầu quá trình biệt dưỡng, từ khâu tuyển chọn cho đến quá trình ốp, thả gà là điều cuối cùng mà bạn có thể làm để giúp chiến kê thắng trận.

    Lăn

    Tưởng tượng một máy bay đang hạ cánh trên phi trường. Đấy là cách mà một chiến kê chủ công (aggressive) được thả. Thả quá nhanh thì nó sẽ tiếp đất bằng ngực hay tệ hơn, bằng đầu. Thả quá chậm và bạn kéo nó trên không rồi tiếp đất có thể gây ra vấn đề sau đó. Thực hành đem lại sự hoàn thiện. Hoạt cảnh hoàn hảo là một khi chiến kê được khởi động vừa đúng lúc, khi bạn “lăn” (rolling) gà lúc thả, gà sẽ đá ngay vào đối phương, “ghim” trên không và “đè” nó xuống mặt đất.

    Thả bên

    Với loại chiến kê thận trọng và phòng thủ (defensive), tốt nhất nên thả cách xa đối phương, bằng lối “thả bên” (sideway). Điều này sẽ giúp nó có thời gian để điều chỉnh và lập kế hoạch tấn công hay phản đòn. Nếu đối phương thuộc loại đá nạp tốc độ, sẽ khôn ngoan nếu thả chiến kê ở mặt bên để phòng ngừa mọi biến cố. Nếu trường đấu đủ rộng, cách thả bên sẽ thuận lợi hơn.

    Luôn sẵn sàng

    Dẫu chiến kê thuộc loại tấn công hay phòng thủ, điều bắt buộc là nó phải được thả nhanh hơn đối thủ trong nháy mắt. Chạm đất trước có nghĩa nó sẽ có nhiều thời gian và cơ hội hơn để chuẩn bị hay nạp đối phương trong nháy mắt. Nếu chiến kê của bạn chủ công, chạm đất trước đồng nghĩa với việc nhanh hơn đối phương một hoặc hai chân. Trong khi đối phương hãy còn đang xoay trở, chiến kê của bạn đã có mặt giữa trường đấu và đá cật lực vào nó. Tác động chắc chắn sẽ nhân đôi bởi vì nó được gia tốc. Mặt khác, nếu chiến kê của bạn thuộc loại phòng thủ mà nó thích đợi đối phương công trước, chạm đất trước đồng nghĩa với việc có thêm nhiều thời gian để canh nạp khi đối phương lao đến, tức có thêm thời gian để “ghim”đối thủ trên không một cách chính xác. Trong bất kỳ trường hợp nào, thả gà trước luôn có nhiều lợi thế hơn.

    Phần kết

    Làm mọi thứ để chiến thắng, miễn đừng ăn gian

    Đại sư Paeng Araneta luôn đưa ra lời khuyên này cho tất cả những người mới chơi mà ông gặp. Sau tất cả, đá gà là bộ môn thể thao, trung thực, sòng phẳng và thể hiện tất cả những gì tinh túy nhất của các sư kê. Danh dự và tính cách là nguyên tắc hơn là biệt lệ. Các sư kê danh tiếng, kể cả những người được tôn kính, có thể không bao được gọi là “sư kê” nếu họ bị phát hiện chơi ăn gian hay tham gia vào các trận đấu được dàn xếp.

    Hãy cao thượng

    Khi bạn thua, hãy bắt tay người thắng trận ngay trong trường đấu, không phải ở bên ngoài. Điều này nhằm gửi một thông điệp rõ ràng đến tất cả khán giả rằng bạn là người cao thượng và đủ nhân cách để chấp nhận thất bại. Khi nâng xác chiến kê bại trận của mình, luôn giữ cho đầu nó ngẩng cao một cách kiêu hãnh. Các cựu sư kê sẽ không hài lòng nếu thấy nài gà (pitter/sultador) xách đuôi hay chân gà ra ngoài. Dẫu có thất bại, chiến kê đã cống hiến cuộc đời cho bạn. Giữ đầu nó ngẩng cao khi rời trường đấu là vinh dự tối thiểu mà bạn có thể mang lại cho đấu sĩ lông vũ bại trận này. Khi bạn thắng, hãy tỏ ra khiêm tốn với những phát biểu đại loại “chúng tôi chỉ ăn may”. Hành vi hả hê và nhảy cẫng sẽ phải nhận những lời chê bai. Như thường lệ, dẫu bạn có thắng, hãy phân tích từng trận đấu, cách mà bạn thắng hay thua trận, để trở nên hoàn thiện hơn trong tương lai. Trong các đánh giá như vậy, những thuật ngữ như “thắng hay”, “bại hay”, “thắng dở” và “bại dở” được sử dụng để đặc trưng hóa trận đấu. Sư kê xuất sắc có “thắng hay” và “bại hay”. “Thắng dở” và tệ hơn là “bại dở” đồng nghĩa với rất nhiều công việc cần phải hoàn thiện.

    Cựa dao Philippine

    “Khi chiến kê thắng trận, nó thực sự là hảo kê. Nhưng khi chiến kê bại trận, mọi lỗi lầm đều quy cho người gắn cựa”. Đây là câu thường được nghe mỗi khi sư kê phân tích các trận đấu của mình. Ngoài việc quá thành kiến đối với người gắn cựa (gaffer/mananari), nó còn thể hiện thái độ chua chát và thiếu cao thượng mà một sư kê Filipino không nên mắc phải. Sách này không chỉ có mục đích đặt loại cựa dao Filipino vào đúng vị trí thích hợp của nó, mà còn nâng tầm bộ môn lên cấp độ khoa học. Hy vọng rằng, qua bài này, nghệ thuật cột cựa sẽ được làm sáng tỏ.

    Cựa truyền thống

    Thành phần của cựa dao (tari)

    – Chạc (tinidor)

    – Chóp chạc (tenga)

    – Khoen ngón

    – Tay (mesa)

    – Cán (leeg)

    – Mũi dao

    – Lưỡi dao (talim)

    – Sống dao (batok)

    Thiết kế và mẫu dao

    Thiết kế của cựa dao chỉ thay đổi chút ít trong cả thế kỷ qua. Về cơ bản, dân đá gà ở Philippine thường sử dụng lưỡi cong bởi một điểm đáng chú ý là chiến kê quạt chân theo một đường vòng cung, bởi vậy mà thiết kế của lưỡi dao thuận theo chuyển động tự nhiên của chân. Thiết kế mũi dao về cơ bản cũng tương tự như mũi giáo. Theo các chuyên gia chế tạo dao, mẫu này thích hợp với việc đâm (piercing) hơn là cắt và chém (slashing). Do đó, người ta thường thấy đa phần vết thương luôn có dạng đâm (puncture-like).

    Mẫu mã về tiết diện lưỡi dao đa dạng hơn so với mũi dao. Dưới đây là các mẫu tiết diện khác nhau của cựa dao. Mẫu cuối cùng là loại được chuộng nhất ngày nay bởi vì nó nhẹ và mỏng, đồng nghĩa với việc chém tốt hơn.

    Hướng lắp cựa (alignment).

    Đây là chủ đề gây tranh cãi nhiều nhất bởi vì nó đa phần phụ thuộc vào kinh nghiệm. Cựa thường được lắp theo hướng ngón thới với mũi dao chạm vào đường vuông góc với cẳng chân ngang qua cựa. Đây là cách mà nhiều tay gắn cựa gọi là “lắp vuông góc”.

    Một hướng “lắp vuông góc” khác với mũi dao chạm vào đường vuông góc từ hậu môn xuống mặt đất.

    Một hướng lắp phổ biến với hầu hết các tay gắn cựa là khi bạn kéo duỗi cẳng chân, cựa dao sẽ trỏ thẳng vào hậu môn. Vấn đề của cách lắp này ở chỗ nó quá chủ quan, tức người ta có thể kéo cẳng chân theo bất kỳ hướng nào mà họ muốn – bởi vậy nếu người gắn cựa muốn đâm hướng này và kéo chân về phía đó thì cựa dao cũng sẽ hướng… về đó.

    Sáng tạo

    “Phi điểu” hay “dao bầu”. Nếu bạn để ý đến lưỡi của loại dao làm bếp, bạn sẽ thấy nó cong về hướng mũi dao. Các chuyên gia chế dao từ lâu đã phát hiện thấy điều này là cần thiết nếu bạn muốn chém tốt. Mũi dao hướng lên trên trông giống như “cánh chim” bay. Hầu hết những lời truyền khẩu đều nói rằng kiểu thiết kế này là của nghệ nhân Dave Aranez quá cố, người có lẽ có ảnh hưởng nhiều nhất đến những chuyên gia chế dao khác. Loại dao này thường được gọi là “phi điểu” (pakpak langaw) hay “dao bầu” (buntis), hiển nhiên do lưỡi dao có dạng “bầu”.

