Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Củ Cải Đỏ

--- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Cây Măng Tây Trong Thùng Xốp
  • Kỹ Thuật Trồng Ớt Chỉ Thiên Siêu Cay (Chili)
  • Kỹ Thuật Trồng Nhãn Xuồng Cơm Vàng
  • Vẻ Đẹp Tinh Khiết Của Hoa Lan Ngọc Thạch
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Xoài Đài Loan
  • Củ cải đỏ có họ cùng với súp lơ, rau cải xanh, bắp cải… Củ cải đỏ chứa nhiều khoáng chất và vitamin có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, tốt với mọi lứa tuổi. Việc trồng củ cải đỏ không cần quá nhiều đất, rất phù hợp trồng trong các bồn, chậu nhỏ. Nếu biết chọn các loại chậu, bồn cây trồng thích hợp, những chậu củ cải đỏ sẽ trở thành vật trang trí trong nhà, giúp không gian sống của bạn xanh, mát hơn. Hơn nữa, củ cải đỏ có màu sắc đẹp mắt, tượng trưng cho sự may mắn, nhất là trong ngày Tết.

    Với rất nhiều tác dụng nhưng củ cải đỏ có cách trồng và chăm sóc không phức tạp. Để giúp bà con nắm rõ kỹ thuật trồng và chăm sóc cây củ cải đỏ may mắn cho ngày Tết và mang lại hiệu quả kinh tế cao, chúng tôi xin giới thiệu đến bà con bài viết sau đây, mời bà con và quý vị quan tâm theo dõi!

    Quy trình kỹ thuật trồng khoai tây vụ đông

    Cây cải đỏ thường có củ hình tròn, đường kính khoảng 3 – 4 cm, vỏ đỏ tươi, ruột trắng, cây cao từ 15 – 25 cm. Một sào Bắc bộ cần gieo khoảng 500 – 700 gr hạt giống tùy vào cách gieo hạt. Thời gian từ khi trồng đến khi thu hoạch từ 23 – 35 ngày.

    Hạt giống củ cải đỏ

    Củ cải đỏ thuộc loại cây ưa ẩm và mát, thời vụ gieo trồng tốt nhất từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau.

    3. Chuẩn bị đất và gieo hạt

    Cây củ cải đỏ cho phần thu hoạch là củ, vì vậy để đạt năng suất cao, người trồng cần tạo điều kiện tốt nhất để củ sinh trưởng và phát triển. Chọn đất cát pha hoặc đất thịt nhẹ, nhiều mùn và tơi xốp, cần cách ly với khu vực có chất thải, không tồn dư kim loại nặng và hóa chất độc hại.

    Cần làm đất kỹ, cày cuốc sâu, phơi ải ít nhất 1 tuần trước khi trồng. Sau đó, làm tơi đất, dọn sạch cỏ dại và các loại sỏi, đá , gạch vụn.

    Nếu trồng trong vườn, hoặc ruộng, người trồng nên làm luống với kích thước mặt luống rộng từ 1,2-1,5 m; rãnh khoảng 30-40 cm; độ cao của luống từ 20-25 cm.

    Nếu trồng trong hộp xốp thì chiều cao của thành hộp khoảng 15 đến 20cm. Ngoài ra, cũng có thể trồng trong chậu nhỏ, mỗi chậu trồng 1 cây.

    Để đạt hiệu quả cao trong công việc xới đất, làm cỏ và lên luống trồng củ cải đỏ, bà con có thể sử dụng máy xới đất Kubota model GS95V-T-K do Công ty CPĐT Tuấn Tú cung cấp.

    Máy xới đất Kubota GS95 V-T-K

    Chọn hạt giống:

    Bà con nên mua hạt giống ở các cửa hàng chuyên giống cây trồng có uy tín. Bởi hạt giống đã được chọn lọc, củ cải trồng sau này sẽ ít mầm bệnh, củ to và đều, đẹp.

    Ngâm hạt giống

    Bà con cần ngâm hạt củ cải đỏ trong nước ấm khoảng 50 độ C từ 3 đến 5 giờ. Sau khi thấy mềm vỏ, bà con vớt hạt ra và để lên một lớp vải mỏng rồi tiếp tục phủ bông cho kín hạt. Sau khoảng ba ngày, khi thấy hạt nứt mầm thì bà con đem gieo.

    Gieo hạt:

    Nếu bà con gieo theo luống thì cần rải phân bón lót trên mặt của luống rồi trộn đều với đất, để 1-2 ngày sau mới gieo hạt. Khi gieo hạt xong, phủ 1 lớp mỏng đất tơi xốp lên trên, sau đó phủ rơm rạ và tưới ẩm (đảm bảo độ ẩm đất trồng đạt từ 75 – 80%) để hạt nảy mầm tốt, cũng có thể gieo vãi và 7 – 10 ngày sau tỉa lại với khoảng cách 5 x 5 cm, hoặc người trồng có thể rạch các rãnh nhỏ với khoảng cách 5 cm rồi bỏ từng hạt cách nhau 5 cm.

