【#1】Kỹ Thuật Chăm Sóc Và Thu Hoạch Cây Đinh Lăng

Cây đinh lăng, vị thuốc quý:

Cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa) thuộc họ Ngũ gia bì, có kỹ thuật trồng cây không quá khó. Loài cây này là một loại dược liệu quý bởi con người có thể sử dụng được toàn bộ cây từ rễ, củ, cành và lá để làm thuốc trị bệnh, bồi bổ sức khoẻ và làm gia vị cho các món ăn như gỏi cá, thịt chó…

Đinh lăng thuộc loại cây nhỏ, cao khoảng 0,8-1,5m, thường được trồng làm cây cảnh trước nhà hoặc chùa, miếu. Cây có lá kép, mọc so le, lá 3 lần xẻ lông chim, mép khía có răng cưa. Hoa nhỏ màu trắng, mọc thành tán. Quả dẹt, dài 3-4mm, dày khoảng 1mm. Lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng, dân gian gọi nôm na là mùi “thuốc bắc”. Lá tươi không có mùi thơm này.

Đinh lăng là cây sống nhiều năm, ưa ẩm, ưa sáng nhưng cũng chịu hạn, chịu bóng nhưng không chịu úng ngập. Cây có biên độ sinh thái rộng, phân bố trên khắp các vùng sinh thái, có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát. Cây phát triển mạnh khi nhiệt độ dưới 25 độ C (từ giữa thu đến cuối xuân).

Phân loại cây đinh lăng:

Đây là loài đang sử dụng nhiều nhất: đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Baill), đinh lăng trổ( Đinh lăng viền bạc), đinh lăng lá to (Đinh lăng ráng Polyscias filicifolia (Merr) Baill, đinh lăng đĩa (Polyscias scutellarius (Burm f) Merr), đinh lăng rang (lá 2 lần kép, thân màu xám trắng, tên gọi khác là Polyscias serrata Balf).

Đinh lăng nếp là loại lá nhỏ, xoăn, thân nhẵn, củ to, rễ nhiều và mềm, vỏ bì dày cho năng suất cao và chất lượng tốt, đây là loại hay được chọn để làm giống. Đinh lăng tẻ là loại lá sẻ thùy to, vỏ thân xù xì, màu xanh nhạt, củ nhỏ, rễ ít và cứng, vỏ bì mỏng, năng suất thấp. Loại này người dân không nên trồng.

Đinh lăng là loại cây chịu hạn, không ưa đọng nước, phát triển tốt ở vùng đất pha cát, tơi xốp, có độ ẩm trung bình. Khi trồng đại trà, diện rộng, người dân phải cày bừa làm đất tơi, lên luống cao 20cm, rộng 50cm. Nếu ở vùng đồi, người trồng phải cuốc hốc sâu 20cm, đường kính hố 40cm. Đinh lăng trồng bằng cách giâm cành và có thể trồng được cả bốn mùa nhưng tốt nhất là giữa xuân.

Thời vụ: Người nông dân nên trồng vào mùa xuân, từ tháng 1-4. Vào mùa hè, cây được trồng cần phải giâm hom giống 20-25 ngày cho ra rễ mới đem trồng. Người trồng có thể giâm cành bằng cách đem hom cắm xuống đống cát để trong bóng mát, khoảng cách trồng: 40 x 50 cm hoặc 50×50 cm. Mật độ của cây là khoảng 40.000 đến 50.000 cây/ha.

Kỹ thuật bón phân cho cây đinh lăng:

Bón lót: Mỗi hecta, người dân nên bón lót 10 – 15 tấn phân chuồng, 400-500kg phân NPK, bón toàn bộ lượng phân lót, tránh bón sát và hôm giống.

Bón thúc: Ở năm đầu, vào tháng 6 sau khi trồng, cây cần được bón thúc 8kg urê/sào bằng cách rắc vào má luống rồi lấp kín. Cuối năm thứ 2, vào tháng 9 sau đợt tỉa cành, cây nên được bón thêm phân chuồng 6 tấn/ha và 300 kg NPK+100 kg kali. Ngoài ra người trồng cần bón thúc vào mùa thu, vun đất phủ kín phân bón để cây có điều kiện phát triển mạnh vào năm sau.

Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây đinh lăng:

Người trồng đặt hom giống cách nhau 50cm, đặt nghiêng hom theo chiều luống, giữa các hom bón lót bằng phân chuồng 4kg/sào và 20kg phân NPK (tránh bỏ phân sát hom giống), sau đó lấp hom, để hở đầu hom trên mặt đất 5cm. Khi trồng xong, người dân nên phủ rơm rạ hoặc bèo tây lên mặt luống để giữ độ ẩm và tạo mùn cho đất tơi xốp. Nếu đất khô, người nông dân phải bơm nước ngập 2/3 luống hoặc tưới nước đảm bảo độ ẩm cho đất trong vòng 25 ngày nhưng không được để ngập nước, nếu trời mưa liên tục phải thoát nước ngay để tránh thối hom giống. Có hai cách trồng.

Một là kết hợp làm cảnh và thu dược liệu: Người dân có thể trồng thành từng hốc hoặc từng hàng thẳng tắp hoặc theo hình dáng tuỳ thích (hình thoi, vòng tròn, vòng ô voan…)

Trồng từng hốc: Người trồng đào hốc có đường kính 1m, sâu 35-40cm, lót đáy hố bằng miếng PE hay nilon cũ (để rễ cây tập trung trong hố, khi thu hoạch sẽ lấy gọn cả bộ rễ một cách dễ dàng). Sau đó, người dân trộn đất với phân chuồng hoai mục (10kg) cho đầy hố, nén đất xuống rồi trồng cây đã ươm vào, ba cây một hố theo hình tam giác đều, cây cách cây 50cm. Cây cần được tưới nước và ấn chặt đất xung quanh gốc, người chăm nên vun đất tạo thành vồng có rãnh thoát nước xung quanh. Nếu có, bèo tây ủ vào gốc để giữ ẩm là tốt nhất.

Trồng theo hàng thẳng hoặc tạo hình dáng: Bước đầu tiên là người trồng đào băng rộng 40cm, sâu 35-40cm, lót nilon cũ hoặc PE cũ xuống đáy và trồng cây như trên (không đặt cây theo hình tam giác đều mà chỉnh theo hàng thẳng hoặc hình dáng định trồng).

Hai là trồng trên diện tích lớn: Người nông dân cần làm luống rộng 60cm, cao 35-40cm, bổ hốc thành hai hàng lệch nhau, cây cách cây 50cm. Bước tiếp theo là người dân cho phân hoai mục xuống, lấp đất mỏng, đặt cây đã ươm vào trồng, tưới nước rồi ấn chặt đất quanh gốc. Nếu cây được trồng trên đất dốc, người trồng phải làm luống theo đường đồng mức để tránh trôi màu, hạn chế thoát nước nhanh sau khi mưa.

Chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cây đinh lăng:

Đinh lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn, ít sâu bệnh. Hầu như không cần sử dụng thuốc BVTV. Từ năm thứ 2 trở đi, người chăm cần tỉa bớt lá và cành, mỗi năm 2 đợt vào tháng 4 và tháng 9. Mỗi gốc chỉ nên để từ 1 đến 2 cành to.

Đinh Lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn và ít bị sâu bệnh hại. Giai đoạn đầu mới trồng, cây thường bị sâu xám cắt lá mầm và ăn vỏ thân, giai đoạn cây phát triển mạnh hầu như không bị sâu hại.

Trong giai đoạn đầu, người trồng cần chú ý phòng từ kịp thời tránh ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây. Người chăm bón có thể dùng thuốc hoặc bắt sâu bằng tay vào sáng sớm hoặc chiều muộn. Ngoài ra, người dân có thể dùng một số loại thuốc phòng trừ sâu xám như sau: Dùng thuốc đơn TP-Pentin 18EC, Basudin 50EC; Shecpain 36EC, Gottoc 250EC hoặc phối hợp hai loại thuốc khác nhau: Diptere 80WP + Karate 2,5EC, Sevin 40% + Sherpa 25EC, Ganoi 95SP + Abamectin 36EC, Regent 800WG + Sokupi 0,36AS… hoặc dùng một trong các loại thuốc sâu dạng hạt, bột như: Basudin 10H, Vibasu 10G, Furadan 3G, Regent 3G… trộn một phần thuốc với 10 phần đất bột khô rắc vào quanh gốc cây khi cấy trồng có tác dụng phòng trừ sâu xám rất tốt.

Thu hái, chế biến và bảo quản Đinh lăng:

Lá: Khi chăm sóc, người trồng cần tỉa bớt lá chỗ quá dầy. Khi thu vỏ rễ, vỏ thân , người thu nên thu hoạch lá trước, sau đó mới chọn hom giống. Lá thu được đem hong gió cho khô là tốt nhất (âm can), cuối cùng sấy cho thật khô.

Vỏ rễ, vỏ thân: Người nông dân có thể thu hoạch vào cuối thu năm thứ 2 (cây trồng 5 năm có năng suất vỏ rễ vỏ thân cao nhất). Rễ và thân câycần được rửa sạch đất cát, cắt rời rễ lớn, hong gió một ngày cho ráo nước (giúp bóc vỏ dễ hơn) để riêng từng loại vỏ thân, vỏ rễ sau khi bóc. Rễ nhỏ có đường kính dưới 10mm không nên bóc vỏ, loại đường kính dưới 5mm nên để riêng. Rễ cần được phơi, sấy liên tục đến khi khô giòn.

Phân loại: Loại I là vỏ, rễ cây loại có đường kính (lúc tươi) từ 10mm trở lên. Loại II là vỏ thân và vỏ rễ có đường kính dưới 10mm (vỏ thân gần gốc dày trên 2mm). Loại III là các loại rễ và vỏ thân mỏng dưới 2mm.

BBT – Sở KH&CN Vĩnh Phúc

【#2】Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Mai

Mai vàng có xuất xứ từ cây hoang dại, có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu nhiệt đới, đặc biệt với khí hậu miền Nam. Mai thuộc họ Ochnaceae, có tên khoa học Ochna integerima, là cây đa niên, có thể sống trên một trăm năm, gốc to rễ lồi lõm, thân xù xì, cành nhánh nhiều, lá mọc xen. Ngoài thiên nhiên, cây mai tự rụng lá vào mùa Đông và ra hoa vào mùa Xuân. Do đó, ông cha chúng ta đả lảy hết lá vào tháng chạp âm lịch, để kích thích ho cây mai ra hoa rộ vào dịp tết Nguyên đán.

Hoa mai thường mọc ra từ nách lá, mới đầu là một hoa to, gọi là hoa cái, có vỏ lụa (vỏ trấu) bọc bên ngoài. Khi vỏ lụa bung ra, thì xuất hiện một chùm hoa con, từ một nụ đến mười nụ, tăng trưởng rất nhanh, độ bảy ngày sau là nở. Trong chùm hoa này, hoa to nở trước hoa nhỏ nở sau, đến vài ba ngày mới nở hết. Mỗi hoa bên ngoài có 5 đài màu xanh, bên trong có 5 cánh màu vàng, ở giữa là một chùm nhụy mang phấn màu xậm hơn. Thường hoa nở 3 ngày thì tàn. Ngày thứ nhất, 5 cánh và chùm nhụy xoè thẳng ra rất đẹp! Ngày thứ hai, 5 cánh vảnh lên và chùm nhụy dụm lại. Qua đến ngày thứ ba, 5 cánh bắt đầu rơi lả tả theo chiều gió, hoa tàn. Hoa nào đậu thì bầu noãn phình to lên và kết hạt. Hạt non màu xanh, hạt già màu đen, hạt chín rụng xuống đất, mọc lên cây con. Cây con vài ba năm sau mới ra hoa bói lần đầu tiên và cứ thế tiếp tục, mỗi năm mỗi ra hoa.