    “Cầu răng” (pustiso). Theo nghệ nhân Carding Manaloto, vào năm 1980, một tay chế cựa dao ở Bulacan sáng tạo ra một “siêu dao” mới, có lẽ chịu ảnh hưởng bởi loại cựa dao Malay. Hiện nay, nó được biết đến một cách phổ biến như là loại cựa dao đế tròng cân chỉnh được  – một cách dùng từ sai bởi nó thực sự không có đế tròng như là cựa dao Mỹ. Nó được đặt tên là “pustiso” bởi trông giống như là cầu răng giả kim loại.

    Khoen ngón thực sự vô tác dụng. Các kỹ sư-sư kê giải thích rằng nó không chỉ làm cho cựa dao nặng thêm vài gram, mà cấu trúc còn không thuận lợi hay hỗ trợ cho chạc. Một số tay chế cựa loại bỏ hẳn khoen ngón trong khi số khác vẫn giữ lại một phần như là ngàm phụ để giúp lắp cựa chặt hơn.

    Lưỡi mỏng. Tương tự như dao xếp, lưỡi dao mỏng và dẹp đồng nghĩa với việc chém dễ hơn và cựa cũng nhẹ hơn.

    . Ngoài việc giúp cột dao nhanh hơn, nhờ độ dày của da, lượng dây cước hay dây vải dùng để cột cũng chỉ bằng 2/3 so với chiều dài thông thường. Việc cột dao nhờ đó đơn giản hơn. Nhờ ủng da vừa khít, với một đầu tròng vào cựa trong khi đầu kia ép sát vào “ngàm” (paunan), cựa sẽ không bị xê dịch thậm chí với cú đá dữ dội nhất. Các sợi da ngắn được dùng để điều chỉnh góc xoay của cựa dao theo bất kỳ hướng nào mà người lắp cựa muốn.

    Chất liệu làm cựa dao

    Những người làm cựa dao truyền thống chọn loại chất liệu cứng như mũi khoan, ổ bi, cưa và lò xo, nghĩ rằng đấy là những chất liệu tốt nhất. Họ nung thép để làm mềm hay tôi, rồi gò nó thành hình dạng và kích thước mong muốn. Vấn đề ở chỗ, độ cứng của vật liệu không đến lõi nếu làm theo cách này. Bởi vì nhiệt độ và thời gian nung cần thiết trong từng công đoạn không đạt, dao sẽ bị hỏng sau vài lần mài lại.

    Nên sử dụng loại thép gió (high speed steel) để làm cựa dao, mặc dù cũng có thể dùng thép gia công nguội (cold-work steel). Thép gió chứa thành phần hợp kim cao được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị cắt bởi độ cứng và kháng mòn. Thép gió dòng M bao gồm khoảng 10% molybdenum cùng với thành phần hợp kim chromium, vanadium, tungsten và cobalt. Thép gió dòng T bao gồm từ 12% đến 18% tungsten cùng với thành phần hợp kim chromium, vanadium và cobalt. Trong hai loại trên, thép dòng T ít bị biến dạng khi nung và rẻ tiền hơn. Để gia cố lớp vỏ bảo vệ, thép này có thể được mạ thêm lớp titanium nitride và titanium carbide.

    Trên diện rộng, giá cả ảnh hưởng đến việc lựa chọn chất liệu được sử dụng để làm cựa dao. Dẫu thép gió là tốt nhất, giá của chúng cao hơn nhiều so với thép gia công nguội.

    Quy trình nung để làm cựa dao

    Lò luyện kim chạy điện thông thường dùng cho dụng cụ và tiệm xi mạ nhỏ là yêu cầu tối thiểu, nhưng lò luyện kim chân không thích hợp hơn để chế tạo cựa dao. Trong khi cả hai loại đều có vi mạch điều khiển nhằm điều chỉnh nhiệt độ phù hợp cho từng giai đoạn gia công thép, lò luyện chân không không có không khí, do đó, ngăn cản ô-xy hóa vào thải loại carbon. Điều này có nghĩa thép không bị cháy. Thép cháy tạo ra xỉ mà nó làm giảm lượng carbon trên bề mặt. Lượng carbon suy giảm đồng nghĩa với chất liệu làm cựa dao không tốt, những thiểt bị công nghiệp như máy cán và đánh bóng được dùng để chế tạo cựa dao nhằm đem lại độ chính xác về kích thước và khả năng sản xuất hàng loạt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết 20 Cách Khi Xem Chân Gà Chọi
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Phép Xem Đầu Gà Và Huyết Gà
  • Kinh Nghiệm Trồng Dưa Leo Thùng Xốp
  • Những Loài Lan Mới Ghi Nhận Lần Đầu Ở Việt Nam
  • Hemipilia Một Loài Lan Mới Của Việt Nam
  • Cách Trồng Lan Hồ Điệp Cấy Mô Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Phân Biệt Lan Sóc Ta, Sóc Lào, Ngọc Điểm Đai Châu
  • Thay Chậu Trồng Hồ Điệp Với Dớn Trắng (Sphagnum Moss)
  • Cách Sử Dụng Phân Growmore Orchid 20-20-20 Cho Lan
  • Ánh Sáng Cho Lan Cattleya
  • Lí Do Khiến Lan Dã Hạc (Dendrobium Anosmum) Không Ra Hoa?
  • 1. Giá thể và chậu nuôi trồng:

    a. Chuẩn bị giá thể trồng lan Hồ Điệp cấy mô :

    – Than gỗ chặt nhỏ vừa (kích thước 1 x 3 x 2cm), ngâm rửa sạch và để khô ráo.

    – Vỏ dừa già chặt thành những miếng nhỏ, chiều ngang 2-3 cm; chiều dài 4-5 cm, ngâm vào nước vôi 5% từ 3-5 ngày để vỏ dừa mềm và bớt chất tanin, rửa sạch nước vôi, và vớt ra để ráo nước.

    – Dớn: ngâm trong nước sạch tối thiểu 24 giờ để cho đớn đủ mềm và sạch cát, rửa lại nhiều lần bằng nước sạch, vớt ra để ráo.

    b. Chuẩn bị chậu trồng lan Hồ Điệp cấy mô:

    – Kích thước chậu tùy theo tuổi cây mà chọn cho thích hợp (cây từ 0 – 6 tháng tuổi trồng chung trong rổ nhựa, cây từ 6 -12 tháng tuổi cỡ chậu 8 – 9 cm; cây trên 12 tháng tuổi cỡ chậu 12 – 14 cm).

    – Đối với chậu đất nung chỉ dùng giai đoạn cây lớn trên 12 tháng tuổi, chọn các chậu đã được nung chín (tay ướt sờ vào không hút bám vào chậu, gõ nghe thanh trong), có nhiều lỗ thoáng (cho cây rễ mập và cây có rễ gió nhiều), chậu không úng nước, miệng chậu không có gờ vì rất khó gắn ti tơ.

    – Đối với chậu nhựa với lợi điểm là nhẹ và dễ dàng vận chuyển, không hấp thụ các chất khoáng từ nước và phân bón, rễ không bám chặt vào thành chậu, có nhiều lỗ thoáng. Phải rửa sạch trước khi trồng. Tốt nhất nên chọn chậu nhựa trong.

    2. Các giai đoạn trồng Hồ Điệp cấy mô:

    a. Lấy từ chai cấy mô ra: Khi cây lan có 2-3 lá, đầu rễ có nhiều lông màu trắng là đạt tiêu chuẩn ra vườn ươm.

    b. Trồng chung trên giàn: Để vào rổ nhựa nhỏ (thường là rổ chữ nhật kích thước: 15 x 20 cm) 1 lớp dớn đã xử lý dày khoảng 3 cm; cấy cây con vào rổ; xếp các rổ cây lên giàn. Duy trì ẩm độ từ 70 – 80%; cường độ ánh sáng 30 – 35%, nhiệt độ dưới 250C.

    d. Sau khi trồng trong chậu nhỏ khoảng 6 tháng thì chuyển sang chậu lớn. Sau thời gian chuyển chậu một tuần, khi cây đã phục hồi tưới được bón các chất dinh dưỡng.

    Cách thay chậu lan Hồ Điệp cấy mô: Muốn thay chậu thì phải tưới thật đẫm nước trước 5-10 phút hoặc ngâm vào xô nước, nhẹ nhàng lấy bụi lan ra. Sau đó, làm vệ sinh, cắt bỏ hết rễ hư thối và các lá đã khô trồng vào chậu mới, đặt bụi lan vào giữa chậu lớn rồi thêm than và dớn vào quanh gốc, tránh không làm tổn thương bộ rễ cây.