    – Tưới nước: Cải củ đỏ là cây ưa ẩm, nhưng lại không chịu được ngập úng. Do vậy, cần cung cấp cho cậy một lượng nước vừa đủ, tránh ngập úng và khô hạn, sẽ dẫn đến nứt củ. Mỗi ngày dùng nước sạch tưới một đến hai lần tùy vào thời tiết, lưu ý chỉ cần tưới lướt chứ không cần tưới đẫm. Ánh sáng cũng cần đảm bảo, để cây ra ngoài trời có nắng chiếu vào nhưng không nên để ánh nắng to chiếu trực tiếp quá lâu.

    Cần tưới nước cho củ cải đỏ 2 lần 1 ngày tùy vào điều kiện thời tiết

    Đối với cây con trồng trong chậu, bà con chỉ nên để ngoài ánh sáng từ một đến hai giờ, sau đó đưa cây vào bóng mát. Khi cây lớn dần thì thời gian để ngoài ánh sáng tăng dần lên. Với những cây củ cải được trồng trong luống thì bà con cần có biện pháp che chắn cho cây khi nắng gắt, hoặc khi có sương .

    Vun xới: Củ cải đỏ có đặc điểm là khi hình thành, củ thường trồi lên mặt luống, dẫn đến vỏ củ bị sần sùi, không đẹp mã. Để có củ to, sáng mã, bà con cần chú ý phủ rơm rạ ngay từ sau khi gieo, có tác dụng giữ ẩm thường xuyên cho đất và tiến hành vun xới. Khi xới phải nhẹ và nông tay, không xới sát gốc cây tránh làm đứt rễ, cây long gốc dẫn đến kém phát triển hoặc bị chết.

    Củ cải đỏ có nhiều dinh dưỡng tốt cho sức khỏe

    5. Phòng trừ sâu bệnh

    Cây cải củ đỏ thường rất dễ bị bọ nhảy và rệp phá hại, cần phát hiện sớm và xử lý kịp thời để không làm ảnh hưởng đến năng suất của cây. Bà con có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu sinh học và bẫy bả sinh học để phòng trừ.

    Nếu ruộng trồng củ cải kém thoát nước, do bón thúc quá nhiều phân đạm hoặc để cây quá dày, sẽ xuất hiện bệnh thối nhũn.Ngoài ra, cây cải củ thường bị các bệnh lở cổ rễ, phấn trắng và cháy lá gây hại.

    Khi được chăm sóc tốt thì chỉ một tháng đã có thể thu hoạch củ cải đỏ. Nếu muốn củ to hơn thì để thêm khoảng 10 ngày nữa. Nếu củ cải sử dụng để chế biến món ăn thì không nên để lâu hơn 40 ngày vì củ sẽ mất dần tinh bột, trở nên xơ cứng, khi nấu sẽ không còn vị ngon.

    Củ cải đỏ trồng trong chậu, dùng để trang trí

    Ngược lại nếu muốn củ cải to đẹp để trang trí nhà thì bạn nên tiếp tục tưới nước, chăm bón thường xuyên để củ cải lớn, tròn, bóng, màu đỏ tươi.

    Đặt một vài chậu củ cải đỏ xinh xắn nổi bật trong phòng khách ngày Tết sẽ mang lại may mắn cho gia đình. Còn vào những ngày thường, cũng có thể đặt chậu cây bên cửa sổ, ban công, trong phòng ăn để tô điểm cho không gian sống.

    Tiếp tục đồng hành cùng chúng tôi để cập nhật những kỹ thuật gieo trồng mới nhất và những sản phẩm thuộc dòng máy làm đất tiện dụng!

    Công ty CPĐT Tuấn Tú

    VPGD Miền Bắc: Số 2, ngõ 2, đường Liên Mạc, phường Liên Mạc, quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.

    Hotline: (024)22 05 05 05 – 0916 478 186

    Chi nhánh Miền Nam: 129/17D Đường Lê Đình Cẩn, Khu phố 6, Phường Tân Tạo, Quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh.

    Hotline: 0945 796 556 – 0984 930 099

    Email: [email protected]

    Website: maylamdat.vn

    Fanpage: facebook.com/maylamdat3A/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Chuối Đỏ Đacca
  • Trồng Cây Đinh Lăng Trong Chậu Vừa Làm Cảnh Vừa Là Dược Liệu Quý Để Chữa Bệnh
  • Nên Trồng Hoa Gì Trên Sân Thượng? (Phần 2)
  • Những Loại Cây Có Thể Trồng Trên Sân Thượng
  • Trồng Cây Cảnh Trên Sân Thượng
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Khoai Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Hoa Hồng Bằng Cành Hoa Nở Rực Rỡ, Hương Thơm Quyến Rũ
  • Các Kỹ Thuật Đơn Giản Trong Phương Pháp Giâm Cành Hoa Hồng Đạt Tỷ Lệ Ra Rễ Cao
  • Kỹ Thuật Giâm Cành Hoa Hồng
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Hoa Hồng Bằng Phương Pháp Giâm Cành Đơn Giản
  • Kỹ Thuật Trồng Hoa Hồng Cho Nhiều Lộc, Sai Hoa
  • Đặc điểm sinh học và tác dụng của khoai tây