Cây mai mỗi năm rụng lá một lần vào cuối mùa Đông (tháng 1 – tháng 2 Dương lịch) và nở hoa vào đầu mùa Xuân, chỉ riêng mai Tứ Qúy là nở hoa quanh năm. Hiện nay nhờ kỹ thuật lai tạo giống, các nghệ nhân đã tạo ra được các giống mai có nhiều cánh, cánh xếp nhiều tầng như mai Huỳnh Tỷ, mai Giảo, mai Cúc, mai Cửu Long…và đa dạng về màu sắc như Bạch Mai, mai Miến Điện, mai Bến Tre, mai Tứ Quý…

Kỹ thuật trồng và chăm sóc mai không phức tạp. Tuy nhiên để có một cây mai theo ý muốn của nguời chơi, ngoài những kỹ thuật thường áp dụng như tỉa cành tạo tán, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh việc trồng và chăm sóc mai cần chú ý một số điểm sau:

1- Chuẩn bị đất:

Với những vùng đất thấp cần lên líp rộng 1 – 1,2m, có rãnh thoát nước để mai không bị úng ngập khi mưa hay nước ngầm dâng cao làm thối rễ mai. Xới đất cho tơi xốp, nhặt hết cỏ dại và gạch đá.

2- Bón lót:

Đất Dinh dưỡng chuyên trồng mai Better 3 – 5kg trộn phân hữu cơ sinh học Better HG01 với lượng 0,3- 0,5 kg cho mỗi hố trồng. Nếu trồng mai trong chậu cần trộn đất với phân theo tỷ lệ 3 – 4 phần đất, 1 phần phân hữu cơ. Rải một phần phân hữu cơ xuống hố, đặt cây, rải tiếp phân hữu cơ quanh gốc rồi lấp đất, lèn chặt.

4- Bón phân thúc:

Sau trồng 15 – 20 ngày, rễ mai đã ăn ra lớp đất mới, cần tưới phân thúc bằng cách hòa 15 – 25gam phân Better NPK 16-12-8-11+TE/10 lít nước tưới vào gốc nhằm thúc cho bộ rễ mai phát triển mạnh ngay từ đầu. Bón thúc bằng cách rải phân Better NPK 16-12-8-11+TE hoặc NPK 12-12-17-9+TE quanh gốc với lượng 20 – 30 gam/cây. Kết hợp xới đất để vùi lấp phân nhằm giảm bớt thất thoát phân do bay hơi, rửa trôi. ngày/lần. Sau 3 – 4 tháng từ khi trồng, bón 0,5 – 1 kg phân hữu cơ sinh học Better HG01/cây. Cuối tháng 10 âm lịch cần giảm lượng phân và nước tưới để hạn chế tăng trưởng thân lá, chuẩn bị cho giai đoạn phân hóa mầm hoa. Phun phân bón lá Better KNO3 định kỳ 7-10 ngày/lần pha 50-100g/bình 16 lít nước nhằm kích thích mai phân hóa mầm hoa tốt.

6- Chưng mai trong những ngày tết:

Chậu mai phải để nơi thoáng mát, đủ sáng không nên để gần quạt hay chỗ có gió lùa vì sẽ làm mai mất nước nhiều rụng hoa và cả nụ sớm. Không nên để mai chỗ quá tối vì sẽ không đủ ánh sáng cho mai quang hợp, chồi sẽ vươn dài, lá ra nhanh, hoa rụng sớm. Nên tránh để mai gần bóng đèn có công suất lớn vì sẽ thừa sáng, nhiệt độ lại cao cũng làm mai nở nhanh, chóng tàn. Nếu là cành mai cắm trong bình cần phải thui gốc ngay sau khi cắt để giữ nhựa và hạn chế vi khuẩn gây thối cành. Thay nước sạch nhiều lần hoặc cho mỗi lít nước 1 viên Aspirin nhằm hạn chế vi khuẩn gây thối cành, tàn hoa.

b. Nhện đỏ (Tetranychus sp.)

Khi phát hiện có nhiều nhện trên cây có thể dùng một trong các loại thuốc: Danitol 10EC; Comite 73EC; Pegasus 500SG; Ortus 5SC; Cascade 5EC;

Nissuran 5EC; Sirbon 5EC; Kelthane 18,5EC…

g. Bện vàng lá do tác nhân bệnh sinh lý

Bón đầy đủ phân khi có hiện tượng vàng hlá, nên kết hợp phun tưới chế phẩm vi lượng tổng hợp Better chuyên dung cho hoa, cây sẽ mau hết bệnh.

i. Bệnh đốm đồng tiền do tác nhân địa y

Không nên trồng hoặc sắp xếp những chậu mai trong vườn quá dày, quá gần nhau, dưới tán lá và gốc cây cần nhận đủ ánh sáng mặt trời. Cần để vườn mai thông thoáng, khô ráo. Thiết kế mặt liếp để trồng mai (hoặc để đặt chậu mai) theo hình mai rùa, xẻ rãnh thoát nước để nước không đọng lại trên mặt vườn trong mùa mưa để vườn luôn được khô ráo.

Đối với những gốc mai đã bị đốm bệnh xuất hiện nhiều, dày đặc, có thể dùng bàn chải cọ rửa sạch những đốm bệnh trên thân, cành.

Dùng nước vôi hoặc dung dịch thuốc Bordeaux 1% quét lên thân cây vào đầu màu mưa, cũng có tác dụng ngăn chặn bệnh xâm nhập và lây lan. Ngoài ra bạn có thể dùng một số loại thuốc gốc đồng như Copper – B, Coc 85; Copper – Zinc hoặc Zinccopper… xịt ngừa lên chỗ thường hay bị bệnh trên thân, cành.

【#3】Chia Sẻ Kỹ Thuật Trồng Xoài Đài Loan Đạt Chuẩn, Trái To

Xoài Đài Loan trong những năm trở lại đây luôn được người tiêu dùng ưa chuộng. Trái xoài to, không chua, vị ngọt dịu luôn khiến người ăn cảm thấy ngon miệng. Chính vì vậy nhiều bà con đã trồng xoài Đài Loan. Hôm nay, Agri xin chia sẻ đến bạn kỹ thuật trồng xoài Đài Loan mới nhất nhằm tăng cao năng suất.

Xoài đài loan xanh có tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh. Là giống xoài có tính chống chịu sâu bệnh tốt hơn hẳn các giống xoài khác. Giống xoài đài loan xanh còn có khả năng thích nghi tốt với nhiều loại đất kể cả đất phền và đất nhiễm mặn nhẹ. Đặc biệt là cây cho trái quanh năm và có năng suất cao.

Thời gian cho thu hoạch của xoài xanh đài loan tương đối nhanh. Khoảng 18 – 20 tháng sau trồng là có thể ra hoa trái. Quả xoài đài loan xanh to trọng lượng trung bình đạt 1,0-1,2kg cùi dầy, thịt quả chắc, ít xơ, hạt mỏng, ăn ngọt đậm, đặc biệt khi ăn xanh vẫn ngọt.

Không chỉ dùng để ăn tươi nó còn dược dùng để chế biến công nghiệp như: làm mứt, sấy khô, sản xuất nước ép. Với năng suất, giá thành ổn định xoài đài loan xanh sẽ giúp nông dân vươn lên phát triển kinh tế.

Khi trồng nên chọn giống ghép, cây phải khỏe mạnh, sạch bệnh, đúng giống. Vị trí ghép cách gốc từ 15-20cm, chiều cao cây 50-70cm tính từ mặt bầu lên.

Trồng xoài vào đầu mùa mưa, từ tháng 5-7 để có đủ nước tưới trong giai đoạn đầu. – Khoảng cách trồng tùy vào độ màu mỡ của đất, nhưng mật độ thường là 6x6m hay 8-9m/cây. Có thể trồng theo hình vuông. Nếu trồng xoài ĐT-15 mật độ 3x3m/cây song phải tạo tán thường xuyên. Tuy nhiên, ở những vùng cao nên trồng thưa để cây có tán lớn, tuổi thọ cao.

Đào hố kích thước khoảng 60x60x60 cm, mỗi hố trộn 30-50 kg phân hữu cơ đã hoai mục và 0,5kg vôi bột, 0,5kg lân và 1 muỗng cà phê phèn xanh vào lớp đất mặt. Cho tất cả các hỗn hợp này xuống hố để từ 20-30 ngày mới trồng. Khi trồng trộn thêm khoảng 2kg phân hữu cơ vi sinh/gốc.

Bón phân lót cho 1 hố: 20-30kg phân chuồng mục + 1-2kg super lân + 0,1kg kali + 0,3-0,5kg vôi bột. Trộn đều phân với đất, lấp bằng miệng hố (công việc này làm xong trước khi trồng khoảng 1 tháng).

Đào một hốc nhỏ ở chính giữa hố, rạch bỏ túi bầu nilon và đặt bầu cây vào giữa hố, lấp đất vừa bằng cổ rễ, nén chặt xung quanh. Sau đó cắm 2 cọc chéo chữ X vào cây và buộc dây để tránh lay gốc làm chết cây. Sau khi trồng tủ xung quanh gốc bằng rơm, rác mục và tưới nước giữ ẩm cho cây liên tục trong một tháng đầu để tạo độ ẩm cần thiết cho rễ phát triển.

6.1. Kỹ thuật chăm sóc định kỳ

Tưới nước: cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín. Phòng trừ cỏ dại: Phủ gốc chè bằng cỏ, rác, cây phân xanh… để hạn chế cỏ dại; xới phá váng sau mỗi trận mưa to. Làm cỏ vụ xuân tháng 1-2 và vụ thu tháng 8-9, xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2-3 lần.

6.2. Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình

Cây Xoài là loại cây ra hoa đậu trái ở đầu cành, tạo tán tròn đều nhận ánh sáng từ mọi phía sẽ thuận lợi cho việc ra hoa đậu trái. Khi cây có chiều cao 1m cắt tỉa cành chỉ để lại chiều cao khoảng 0,8m, cây phát triển 5-7 cành mới cắt chỉ để 3 cành khung tỏa đều 3 hướng làm cành cấp I. Khi cành cấp I dài 0,5-0,8m tỉa tiếp và chỉ để lại 3 cành làm cấp II và từ cành cấp 2 chỉ tỉa để lại 3 cành cấp III. Sau đó ngưng tỉa để cây phát triển tự nhiên, lúc này cây sẽ có bộ khung vững chắc và tán sẽ phát triển theo dạng tròn. – Hàng năm sau khi thu hoạch nên cắt tỉa bỏ cành sâu bệnh, cành khuất trong tán, cành mất cân đối, để cây thông thoáng. Việc tỉa cành nên làm ngay sau khi thu hoạch trái để dễ dàng xử lý cây ra hoa.

6.3. Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Xoài Đài Loan:

Giai đoạn cây tơ bón 100-150 gram phân NPK 20-20-15+TE/gốc/lần. cây con năm đầu tiên nên pha phân vào nước tưới 2 tháng/lần. – Giai đoạn cây lớn, khi cây cho trái gia tăng lượng phân bón sau khi thu hoạch để cây đủ sức nuôi trái năm sau. – Trên đất màu mỡ không nên bón nhiều phân ure cho cây. – Ở một số loại xoài bón nhiều phân ure, Kali trái bị nứt, có vị chát. Gặp trường hợp này bón thêm vôi, CaSO4. – Cắt tỉa cành bị sâu bệnh và cành vượt tránh lây lan dịch bệnh.

Bệnh thán thư: Bệnh làm thối đen hoa, rụng hoa, thối đen trên quả. Dùng Benlat C hoặc Score 250 EC phun từ khi hoa nở đến 2 tháng sau với 7 ngày phun 1 lần, sau đó 1 tháng phun 1 lần.