    3. Nhiệt độ nuôi cây Hồ Điệp cấy mô:

    Đối với Hồ Điệp: cây tăng trưởng và phát triển tốt ở vùng có nhiệt độ khoảng 15 – 28 độ C. Cụ thể:

    – Lan từ 0 – 6 tháng tuổi: nhiệt độ tối ưu dưới 25 độ C;

    – Lan từ 6 – 12 tháng tuổi: nhiệt độ tối ưu trong khoảng 25 độ C – 28 độ C;

    – Lan từ 12 – 18 tháng tuổi: nhiệt độ tối ưu trong khoảng 25 độ C – 28 độ C;

    – Lan từ 18 – 24 tháng tuổi: nhiệt độ tối ưu dưới 25 độ C (trong khoảng 21 độ C – 23 độ C);

    Lưu ý:

    – Vào khi nhiệt độ vườn ươm cao cần che kín vườn lan, dùng hơi nước phun mù trên mái nilon để tạo không khí ẩm mát, dùng quạt thổi điều hòa không khí trong vườn lan.

    – Vào mùa mưa phải có mái che cho luống lan; vào mùa đông và khi nhiệt độ thấp che kín gió và thổi ấm để điều chỉnh nhiệt độ phù hợp cho vườn lan.

    – Vào thời điểm lan ra hoa cần chuyển cây lan vào trong nhà kín hoặc phòng kín có ánh sáng để xử lý nhiệt độ thấp tạo cảm ứng ra hoa. Sau khi lan ra hoa có thể đặt cây lan trong điều kiện nhiệt độ đến 280C.

    Cường độ ánh sáng nuôi cây:

    – Lan từ 0 – 6 tháng tuổi: tối ưu 30 – 35% ánh sáng tự nhiên;

    – Lan từ 6 – 12 tháng tuổi: tối ưu 30 – 35% ánh sáng tự nhiên;

    – Lan từ 12 – 18 tháng tuổi: tối ưu 30 – 35% ánh sáng tự nhiên;

    – Lan từ 18 – 24 tháng tuổi: tối ưu 50% ánh sáng tự nhiên;

    (Sử dụng màu sắc và cấu tạo đặc tính của lưới che để điều chỉnh cường độ ánh sáng).

    Điều kiện độ ẩm nuôi cây:

    Lan từ 0 – 24 tháng tuổi: độ ẩm tối ưu 70 – 80%;

    (Dùng hơi nước phun mù để tạo ẩm cho vườn lan).

    4. Kỹ thuật bón phân Hồ Điệp cấy mô:

    – Nguyên tắc: tưới phân cho lan cần đủ các thành phần đạm (N), lân (P), ka li (K), canxi (Ca), magie (Mg) và các chất vi lượng như Fe, Mn, Zn, Cu, Bo, Mo… và các vitamin C, B1, B6. Tùy theo giai đoạn tưới cây lan có chế độ bón phân phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây. Kỹ thuật bón phân và loại phân sử dụng chung như sau:

    – Bón phân dưới gốc (theo hệ rễ): Sử dụng phân hữu cơ sinh học hoặc phân hữu cơ – khoáng chậm tan; phân khoáng có màng bọc túi nhỏ có kích thước 7 x 4cm. Đặt lên mặt chậu (1 túi/chậu), khi tưới nước phân sẽ tan từ từ cung cấp cho hệ rễ của cây (Hiện có bán ở các cơ sở dịch vụ cây trồng và phân bón trong tỉnh).. Ngoài ra có thể sử dụng một số loại phân chậm tan (phân chì) để bón nhằm tăng hiệu quả sử dụng phân.

    – Bón phân trên lá (theo hệ lá): Phun bổ sung phân lỏng Humix phun định kỳ 2 lần/ tháng; phân HVP 3ml/l phun định kỳ 2 lần/ tháng; các loại phân hữu cơ sinh học dạng lỏng: Fish Emulision và Seaweed và VitaminC, B1 phun định kỳ 2 lần/ tháng. (Hiện có bán ở các cơ sở dịch vụ cây trồng và phân bón trong tỉnh).

    – Các loại NPK (bón theo hệ lá), cụ thể như sau:

    + Cây lan từ 0 – 6 tháng tuổi: phun NPK 30-10-10 với nồng độ 0,5g/lít, định kỳ 3 ngày/lần.

    + Cây lan từ 6- 12 tháng tuổi: phun xen kẽ NPK 30-10-10 và NPK 20-20-20; nồng độ NPK 1 gam/lít, định kỳ 5 ngày/lần.

    + Cây lan từ 12-18 tháng tưổi: phun xen kẽ NPK 30-10-10 và NPK 20-20-20; nồng độ NPK 2 gam/lít, định kỳ 5 ngày/lần.

    + Cây lan từ 18-24 tháng tuổi: phun xen kẽ NPK 10-30-30 + NPK 10-60-10; nồng độ NPK 2gam/lít, định kỳ 5 ngày/lần.

    5. Nguyên tắc tưới nước cho hồ điệp cấy mô:

    + Nước tưới phải tuyệt đối không bị mặn, không bị phèn, không quá kiềm và không có clo (nếu dùng nước giếng để tưới phải qua lọc; nếu dùng nước máy để tưới phải có bể dự trữ để cho bay hết clo). Độ pH của nước có độ axit nhẹ

    pH = 5,2.

    + Tưới nước nhiều hay ít tùy thuộc vào mùa vụ, độ ẩm, sự thông thoáng, giá thể, loài lan, mùa tăng trưởng, nhiệt độ, sự che sáng nơi trồng, tình hình bệnh trạng của lan.

    – Cách tưới thông thường như sau:

    + Mùa nắng, mùa khô hanh: tưới 2 lần; lần 1 từ 9 – 10 giờ sáng; lần 2 từ 3 – 4 giờ chiều; khi hết ánh nắng lá cây và vườn phải khô ráo.

    + Mùa mưa: Khi sờ tay vào gốc lan có cảm giác lớp vỏ dừa đã khô, tưới phun mù nhẹ trên lá.

    + Khi cây bị bệnh, ngừng tưới đến khi cây có dấu hiệu phục hồi.

    + Khi cây 0-6 tháng tuổi tưới phun mù, khi cây trên 6 tháng tuổi tưới béc phun.

    6. Phòng trừ sâu bệnh Hồ Điệp cấy mô:

    – Thông thường cần phun định kỳ thuốc phòng trừ sâu bệnh hại lan theo hướng dẫn trên bao bì mỗi loại thuốc; nếu để cây bị bệnh mới phun trị thì rất dễ thiệt hại lớn cho người sản xuất vì bệnh lây lan rất nhanh.

    Thường xuyên thay đổi thuốc BVTV để tăng hiệu quả của thuốc và tránh hiện tượng sâu bệnh lờn thuốc.

    – Các loại sâu bệnh thường gặp trên lan Hồ Điệp cấy mô và thuốc phòng trừ:

    1. Bệnh thối nâu (bệnh thối mềm) do vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra: Khi xuất hiện bệnh cần tập trung các cây bệnh vào một nơi để tránh lây lan, cắt bỏ hết chỗ bị bệnh, xử lý vết cắt bằng vôi rồi phun Ditacin 8L, Kasumin 2L hoặc thuốc kháng sinh Argimycine 1% liên tiếp 3 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày, ngưng tưới nước để vết cắt mau lành. Nếu bệnh nặng, nhổ cả cây nhúng vào dung dịch Kasumin 2L 0,1% để khô rồi trồng lại. Lưu ý phải xử lý cả cây và giá thể trồng.

    2. Nhện đỏ (Red spider mites): Dùng Nissorun, Danitol, Ortus, Dầu SK enspray 99, Chlocide.

    3. Bệnh thối đen do nấm Phytophthora palmivo gây ra: Dùng Alpine, Mexyl-mz, Ridomil, Curzate-M8, Appencarb 75 DE, Score 250 EC.

    4. Bệnh héo rễ do nấm Sclerotium rolfsi gây ra: Dùng Hexin, Monceren.

    5. Rệp sáp (Parlatoria proteus, Pseudococcus): Dùng Sago Super, Dragon, Supracid, Dầu SK enspray 99 hoặc hỗn hợp dầu và thuốc.

    6. Bọ trĩ (Thrip palmi): Dùng Dragon, Sumicidin, Confidor, Polytrin.

    7. Sâu khoang, sâu róm ăn lá: Dùng thuốc trừ sâu sinh học BT, Vicidi – M 50 ND.

    8. Ốc sên: Dùng bả độc Deadline hoặc bả cám gạo trộn với các loại thuốc sâu thông thường.