    Đặc điểm sinh học của cây khoai tây

    Khoai tây ( Solatium tuberosum) là cây lương thực được trồng hằng năm để lấy củ, họ Cà ( Solanaceae). Cây thân thảo mềm cao 45 – 50cm. Có hai loại cành, cành ở trên mặt đất có màu xanh, vươn cao, cành nằm trong đất màu vàng, phình to lên thành củ hình cầu, dẹt hoặc hình trứng, chứa nhiều chất dự trữ, nhất là tinh bột, mà ta thường gọi là củ khoai tây. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, có 3 – 4 đôi lá chét không đều nhau. Hoa màu trắng hoặc màu tím lam, hình phễu. Quả mọng hình cầu.

    Nội dung trong bài viết

    • Đặc điểm sinh học và tác dụng của khoai tây
      • Đặc điểm sinh học của cây khoai tây
      • Tác dụng của khoai tây
    • Kỹ thuật nhân giống khoai tây
        Công nghệ sản xuất giống khoai tây sạch bệnh
    • Hệ thống sản xuất và cung ứng giống khoai tây sạch bệnh
      • Phương pháp in vitro và bán in vitro
      • Phương pháp truyền thống

    Khoai tây được trồng từ lâu đời ở Nam Mỹ. Được đưa vào châu Âu từ thế kỷ XVI. Ở nước ta, người Pháp đem vào trồng vào cuối thế kỷ XIX và ngày nay, khoai tây được trông rộng rãi trong vụ đông ở các tỉnh phía Bắc và vùng núi cao ở miền Bắc và miền Nam. Ở nước ta, giống khoai tây ruột vàng là giống trồng phổ biến hiện nay đã được chọn lọc, nhân và giữ giống từ lâu nay. Khoai tây là cây trồng lấy củ làm lương thực cho con người, cũng như lúa mì, ngô, gạo và lúa mạch.

    Thời kỳ kết củ, nhiệt độ thích hợp là 17°C. Ưa đất nhẹ và ẩm mát thường xuyên trong suổt thời gian sinh trưởng (giống sớm từ 70 – 80 ngày, muộn từ 8 đến 9 tháng. Năng suất củ 10 – 20 tấn/ha với giống sớm, 40 – 50 tấn/ha với giống muộn. Có thể trồng bằng củ hoặc bằng hạt. Vỏ củ có chất solanin độc, củ phát triển ở mặt đất, phơi ra ngoài không khí thì lượng solanin tăng và chất diệp lục xuất hiện lớp vỏ củ xanh, ăn độc.

    Thành phần hoá học: Trong củ khoai tây có nhiều chất dinh dưỡng với hàm lượng cao so với nhiều cây loại cốc và cây thực phẩm khác. Trong khoai tây có 75% nước, 2% protid, 21% glucid, 1% cellulose, 1% tro, 10mg% calcium, 50mg% phosphor, 1,2mg% sắt, 15mg% vitamin c, 0,lmg% vitamin Bl, 0,05mg% vitamin B2. Cũng cần lưu ý, trong tất cả các bộ phận củ cây đều có chất solanin là một glucosid độc. Chất này đặc biệt có nhiều trong phàn xanh của cây, nếu củ mọc mầm xanh thì các mầm này rất độc. Cánh hoa trắng tươi chứa 0,2% rutin.

    Tác dụng của khoai tây

    Khoai tây chủ yếu được dùng làm lương thực, công nghiệp chế cồn, hồ giấy, hồ vải, công nghiệp dược phẩm.

    Khoai tây luộc chín là một loại thuốc dân gian Nga để chữa một sổ bệnh về tim. Nước ép khoai tây có tác dụng làm co bóp nhu động của ruột. Bột khoai tây được dùng trong chữa bệnh viêm dạ dày tá tràng và chổng nhiễm độc. Khoai tây sổng thái mỏng, làm thuốc cao dán trên các vết thương, bỏng và eczema rất tốt. Có nơi nhân dân dùng vỏ khoai tây sắc uống chữa đau bụng và dùng vỏ củ khoai tây luộc bóc ra đắp vết bỏng cũng chóng lành. Nhân dân còn dùng hơi nóng nước khoai tây luộc để xông hít chữa các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp. Ở châu Phi, người ta dùng khoai tây làm thuốc đắp ở đàu và trán trong trường hợp say nắng và để làm hạ sốt. Người ta còn dùng khoai tây đắp trị bỏng độ 1. Hoa khoai tây dùng pha nước uống làm hạ huyết áp. Solanin trong khoai tây cũng có tác dụng chống dị ứng và làm thuốc giảm đau.