Bệnh phấn trắng: Xâm nhiễm và gây hại lá, hoa, quả đặc biệt là hoa và chùm hoa. Dùng Rhidomila MZ 72WP, Anvil 5SC,…

Bệnh muội đen: Do bài tiết của rệp, dùng: Bassa 50 EC, Trebon 2,5 EC và có thể phun các loại thuốc trừ nấm có gốc đồng,…

Bệnh cháy lá: Bệnh phát triển trong mùa mưa, gây hại chủ yếu trên lá. Phòng trừ bằng cách cắt bỏ lá bệnh, phun thuốc Rhidomil MZ 72 WP, Kasumin 2L,…

Sâu đục thân, đục cành: Dùng bẫy đèn bắt sâu trưởng thành, tiêm vào lỗ những loại thuốc có tính xông hơi mạnh hoặc nội hấp như: Actara 25 WG, Padan 95SP, bịt lỗ bằng đất sét để diệt sâu non.

Rầy xanh: Rầy tiết dịch gây bệnh mùa nóng, làm xoài kém phát triển. Thời gian hại mạnh từ tháng 10 năm trước đến tháng 6 năm sau. Dùng Bassa 50 EC, Trebon 2,5 EC, Supracide 40 EC, Song mã 24,5 EC,…

Ruồi đục quả: Ruồi đục vào quả lúc vỏ quả già, đẻ trứng dưới lớp vỏ, sâu non ăn thịt quả gây thối, rụng quả. Dùng Sherpa 25 EC, Lục Sơn 0,26 DD, Padan 95 SP.

Bệnh thối đọt: Do nấm Dipldia Natalensis phá hại trên cành, lá, trái. Cành non xuất hiện đốm sậm màu lan dần nên lá. Lá cũng bị biến sang màu nâu, bìa lá cuốn lên trên. Có thể thấy mủ chảy trên các cành bị bệnh. Chẻ dọc cành bị bệnh có thể thấy bên trong có các sọc nâu do các mạch dẫn nhựa bị hư. Bệnh phát triển mạnh lúc độ ẩm không khí cao, lan nhanh trong mùa mưa. Trên trái, vùng vỏ quanh cuống trái bị úng sậm màu, sau đó lan rộng thành vùng đen tròn, sau 2-3 ngày có thể gây thối trái.

Cách phòng trị: dùng Boocđô phun định kì lúc phát hiện bệnh. Ở trái có thể nhúng vào dung dịch hàn the (borax) pha loãng ở nồng độ 0,06%.

Khi quả già, vỏ quả hồng sáng, độ chín đặc trưng của giống thì thu hoạch. Nên thu hái vào lúc trời râm mát, khô ráo. Quả thu hái về cần phân loại. Nếu vận chuyển đi xa thì đóng vào sọt hoặc thùng không quá 5 lớp (đóng sọt phải có lót rơm hoặc giấy giữa các lớp quả). Sau khi thu hoạch vệ sinh xung quanh tán cây, cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh và tiếp tục chăm sóc.

【#4】Kỹ Thuật Bón Phân Trồng Khoai Lang Hiệu Quả Nhất

Khoai lang nếu trồng đúng kỹ thuật, cách bón phân và chăm sóc hợp lý sẽ đạt được năng suất cao từ 30-40 tấn củ và 20-30 tấn thân lá/ha.

Để trồng khoai lang thu được năng suất và hiệu quả cao, bà con cần lưu ý 1 số vấn đề sau:

  • Về giống: Chọn giống khoẻ mạnh không sâu bệnh chưa ra rễ và hoa, tuổi dây trung bình 50-75 ngày.
  • Muà vụ: Vụ Đông (từ gần cuối tháng 08 đến 10/09), Vụ Xuân Hè (từ giữa tháng 02 đến đầu tháng 03)
  • Làm đất: Thực hiện cày bừa kỹ tơi xốp dọn sách cỏ và các bã thực vật tồn dư. Thường xuyên giữ ẩm cho đất (độ ẩm trung bình 65 – 80%). Nếu khoai gặp khô hạn thì cho nước vào rãnh ngập cao 1/2 – 2/3 luống khoai, sau đó rút nước. Việc bấm ngọn: thực hiện sau trồng từ 25 – 30 ngày. Cần quan tâm nhấc dây làm đứt rễ con nhằm dồn dinh dưỡng về củ. Nhấc xong phải đặt đúng vị trí cũ không làm đảo dây, không làm thương tổn đến thân lá . Thăm đồng thường xuyên để phát hiện sâu bệnh hại kịp thời và có biện pháp phòng trừ thích hợp .
  • Phòng trừ sâu bệnh: Khoai lang thường bị các bệnh như bọ hà, sâu khoang, sâu cắn rễ… Do vậy: cần dọn sạch đất truớc trồng, thu hoạch củ không quá trễ để tránh bọ hà phát triển, nên dọn sạch những củ bị bọ hà để tránh lây lan những củ khác. Cần thiết dùng đến các thuốc trừ sâu như: Sherpa, Trebon, Polytrin…
  • Thu hoạch: khi thấy dây khoai có biểu hiện ngừng sinh trưởng (các lá phiá gốc ngã sang màu vàng, moi củ lên thấy vỏ nhẵn, ít nhựa thì có thể thu hoạch.

2./ Sau khi lên liếp: Bón giữa luống trước khi đặt hom giống. Lượng bón trung bình 800kg Phân khoáng vi lượng .

3./ Bổ xung dinh dưỡng đợt 1 (sau khi trồng 10-15 ngày): Sử dụng Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái phun qua thân và đất giúp dây khoai phát triển lá, nách mầm và sinh trưởng nhanh hơn. Ngoài ra còn phòng được các loại nấm bệnh ngay khi trồng. Cách pha: 100ml chế phẩm sinh Vườn Sinh Thái pha cho 200-250 ít nước, phun váo sang sớm hoặc chiều má…

4./ Bón phân đợt 2: Kết hợp bón NPK xuống gốc đồng thời phun tiếp lần 2 với Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái kèm theo Chế phẩm Trichoderma NANO để phòng nấm bệnh cho cây… Cách pha: 1 chai Chế phẩm Vườn Sinh Thái + 1 viên Chế phẩm Trichoderma NANO pha cho 200-250 ít nước, phun váo sáng sớm hoặc chiều mát…

5./ Phun xịt đợt 3: Tùy vào hàm lượng dinh dưỡng của đất mà liều lượng phun Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái trung bình phun 9-11 lần trong vụ có thể kết hợp với canxi-bo hoặc chúng tôi theo đúng tỷ lệ, mỗi kỳ phun cách nhau từ 10-15 ngày. Ngưng phun 10 ngày trước khi thu hoạch.

【#5】Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Khoai Lang

Khoai lang (Ipomoea batatas) là một loài cây lương thực với các rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có vị ngọt, được gọi là củ khoai lang ngoài ra nó là một nguồn cung cấp rau ăn củ quan trọng, được sử dụng trong vai trò của cả rau lẫn lương thực. Các lá non và thân non cũng được sử dụng như một loại rau. Khoai lang có quan hệ họ hàng xa với khoai tây (Solanum tuberosum) có nguồn gốc Nam Mỹ và quan hệ họ hàng rất xa với khoai mỡ là các loài có nguồn gốc từ châu Phi và châu Á. 1- Làm đất:

Đất trồng khoai phải tơi xốp, tốt nhất là trồng trên đất giồng, đất trồng cây màu nhiều năm, đất pha cát. Dọn sạch cỏ rồi lên luống, bề ngang rộng 1m, cao 35 – 40cm; rãnh luống rộng 20cm, sâu 25cm để dẫn và thoát nước dễ dàng.

2- Chọn giống:

Hiện có nhiều giống khoai lang cho năng suất, chất lượng cao như khoai lang bí đường xanh (vỏ đỏ ruột vàng), thời gian sinh trưởng 100-105 ngày, chất lượng tốt, năng suất 25-30 tấn/ha; khoai lang tím Nhật (vỏ tím ruột tím), thời gian sinh trưởng 110-115 ngày, năng suất 30-35 tấn/ha.

Chọn hom dài khoảng 35-40cm, có từ 6-7 mắt, mập mạp, không sâu bệnh. Trồng hom ngọn sẽ cho năng suất cao hơn hom bánh tẻ và hom gốc. Cắt hom xong để nơi thoáng mát trong 2 ngày để các mắt đâm rễ mới, khi đem trồng khoai sẽ ra rễ và chồi nhanh hơn, tỷ lệ sống cao hơn.

Dùng cuốc rạch một đường ở giữa luống, sâu khoảng 10-15cm, đặt hom vào giữa rãnh, mỗi hom cách nhau 20-25cm, sau đó lấp đất, để ngọn hom nhô lên khoảng 10cm.

3- Chăm sóc – Bón phân:

Lượng phân dùng cho 1ha là 5-6 tấn phân Hiếu Giang Better hữu cơ sinh học HG01, 800-1000kg vôi, 150kg Phân Hiếu Giang better NPK 16-12-8-11+TE, 100kg Phân Hiếu Giang Better NPK 12-12-17-9+TE.

* Bón lót 100% phân Hiếu Giang Better hữu cơ sinh học HG01 + 100% vôi trước khi xới đất hoặc đặt hom.

* Bón thúc lần 1 vào 15-20 ngày sau khi trồng với lượng 100kg phân Hiếu Giang better NPK 16-12-8-11+TE (hòa tan tưới hoặc rải hạt)

* Thúc lần 2 vào 30 ngày sau khi trồng với 50kg phân Hiếu Giang Better NPK 16-12-8-11+TE.

* Thúc lần 3 sau trồng 45 ngày bón 100kg phân Hiếu Giang Better NPK 12-12-17-9+TE.

(tùy thuộc vào thời tiết có thể chia ra bón thúc 2 lần vào thời gian 15-20 ngày sau trồng và 45 ngày sau trồng)

Sau khi bón phân, tưới nước ngay để cây dễ hấp thụ.

Xới đất thường xuyên để cây và củ dễ phát triển. Thường xuyên giữ ẩm cho khoai, không tưới quá nhiều, có mưa lớn cần thoát nước ngay.

4- Phòng trừ sâu bệnh:

Có 2 loài làm giảm chất lượng khoai là bệnh ghẻ và bọ hà. Phòng trừ bệnh ghẻ bằng cách sử dụng nguồn giống sạch bệnh. Khi phát hiện ổ bệnh có thể dùng Score 250ND (0,3 -0,5lít/ha); Anvil 5-10EC (0,3-0,5lít/ha) để phun.

Bọ hà gây hại khoai tươi ngoài ruộng và trong kho, tỷ lệ gây hại khá lớn. Phòng trừ bằng cách loại bỏ củ đã bị nhiễm bệnh trước khi đưa vào kho bảo quản. Có thể dùng Vicarp 95BHN hoặc Padan 95SP phun xịt định kỳ 10 ngày/lần.

Phân bón Hiếu Giang Better kính chúc bà con trúng mùa được giá!

【#6】Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Nho

I- ĐẶC TÍNH:

Cây nho (Vitis vinifera) hiện được trồng phổ biến ở các nước thuộc vùng ôn đới và bán ôn đới. Ở nước ta nho trồng tập trung ở Ninh Thuận với diện tích khoảng 2.500 ha. Cây nho sinh trưởng và phát tốt trên đất phù sa, giàu chất dinh dưỡng, thoát nước tốt. Trên đất cát, đất lẫn sỏi đá ở các triền đồi cũng có thể trồng được nho miễn là có nhiều mùn, giàu chất dinh dưỡng, có điều kiện tưới nước vào mùa khô và thoát nước vào mùa mưa. Độ pH thích hợp cho cây nho cần có điều kiện khí hậu khô, độ ẩm không khí thấp, lượng mưa ít , nếu mưa nhiều kéo dài dễ làm bệnh phát sinh phát triển mạnh.