    9. Các côn trùng có cánh: Đặt bẫy côn trùng treo trên mái luống trồng lan, định kỳ từ 3 – 4 tháng thay bẫy 1 lần; Thường xuyên dọn vệ sinh vườn lan.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoàng Thảo Trúc Mành (Dendrobium Falconeri)
  • Bàn Về Cách Trồng Lan Thủy Tiên
  • Lan Ngọc Điểm Đai Châu (Rhynchostylis Gigantea)
  • Lan Đuôi Chồn – Sóc Ta (Rhynchostylis Retusa)
  • Một Số Loại Lan Dendrobium Rừng Nên Trồng
  • Giới Thiệu Tổng Quát Về Lan Hồ Điệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Thể Phân Biệt Màu Sắc Hoa Lan Hồ Điệp Dựa Vào Lá Không?
  • Danh Sách Tên Các Loài Hoàng Thảo (Dendrobium) Việt Nam
  • Cách Nhận Biết Và Phân Loại Lan Cattleya
  • Các Kiến Thức Cơ Bản Trồng Lan Vũ Nữ
  • Tổng Quan Về Lan Hoa Bí Pháp Là Gì
  • Lan Hồ Điệp có tên khoa học là Phalaenopsis sp, là loại lan có hoa lớn, đẹp, bền. Lan Hồ Điệp có màu sắc phong phú, không thua kém giống lan nào khác từ trắng, hồng, đỏ, vàng, tím đến các loại lan Hồ Điệp có sọc nằm ngang hoặc thẳng đứng hoặc có đốm to hay nhỏ.

    I. NGUỒN GỐC VÀ PHÂN BỐ

    Lan Hồ Điệp có tên khoa học là Phalaenopsis sp, là loại lan có hoa lớn, đẹp, bền. Lan Hồ Điệp có màu sắc phong phú, không thua kém giống lan nào khác từ trắng, hồng, đỏ, vàng, tím đến các loại lan Hồ Điệp có sọc nằm ngang hoặc thẳng đứng hoặc có đốm to hay nhỏ.

    GiốngPhalaenopsis có khoảng 70 loài trong đó có 44 chủng loại, mọc từ dãy Hymalaya đến châu Á có hơn 20 loài lan ưa nóngcó ở các nước Đông Nam Á như bán đảo Mã Lai, Indonesia, Philippine, đông ẤnĐộ, (Nguyễn Công Nghiệp, 2004).

    Lan Hồ Điệp được khám phá vào năm 750, đầu tiên được ông Rumphius xác định dưới tên là Angraecum album. Đến năm 1753, Linne đổi lại là Epidenndrum amabilis vào năm 1825, Blume một nhà thực vật Hà Lan định danh một lần nữa là Phalaenopsis amabilis Bl ..và tên đó được dùng cho đến ngày nay.

    Lan Hồ Điệp sống ở độ cao 200- 400 m (William và kramer, 1983) nên vừa chịu khí hậu nóng ẩm vừa chịu khí hậu mát, nhiệt độ trung bình từ 200 – 300 C, trong đó khí hậu lý tưởng cho việc nuôi trồng loại lan này là 220 C – 270 C

    Việt Nam có khoảng 5- 6 giống nguyên chủng, gồm Phalaenopsisi gibbosa

    Sweet, phalaenopsis manniiRchob.f, Phalaenopsis braceana(Hook.f) christenson, phalaenopsis fuscataRchob.f, Phalaenopsis lobbii (Rchob.f.). Hầu hết có hoa nhỏ nhưng màu sắc sặc sỡ, hương thơm độc đáo.

    II. PHÂN LOẠI

    Ngành: Magnoliophyta (thực vật hạt kín)

    Lớp: Monocotyledoneae (lớp một lá mầm liliopsida)

    Bộ: Orchidaceae

    Họ: Orchidaceae

    Giống: Phalaenopsis

    Loài: Phalaenops is spp

    Tên khoa học: Phalaenopsis wedding promenade

    III. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI

    1. Cơ quan sinh dưỡng

    a. Rễ

    Hệ rễ của lan Hồ Điệp không phân chia thành rễ chính, rễ phụ, rễ nhánh, lông hút rõ ràng. Hệ rễ của lan Hồ Điệp thường có dạng hình tròn, to, mập, có nhánh hoặc không phân nhánh. Rễ thường có màu trắng, đầu rễ có màu xanh, màu vàng trắng hoặc màu đỏ tối.

    Rễ của lan Hồ Điệp thường mọc tràn ra ngoài chậu, buông lơ lửng ra không khí, có lợi cho việc hút O2 và nước. Có những nghiên cứu cho thấy rễ lan Hồ Điệp cũng như phong lan có khả năng quang hợp.

    Rễ của lan Hồ Điệp cũng như một số loài lan khác có nấm cộng sinh. Do hạt của hoa lan nói chung đều không có nội nhũ, không được cung cấp đủ dinh dưỡng khi nảy mầm, trong điều kiện nảy mần tự nhiên, cần dựa vào các nấm cộng sinh để hút chất dinh dưỡng.

    Trong quá trình sinh trưởng của cây, các loài nấm này sống cộng sinh tại rễ của cây lan để hỗ trợ lẫn nhau, vì thế rễ của cây lan còn được gọi là rễ nấm. Nên việc tưới và bón phân cho cây lan Hồ Điệp cần cẩn thận chính là vì trên rễ cây có nấm cộng sinh.

    b. Thân

    Lan Hồ Điệp thuộc loại lan đơn thân, tức là thân của chúng rất ngắn không hề có giả hành, cũng không có thời kỳ ngủ nghỉ rõ rệt. Lan đơn thân sinh trưởng rất chậm chạp, thân chính của nó trong môi trường thuận lợi hàng năm lại mọc ra các lá mới, chúng mọc theo hướng cao hơn theo phương thẳng đứng còn cành hoa thì mọc ở rìa thân hoặc nảy ra từ nách lá, lá mọc xếp thành hai hàng, xen kẽ nhau.

    Theo sự sinh trưởng của cây, các lá già ở dưới gốc dần dần già héo và rụng đi, đến khi có chồi nách mọc ra, nhưng thường không mọc dài ra được. Vì cây lan thường rất khó ra chồi nhánh nên không dùng phương pháp tách cây để nhân giống.

    Thân của lan Hồ Điệp, ngoài tác dụng giữ cho cây thẳng đứng, còn có chức năng tích trữ chất dinh dưỡng và nước cho cây.

    c. Lá

    Lá của lan Hồ Điệp to dày, đầy dặn, lá mọc đối xứng, ôm lấy thân cây. Số lá trên thân cây thường không nhiều, thông thường 1 cây lan trưởng thành có từ 4 lá trở lên. Trong nách lá có 2 chồi phụ, chồi phụ trên to hơn là chồi sơ cấp, bên dưới là chồi dinh dưỡng sơ cấp.

    Các chồi sơ cấp này sinh trưởng đến một mức độ nào đó thì bắt đầu đi vào giai đoạn ngủ nghỉ. Màu sắc của lá gồm 3 loại: lá màu xanh, mặt trên lá và mặt dưới lá màu đỏ, mặt trên lá đốm và mặt dưới lá màu đỏ.

    Căn cứ vào màu sắc lá có thể phân biệt được màu sắc hoa của chính nó, lá màu xanh thường ra hoa màu trắng hoặc hoa nhạt màu, còn các lá màu khác thường cho hoa màu đỏ.

    Lan Hồ Điệp để thích nghi với điều kiện sinh thái nguyên sinh, thông thường bề mặt trên của lá không có khí khổng, chỉ có mặt dưới của lá mới có khí khổng.

    Lan Hồ Điệp là loại thực vật CAM, giống như các thực vật CAM khác nên khí khổng mở ra vào ban đêm để thu nhận CO2 để tạo ra chất dự trữ trong cơ thể, vào ban ngày CO2 được sử dụng cho quá trình quang hợp.

    Ưu điểm của loại thực vật này là khí khổng không mở vào ban ngày nên cây không bị mất nước do quá trình thoát hơi nước. Điều kiện này đối với cây không được cung cấp nước thường xuyên là rất có lợi.

    Khi cây có đủ nước thì khí khổng cũng mở ra vào ban ngày để hút khí CO2 tiến hành quang hợp bình thường.

    Nếu gặp phải điều kiện khô hạn nghiêm trọng thì khí khổng sẽ đóng lại, quá trình quang hợp diễn ra chỉ vửa đủ cho lượng CO2 tạo ra trong quá trình hô hấp. Đây chính là nguyên nhân khiến cho cây lan Hồ Điệp mặc dù không có giả hành nhưng lại có khả năng chịu hạn tốt.

     2. Cơ quan sinh sản

    a. Hoa

    Cành hoa của lan Hồ Điệp mọc ra từ nách lá, thông thường đếm theo thứ tự từ trên xuống thì cành hoa bắt đầu mọc ra từ lá thứ 3 hoặc thứ 4.