    Kỹ thuật nhân giống khoai tây

    Công nghệ sản xuất giống khoai tây sạch bệnh

    Trồng khoai tây trồng ống nghiệm ở điều kiện vô trùng và hoàn toàn nhân tạo được gọi là nuôi cấy khoai tây in vitro. Trồng khoai tây ở ngoài đồng ruộng gọi là trồng khoai tây in vivo. Có loại trồng trung gian giữa hai loại trên, đó là trông khoai tây trong nhà kính hoặc nhà lưới. Trồng trọt như vậy gọi là trồng trọt bán in vitro (semi in vitro) hoặc bán in vivo (semi in vivo).

    Phương pháp cổ điển nhân giống khoai tây là sản xuất khoai tây giống ở ngoài đồng. Phương pháp này thường được gọi là chọn dòng. Phương pháp chọn dòng thường tốn công sức và thời gian, tốc độ nhân giống chậm.

    Các công nghệ nhân giống khoai tây in vitro và bán in vitro đảm bảo nhân giống sạch bệnh với tốc độ nhanh. Hiện nay, hầu hết các chương trình nhân giống khoai tây trên thế giới dựa vào công nghệ nhân giống này. Nó có thể tạo ra được giống xác nhận từ 3 – 5 năm sau vụ trồng đầu tiên trên đồng ruộng.

    Các phương pháp nhân giống in vitro và bán in vitro có thể được áp dụng xen kẽ vào các thời kỳ khác nhau của chương trình nhân giống chủ yếu là để tạo ra các vật liệu giống sạch bệnh ban đàu, là nguồn giống hạt nhân hoặc giống gốc.

    Phương pháp in vitro

    Các bộ phận của cây được nhân và tái tạo thành các cây hoàn chỉnh hoặc củ trong các điều kiện nhân tạo, vô trùng. Có ba loại vật liệu thường được dùng trong nhân nhanh giống khoai tây in vitro:

    Các đoạn cắt.

    Các đoạn ngọn cắt.

    Các củ siêu nhỏ (microtubers).

    Thông thường, các vật liệu in vitro được gọi là giống tiền gốc.

    Các phương pháp bán in vitro:

    Các vật liệu bán in vitro được trồng trong điều kiện nửa tự nhiên, nửa nhân tạo, bao gồm (thường là ở trong nhà kính hoặc nhà lưới):

    Sản xuất các đoạn cắt mầm.

    Sản các các đoạn cắt thân.

    Sản xuất đoạn cắt chồi lá kép.

    Sản xuất các đoạn cắt một đốt.

    Sản xuất các củ nhỏ (minitubers).

    Các củ nhỏ này có thể được sản xuất trên giá thể đông đặc (các khay nhựa hoặc bồn xi măng có chứa hỗn hợp, mùn và đất sạch đã được khử trùng với tỉ lệ thích hợp) hoặc trên giá thế lỏng, thường được gọi là thuỷ canh (hydroponic culture).

    Nhân giống tiền gốc và giống gốc

    Trên thế giới, trong một hệ thống nhân giống chuẩn, càng giảm được số vụ trồng ở ngoài đồng càng nhiều càng tốt. Bởi vì, nhân giống ở ngoài đòng hiệu quả thấp (do giá chi phí cao), liên tục có sự rủi ro do các bệnh hại chủ yếu như các loại virus, vi khuẩn, nấm và các loại sâu hại.

    Trong sản xuất giống khoai tây, điều mong muốn nhất là: Giống phải có độ sạch bệnh cao, ít sử dụng hoá chất độc hại cho môi trường và giống thương mại phải được sản xuất ra từ giống gốc tạo ra bằng điều kiện nhân tạo.

    Trong trường hợp nguồn củ giống của một số giống phổ biến bị thoái hoá, cần phải được tái tạo từ một số ít vật liệu giống sạch bệnh, việc nhân nhanh giống sạch bệnh sẽ đảm bảo an toàn cho thị phần của giống.

    Hơn nữa, trong trường hợp giống đang tồn tại được cải tiến bằng công nghệ chuyến gen, muốn nhanh chóng có đủ lượng giống thương mại, cần phải tổ chức nhân nhanh giống.

    Cuối cùng, để sử dụng nguồn vật liệu di truyền nước ngoài hoặc đưa nhanh giống mới vào sản xuất, cũng cần phải áp dụng công nghệ nhân nhanh giống.

    Hệ thống sản xuất và cung ứng giống khoai tây sạch bệnh

    (Do Trung tâm Nghiên cứu Cây có củ, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam đề xuất).

    Phương pháp in vitro và bán in vitro

    Trạm Sa Pa (Lào Cai) ở độ cao 1500m so với mặt biển: sản xuất các củ siêu nhỏ (microtubers) và các cây trong ống nghiệm bằng phương pháp in vitro (giống tiền gốc). Đồng thời tăng cường sản xuất củ nhỏ (minitubers) bằng phương pháp bán in vitro (semi in vitro), củ giống gốc Go.