– Muốn trồng nho, trước hết phải tìm hiểu kỹ về điều kiện thời tiết khí hậu. Không phải quan tâm đến độ nhiệt ở miền Nam vì những nơi rét nhất như Đà Lạt, vẫn còn là nóng đối với nho, vả lại nho đã thích nghi tốt với độ nhiệt cao, thậm chí nắng to cũng không làm nám trái như với dứa, cam nhờ có giàn che.

Cơ bản nhất là phải có khí hậu khô nhiều nắng, độ ẩm không khí thường xuyên thấp. Vùng Ninh Thuận có lượng mưa thấp nhất nước 750 – 850 mm/năm và không khí tương đối khô. Tuy nhiên, lượng mưa quá cao tập trung vào những tháng cuối năm (tháng 9, 10, 11…) kết hợp với độ nhiệt cao làm cho bệnh phát triển mạnh và phải phun thuốc nhiều lần vào thời kỳ này.

Ở nhiều nơi khác ở miền Nam, vẫn có thể trồng nho kinh doanh với điều kiện là phải có mùa khô 4, 5 tháng nắng, và đất không bị úng nước mùa mưa do rễ nho là nơi xúc tích dự trữ của cây, rất mẫn cảm với tình trạng thiếu oxy. Cũng phải tính toán nên thu hoạch 1 vụ hay 2 vụ vì những nơi mưa nhiều chi phí về phun thuốc cộng với khả năng ô nhiễm môi trường làm giảm hiệu quả kinh tế của việc trồng nho.

Gió to không những có thể làm dập nát lá, chùm nho, còn có thể làm đổ giàn, vậy nên trồng nho ở những nơi hứng nắng, nhưng được che chắn kỹ. Những vùng hay có gió bão không thuận tiện.

Đất phù sa ven sông Dinh (Ninh Thuận), sâu, giàu chất dinh dưỡng, luôn thoát nước, là đất nho rất tốt. Tuy nhiên theo điều tra khảo sát của nghành nông nghiệp thì đất thịt, đất cát, đất lẫn sỏi đá ở các triền đồi, đều có thể trồng nho nếu đầu tư phân hữu cơ và phân khoáng với lượng cao, cũng phải có điều kiện tưới nước về mùa khô và bao giờ cũng phải thoát nước.

Độ pH thích hợp cho nho là pH = 6,5 – 7,0 nếu pH dưới 5 phải bón thêm vôi. Vùng Ninh Thuận mưa ít pH hay gặp là 6 – 7 có khi vượt 7 ở các đất phèn và trường hợp này phải rửa phèn. Đất phải nhiều mùn, vì thế phải bón nhiều phân hữu cơ. Vẫn theo điều tra của Nha Hố ở 30 điểm trồng nho vùng Ninh Thuận tỷ lệ mùn trong đất thường là 2% trong 100 g đất hàm lượng lân dễ tiêu là 77,76 mg và 44,47 mg kali trao đổi là những chỉ tiêu cao.

Tóm lại, nho ưa khí hậu khô và nhiều nắng. Có những điều kiện này thì những điều kiện khác, ví dụ về đất, về ánh sáng v.v… cũng thuận tiện theo, sợ nhất là mưa vì mưa làm rụng hoa, rụng trái, và nhất là tạo điều kiện cho nhiều bệnh nguy hiểm phát triển.

II- GIỐNG VÀ NHÂN GIỐNG:

Tất cả các giống nho trồng trong sản xuất hiện nay đều từ nước ngoài nhập vào từ thời Pháp thuộc và nhất là trong thời kỳ trước 1975. Nơi tập trung trồng nhiều giống nhất là Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Nha Hố nay là Viện Nghiên cứu Bông và từ đó các giống nho đã phổ biến vào trong sản xuất ở tỉnh Ninh Thuận và các tỉnh khác.

Qua nhiều năm đào thải hiện chỉ còn lại trong sản xuất 4 giống trong đó giống Muscat blanc gần như không được trồng nữa, mặc dù thơm ngọt nhưng có một nhược điểm rất quan trọng là vỏ mỏng trái dễ vỡ, không chịu khi vận chuyển.

Hiện nay giống Cardinal chiếm tới 99% diện tích trồng nho cả vùng Ninh Thuận:

1. Cardinal (nho đỏ) không chỉ là giống quan trọng của Việt Nam mà cả của các nước quanh vùng như Philippines, Thái Lan v.v… và có nhiều ưu điểm quan trọng : mã đẹp, dễ vận chuyển, sinh trưởng nhanh, chất lượng khá.

2. Cardinal có một ưu điểm nữa hơn các giống khác đã được nhập vào Việt Nam, từ cắt cành đến chín chỉ khoảng 90 ngày, với 1 tháng ngủ nghỉ trước khi lại cắt để cho ra trái vụ sau, tổng cộng 4 tháng cho 1 vụ, một năm có thể thu ba vụ, tiêu chuẩn kinh tế quan trọng của người trồng nho hiện nay.

– Đặc điểm của nghề trồng nho là phải cho cây leo giàn. Ở các nước nhiệt đới khác người ta dùng cọc hình chữ T bằng sắt hoặc bằng bê tông, tay dọc chữ T cắm sâu xuống đất, tay ngang buộc năm dây thép cách nhau đều. Tay ngang rộng từ 1,2 m đến 1,5 m. Chiều cao từ tay ngang tới mặt đất từ 1,2 m đến 2 m tùy vùng. Cao thì thoáng nhưng dễ đổ do sức nặng của cả hàng cây, đặc biệt khi mang trái. Hai cột hai đầu phải đóng cọc gia cố.

– Ở Ninh Thuận bà con làm giàn. Giàn nho thông thường gồm hai hay nhiều hàng cọc. Trên đầu cọc, cao độ 1,8 m – 2,0 m, giăng một giàn dây thép ngang dọc cho nho leo. Giàn to thì phải gia cố những hàng cọc phía rìa bằng những thanh gỗ, thanh sắt, sào tre v.v… đủ vững để không sụp đổ, dưới sức nặng của cành lá và trái nho.

Cho nho leo và cắt tỉa: Cho leo giàn không có gì khó. Dùng một cái sào, hoặc cọc gỗ lớn bằng ngón tay cái, cắm gần gốc nho, cắm dựng đứng. Chọn trong các ngọn nho ngọn khỏe nhất buộc cho leo lên giàn. Bao nhiều ngọn phụ, hoặc cành sinh ra sau này cắt hết, sát đến tận nách lá để có một thân duy nhất to khỏe. Khi ngọn chính đã lên tới giàn, ngắt búp sinh trưởng để cho các cành cấp 1 phát triển.

Ngọn của thân chính sau khi vươn tới giàn thì ngắt đi. Trong các cành mọc từ thân ra chọn lấy hai cành khỏe nhất, buộc vào dây thép cho phát triển theo hai hướng ngược. Hai cành cấp 1 này sẽ trở thành 2 tay, buộc chặt vào dây thép bằng một loại dây có thể tự hủy được (đay, bẹ chuối, vỏ cây leo, dây ni lông v.v…). Không dùng dây thép vì sẽ thắt lấy tay, cản trở lưu thông của nhựa. Khi tay đã mọc dài 1 – 1,2 m lại bấm ngọn để lại trên mỗi tay một số cành cấp 2 gọi là cành quả. Cành quả cũng buộc vào dây thép, tránh gió lay, làm rách lá rụng mắt và không cho đè lên nhau, khoảng 10-12 tháng sau trồng, khi các cành cấp 2 đã hóa gỗ, màu nâu, mắt đã nổi rõ thì tiến hành để trái bằng cách cắt hết cành lá đã có, chỉ để lại cành quả, mầm dự trữ ở chân cành quả (cành quả vụ sau). Những cành to khỏe dài hơn 1m thì cắt ở vị trí mắt thứ 6,8, các cành nhỏ ngắn thì cắt ở mắt vị trí số 1 -2 để tạo các cành dinh dưỡng cho vụ sau. Sau khi cắt cành 20 ngày cây bắt đầu ra hoa, 25-30 ngày đậu trái. Mỗi dây chỉ để 2-3 chùm, trên các chùm cần loại bỏ các trái có dị tật, méo mó, sâu bệnh để tập trung dinh dưỡng nuôi các trái còn lại.

Cắt hết cành lá đã có, chỉ để lại các bộ phận sau đây :

– Cành quả để hình thành trái và gỗ mới.

– Mầm dự trữ ở chân cành quả để thay thế các cành này vụ sau.

B- Bón Phân:

1. Bón lót: Trước khi trồng, bón cho mỗi hố 2 – 3 kg Better HG01 + 0,5 kg lân.

2. Bón phân cho nho thời kỳ kiến thiết cơ bản:

– Cây nho cần khoảng 10 – 12 tháng để tạo bộ tán, leo giàn, trong thời kỳ loại phân thích hợp là Better NPK 16-12-8-11+TE.

– Những tháng đầu sau khi trồng có thể pha 30 -50 gam phân với 10 lít nước tưới đều vào vùng rễ nho.

– Các tháng sau có thể bón trực tiếp với lượng 50 – 70 kg/ha/lần, bón kết hợp xới đất phá váng và vùi lấp phân bón.

3 Bón phân cho nho kinh doanh:

– Trung bình mỗi tấn nho, cây sẽ lấy đi khỏi đất 3,14 kg N, 0,71 kg P¬2O5, 5,86 kg K2O, 0,86 kg MgO, 4 kg CaO, 42 ppmFe, 15,7ppm Zn, 9,1 ppm Cu, 5,3 ppm B, 7ppm Mn… như vậy với năng suất bình quân 10 tấn/ha, cây nho lấy đi khỏi đất 31,4 N, 1 kgP2O5 , 58,6 K2O và nhiều trung vi lượng khác. Để nho đạt năng suất cao, ổn định, bón phân như sau:

– Sau khi thu hoạch: xới đất phá váng, bón 6-10 tấn phân hữu cơ Better HG01 + 100-150 kg phân Better NPK 16-12-8-11+TE ( phân tím), kết hợp phun phân bón lá đầu trâu ĐT001 định kỳ 7-10 ngày/lần.

– Trước cắt cành: bón 100 -150 kg Better NPK 16-12-8-11+TE (phân tím), phun 2-3 lần phân bón lá đầu trâu ĐT001.

– Khi trái lớn bằng hạt tiêu: 100 -150 kg phân Better NPK 12-12-17-9+TE (phân xanh), kết hợp phun thêm phân bón lá đầu trâu ĐT 907 hoặc Better KNO3.

– Khi trái lớn bằng hạt đậu: 150 -200 kg Better NPK 12-12-17-9+TE (phân xanh), kết hợp phun phân bón lá ĐT 907 hoặc Better KNO3, ngưng phun trước thu hoạch 10 ngày.

Cần xới nhẹ đất giữa hai hàng nho hoặc cách gốc nho 0,5-1m để rải phân, sau rải phân cần lấp đất để vùi phân, tránh thất thoát.

IV- SÂU BỆNH HẠI::

– Nhện đỏ: bám ở mặt dưới lá hút lấy nhựa, đặc biệt lúc mới đâm chồi. Trị bằng các thuốc: Bi 58 ND, polytrin P 440EC, DC Tron Plus 98,8EC…

– Bọ trĩ: trị bằng các loại thuốc Regent 800WG, Confidor 100SL…

– Sâu ăn lá, sâu đục thân, đục quả: trị bằng các thuốc Sherpa 25ND, Decis 2,6ND…

– Bệnh mốc sương: trên là bệnh xuất hiện ở mặt trên có những vết màu xanh-vàng, sau đó chuyển sang đỏ nâu, mặt dưới lá, tơ nấm phát triển thành một màng mỏng, trắng trắng những lông tơ. Bệnh còn gây hại cả tay leo, đọt, hoa và chùm 68WP, Antracol 70WP….