    Các cành hoa có thể phân nhánh hoặc không phân nhánh. Hoa lan to thường ít phân nhánh còn lan hoa nhỏ phân nhánh rất rõ thậm chí một số giống hoa lan nhỏ có thể nở đến 200 bông hoa.

    Cành hoa khi chưa phân hóa các đốt hoa thường ở dạng tiền chồi nách hoặc tiền chồi hoa, ở nhiệt độ dưới 150 C và bị bấm ngọn có nảy thành chồi hoa, nhưng nếu nhiệt độ cao quá 280 C thì chỉ có thể nảy thành chồi nách.

    Đa số các giống hoa đơn cây chỉ ra một cành hoa, cò một số giống khác hoặc trong điều kiện tốt cho chồi hoa phân hóa có thể mọc ra 2 hoặc 3 cành hoa.

    Nói chung, hoa lan Hồ Điệp đơn cây nếu phân hóa số cành hoa càng nhiều hoặc cành nhánh càng nhiều thì hoa nhỏ do bị hạn chế dinh dưỡng.

    Để trồng được lan có bông hoa to đẹp, cần phải khống chế số bông trên một cành, hoặc cắt bớt đi một số cành nhánh.

    Để đánh giá và thưởng thức hoa, người ta thường dùng 2 khái niệm “hoa đều đặn” hoặc “cực kỳ đều đặn”. Hoa đều đặn là chỉ cánh hoa đều to rộng, giữa các cánh hoa không có khe hở rất nhỏ, cánh môi trải xuống tạo dáng hình elíp, tất cả bông hoa tạo nên dáng hình tròn, còn loại “cực kỳ đều đặn” là chỉ hoa có hình dáng rất tròn, cánh hoa chồng khít lên nhau, không có khe hở hoặc khe hở khá lớn là “hoa không đều đặn”.

    b. Quả và hạt

    Hoa lan Hồ Điệp chỉ tạo quả qua thụ phấn nhân tạo hoặc thụ phấn nhờ côn trùng. Vỏ quả có hình que, phát triển chậm thường qua 4 tháng mới chín và tách vỏ. Số lượng hạt trong một quả khác nhau do sự khác nhau về bố mẹ đem thụ phấn. Những hạt của chúng thường rất nhỏ, có dạng bột, không có phôi nhũ, trong điều kiện tự nhiên rất khó tự nảy mầm thành cây con, thường phải gieo hạt trong môi trường vô trùng thích hợp mới có thể thu được cây con.

    IV. YÊU CẦU VỀ HỆ SINH THÁI.

    Là loại lan phân bổ chủ yếu ở vùng nhiệt đới, Hồ Điệp thích nghi với điều kiện nóng ẩm.

    1. Nhiệt độ

    Lan Hồ Điệp thích nghi nhiệt độ dao động từ 270 C đến 290 C (Lopez vàRunkle, 2005). Tuy nhiên, trong điều kiện khó khăn lan Hồ Điệp có thể chịu được nhiệt độ từ 320 C đến 350 C (Lopez và Runkle, 2005).

    Để bắt đầu phát triển, lanHồ Điệp phải có một thời kỳ nhiệt độ vừa phải dưới 260 C trong 3-5 tuần (Texas A& M Cục trồng trọt, 2007). Sau khi cụm hoa phát triển cho đến nở nụ đầu tiên phụthuộc vào nhiệt độ trung bình hàng ngày, từ 140 C đến 260 C Lopez và Runkle, 2005).

    Vì vậy, nếu nhiệt độ thấp được tăng lên đến 260 C, các hoa bắt đầu nở sớm hơn. Tuy nhiên, nếu nhiệt độ quá cao sẽ ức chế sự ra hoa rõ ràng sự phát triển và nở hoa của lan Hồ Điệp phụ thuộc nhiều vào khoảng nhiệt độ nhất định nhưng nó cũng phụ thuộc vào cường độ ánh sáng

    2. Ánh sáng

    Cường độ ánh sáng vừa phải và thoáng mát là lý tưởng cho lan Hồ Điệp phát triển. Tuy nhiên, nếu để trong bóng tối dài, lan Hồ Điệp sẽ bắt đầu mất màu lá(Wang, 2005). Để có hoa lan Hồ Điệp đẹp, sặc sở, khitrồng thương mại giai đoạnđầu có thể để trong bóng tối sau đó chuyển chúng raánh sáng(Wang, 2005).

    Nói chung, lan Hồ Điệp nhạy cảm với cường độ ánh sáng cao. Vì vậy, trong quá trình sản xuất không nên để lan tiếp xúc với cường độ ánh sángvà nhiệt độ cao. Bóng mát là điều kiện cần thiết nên trồng lan Hồ Điệp trong nhà có máiche (TAMU Cục trồng trọt, 2007).

    3. Ẩm độ

    Ẩm độ rất cần thiết trong quá trình phát triển của lan Hồ Điệp (TAMUCục trồng trọt, 2007). Lan Hồ Điệp phát triển tốt trongkhoảng ẩmđộ 50-85% (Philippines D của A, 1999).

    4 Gió

    Đối với Hồ Điệp, sự thông gió tối cần thiết. Độ thông gió càng nhiều cây càng ít bệnh. Tốc độ gió khoảng 10- 15 km/ giờ là tốt nhất (Jabu Reza, 2004).

    5. Dinh dưỡng

    Hồ Điệp cần được cung cấp dinh dưỡng quanh năm vì bản thân cây Hồ Điệp không dự trữ được chất dinh dưỡng.

    Lan Hồ Điệp vừa chịu được khí hậu nóng ẩm lại vừa chịu được khí hậu mát nên Việt Nam được xem là địa điểm lý tưởng để nuôi trồng Hồ Điệp.

    Khi gặp điều kiện thuận lợi và chăm sóc tốt cây sẽ có hoa quanh năm (Jabu Reza, 2004).

    V. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ LAN HỒ ĐIỆP

    1. Trên thế giới.

    Hầu hết các cây Hồ điệp thương mại được tạo ra từ hạt và là dị hợp tử. Tuy nhiên, khi nhân giống bằng hạt, cây con thu được sẽ không đồng nhất về mặt di truyền, nhất là sự phân ly tính trạng màu sắc hoa.

    Đã có nhiều phương pháp vi nhân giống lan hồ điệp như nuôi cấy cuống hoa với chồi nách, mô phân sinh, đỉnh chồi của chồi cuống hoa, đốt cuống hoa, đoạn cắt lá và chóp rễ.

    Tuy nhiên các phương pháp này chưa ứng dụng rộng rãi trong sản xuất thương mại vì chúng khác nhau về tỷ lệ sống sót, sự hình thành thể giống protocorm (PLB) và khả năng tái sinh cây con.

    Năm 1949, ông Rotor là người đầu tiên nhân giống lan Hồ Điệp bằng cách sử dụng cành phát hoa. Và được coi là phương pháp chính để nhân giống vô tính lan hồ điệp. Phương pháp này vẫn tồn tại một tỷ lệ cao các chồi duy trì trạng thái ngủ hoặc có thể phát triển thành cuống hoa hay chồi sinh dưỡng.

    Tanaka và CS (1976) đã sử dụng đỉnh rễ của cây lai phalaenopsis tạo protocorm. Ông là người đầu tiên nghiên cứu tập trung trên việc tối ưu hóa quy trình tạo chồi dinh dưỡng và nuôi lá ở nhiều yếu tố như protocorm, ánh sáng, nhiệt độ. Tuy nhiên, hiệu suất vẫn chưa cao đồng thời không ứng dụng được trên nhiều giống.

    Các thí nghiệm của Tanaka và Sakanishi (1977) cho thấy chồi ở các phần phía trên có xu thế duy trì trạng thái ngủ bất chấp ảnh hưởng của nhiệt độ. Các chồi nẩy mầm đặt ở 200C hoặc 250C sẽ tăng trưởng sinh sản (trừ một số chồi ở phần gốc) và ở 280C các chồi đều tăng trưởng sinh dưỡng. Chồi nuôi cấy đang ở trạng thái ngủ sẽ được kích thích nẩy mầm nếu bổ sung BA vào môi trường.

    Năm 1991, Sajise và Sagawa đã đưa ra báo cáo đầu tiên về sự hình thành mô sẹo tạo phôi (embryogenic) và Tokuhara và Mii (2000) đã thực hiện cảm ứng thành công mô sẹo tạo phôi từ các mẫu cấy đỉnh chồi trên cuống hoa lan hồ điệp trên môi trường NDM (New Dogashima Medium) và cấy chuyền thành công mô sẹo sang dạng huyền phù trong môi trường NDM lỏng.