    Cơ sở sản xuất giống trên đồng ruộng (lúa nước) cách ly tại các vùng cao phía Bắc có độ cao từ 1000m so với mặt biển trở lên: Sử dụng củ nhỏ sản xuất ở Sa Pa để sản xuất ra củ giổng gốc sạch bệnh (G1). Ở đây có kết hợp phương pháp chọn lọc quần thể thải loại các cây bị bệnh virus. Cũng có thể sản xuất củ giống G1 ở chân ruộng lúa nước tại các vùng đồng bằng ven biển hoặc hải đảo của tỉnh Quảng Ninh.

    Xây dựng mạng lưới các Hợp tác xã tiên tiến ở Đồng bằng sông Hồng (Thái Bình, Nam Định, Hà Nội và Hưng Yên) để sản xuất ra giống xác nhận (G2 và G3) trong vụ xuân nhằm cung cấp giống cho nông dân. Ở những địa điểm nhân giống này, phương pháp chọn lọc quần thể thải loại các bệnh virus phải được áp dụng nghiêm ngặt.

    Tất cả các củ giống thuộc các cấp giống đều có sự kiểm định và xác định của Trung tâm khảo nghiệm Giống cây trồng Trung ương.

    Hệ thống sản xuất giống nói trên bao gồm các cấp giống: Giống tiền gốc (các vật liệu in vitro như microtubers và các cây trong ống nghiệm), giống gốc bao gồm giống Go (củ nhỏ sản xuất trong nhà lưới hoặc sản xuất bằng phương pháp thuỷ canh trong nhà lưới), giống G1 (giống nguyên chủng sản xuất trên đồng ruộng cách ly ở vùng cao hoặc hải đảo thuộc vùng Đông Bắc), G2 và G3 (giống xác nhận sản xuất ở các vùng cách ly thuộc Đồng bằng sông Hồng), số thế hệ nhân giống chỉ là 4 đời (sau đời tiền gốc). Điều này phù hợp với ý kiến cho rằng các điều kiện ở Đồng bằng sông Hồng là không thuận lợi cho việc nhân giống. Tốc độ thoái hóa giống nhanh ngăn cản việc nhân giống có chất lượng (Struick and Wiersema, 1999).

    Phương pháp truyền thống

    Nguồn cung cấp giống sạch bệnh (sản xuất trong nước hoặc nhập từ nước ngoài) được trồng duy trì và nhân giống thông qua phương pháp chọn dòng hoặc chọn lọc quần thể thải loại bệnh virus ở vùng có độ cao từ 1000 – 1500m so với mặt nước biển. Ở những vùng cao này, chủ yếu là duy trì và nhân giống G1. Sau đó, giống được chuyển đến những vùng cách ly (các hợp tác xã có chọn lọc ở Đồng bằng sông Hồng) để sản xuất giống G2 và G3 (giống xác nhận).

    Về không gian, chủ yếu sản xuất giống tiền gốc và giống gốc (Go và G1) ở các vùng núi cao có độ cao từ 1500 – 1600m so với mặt biển. Sản xuất giống gốc cần được tiến hành vào vụ xuân hè trên chân ruộng lúa nước ở vùng cách ly có độ cao từ 1000 – 1500m so với mặt biển. Sản xuất giống xác nhận G2 có thể được tiến hành ở những hợp tác xã nông nghiệp (có chọn lọc) ở Đồng bằng sông Hồng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Khoai Tây Thương Thẩm
  • Kỹ Thuật Trồng, Chăm Sóc Khoai Tây
  • Kỹ Thuật Trồng Hồ Tiêu Trên Cây Trụ Sống
  • Ý Tưởng Kinh Doanh Rau Mầm Tại Nhà
  • Làm Giàu Từ Ý Tưởng Kinh Doanh Rau Mầm Tại Nhà
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Khoai Tây Thương Thẩm

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Khoai Tây
  • Kỹ Thuật Trồng Hoa Hồng Bằng Cành Hoa Nở Rực Rỡ, Hương Thơm Quyến Rũ
  • Các Kỹ Thuật Đơn Giản Trong Phương Pháp Giâm Cành Hoa Hồng Đạt Tỷ Lệ Ra Rễ Cao
  • Kỹ Thuật Giâm Cành Hoa Hồng
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Hoa Hồng Bằng Phương Pháp Giâm Cành Đơn Giản
  • – Chọn loại đất tơi xốp, đất cát pha, đất thịt nhẹ, đất phù sa, thuận tiện tưới tiêu nước, tốt nhất là ruộng luân canh với lúa nước.