– Bệnh phấn trắng: nắm bệnh gây hại các đọt non, bệnh phủ một lớp phấn trắng như bột lên lá non, cành thân non, trên cành lúc đầu bệnh cũng ở dạng phấn trắng nhưng sau đó chuyển sang nâu, các thuốc trị 53,8 DF, Champion 57,6DP, Kocide 250EC…

Hiếu Giang Better kính chúc bà con trúng mùa được giá!

【#7】Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Thâm Canh Mía Đường Công Nghiệp

Mía là cây công nghiệp lấy đường quan trọng của ngành công nghiệp đường, là loại cây công nghiệp khoẻ, dễ tính, không kén đất, vậy có thể trồng mía trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy nhiên ở những vùng địa bàn này cần bố trí các rãnh mía theo các đường đồng mức để tránh sói mòn đất. Ngành trồng mía chỉ có thể cho hiệu quả kinh tế cao nếu có đúng đắn. kỹ thuật trồng cây

Cây mía không yêu cầu khắt khe về đất, tuy nhiên để thâm canh đạt năng suất cao yêu cầu về đất cótầng canh tác sâu, tơi xốp, giàu dinh dưỡng, pH trung tính, thoát nước tốt, độ dốc < 100.

– Đất đồi, đất bãi và đất ruộng gồm các bước cày, bừa và rạch hàng để trồng:

+ Đất bãi và đất ruộng: Cày sâu 30 – 35 cm và bừa từ 2 đến 3 lần, rạch hàng 1 lần sâu từ 25 – 30 cm.

+ Đất đồi: Thiết kế hàng mía theo đường đồng mức (nơi có điều kiện áp dụng cày không lật với độ sâu 40 – 50 cm); làm đất trước khi trồng 40 – 60 ngày để phơi ải, diệt trừ nguồn sâu bệnh.

– Đất trũng vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải lên líp (liếp) rộng 6,0 – 20 m, cao 25 – 35 cm. Rãnh trồng sâu 20 – 25 cm, đáy rãnh phủ lớp đất xốp dày 5 -1 0 cm. Đất bị nhiễm phèn thì liếp rộng 4,5 – 5 m, cao 25 – 35 cm. Đáy rãnh phủ lớp đất xốp dày 5 – 10 cm.

Cần thiết kế hệ thống tưới tiêu nước để kịp thời thoát nước mùa mưa và tưới bổ sung khi gặp khô hạn.

1. Giống mía: Bộ giống mía khuyến cáo nên áp dụng cho các vùng như sau:

Tuỳ điều kiện đất đai từng vùng và nhu cầu nguyên liệu cụ thể cho từng nhà máy để bố trí tỷ lệ các nhóm giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn cho phù hợp.

2. Chuẩn bị mía giống: Hom mía giống phải đạt các yêu cầu sau:

+ Có 2-3 mắt mầm tốt (mầm phía ngọn có đầy đủ bộ phận, có sắc tố đặc trưng; mầm phía gốc có vẩy mầm chưa hóa gỗ; mắt mầm không bị khô hoặc xây xát, dập nát), tỷ lệ rễ khí sinh dưới 10% số điểm rễ.

+ Không bị nhiễm sâu bệnh.

+ Có đường kính đạt trên 80% đường kính thân đặc trưng của giống và độ dài lóng không dài hoặc ngắn hơn quá 20% độ dài đặc trưng của giống.

– Nếu có điều kiện hoặc ở trình độ thâm canh cao, có thể sử dụng cây giống nuôi cấy mô hoặc bầu hom 1 mầm để trồng, thay thế cho phương pháp trồng bằng hom 2 – 3 mắt mầm như trên và phải tuân thủ theo quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc của cơ sở cung cấp giống.

– Mật độ: Tuỳ điều kiện đất đai và loại giống mía để bố trí mật độ, lượng hom giống cần từ 35.000 – 40.000 hom/ha (mỗi hom có 3 mắt), tương đương 8 – 10 tấn giống/ha.

– Khoảng cách hàng: Tùy việc canh tác thủ công hoặc bằng máy để bố trí khoảng cách hàng đơn từ 0,8 – 1,2 m (canh tác thủ công), hoặc hàng kép từ 1,2 – 1,8m x 0,6 – 0,4m (canh tác bằng máy).

– Cách trồng: Đặt hom theo rãnh hàng đơn (cách nhau 1 m) hoặc hàng kép (1,4m), phủ kín đất 3 – 5 cm (vụ trồng phụ) hoặc 7 – 10 cm (vụ trồng chính). Đất khô cần nén chặt cho hom tiếp xúc với đất. Trong vụ trồng chính nếu có điều kiện nên tưới ẩm sau khi trồng và sử dụng màng phủ nông nghiệp giữ ẩm và hạn chế cỏ dại cho mía.

– Kỹ thuật dặm: Đào rãnh sâu ngang với đáy rãnh lúc trồng, đặt cây dặm và lấp kín gốc. Khi dặm đất phải đủ ẩm, cây đem dặm phải cắt bớt lá để hạn chế thoát hơi nước, nén chặt đất vào gốc cây dặm. Nếu có điều kiện cần tưới ngay sau khi dặm.

a) Lượng phân bón cho 1 ha mía:

– Vôi: Đất trồng mía có pHdưới 5, cần bón lót vôi bột (CaO) trước lần cày bừa cuối cùng, với lượng từ 800 – 1.000 kg/ha.

– Phân hữu cơ: 10 – 20 tấn (phân chuồng, phân rác, bã bùn, tro,…) hoặc thay thế bằng 1 – 3 tấn phân hữu cơ vi sinh.

– Phân hoá học: Tùy theo loại đất, vụ mía và điều kiện canh tác ở mỗi vùng mà điều chỉnh lượng phân bón sao cho phù hợp, trung bình cho vụ mía tơ như sau:

– Lượng phân bón cho mía gốc tăng hơn mía tơ từ 10 – 20%.

– Khi bón phân đơn hoặc phân NPK hỗn hợp, cần quy đổi hàm lượng N, P2O5, K2O tương đương với tỷ lệ nêu trên. Tuỳ theo mức độ thâm canh để đạt được năng suất mía khác nhau mà bón với lượng khác nhau. Ở những vùng có lượng mưa lớn, xói mòn mạnh nên bón bổ sung các phân có chứa trung và vi lượng như sắt, man-gan và ma-nhê.

– Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ, phân lân, 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali. Trường hợp cần phải xử lý mối và bọ hung thì bón thêm thuốc trừ sâu được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Ngay sau khi bón lót, nên lấp 1 lớp đất mỏng 1 – 3 cm rồi mới đặt hom.

– Bón thúc lần 1 (thúc đẻ): Khi mía 4 – 5 lá, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali.

– Bón thúc lần 2 (thúc lóng): Khi mía 9 – 10 lá (khi mía có 1 – 2 lóng), bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali. Nếu đất khô hạn hoặc nhiễm phèn mặn thì nên bón bổ sung thêm 1 lần qua lá.

– Chỉ tiến hành tưới nước bổ sung cho mía vào các giai đoạn khô hạn kéo dài, đặc biệt là giai đoạn mọc mầm, đẻ nhánh và bắt đầu vươn lóng. Dừng tưới cho cây mía trước khi thu hoạch 1 tháng.

– Phương pháp tưới: Tùy theo điều kiện, có thể áp dụng các phương pháp tưới nước cho mía phổ biến như tưới thấm, tưới nhỏ giọt, tưới phun và tưới tràn theo rãnh mía.

– Lượng tưới: 40-50 mm/lần tưới, tương ứng với 400 – 500 m3/ha/lần tưới. Tưới 1 – 2 lần/tháng.

b) Tiêu nước: Mía cần nhiều nước nhưng chịu úng rất kém, đặc biệt là thời kỳ cây con và thời kỳ vươn lóng. Để tránh bị úng, ruộng trồng mía phải bằng phẳng, thiết kế hệ thống tiêu nước ngay sau khi trồng, xung quanh ruộng cần có rãnh, mương đấu nối với hệ thống thoát nước để tránh bị đọng nước sau khi mưa to. Không nên để mía bị ngập úng quá 1 tuần.

– Những nơi có diện tích lớn, tập trung, ruộng bằng phẳng, có điều kiện cơ giới có thể dùng máy kéo liên hợp với máy xới như: máy xới răng nhọn, máy xới cánh én, máy xới kiểu đĩa,… để diệt cỏ giữa 2 hàng mía, đảm bảo cho đất tơi, xốp, thoáng khí, giúp mía sinh trưởng tốt.

– Xới vun cho mía: Thực hiện 2 lần:

+ Lần 1: Khi mía kết thúc mọc mầm (sau trồng hoặc sau thu hoạch vụ trước 30-40 ngày).

+ Lần 2: Khi mía kết thúc đẻ nhánh (sau trồng hoặc sau thu hoạch vụ trước 60-80 ngày).

– Chỉ dùng máy xới khi đất đủ ẩm, xới giữa 2 hàng mía cách gốc mía khoảng 20 cm.

Lưu ý: Nếu trồng hàng kép cần tăng cường làm cỏ giữa 2 hàng kép.

Cần tiến hành làm cỏ sớm, đặc biệt là ở giai đoạn mía dưới 4 tháng tuổi, phải đảm bảo ruộng mía luôn sạch cỏ dại.

a) Biện pháp thủ công: Dùng cuốc, tay hoặc trâu, bò cày xới giữa hàng để diệt cỏ trong hàng mía.

+ Ngay sau khi trồng: Nếu đất có nguồn cỏ nhiều có thể phun một trong các loại thuốc tiền nảy mầm như: Gesapax 500FW (3-4 lít/ha), Ansaron 80WP (2-3 kg/ha), Mizin 80WP (3-6 kg/ha) hoặc Dual Gold 906EC (0,5-0,6 lít/ha), tiến hành phun phủ toàn bộ ruộng, trong phạm vi từ 2-5 ngày sau khi trồng. Chú ‎ý khi phun thuốc đất phải đủ ẩm.

+ Giai đoạn 30-40 ngày sau trồng: Có thể sử dụng thuốc Gesapax 500FW (3 -4 lít/ha), phun vào giữa các hàng mía ( tránh phun vào ngọn, lá mía).

+ Giai đoạn 2-4 tháng sau khi trồng: Nếu thấy cỏ xuất hiện nhiều do làm cỏ không kịp hoặc do trước đó không trừ cỏ, có thể sử dụng thuốc trừ cỏ tiếp xúc Gramoxone 20SL, liều dùng từ 2-2,5 lít/ha (trừ cỏ lớn), trộn với 2-2,5 lít thuốc Gesapax 500FW hoặc 2-2,5 kg thuốc Ansaron 80 WP (trừ cỏ non và hạn chế cỏ mọc trở lại) phun vào giữa các hàng mía, tránh phun lên mía.

+ Giai đoạn trên 4 tháng sau khi trồng: Nếu thấy có nhiều cỏ xuất hiện trở lại, có thể sử dụng thuốc Gramoxone 20SL để phun trừ như trên, với lượng dùng từ 2-2,5 lít/ha, nếu ruộng mía có nhiều cỏ 2 lá mầm, có thể trộn thêm khoảng 1 lít thuốc 2,4 D (Zico 48 SL). Ở giai đoạn này cần phải làm sạch cỏ để tránh lây lan sang vụ mía gốc.

– Dùng thuốc Basudin 10G hoặc Diaphos 10H với liều dùng 20-30 kg/ha hoặc Padan 4G với liều dùng 30 kg/ha rải vào rãnh mía trước khi đặt hom hoặc rải vào sát gốc mía trước khi vun.

– Cắt bỏ cây mầm bị sâu và làm sạch cỏ.

– Khi có điều kiện thì thả ong mắt đỏ từ tháng thứ 3-8 sau trồng hoặc thu hoạch, định kỳ 15 ngày thả 1 lần với liều lượng thả là 50.000 ong/ha/lần.