    Young, Murthy và Yoeup (2000) đã thành công trong việc sử dụng bioreactor để nuôi cấy PLB từ các đoạn cắt lá, sau 8 tuần nuôi cấy, họ đã thu được khoảng 18.000 PLB từ khoảng 1.000 PLB ban đầu trong 2 lít môi trường Hyponex. Các PLB này được chuyển sang môi trường Hyponex rắn để tạo cây con.

    Năm 2002, Park So Young và cs, khảo sát tối ưu hóa quá trình tạo protocorm từ lá, đưa ra quá trình hoàn chỉnh và kiểm chứng trên nhiều giống lan Hồ Điệp khác nhau.

    Theo nhiều tác giả khi tái sinh thành cây con từ protocorm chỉ cần sử dụng các môi trường khoáng có bổ sung nước dừa, khoai tây…mà không sử dụng bất kỳchất điều hòa tăng trưởng nào.

    Tanaka và Sakanishi (1985) và Tanaka (1987) đã sử dụng môi trường Knudson C cải tiến, còn Haas-von Schmude (1983,1985) sử dụng môi trường MS trong việc tái sinh cây con từ protocorm.

    Griesbach (1983)sử dụng môi trường Murashige và Skoog cho việc tái sinh cây con từ protocormtrong khi Lin (1986) sử dụng môi trường Knudson C cải tiến có bổ sung BA (1mg/l) để chuyển protocorm thành cây con.

    Hiện đã có hơn 200 công trình quốc tế thực hiện trên lan Hồ Điệp ở rất nhiều nội dung khác nhau từ sinh lý, sinh hóa, sinh học phân tử. Phần lớn các công trình nghiên cứu có nguồn gốc từ Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, vốn là những quốc gia gắn liền với xuất xứ lan Hồ Điệp (Hsu, 2006)

    Những hướng nghiên cứu được quan tâm hơn trong thời gian gần đây là xây dựng các qui trình chuyển gen, thiết kế các hệ thống nhân giống có qui mô lớn.

    Các nghiên cứu về chuyển gen cho phép đưa các tính trạng đặc biệt vào lan Hồ Điệp như khả năng tổng hợp sRNA kháng virus gây cháy lá, khả năng tổng hợp chất cay trong mù tạt để kháng bệnh (theo Rimaldi Sjahril, 2006).

    Có thể trong tương lai, thế hệ lan Hồ Điệp mang gen kháng acetylene có hoa lâu tàn sẽ được sản xuất và bán rộng rãi trên thị trường (theo Chai và Senthil, 2002).

    Tuy vậy, lan Hồ Điệp cũng như các cây trong họ hoa lan thường khó chuyển gen hơn các loại cây trồng khác do có đặc điểm: phát triển rất chậm, khó thao tác trong nuôi cấy mô, chưa có quy trình tái sinh từ các dòng tế bào đã biệt hóa, ít nhạy cảm với các loại kháng sinh chọn lọc, tiết ra môi trường một lượng lớn các hợp chất phenol gây độc cho tế bào, cấu trúc đa tế bào của vùng mô phân sinh làm cây chuyển gen dễ bị khảm.

    2. Ở Việt Nam

    Bước đầu tìm hiểu về sự nuôi cấy in vitro lan Hồ Điệp (Phalaenopsis sp),Võ Thị Bạch Mai 1996 và Lê Văn Hướng cho rằng dưới tác động của auxin vàcytokinin được bổ sung riêng lẻ hay kết hợp vào môi trường MS cải tiến. Khi có bổ sung 5 ppm BA và 1ppm 2,4 D, mô cấy được kích thích tạo ra tiền củ. Trong môi trường MS bổ sung 2 ppm BA, mô cấy sẽ phát triển thành cây hoàn chỉnh.

    Khi “nghiên cứu xây dựng quy trình nhân giống và nuôi trồng lan Phalaenopsis “ Nguyễn Quang Thạch và cs (2003), đã sử dụng vật liệu nuôi cấy mô khởi đầu bằng lá non, mắt ngủ trên phát hoa và đỉnh phát hoa.

    Liêu Hồng Phú 2005 nghiên cứu tạo phôi và hạt nhân tạo lan Hồ Điệp được thực hiện tại Bộ Môn Công Nghệ Sinh Học, Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của các chất kích thích tố sinh trưởng và các loại môi trường đến khả năng tạo mô sẹo, phát sinh phôi, tái sinh chồi và tạo hạt nhân tạo lan Hồ Điệp.

    Theo Trần Thị Dung, Trịnh Pari và Liêu Hồng Phú (2005) Khi nuôi cấy phát sinh mô sẹo từ protocorm trên môi trường VW (Vacin &Went) có bổ sung 0,01 mg/ l BA + 200 mg/ l nước dừa + 40 g/ l đường cho khả năng tạo mô sẹo cao nhất.

    Đối với việc tạo phôi, môi trường thích hợp nhất là VW có bổ sung 2mg/ lTDZ sau đó cấy chuyền sang môi trường ½ VW. Môi trường tốt nhất cho việc tái sinh lan Hồ Điệp từ phôi là môi trường VW + 30 g/ l khoai tây + 1g / l than hoạt tính.

    Theo Cung Hoàng Phi Phượng và cs (2007) sử dụng hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời sẽ cung cấp chất dinh dưỡng và không khí cho các mô sẹomột cách chủ động. Cũng nhờ đó hệ số nhân giống cây cao gấp 5-6 lần so với cách nhân giống lan Hồ Điệp bằng phương pháp sinh sản vô tính.

    Trong môi trường nuôi cấy ngập chìm tạm thời, các mô phát triển nhanh và nhân chồi liên tục. Trung bình, từ một mô sẹo sau 2-3 tháng có thể cho 20- 25 chồi con. Các chồi này có lálớn và ra rễ rất nhanh, chồi phát triển thành cây con chỉ sau 2- 3 tháng. Khi đưa ratrồng ở môi trường tự nhiên, 100% cây con được nuôi cấy bằng kỹ thuật nói trênđều sống và phát triển tốt.

    Theo Dương Tấn Nhựt và cs (2007) sử dụng vật liệu nuôi cấy khởi đầu là protocorm có màu xanh, đường kính từ 1- 1.5 mm cấy chuyền 2-3 tháng 1lần, môi trường MS cơ bản bổ sung 2mg/ l BA, 1mg / l NAA và 20% nước dừa và hệ thống nuôi cấy bioreactor rất thích hợp để nhân nhanh protocorm của lan Hồ Điệp.

    Monosaccharide (đường mía) không thích hợp cho nuôi cấy phôi vô tínhcây lan Hồ Điệp, đặc biệt D- fructose có tác động rất xấu đến mẫu cấy (gây chết100% mẫu). Các disaccharide thích hợp hơn cho nuôi cấy phát sinh phôi từ mẫu đoạn mắt ngủ là phương pháp nhanh chóng và luân phiên để nhân giống cây trồng. Nhờ cấy mô sẹo. Môi trường nuôi cấy bổ sung 20g / l sucrose sẽ cho hiệu quả phát sinh phôi cao nhất (Dương Tấn Nhựt cà cs, 2007)

    Theo Trần Thị Kim Liên (2008) khi nghiên cứu khả năng phát sinh chồi từmắt ngủ trên phát hoa lan Hồ Điệp cho thấy: việc nuôi cấy mô từ các chấn thương,sẽ đạt được nhiều cây con Hồ Điệp hơn so với các khúc mắc bình thường chỉ chomột cây con duy nhất. Môi trường thích hợp để phát sinh chồi là môi trường MScó bổ sung 1 mg/ l BA và 2 mg/ l NAA.

    Hoàng Thị Hiền, 2009. Đề tài nghiên cứu “Xác định nồng độ nước javel cho quá trình khử mẫu phát hoa lan hồ điệp. Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng BAP, TDZ, NAA đến quá trình sinh trưởng, phát triển của lan hồ điệp lai (Phalaenopsis sp.) in vitro” được tiến hành tại phòng di truyền và chọn giống – Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam.

    CN.Sinh học Đặng Thị Ánh Tuyết, 2009, đề tài nghiên cứu “Ứng dụng phương pháp nuôi cấy lỏng tĩnh để nhân nhanh giống lan Hồ điệp (Phalaenopsis sp)”.

    Tại Trung tâm Ưng dụng và Chuyển giao công nghệ Phú Yên Hồ Phan Thiết Toàn, 2011, đề tài nghiên cứu “Khảo sát một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lan Hồ Điệp(Phalae nops is) in vitro.” Tại t phòng thí nghiệm nuôi cấy mô của Khoa – Khoa họcnông nghiệp – CNSH. Trường Cao Đẳng Nguyễn Tất Thành Quận 4 TP. Hồ ChíMinh.