    – Vụ sớm: trồng vào đầu tháng 10, thu hoạch vào tháng 12

    – Vụ chính: trồng vào cuối tháng 10 đầu tháng 11, thu hoạch vào cuối tháng 1, đầu tháng 2

    – Vụ Xuân: trồng vào tháng 12, thu hoạch vào đầu tháng 3

    3.1. Độ ẩm đất

    Trước khi thu hoạch lúa 1 – 2 tuần cần tháo nước để ruộng lúa khô vừa phải, thuận tiện cho gặt lúa đồng thời cây khoai sẽ mọc nhanh, hạn chế sâu xám và bệnh lở cổ rễ ở giai đoạn mọc.

    Nhận biết đất đủ ẩm bằng cách: Khi cắt lúa, bước chân xuống ruộng thấy mặt đất lún xuống in vết bàn chân hoặc lấy đất vào lòng bàn tay nắm mạnh, nếu thấy đất nắm được thành nắm và bóp nhẹ đất rời ra là đất vừa đủ ẩm.

    3.2. Làm đất

    Cày bừa làm nhỏ đất, kết hợp thu gom rơm rác và gốc rạ để hạn chế sâu bệnh truyền sang khoai. Đất cục quá to sẽ làm cho củ phát triển méo mó. Đất quá nhỏ, quá mịn cũng không phù hợp vì khi tưới nước đất dễ bị gí.

    3.3. Lên luống

    Có thể trồng hàng đơn hoặc hàng đôi

    – Luống đơn: rộng 70 – 80 cm (kể cả rãnh)

    – Luống đôi: rộng khoảng 120 – 140 cm

    Chiều cao luống 20 – 25 cm, rãnh 20 – 25 cm

    – Lượng phân bón cho 1 ha: 15 – 20 tấn phân chuồng hoai + 300 – 350 kg đạm urê + 350 – 400 kg lân supe + 160 – 200 kg kali sunphat

    – Cách bón: + Bón lót: toàn bộ phân chuồng và lân + 1/3 đạm

    + Bón thúc lần 1: khi cây cao 15 – 20 cm, bón 1/3 đạm + 1/2 kali

    + Bón thúc lần 2: sau bón thúc lần 1 từ 15 – 20 ngày, bón nốt lượng phân còn lại

    Không để phân tiếp xúc trực tiếp với củ giống và gốc cây

    5. Mật độ và khoảng cách trồng

    – Để có năng suất cao, củ to đều, trồng 4 – 5 củ/m2, đặt củ cách nhau 30 – 35 cm. Lưu ý, khi đặt củ phải điều chỉnh, củ nhỏ thì đặt dày hơn, củ to thì thưa hơn một chút.

    – Sau khi đặt củ thì lấp một lớp đất dày 3 – 5 cm. Khi trồng nếu đất khô phải tưới nước trước khi bón phân để cây mọc nhanh.

    – Chăm sóc đợt 1: khi cây cao 15 – 20cm thì xới nhẹ, làm sạch cỏ, bón phân thúc đợt 1 rồi vun luống.

    – Chăm sóc đợt 2: sau chăm sóc đợt 1 khoảng 15 – 20 ngày, tiến hành xới nhẹ, làm cỏ và vun luống lần cuối. Cần vun luống cao, to và vét sạch đất ở rãnh.

    – Tưới rãnh: áp dụng với ruộng phẳng. Cho nước ngập khoảng 1/2 rãnh, khi nước ngấm đều thì tháo cạn. Tưới rãnh 2 – 3 lần trong một vụ khoai tây. Khi phát hiện trên ruộng có bệnh héo xanh vi khuẩn thì không tưới rãnh.

    – Tưới phun mưa: áp dụng với ruộng không bằng phẳng, xa nguồn nước.

    – Giữ độ ẩm đất khoảng 75 – 80 % độ ẩm tối đa đồng ruộng. Ngừng tưới nước trước khi thu hoạch khoảng 2 tuần

    8.1. Bệnh virut

    – Virut là nguyên nhân chủ yếu gây thoái hóa cây trồng. Những bệnh virut thường gặp ở khoai tây:

    + Bệnh virut xoăn lùn: triệu chứng đặc trưng là lá bị xoăn lại, cây còi cọc thấp lùn xuống. Cây bị nhẹ thì lá nhăn lại, phiến lá gồ ghề không phẳng, phiến lá có màu xanh đậm – nhạt xen nhau không bình thường, củ nhỏ và ít củ.

    + Bệnh virut cuốn lá: những lá phía dưới bị cong lên, màu sắc lá trở thành vàng nhạt, tím tía hoặc đỏ.

    – Biện pháp phòng trừ: dùng củ giống sạch bệnh; phun thuốc trừ rệp môi giới truyền bệnh; nhổ bỏ cây bệnh và tiêu hủy tàn dư. Khi nhổ bỏ cây bệnh bằng tay không để tay tiếp xúc với cây khỏe.

    8.2. Bệnh héo xanh vi khuẩn

    – Triệu chứng: cây đang xanh, lá và thân héo rũ đột ngột; lát cắt ngang thân và củ có dịch nhầy tiết ra. Cây bị bệnh chết thối nhũn, củ nhiễm bệnh thối nhũn có mùi khó chịu.