– Làm sạch cỏ, bóc và cắt lá già cho ruộng mía thông thoáng.

– Khi thấy rệp xuất hiện, cần tổ chức diệt trừ dứt điểm không để lây lan bằng thuốc Trebon 10EC hoặc Supracide 40EC, pha nồng độ 0,1-0,15%, mỗi héc-ta sử dụng từ 1-1,5 lít thuốc, phun ướt đẫm đều khắp mặt lá, phun thật kỹ, tập trung những nơi có ổ rệp.

c) Bọ hung đục gốc: Khi có nhiều bọ hung xuất hiện, trước khi vun gốc lần 1 rải thêm 25 – 30 kg thuốc Sago Super 3G vào gốc mía rồi vun đất.

– Kịp thời nhổ bỏ và tiêu huỷ cây mía bị bệnh.

– Ruộng mía bị bệnh nặng không nên để mía lưu gốc và phải luân canh cây họ đậu từ 1- 2 năm.

– Cắt lá bệnh và tiêu huỷ.

– Dùng thuốc boóc-đô hoặc sun-phát đồng trộn với vôi bột và đất bột theo tỷ lệ 10:40:50, rắc vào ngọn mía.

e) Bệnh chồi cỏ, bệnh trắng lá:

– Tổ chức hệ thống sản xuất, cung ứng và hoàn toàn sử dụng hom giống sạch bệnh 3 cấp.

– Phun thuốc trừ sâu hoặc dùng bẫy đèn thu bắt, diệt côn trùng môi giới truyền bệnh.

– Với đất tốt, cơ cấu chu kỳ luân canh 5 năm: 1 tơ + 3 gốc + 1 luân canh.

– Với đất đồi, đất xấu chu kỳ luân canh 4 năm: 1 tơ + 2 gốc + 1 luân canh.

Cây trồng luân canh với cây mía: sử dụng cây họ đậu để nhằm mục đích cải tạo đất.

– Ngay sau khi trồng mía, tiến hành rạch 1-2 hàng dọc giữa 2 hàng mía, bón phân lót, gieo hạt, lấp đất đủ kín hạt.

– Sau khi thu hoạch các cây trồng xen, nhanh chóng nhổ hết thân lá cây trồng xen, rải dọc theo chiều dài hàng mía, kết hợp bón phân thúc cho mía, xới giữa hai hàng mía để vùi lấp phân bón và thân lá cây trồng xen vào đất.

– Cây trồng xen canh với cây mía: Sử dụng cây ngắn ngày, có thời gian sinh trưởng < 3 tháng như cây ớt, cây họ đậu, cây mè, dưa hấu,… ưu tiên cây họ đậu.

– Chỉ lưu gốc những ruộng mía có năng suất cao, ít bị sâu bệnh, tỷ lệ mất khoảng < 20%.

– Sau khi thu hoạch xong phải tiến hành vệ sinh đồng ruộng ngay. Dùng cuốc, dao để bạt (phạt) sát đất những gốc cao; loại bỏ cây mầm, cây bị sâu bệnh hay cỏ dại sót lại từ vụ trước.

– Thu hoạch khi đất khô cần che phủ ruộng mía lưu gốc bằng nguồn ngọn, lá mía; gom ngọn lá mía xung quanh ruộng vào trong ruộng để tạo khoảng cách phòng chống cháy.

– Thu hoạch khi đất đủ ẩm cần gom ngọn, lá mía từng hàng xen kẽ, kết hợp dùng trâu, bò cày xả hai bên luống để làm đứt các rễ già và xới vun luống, hoặc gom ngọn lá, mía cách 2 hàng kết hợp cày xả và xới vun luống bằng cơ giới, sau đó phủ ngọn lá mía trở lại toàn bộ mặt ruộng. Sau khi cày xả tiến hành bón phân lần 1 cho ruộng mía gốc với 100% phân lân phối trộn với 100% phân hữu cơ, 1/3 lượng phân đạm và 1/2 lượng phân kali, sau đó mới vun xới luống.

– Sau khi áp dụng các biện pháp chăm sóc mía gốc ban đầu như trên và khi thấy mía tái sinh đều, cần tiến hành kiểm tra và dặm những chỗ mất khoảng 0,8 m. Phương thức dặm tương tự như ở vụ mía tơ, nhưng phải lưu ý đảm bảo đủ ẩm cho bụi mía sau khi trồng dặm.

– Lượng phân và cách bón phân cho ruộng mía gốc:

+ Lượng bón: Tùy theo loại đất và điều kiện canh tác ở mỗi vùng mà điều chỉnh lượng phân bón sao cho phù hợp, trung bình như sau:

+ Kỹ thuật bón:

Lần 1: Sau thu hoạch khoảng 1 tháng (đối với đất chủ động tưới) hoặc đầu mùa mưa (đối với canh tác nhờ nước trời): Bón 100% lượng lân, 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali.

Lần 2: Khi mía bắt đầu vươn lóng hoặc sau lần thúc 1 khoảng 40-60 ngày, bón 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali.

– Các biện pháp chăm sóc, làm cỏ, xới xáo, phòng trừ sâu bệnh thực hiện tương tự vụ mía tơ.

1. Xác định mía chín để thu hoạch

– Theo cảm quan khi mía chín: Lá mía sít lại, ngả màu hơi vàng nhạt, các đốt phần trên ngọn ngắn lại.

– Dùng máy kiểm tra: Lấy mẫu ngẫu nhiên đem phân tích, khi mía đạt CCS ³ 9,0% mới bắt đầu thu hoạch.

– Theo loại mía: Mía gốc thu hoạch trước, mía tơ thu hoạch sau.

– Theo loại giống: Giống chín sớm thu hoạch trước, rồi đến giống chín trung bình và cuối cùng là giống chín muộn.

2. Ước lượng năng suất, chất lượng mía trước thu hoạch

– Năng suất mía thu hoạch lý thuyết (tấn/ha) được xác định bằng công thức:

Năng suất mía thu hoạch lý thuyết (tấn/ha) = Mật độ cây hữu hiệu (1.000 cây/ha) x khối lượng cây trung bình (kg/cây).

Trong đó, mật độ cây hữu hiệu và trọng lượng cây được xác định bằng việc lấy mẫu trung bình ngoài đồng ruộng.

– Ước lượng chất lượng mía trước thu hoạch:

+ Sử dụng Brix kế cầm tay, xác định độ Brix (Bx%) của mía. Khi đó có thể ước lượng được chữ đường (CCS%) bằng công thức:

+ Lấy mẫu mía đem phân tích trong phòng có thể xác định được chính xác chữ đường (CCS%).

3. Chặt và vận chuyển mía sau thu hoạch

– Yêu cầu khi thu hoạch: Phải chặt sát gốc, không dập gốc, chặt ngọn ló “mặt trăng”. Róc sạch rễ lá, đạt tiêu chuẩn mía nguyên liệu.

– Dụng cụ thu hoạch: Sử dụng dao hoặc rìu chặt mía chuyên dùng, được mài sắc trước mỗi lần sử dụng.

– Mía được làm sạch tạp chất (lá, bẹ, rễ…) bó thành từng bó từ 10-15 kg và gom thành từng đống 30-50 bó nhằm giúp quá trình bốc xếp thuận lợi.

– Thu hoạch xong nên dùng bạt che phủ tránh nắng bốc hơi, giảm lượng đường và phải vận chuyển ngay đến nơi chế biến trong vòng 24 giờ.

– Hạn chế các phương tiện vận chuyển đi vào các ruộng mía lưu gốc.

– Thời gian thu hoạch mỗi ruộng mía không quá 5 ngày tạo sự nảy mầm đồng đều để dễ chăm sóc mía gốc.

– Sử dung vi sinh vật phân hủy lá mía hoặc tủ gốc để giữ ẩm, hạn chế cỏ dại và tăng hữu cơ cho đất./.

Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

【#8】Phân Kali Là Gì? Kỹ Thuật Bón Để Đạt Hiệu Quả Cao

Tuy không phải là thành phần cấu tạo nên tế bào thực vật nhưng Kali là một trong những nguyên tố đa lượng cần thiết cung cấp cho cây trồng trong giai đoạn trưởng thành và ra hoa, kết trái.

Trong tự nhiên Kali xuất hiện nhiều trong đất phù sa được bồi đắp, nước ngầm, nước tưới. Trong đất có nhiều Kali đủ để cây sinh trưởng bình thường, chỉ ở đất bạc màu, đất xám đất thịt nhẹ mới nghèo Kali không đủ cung cấp cho cây do đó bà con thường thờ ơ việc bón phân Kali cho cây trồng dù cây trồng thường cần khối lượng K lớn hơn N.

1. Phân kali là gì?

Phân kali là nhóm phân bón cung cấp chất dinh dưỡng kali cho cây, cung cấp nguyên tố kali dưới dạng ion K+. Nhóm phân kali đều là phân chua sinh lý, dễ hòa tan trong nước, có hệ số sử dụng dinh dưỡng cao (60-70%).

Khác với phân đạm và lân, tỷ lệ kali trong hạt thấp hơn tỷ lệ trong thân và lá. Độ dinh dưỡng của phân kali được đánh giá dựa trên tỷ lệ % khối lượng K2O tương ứng với lượng K có trong thành phần của nó.

Trong thân lá lúa, tỷ lệ K2O dao động khoảng 0.60 – 1.50%, trong khi đó ở hạt gạo tỷ lệ này biến động khoảng 0.30 – 0.45%. Ở cây thuốc lá tỷ lệ K20 trong lá đặc biệt cao lên đến 4.5 – 5.0% theo chất khô.

  • Giúp nâng cao năng suất chất lượng cây trồng nhờ vào việc hỗ trợ quá trình chuyển hóa năng lượng, đồng hóa các chất dinh dưỡng.

  • Nhanh chóng chuyển hóa đạm thành protein, giảm tác hại của việc bón phân nhiều đạm nhờ vào quá trình thúc đẩy tổng hợp đạm trong cây.

  • Tăng khả năng chống hạn cho cây trồng, giúp cây giữ nước tốt hơn nhờ tăng cường hydrat hóa các cấu trúc keo của huyết tương và nâng cao khả năng phát tán của chúng.

  • Điều tiết các hoạt động sống của cây trồng nhờ vào các tính chất hóa keo, hóa lý của tế bào.

  • Tham gia vào tổng hợp đường, tinh bột, protein và quá trình quang hợp giúp tăng năng suất cây trồng.

  • Phân kali giúp tăng khả năng hấp thụ nước và chất dinh dưỡng của rễ cây.

  • Trong điều kiện ít nắng phân kali còn tăng khả năng sử dụng ánh sáng cho cây trồng.

  • Nhờ năng lực thẩm thấu của tế bào giúp tăng cường sức chịu rét và chống chọi qua mùa đông.

  • Tăng cường khả năng chống chịu cho cây trồng trước các điều kiện môi trường bất lợi như hạn, rét, úng, sâu bệnh,… Và khả năng chống chọi trước nấm bệnh.

  • Đối với từng loại cây Kali lại mang vai trò riêng biệt

    • Đối với rau ăn lá: Giảm tỷ lệ thối nhũn và hàm lượng nitrat, tăng chất lượng rau quả.

    • Cây ăn quả: Giảm tỷ lệ rụng, tăng quá trình phân hóa mẩm non, tỷ lệ đậu quả. Tích lũy vitamin, đường giúp màu sắc quả đẹp hơn, hương vị quả thơm hơn, bảo quản nông sản tốt hơn.

    • Cây công nghiệp ngắn ngày: Tăng năng suất khả năng chống chọi với sâu bệnh.