    VI. GIÁ TRỊ THƯƠNG MẠI VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN LAN HỒ ĐIỆP

    1. Trên thế giới

    Hoa lan không chỉ mang vẻ đẹp đài các, sang trọng mà còn ấm áp, gần gũi và chất chứa những giá trị tiềm ẩn, mới lạ,hấp dẫn. Đặc biệt, lan Hồ Điệp được ưa thích về màu sắc, kiểu dáng trang nhãnhưng cũng không kém phần kiêu sa và được mệnh danh là “ nữ hoàng “ của cácloài hoa lan.

    Chính vì vậy, việc trồng lan Hồ Điệp không chỉ dừng lại ở qui mô gia đình mà đã nhanh chóng được mở rộng và trở thành lãnh vực quan trọng trongnông nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều nước trên thế giới như Đài Loan, Nhật Bản, Hà Lan, Mỹ.

    Trong những năm gần đây, lan Hồ Điệp trở thành lan trồng chậu phổ biến vàđược ưa chuộng nhất. Tổng sản lượng chiếm trên 75% trong các loại lan được trồng trên thế giới (theo Griesbach, 2002). Tại Hà Lan, Hồ Điệp cũng là loại lan được trồng trong chậu phổ biến và có giá trị cao nhất trong ngành trồng hoa. Tại Mỹ, Hồ Điệp là hoa trồng chậu trang trí và quà tặng cao cấp.

    Lan Hồ Điệp được trồng mọi nơi trên thế giới, hầu hết là ở Đức, Nhật Bản,Đài Loan, Thái Lan, Hoa Kỳ..vv. Lợi nhuận đem về từ việc xuất khẩu cây con hay cây có hoa đều lớn.

    2. Ở Việt Nam

    Việt Nam có khí hậu thích hợp và có nhiều nguyên liệu làm giá thể tốt cho lan Hồ Điệp sinh trưởng và phát triển, nhiều tiềm năng trở thành một nước sản xuất hoa lan Hồ Điệp lớn trong khu vực.

    Theo số liệu thốngkê tính đến năm 2004, diện tích trồng hoa của cả nước xấp xỉ 9.000 ha (NguyễnXuân Linh và Nguyễn Thị Kim Lý, 2005). Nếu được đầu tư khai thác hợp lý mang lại lợi nhuận lớn cho người trồng hoa nói riêng và sự phát triển nông nghiệp nói chung.

    Năm 2009, quy mô diện tích sản xuất hoa lan Hồ Điệp ở miền Bắc đạt khoảng 4.400 m2, cung cấp cho thị trường khoảng 131.000 cây, đáp ứng được 21% nhu cầu của thị trường.

    Hiệu quả kinh tế đem lại từ sản xuất lan Hồ Điệp là rất cao. Qua tính toán cho thấy, lãi thu được từ sản xuất lan Hồ Điệp đạt trung bình từ 280 – 540 triệu đồng/1000m2 như mô hình tại Viện Nghiên cứu rau quả. Đặc biệt một số mô hình cho lãi từ 700 triệu – 1 tỷ đồng/1000m2 như công ty Cửu Long, Trung tâm ứng dụng công nghệ cao Quảng Ninh…

    Lan Hồ điệp, là một loài lan có độ bền bông cao trong điều kiện thích hợp, cũng là một loài cây rất thích hợp để trồng trong nhà, dễ ra hoa.

    Hơn nữa, trong vài thập kỉ gần đây nền công nghệ trồng lan phát tiển giúp người trồng đã giảm giá thành đáng kể đối với loại lan này nên giá cả phù hợp với những người mê hoa hay người mới tập trồng, Hồ Điệp rất được ưa chuộng và được trồng ở nhiều nơi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chia Sẽ Một Số Kinh Nghiệm Trồng Lan Mokara
  • Phương Pháp Chiết Tách Địa Lan Đạt Hiệu Quả
  • 3 Mẹo Nhỏ Giúp Bạn Trồng Tốt Lan Cattleya
  • Tìm Hiểu Lan Vanda Là Gì?
  • Điều Kiện Sinh Thái Trồng Lan Đai Châu (Ngọc Điểm)
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Ấp Trứng Gà Chọi

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Bí Quyết Và Cách Tuyển Chọn Giống Gà Đòn Hay
  • Hướng Dẫn Bí Quyết Và Cách Làm Nước Cho Gà Chọi
  • Giá Cả Hoa Phong Lan: Hồ Điệp, Thiên Nga Hay Hồ Điệp Tím Đài Loan
  • Giá Cả Phong Lan Phần 2: Dendro Mini Đủ Màu, Ngọc Điểm – Đai Châu
  • Tổng Hợp Các Bí Quyết Và Cách Tuyển Giống Gà Chọi Hay
  • Chọn trứng ấp

    Trước khi đưa trứng vào ấp, phải chọn những trứng có khối lượng đặc trưng cho từng giống không to quá hoặc nhỏ quá, tròn quá hoặc dài quá. Cụ thể trứng gà Ri phải có khối lượng 41-43g, gà Tàu vàng 45-50g, gà Tre 20-22g, gà Mía 55-60g, gà Đông Tảo 52-62g, gà Hồ 50-53g, gà chọi 50-55g, gà Tam Hoàng 50-52g.

    Vỏ trứng sạch, không rạn vỡ, buồng không khí (ở đầu to quả trứng) nhỏ, không có vệt máu hoặc dị vật ở trong.

    Có 2 phương pháp ấp trứng: ấp trứng tự nhiên và ấp trứng nhân tạo.

    Ấp trứng tự nhiên

    Cho gà mẹ (hoặc dùng ngan) ấp trứng gọi là ấp trứng tự nhiên. Những điều cần chú ý khi dùng gà mẹ hoặc ngan ấp trứng.

    a. Thời vụ ấp trứng

    Đối với gà gia đình thả vườn, mỗi năm thường cho ấp vào 2 vụ: vụ xuân (tháng 2, 3, 4 dương lịch) và vụ thu (tháng 8, 9).

    ấp vụ xuân thời tiết đã ấm áp, gà mẹ tìm kiếm thức ăn trong thiên nhiên như côn trùng, rau xanh, nên chất lượng trứng tốt, tỷ lệ ấp nở cao, gà con nở ra khỏe mạnh, lớn nhanh, gặp vụ thu hoạch lúa chiêm xuân sẽ dễ kiếm ăn thóc rơi vãi. Nhưng vì mùa xuân ở nước ta thời tiết nóng ẩm, độ ẩm cao, vi khuẩn có điều kiện sinh sôi nảy nở, nên gà con dễ mắc bệnh, đặc biệt là bệnh đậu (có nơi gọi là bệnh trái, bệnh hoa xoan vì nốt đậu cũng giống hoa xoan và bệnh thường phát sinh vào cuối xuân sang hè là mùa hoa xoan nở).

    ấp vụ thu là sau lúa gà đã thay lông xong, sức khỏe gà mẹ được phục hồi, tiết trời khô ráo, mát dần. Gà con lớn lên đón vụ mùa đủ thóc ăn rơi vãi. ở nước ta nên tập trung vào vụ này vì tuy gà con không lớn nhanh bằng vụ xuân, nhưng ít bệnh tật, tỷ lệ nuôi sống cao. Tuy nhiên, nếu tạo được điều kiện và đảm bảo kỹ thuật, vẫn có thể cho ấp quanh năm, trừ những tháng nóng bức.

    b. Chọn mái ấp

          Gà mái đã đẻ hết lứa trứng, nhưng còn sung sức, lông không xơ xác, đầu thanh nhỏ, chân thấp, lông tơ nhiều, thân hình vừa phải, không bé quá sẽ ấp được ít trứng, không nặng nề quá, dễ làm vỡ trứng.

          Gà có tính đòi ấp mạnh. Để kiểm tra tính đòi ấp có mạnh không, nên để vào ổ một vài quả trứng cho ấp trước. Nếu gà say ấp không bỏ ổ trong vài ba ngày là được.

          Tính ôn hoà, không bệnh tật, không có ký sinh trùng (ghẻ, mạt).

    c. Các điều kiện trong quá trình ấp

          Số lượng trứng: 13-17 quả, tùy gà mẹ to nhỏ. Nên để số trứng lẻ, vì số chãn, thường bị lăn 1 quả ra ngoài, mất nhiệt, trứng phát dục không bình thường.

          Trứng để ấp bảo quản 5 ngày vào mùa hè, 7 ngày vào mùa đông. Hàng ngày gà đẻ xong, nhặt ngay trứng, xếp vào khay để vào nơi thoáng mát trong nhà, ổ gà đẻ chỉ để 1 quả làm mồi, quả này sau không ấp. Trứng cất giữ đến ngày thứ 3, hàng ngày nên đảo trứng.