    – Biện pháp phòng trừ: sử dụng củ giống sạch bệnh; luân canh khoai tây với lúa nước, không trồng khoai tây trên ruộng vụ trước trồng các cây họ cà; không bón phân chuồng tươi; tránh dùng nước tưới nhiễm khuẩn; khi có mưa to phải tháo kiệt nước; nhổ bỏ toàn bộ cây bệnh và tiêu hủy tàn dư.

    8.3. Bệnh mốc sương

    – Khi nhiệt độ 10 – 15 độ C mưa phùn kéo dài, đặc biệt trời nhiều mây mù, độ ẩm không khí cao, ruộng khoai ẩm ướt thường phát sinh bệnh mốc sương.

    – Biện pháp phòng trừ: dùng củ giống sạch bệnh; phun thuốc phòng bệnh định kỳ 10 ngày/lần từ sau trồng 45 ngày; kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, khi phát hiện có ổ bệnh thì khẩn trương tập trung diệt ổ bệnh và phun thuốc phòng trừ cả cánh đồng khoai.

    Có thể dùng thuốc Booc đo 1% hoặc Zineb 80 WP, Ridomil Golde 68 WP.

    8.4. Rệp

    – Với khoai tây, thời kỳ 30 – 60 ngày tuổi thường có rệp xuất hiện.

    – Có thể dùng thuốc Pegasus 500EC hoặc Trebon 10EC để phun.

    8.5. Nhện trắng

    – Thường xuất hiện gây hại khi thời tiết ấm và khô

    – Biện pháp phòng trừ: Theo dõi thường xuyên sớm phát hiện nhện trắng. Có thể dùng thuốc Supracide 40EC hoặc Ortus 5SC để phun.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng, Chăm Sóc Khoai Tây
  • Kỹ Thuật Trồng Hồ Tiêu Trên Cây Trụ Sống
  • Ý Tưởng Kinh Doanh Rau Mầm Tại Nhà
  • Làm Giàu Từ Ý Tưởng Kinh Doanh Rau Mầm Tại Nhà
  • Tin Vui Cho Những Người Kinh Doanh Rau Mầm
  • Kỹ Thuật Trồng, Chăm Sóc Khoai Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Khoai Tây Thương Thẩm
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Khoai Tây
  • Kỹ Thuật Trồng Hoa Hồng Bằng Cành Hoa Nở Rực Rỡ, Hương Thơm Quyến Rũ
  • Các Kỹ Thuật Đơn Giản Trong Phương Pháp Giâm Cành Hoa Hồng Đạt Tỷ Lệ Ra Rễ Cao
  • Kỹ Thuật Giâm Cành Hoa Hồng
  • Khoai tây có thể trồng nguyên cả củ hoặc trồng bằng miếng bổ, nhiều nơi bà con nông dân trồng bằng miếng bổ để tiết kiệm củ giống, giảm chi phí đầu tư ban đầu. Có 2 cách bổ, bổ củ theo cách truyền thống chấm xi măng khô, cách này đơn giản nhưng củ giống dễ bị thối nếu sau khi trồng gặp mưa. Bổ củ theo phương pháp cắt dính, tuy có kỳ công hơn nhưng tỷ lệ củ giống không bị thối sau khi trồng cao.

    Phương pháp bổ củ chấm xi măng: Trước khi trồng 1 – 2 ngày tiến hành bổ củ giống, chỉ bổ những củ giống to có nhiều mầm. Tốt nhất bổ theo chiều dọc củ để chất dinh dưỡng được phân bố đều trên các miếng bổ tạo độ đồng đều của cây sau khi trồng.

    Mỗi miếng bổ phải có ít nhất từ 1 – 2 mầm trở lên. Dao cắt phải mỏng, sắc để tránh gây dập nát tế bào nơi vết cắt. Cần nhúng dao vào nước xà phòng đặc sau mỗi lần bổ 1 – 2 củ để tránh lây bệnh. Chấm mặt cắt của miếng khoai tây vào xi măng khô rồi xếp 1 lượt lên giàn.

    Phương pháp cắt dính: Cắt dọc củ theo chiều của mầm đỉnh để tiết diện miếng cắt là nhỏ nhất. Miếng cắt tuyệt đối không được cắt rời mà phải còn dính với nhau khoảng 2 – 3mm, không được bẻ rời sau đó. Cắt củ xong phải áp ngay 2 miếng cắt còn dính liền lại xếp vào khay hoặc rổ rá. Tuyệt đối không được cho vào bao hoặc túi ẩm.