3. Biểu hiện cây trồng khi thiếu kali

  • Thường biểu hiện trên các lá già bằng những vệt cháy màu nâu đen, từ chóp là và dọc 2 bên rìa lá. Sau đó các vết cháy lan dọc thành sọc dọc hai bên gần chính, lá già rụng sớm. Nếu thiếu trầm trọng kali sẽ làm quả rụng nhiều, cành mảnh khảng dễ bị khô và chết.

  • Dễ bị thối rễ, phát triển còi cọc, thân yếu, dễ bị đổ ngã. Khả năng chống chịu trước sâu bệnh và thời tiết kém.

  • Biểu hiện rất rõ của cây trồng khi thiếu kali chính là lá hẹp ngắn, dễ héo rũ và khô, xuất hiện các chấm đỏ.

  • Đối với hạt giống làm giảm sức sống và tỷ lệ nảy mầm.

  • Ảnh hưởng xấu đến quá trình trao đổi chất của cây trồng, tăng chi phí đường cho quá trình hấp thụ, gây suy yếu hoạt động của các men.

  • Đối với cây bắp khi thiếu kali sẽ làm cây đốt ngắn, lá có gợn sóng, mép lá nhạt dần sau chuyển màu huyết dụ.

  • Đối với cây lúa bị thiếu kali sẽ khiến cây sinh trưởng kém, chín sớm, trổ sớm, nhiều hạt lép lửng, mép lá về phía ngọn bị biến vàng.

4. Cây trồng bị ảnh hưởng như thế nào nếu sử dụng phân bón kali quá nhiều?

  • Việc sử dụng phân bón kali quá nhiều không gây tác hại rõ rệt như việc bón dư đạm. Rễ cây sẽ bị ảnh hưởng xấu, teo rễ, quá trình hấp thụ nước của cây trồng bị kiềm hãm, ức chế quá trình hấp thụ đạm nếu cứ tiếp tục duy trì tình trạng bón phân quá mức trong thời gian dài.

  • Dư thừa kali gây nên tình trạng đối kháng ion, khiến cây trồng không hút được các chất dinh dưỡng khác như: Magie, Nitrat,…

  • Dư thừa kali ở mức cao sẽ làm tăng áp suất thẩm thấu của môi trường đất, cản trở việc hút nước và các chất dinh dưỡng.

  • Ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng khi sử dụng nông sản có chứa nhiều kali trong thời gian dài, đặc biệt đối với những người bị bệnh về thận và tim mạch.

5. Kỹ thuật bón phân kali cho cây trồng để đạt hiệu quả cao:

Xác định cách bón phân hiệu quả cần dựa trên các yếu tố: loại giống cây trồng, đặc điểm của đất, thời kỳ sinh trưởng, mức độ canh tác, lượng K và đặc tính hút K/ngày của cây trông.

  • Bón phân với nồng độ Kali cao đối với nhóm cây mấn cảm với Clo như cây họ đậu, khoai tây

  • Có thể bón lượng Kali cao đối với nhóm cây lấy sợi như: dưa chuột, bông lanh, đay…

  • Cây lấy hạt và đồng cỏ: thích hợp với phân kali có nồng độ Kali ở mức trung bình.

  • Cây lấy củ: củ cải, củ cải đường,… nên bón phân kali có chứa 1 chút nitrat. Cây lấy củ và quả cần nhiều Kali.

b. Thời kỳ sinh trưởng ở cây trồng

Nhu cầu Kali cần trong suốt mùa vụ và đặc biệt tăng cao vào thời kỳ tăng trưởng và ra hoa, kết trái.

c. Các yếu tố khác:

Khi bón tăng đạm thì cần bón tăng Kali, do đạm và Kali có mối quan hệ mật thiết với nhau. Cần tăng các vi chất P, S, Zn nếu muốn tăng hiệu quả khi sử dụng Kali.

* Một số lưu ý khi bón phân kali:

  • Để hạn chế bị rửa trôi cần chia ra làm nhiều lần khi bón. Không nên bón tập trung 1 lần vào thời điểm mới gieo trồng hay chỉ bón vào giai đoạn tăng trưởng, ra hoa, kết trái.

  • Có thể bón lót phân kali bằng cách trộn vào đất. Hay bón thúc bằng cách vào thời điểm cây ra hoa, kết quả, tạo củ phun dung dịch phân bón lên lá.

  • Nên kết hợp thêm nhiều loại phân bón khác khi bón phân kali để tăng năng suất cây trồng.

Với những chia sẻ từ bài viết này hy vọng sẽ mang lại những thông tin bổ ích trong việc chăm sóc cây trồng, cách bón phân kali sao cho hiệu quả.

Ngoài ra, công ty Luật Glaw Vietnam chuyên tư vấn thủ tục nhập khẩu phân bón. Các cá nhân hoặc doanh nghiệp đang có nhu cầu nhập khẩu phân bón hoặc muốn tìm hiểu thêm về thủ tục có thể liên hệ Hotline: 0945.929.727 hoặc email: [email protected]

【#9】Kỹ Thuật Bón Phân Cho Bưởi Da Xanh

Bưởi Da Xanh được trồng quanh năm nhưng nên trồng vào đầu mùa mưa để tiết kiệm công tưới, thời điểm thích hợp nhất vào tháng 5-6 dương lịch hàng năm. Cũng có thể trồng vào cuối mùa mưa nếu có đủ điều kiện tưới trong mùa nắng.

Bón phân cho bưởi được chia ra làm 3 giai đoạn (trừ giai đoạn vườn ươm), tùy theo đặc điểm từng loại đất và tình hình sinh trưởng phát triển của cây mà điều chỉnh lượng phân cho phù hợp.

Giai đoạn bón lót trước khi trồng

Lượng phân bón cho 1 hố trồng

Sau 1 tháng trồng, sử dụng phân bón lá

Wokozim dạng lỏng pha với liều lượng 500ml cho 400 lít nước phun ướt đẫm lá, thân cây.

Giai đoạn kiến thiết cơ bản (năm thứ 1 đến năm thứ 3): Chia ra làm 4 đợt bón (bắt đầu từ đầu mùa mưa):

Sử dụng kết hợp với phun định kỳ 15-20 ngày/lần sẽ mang lại hiệu quả tốt nhất.

Lượng phân bón cho 1 cây/ năm có thể tham khảo bảng sau:

Giai đoạn kinh doanh (tính từ năm thứ 4): lượng phân bón cần căn cứ vào tuổi cây và năng suất của vụ trước, có thể chia ra làm 5 đợt bón:

  • Đợt 1: sau thu hoạch: 25% đạm + 25% lân + 10-30 kg hữu cơ/gốc/năm.
  • Đợt 2: một tháng trước khi cây ra hoa: 25% đạm + 50% lân + 25% kali.
  • Đợt 3: sau khi đậu quả: 25% đạm + 25% lân + 25% kali.
  • Đợt 4: giai đoạn nuôi trái: 25% đạm + 25% kali.
  • Đợt 5: một tháng trước khi thu hoạch: 25% kali.

Lượng phân bón cho 1 cây/ năm có thể tham khảo bảng sau:

Lưu ý: Bón phân phù hợp nhất là ở thời điểm khi đọt bưởi già, không nên bón vào lúc cây đang ra đọt non, vì lúc này cây đang ra rễ cám, bón phân sẽ gây ảnh hưởng đến bộ rễ non; hoặc thời điểm mưa dầm, bão cũng không nên bón phân hóa học vì lúc này rễ bưởi không phát triển, bón phân sẽ hư rễ làm cây bị suy kiệt.

Kết hợp phân bón lá ( 4 – 5 lần/vụ ở giai đoạn sau khi đậu và giai đoạn quả bắt đầu phát triển nhanh, mỗi lần cách nhau 15 ngày.

Phòng trừ sâu bệnh:

1/ Rệp sáp:

Rệp sáp thường ở trên cành non, quả để chích hút nhựa, ngoài ra nơi chúng thải phân ra chúng còn kích thích nấm bồ hóng phát triển trên lá và quả. Trong điều kiện tự nhiên, rệp sáp chưa gây hại đáng kể, tuy nhiên khi mật độ cao cần phun một số hoạt chất phòng trừ hiệu quả như: Chlorpyrifos Ethyl (Tricel 48EC ), sử dụng dầu khoáng để phá vỡ lớp sáp bên ngoài.

2/ Nhện hại lá và quả:

Nhện gây hại trên lá và quả nên phát hiện thật sớm, nhất là khi vừa đậu trái, có thể sử dụng 1 trong các loại hoạt chất sau đây để trừ nhện: Sulfur (Sản phẩm ), Pyridaben, Fenpropathrin, Hexythiazox,…

3/ Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella)

Sâu non đục phá lá ở dưới phần biểu bì, ăn phần mô mềm. Sâu đi tới đâu biểu bì phồng lên tới đó, vẽ thành những đường ngoằn ngoèo nên được gọi là vẽ bùa, các lằn đục của sâu không bao giờ gặp nhau. Các lá bị sâu vẽ bùa gây hại thường bị co rúm lại và biến dạng nhất là những lá non, làm giảm diện tích quang hợp và làm giảm khả năng sinh trưởng của các chồi non. Ngoài ra các đường đục của sâu vẽ bùa còn tạo điều kiện cho bệnh loét vi khuẩn xâm nhập, làm lá bị rụng.

Phòng trừ: Bảo vệ loài ong ký sinh thuộc họ Encyrtidae và Enlophidae ký sinh trên nhộng sâu vẽ bùa. Tỉa cành cho ra lộc tập trung, chóng thành thục để hạn chế sự phá hoại của sâu. Phun thuốc có hoạt chất Chlorpyrifos Ethyl ().

3/ Bệnh ghẻ nhám:

Trồng cây không bị nhiễm bệnh, kiểm tra vườn thường xuyên, tỉa bỏ các cành mang bệnh ra khỏi vườn đốt, tiêu huỷ mầm bệnh. Phun ngừa khi cây ra đọt non hoặc khi hoa rụng cánh 2/3 bằng thuốc gốc đồng hoặc gốc Sulfur (sản phẩmSulfex 80WG ).

4/ Bệnh thán thư:

Bệnh thán thư phát triển và gây hại nhiều trong mùa mưa

Phòng trừ: Hàng năm, sau thu hoạch nên tỉa cành cho thông thoáng, loại bỏ và tiêu hủy các lá và trái bị bệnh. Khi phát hiện cây bị bệnh không nên tưới nước lên tán cây để hạn chế lây lan. Thường xuyên thăm vườn, phát hiện bệnh sớm sử dụng một trong các loại thuốc có hoạt chất sau (phun khi bệnh mới chớm): Sulfur (), Mancozeb, Chlorothalonil, Propineb,…

4/ Bệnh Tristeza:

Bệnh Tristeza do virus làm hỏng mạch dẫn nhựa từ trong thân cây xuống rễ, làm rụng lá, chết đọt, lùn cây và làm cho bộ rễ bị thoái hoá.

Phòng trừ: Trồng giống sạch bệnh và tích cực phòng trừ các loại rầy mềm bằng các loại thuốc trừ sâu đã khuyến cáo vào các đợt ra đọt non để tránh lan truyền mầm bệnh.

5/ Bệnh vàng lá Greening ( do vi khuẩn Liberobacter asiticus)

Phòng trừ: Loại bỏ các cây đã nhiễm bệnh để tiêu huỷ mầm bệnh, tránh chiết, ghép bằng các mắt ghép trên các cây nghi ngờ đã có mầm bệnh. Khử trùng sau mỗi lần sử dụng các dụng cụ cắt tỉa.

Trồng giống sạch bệnh và nên cách ly với những vùng nhiễm bệnh, vườn trồng phải có cây chắn gió để hạn chế rầy chổng cánh di chuyển từ nơi khác tới. Phun thuốc trừ rầy chổng cánh vào các đợt ra lá non.