          ổ ấp có thể dùng thúng rổ hoặc đóng hộp gỗ có diện tích 40cm x 40cm, lót rơm khô, để ở vị trí thoáng, khô ráo, nhưng không sáng quá, tránh gió lùa, yên tĩnh. Để tránh hiện tượng mạt gà phát sinh trong quá trình ấp, kinh nghiệm nhân dân lót dưới ổ lá cây “mần tưới” hoặc lá xoan (thầu đâu, sầu đông). Lúc trứng bị vỡ phải thay ngay rơm lót ổ.

          Nếu gà say ấp quá, không chịu xuống ăn thì cần phải định giờ cố định mỗi ngày 2 lần bắt gà xuống cho ăn và để gà bài tiết, tránh phóng uế phân vào ổ. Thức ăn của gà lúc này là các hạt ngũ cốc có nhiều bột đường (thóc, ngô) để cung cấp nhiều năng lượng và đồng thời tiêu hóa chậm, thời gian duy trì dài. Nên cho ăn thêm rau xanh để cung cấp vitamin. Mỗi lần cho gà xuống ổ khoảng 10-20 phút là vừa. Nếu xuống lâu quá sẽ làm mất nhiệt của trứng.

          Gần chỗ gà ăn nên có hố tắm cát (cát + tro bếp + 1% lưu huỳnh) để gà tranh thủ tắm, trừ mạt.

    d. Soi trứng:

    Nên tập trung mỗi lần ấp có 10 mái ấp. Ngày thứ 6 soi trứng để loại những trứng không có trống (không phôi) và trứng chết phôi. Sau đấy tùy số trứng còn lại nhiều hay ít, dồn lại cho 1 mái ấp 15-17 quả, số mái thừa ra cho ấp tiếp đợt mới.

    Ngày 18 soi lần thứ hai trước khi gà nở (19-21 ngày). Loại những trứng chết phôi. Dồn trứng còn lại cho số gà ấp tốt, còn sung sức (15-17 trứng/1 mái).

    Lúc gà bắt đầu nở, nhặt dần vỏ trứng. Dồn cho 1 mẹ nuôi độ 15-20 gà con.

    Trường hợp dùng ngan hoặc gà tây ấp trưng, khi gà con nở, chuyển cho gà mẹ nuôi vì gà mẹ nuôi con khéo hơn. Ngan và gà tây chỉ chuyên dùng để ấp trứng và cho ấp đồng thời với gà mái mẹ để dễ dồn trứng ấp sau mỗi đợt soi trứng và dồn gà con sau khi nở cho gà mẹ nuôi.

    Phải chú ý bổ sung thức ăn cho gà mẹ (thóc, ngô v.v…) và gà con (tấm, vừng, khô dầu đậu tương v.v…).

    Ấp trứng nhân tạo

    ấp trứng nhân tạo là dùng máy ấp để ấp trứng. Nguyên lý của máy ấp là tạo dựng chế độ nhiệt, độ ẩm và thoáng khí giống như trường hợp dùng gà ấp trứng. Nguồn nhiệt dùng cho máy ấp có thể là nguồn điện hoặc hơi nước. Một máy ấp mỗi đợt ấp có thể ấp được 1000 quả (thông thường 300-400 đến 600-700 quả) nếu ấp bằng hơi nước, hoặc ấp vài ba nghìn quả đến 10.000 quả nếu ấp bằng nguồn điện có rơ-le tự ngắt điện.

    Trong máy ấp trứng có các bộ phận chính: nguồn nhiệt và quạt điều hòa nhiệt, quạt thông gió, khay đựng nước tạo độ ẩm, giá đỡ khay đựng trứng và thiết bị đảo trứng tự động.

    Nếu dùng máy ấp trứng bằng hơi nước, cần theo dõi thường xuyên chế độ nhiệt, ẩm để kịp thời xử lý những trường hợp bất thường xảy ra như tăng giảm nhiệt độ, thiếu độ ẩm v.v….

    Trường hợp dùng máy ấp để ấp trứng, cần thực hiện những điểm sau đây:

    a. Khử trùng

    Khử trùng máy ấp bằng formol và thuốc tím (mỗi 1m3 máy dùng 20cc formol và 16,6g thuốc tím). Đặt thuốc vào đĩa, để đĩa vào đáy tủ cho thuốc bốc hơi, đóng cửa và các lỗ thông khí của máy ấp lại trong vòng 45 phút. Sau đó mở cửa máy, quạt cho khí formol bay hết ra ngoài.

    b. Các điều kiện cần thiết trong quá trình ấp

          Nhiệt độ là điều kiện quan trọng nhất trong quá trình ấp. Đối với gà nhiệt độ từ 37,5-37,8oC. Nếu to cao quá gà sẽ khai mỏ sớm, con nở ra thường hở rốn khoèn chân, có lúc quái thai. Nếu to lên đến 41-42oC kéo dài 1-2 giờ phôi sẽ chết. Nếu thiếu nhiệt phôi sẽ không phát triển được, ngày nở kéo dài.

          Độ ẩm: Trong giai đoạn ấp (1-18 ngày) độ ẩm thích hợp khoảng 55-65%. Giai đoạn nở (19-21 ngày) độ ẩm 80-85%. Nếu trong quá trình ấp, độ ẩm quá cao gà con nở ra sẽ nặng bụng, bên trong vỏ dính đầy chất nhớt. Nếu độ ẩm thiếu gà nở lông sẽ không bông, khối lượng thấp. Độ ẩm vừa đủ gà con nở ra chiếm khoảng 60-61% khối lượng trứng ấp.

          Thông gió: Giống như các sinh vật khác, phôi gà cũng cần oxy của không khí để thở, đồng thời thải thán khí (CO2) và hơi nước ra ngoài. Cường độ trao đổi không khí tăng lên vào thời gian cuối vì cùng với sự phát triển của phôi, yêu cầu về dưỡng khí (oxy) cũng tăng lên. Người ta đã thí nghiệm thấy trong thời kỳ ấp đến ngày 16 yêu cầu về không khí trong một ngày đêm cứ 500 trứng cần 1m3 không khí, đến thời kỳ nở cần 4m3. Trong các máy ấp đều có lỗ thông hơi. Các lỗ này mở rộng hẹp tùy từng giai đoạn ấp có ghi rõ trong quy trình của từng máy.

          Đảo trứng: Với máy tự động cứ 2 giờ đảo trứng một lần. Nếu máy tự tạo không có hệ thống tự động đảo trứng thì người điều khiển máy phải đảo bằng tay. Đảo trứng từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài. Lợi ích của việc đảo trứng là để cho to phân bố đều trên trứng và tránh trứng phải nằm nguyên một vị trí, phôi bị dính vào vỏ trứng không phát triển được, cuối cùng sẽ chết. Lúc trứng đã chuyển sang giai đoạn nở (18 ngày) thôi không đảo trứng.

          Soi trứng: trứng gà ấp đến 20-21 ngày sẽ nở. Thường soi 2 lần. Lần 1: (7 ngày) để loại những trứng không phôi hoặc chết phôi sớm. Trứng không có phôi lúc soi vẫn trong như trứng chưa ấp. Còn trứng chết phôi có đường máu đen hay chấm đen dính vào vỏ. Trứng phát triển tốt thì ở giữa có điểm đen, xung quanh có tia máu phát triển hình mạng nhện. Lần 2 (18 ngày) soi loại những trứng chết phôi hoặc phôi phát triển quá yếu.

          Làm lạnh: Đối với trứng thủy cầm thường có thêm quy trình làm lạnh trứng, kéo khay trứng ra ngoài một ngày 2-3 lần.

    c. Chọn gà sơ sinh

    Gà con nở ra, chọn gà loại 1 là những con nhanh nhẹn, mắt sáng, lông bông, không nặng bụng, chân mọng, không hở rốn, khoèn chân, vẹo mỏ. Gà nở ra đưa xuống chuồng nuôi không chậm hơn 24 giờ vì gà để lâu trong máy không ăn uống được sẽ khô chân khó nuôi. ấp tốt, gà con loại 1 chiếm 95-97%.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Nghệ Luyện Gà Nòi Hay Mà Bạn Cần Biết
  • Hướng Dẫn Cách Om Bóp Gà Chọi, Vào Nghệ Cho Gà Chọi
  • Hướng Dẫn Chế Độ Nuôi Dưỡng Gà Chọi Trong 21 Ngày
  • Hướng Dẫn Bí Quyết Tuyển Chọn Gà Chọi Qua Màu Sắc
  • Thế Nào Là Hợp Cách Giữa Màu Lông Và Màu Chân Gà Chọi
  • Tin tức online tv