6/ Bệnh vàng lá thối rễ:

Triệu chứng nhận biết đầu tiên là lá chuyển màu vàng nhạt (phân biệt với bệnh vàng lá gân xanh và bệnh vàng lá thối rễ thì lá vàng bắt đầu từ những lá già lan dần lên đọt non, toàn bộ lá bị vàng. Trong khi bệnh vàng lá gân xanh thì triệu chứng xuất hiện ở lá non và thịt lá vàng nhưng gân lá vẫn xanh). Cây bệnh, lá rất dễ rụng khi có gió nhẹ. Lúc đầu có thể chỉ một vài nhánh, nhưng sau đó cả cây bị rụng lá và chết. Thường lá già bị rụng trước, chỉ còn một số ít lá ngọn nên trông cây rất xơ xác. Một số cây cũng có thể phát triển nhiều đọt non, bông trái nhưng trái nhỏ, chua sau đó cây chết dần. Đào rễ lên, thấy rễ bị hư thối, vỏ rễ có các sọc nâu đen, bị thối rời rạc thành sợi, bong tróc khỏi lõi rễ. Trường hợp nặng hơn, lõi rễ bị thối nâu từ chóp lan dần vào trong, phần vỏ dễ bị tuột khỏi lõi.

Bệnh do nấm Fusarium solani gây ra. Nguyên nhân sâu xa của bệnh này là tình trạng yếm khí lâu dài của đất vào các tháng mưa, do đất có thành phần sét cao nên mao quản nhỏ, giữ nước lâu và khó rút nước nên đất ở trong tình trạng thiếu oxy thường xuyên. Rễ cây phải hô hấp trong điều kiện yếm khí thường sản sinh ra nhiều polyphenol, chính chất này làm cho tế bào các rễ non bị chết. Những nơi rễ bị hư là nơi xâm nhiễm của nấm Fusarium solani (nấm này khó xâm nhiễm khi rễ còn lành lặn). Như vậy, chính điều kiện đất thiếu thoáng khí là nguyên nhân chính yếu của bệnh vàng lá thối rễ.

Bệnh thường xảy ra nặng trong mùa mưa nhưng thể hiện triệu chứng vào cuối mùa mưa, đầu mùa nắng. Những vườn thiếu chăm sóc, vườn có mực thủy cấp cao, khó thoát nước cũng là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển.

Biện pháp phòng trị như sau:

  • Khi thiết kế vườn bưởi mới nên dọn sạch các tàn dư thực vật của các cây trồng trước.
  • Đất trồng phải cao ráo, thoát nước tốt. Vườn nên có bờ bao để kiểm soát mực nước sao cho cách mặt đất ít nhất 40-50cm. Nếu liếp làm rộng và trồng nhiều hàng thì phải có các mương rãnh phụ để giúp thoát nước nhanh sau mưa, tránh đọng nước cho các cây trồng ở hàng giữa. Trong mùa nắng tránh để cây khô hạn.
  • Bón phân hữu cơ hoai mục và chế phẩm sinh học Trichoderma cho cây. Việc bón phân hữu cơ, ngoài việc làm đất được tơi xốp, thoát nước tốt, rễ cây dễ phát triển còn giúp cho nhiều vi sinh vật đối kháng phát triển mạnh, ức chế nấm Fusarium solani có sẵn trong đất.
  • Thỉnh thoảng nên xới đất quanh gốc, nhất là sau những trận mưa lớn. Để trống một phần cổ rễ chính và rễ bàng lớn, chỉ phủ đất ở vùng ngọn rễ nơi kết tụ nhiều rễ con. Cách làm này giúp giảm ẩm và tăng cường ánh sáng để ngăn cản sự phát triển của nấm bệnh.
  • Thường xuyên thăm vườn, phát hiện sớm, cắt bỏ phần rễ hư. Xới xáo đất để tạo sự thông thoáng làm cho đất luôn tơi xốp và thoáng khí, sau đó tăng cường bón phân lân, phân hữu cơ sinh học Wokozim nhằm kích thích rễ mới phát triển. Quan sát khi cây ra rễ mới, bắt đầu phục hồi thì mới bổ sung dinh dưỡng cho cây.
  • Đối với các cây mới chớm bệnh, có thể sử dụng thuốc hóa học có hoạt chất: Mataxyl, Fosetyl Aluminum, thuốc gốc đồng,… tưới cho cây. Để thuốc dễ ngấm nên xới nhẹ lớp đất mặt, tưới nước đầy đủ để toàn bộ rễ được ngấm nước trước, giúp nước thuốc dễ thấm xuống ngay. Xử lý khoảng 2-3 lần, mỗi lần cách nhau khoảng 15 ngày.

【#10】Kỹ Thuật Bón Phân Cho Lan Hồ Điệp Hiệu Quả Nhất

Để có được giò lan Hồ Điệp đúng chuẩn, có giá trị cao, ngoài việc chọn được giống tốt và giá thể phù hợp thì kỹ thuật chăm sóc, đặc biệt là bón phân cực kỳ quan trọng. Bón phân cho lan Hồ Điệp được thực hiện đều đặn trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, nếu bạn bón sai cách, sai thời điểm hay nghiêm trọng hơn sai loại phân bón, sẽ gây nguy hiểm đến sức khỏe của lan Hồ Điệp.

1/ Nhu cầu dinh dưỡng của lan Hồ Điệp trong từng giai đoạn sinh trưởng – phát triển

Lan Hồ Điệp cũng giống như các loại lan khác, cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố đa – trung – vi lượng nhưng không quá liều và đột ngột. Cụ thể

– Giai đoạn cây con: Đây là khoảng thời gian lan cần nhiều đạm (N) để phát triển thân, cành, kie và rễ.

– Giai đoạn chuẩn bị ra hoa: Nếu giai đoạn này bị xáo trộn dinh dưỡng thì lan Hồ Điệp sẽ khó hoặc không ra hoa. Thời gian này lan Hồ Điệp cần cung cấp nhiều lân (P) hoặc đồng đều các dinh dưỡng đạm – lân – kali, để tích trữ dinh dưỡng cho quá trình ra hoa tiếp theo.

– Giai đoạn ra hoa: Đây là thời gian đáng mong chờ nhất của nhà vườn trồng lan Hồ Điệp. Để có những cành “hoa đều đặn” hoặc “cực kỳ đều đặn”, cần cung cấp nhiều kali (K) cho lan trong giai đoạn này.

– Giai đoạn hoa tàn: Sau thời gian cho hoa đẹp say lòng người, nhà vườn cần dưỡng cây lại bằng cách cung cấp dinh dưỡng nhiều đạm (N), để cây đủ sức khỏe cho một quá trình tiếp theo.

2/ Hướng dẫn cụ thể kỹ thuật bón phân hiệu quả cho lan Hồ Điệp

Để đảm bảo lan Hồ Điệp tiếp nhận được vừa đúng lượng dinh dưỡng cung cấp, bạn nên thực hiện theo từng bước như sau

2/1 Chọn đúng loại phân bón

Dựa vào nhu cầu dinh dưỡng trong từng giai đoạn sinh trưởng – phát triển, lan Hồ Điệp cần đầy đủ các chất dinh dưỡng đa – trung – vi lượng cho suốt quá trình.

Đồng thời, lan là loại cây “khá nhạy cảm” khi tiếp nhận dinh dưỡng, nếu bạn chọn sai loại phân bón có thể làm cháy rễ, thối đọt và nguy hại hơn gây chết cả cây.

Ngoài ra, lan Hồ Điệp thường được trồng trong môi trường thoát nước rất nhanh, thiếu dinh dưỡng và đôi khi thiếu hụt các trung – vi lượng cần thiết cho quá trình phát triển rễ, kie và chồi.

Do đó, bạn nên chọn các loại phân bón mà trên bao bì liệt kê cụ thể tỷ lệ đạm – lân – kali và các trung – vi lượng cần thiết khác.

Trên thị trường hiện nay, đã có rất nhiều dòng phân bón riêng biệt, đáp ứng đúng, vừa đủ nhu cầu dinh dưỡng trong từng giai đoạn dành cho lan Hồ Điệp. Bạn có thể dễ dàng tìm thấy các loại phân bón như: Grow More, Vitamin B1, Rynan, phân bón chậm tan… Với đặc tính cung cấp dinh dưỡng một cách đều đặn cho lan Hồ Điệp, nhiều nhà vườn đã lựa chọn phân bón chậm tan, trong đó loại phân được tin tưởng sử dụng nhiều nhất là phân trùn quế Sfarm viên nén.

2/2 Lượng phân bón cho lan

Việc nên làm trước khi bón phân cho lan Hồ Điệp là bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trên bao bì của phân bón. Bạn chỉ mất vài phút cho việc này nhưng lại cực kỳ quan trọng. Sử dụng muỗng hoặc dụng cụ có mức đo lường cụ thể để tránh tình trạng tối kỵ của lan – vượt liều lượng phân bón cần thiết.

Để lan Hồ Điệp tiếp nhận dinh dưỡng một cách an toàn, hiệu quả nhất, bạn nên pha loãng phân bón đến một nữa nồng độ hoặc ít hơn. Vì bón phân với nồng độ yếu thường xuyên sẽ tốt hơn khi bón với nồng độ mạnh nhưng không thường xuyên.

Bên cạnh đó, lan Hồ Điệp con bạn chỉ nên bón với liều lượng bằng một nữa liều lượng được khuyến cáo trên bao bì dành cho lan trưởng thành.

2/3 Tưới nước trước khi bón phân

Theo các chuyên gia trồng lan, làm ướt môi trường trồng trước khi bón phân làm tăng khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng của rễ. Vì vậy, bạn nên tưới ướt giá thể trồng trước khi bón phân cho lan Hồ Điệp. Đồng thời, việc tưới nước còn hạn chế tối đa tình trạng “xót” rễ làm chết cây nếu bạn “lỡ” bón quá liều lượng.

2/4 Tần suất bón phân

Trong suốt quá trình sinh trưởng – phát triển của lan Hồ Điệp, dinh dưỡng cần được cung cấp với nồng độ nhẹ nhưng thường xuyên, liên tục. Vì thế, bón phân 2 tuần/ 1 lần cho lan trong giai đoạn cây con và chuẩn bị ra hoa giúp Hồ Điệp có đủ dinh dưỡng cho quá trình ra hoa tiếp theo. Giai đoạn ra hoa của lan Hồ Điệp không cần quá nhiều dinh dưỡng, 3 – 4 tuần/ 1 lần bón phân là vừa đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng.

Xem xét tốc độ tăng trưởng, nhiệt độ môi trường và thời gian trong năm của vườn để điều chỉnh hợp lý tần xuất bón phân cho lan Hồ Điệp. Ngoài ra, bạn nên thường xuyên thăm vườn để kiểm tra tình trạng sức khỏe của lan Hồ Điệp, nhằm cung cấp kịp thời dinh dưỡng cho lan.

Phân trùn quế Sfarm viên nén với những đặc điểm vượt trội là lựa chọn lý tưởng cho lan Hồ Điệp

– Cung cấp đầy đủ 13 nguyên tố dinh dưỡng dưới dạng dễ hấp thụ, giúp lan Hồ Điệp thuận lợi trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển.

– Chất dinh dưỡng trong phân giúp hoa bền màu, chuẩn form hoa.

– Chứa acid humic, acid fulvic và IAA,.. kích rễ phát triển, nảy chồi xanh um và khỏe mạnh.

– Tăng sức đề kháng cho lan Hồ Điệp với hệ vi sinh vật có lợi trước các tác nhân gây bệnh hại nguy hiểm.

– Dạng viên nén chậm tan, cung cấp dinh dưỡng đều đặn và hợp lý với thời gian tan từ 30 – 45 ngày.

– Cực kỳ lành tính có thể bón ở bất kì vị trí nào trên giò lan không lo cháy rễ, thối ngọn làm chết cây.