    Không cần xử lý củ giống sau cắt với bất kỳ hóa chất nào. Mỗi củ giống chỉ nên căt đôi không nên cắt 3 hoặc 4. Sau khi cắt, củ giống phải được bảo quản trong điều kiện khô ráo, thoáng khí, nhiệt độ từ 18 – 20 độ C. Thời gian để miếng cắt lành lại vết thương khoảng từ 7 – 10 ngày. Trước khi trồng 1 – 2 ngày nên tách rời hẳn miếng cắt để vết thương lành hoàn toàn.

    Yêu cầu củ giống đem cắt phải có độ trẻ về sinh lý, thường là những củ giống từ nguồn nhập khẩu hoặc củ giống được bảo quản trong kho lạnh ở điều kiện 4 độ C. Củ giống phải có khối lượng ít nhất 50gr trở lên, đã hết thời gian ngủ nghỉ (đã phát mầm).

    Rạch hàng trên mặt luống, rải toàn bộ phân chuồng mục và lân vào rạch trộn đều với đất trong rạch. Đặt củ giống hay miếng bổ vào rạch, chú ý tuyệt đối không để củ giống hoặc miếng bổ tiếp xúc trực tiếp với phân. Khoảng cách giữa củ giống (hoặc miếng bổ) 25 – 30cm.

    Lần 1: Bón lót toàn bộ phân chuồng và 15 kg NPK 15.15.15+TE Hữu Nghị.

    Lần 2: Bón thúc khi cây được 20 – 22 ngày 15kg NPK 15.15.15+TE Hữu Nghị.

    Đối với sào Bắc bộ bón tương tự và giảm lượng bón xuống còn 22kg/sào.

    Nếu đất đủ ẩm thì sau khi trồng 10 – 15 ngày khoai tây sẽ mọc đều. Vì vậy nếu đất quá khô cần phải thực hiện tưới rãnh nhẹ để khoai tây nhanh mọc. Tuy nhiên giai đoạn này đối với giống khoai tây bổ củ không để đất quá ướt dễ gây thối củ. Thực hiện vun xới 2 lần kết hợp bón thúc. Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho khoai tây, tốt nhất bằng biện pháp tưới rãnh.

    KS NGUYỄN VÂN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Hồ Tiêu Trên Cây Trụ Sống
  • Ý Tưởng Kinh Doanh Rau Mầm Tại Nhà
  • Làm Giàu Từ Ý Tưởng Kinh Doanh Rau Mầm Tại Nhà
  • Tin Vui Cho Những Người Kinh Doanh Rau Mầm
  • Kỹ Thuật Trồng Rau Mầm Kinh Doanh
  • Kỹ Thuật Và Chăm Sóc Trồng Sắn (Khoai Mì)

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Táo Đại Hiệu Quả Cho “năng Suất Cao Nhất”
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Táo Tây
  • Kỹ Thuật Và Kinh Nghiệm Trồng Cây Tắc (Quất, Hạnh)
  • Kĩ Thuật Trồng Tre Lấy Măng
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Cau Lùn
  • – Giống sắn để trồng trên diện rộng hoặc sản xuất đại trà lấy từ những ruộng sản xuất tốt hoặc các ruộng nhân giống riêng (nếu có), tuổi của cây sắn trong các ruộng này đạt từ 8 tháng trở lên. Cây sắn dùng làm giống phải khỏe mạnh, không bị nhiễm sâu bệnh, nhặt mắt (không buông lóng), khi chuẩn bị hom giống nên loại bỏ những cây giống bị khô (không có nhựa mủ) và bị trầy – xước trong quá trình vận chuyển.

    – Thời gian bảo quản cây giống không quá 60 ngày (tính từ khi thu hoạch), sau khi thu hoạch vận chuyển và bảo quản ngay tại những nơi khô ráo và có bóng mát. Có nhiều cách để bảo quản khác nhau như: bó từng bó để nằm hoặc dựng đứng cây giống trong bóng râm, hoặc có thể cắm thẳng từng cây xuống đất theo từng cụm từ 500 – 1000 cây/cụm. Trong thời gian bảo quản cây giống có thể bị rệp sáp hoặc các loại côn trùng tấn công, vì thế có thể sử dụng các loại thuốc diệt côn trùng để phòng trừ.

    – Hom sắn để trồng lấy từ đoạn giữa thân cây sắn, chiều dài của hom sắn trồng sản xuất là 15- 20cm, đạt tối thiểu là 6 – 8 đốt, không nên chặt hom quá ngắn hoặc quá dài, những hom sắn mầm ngủ thể hiện không rõ phải được loại bỏ. Khi chặt hom dùng các loại dụng cụ sắc- bén để chặt và tránh làm cho hom bị thương tổn về mặt cơ giới như trầy vỏ hoặc dập phần thân gỗ của hom.

    – Để tránh cho hom giống bị sâu bệnh phá hoại nên xử lý hom giống trước khi trồng bằng cách nhúng vào các hỗn hợp thuốc diệt nấm và côn trùng thông dụng hoặc rải thuốc trừ côn trùng theo hàng và hốc trước khi đặt hom sắn.

    III. Thời vụ trồng

    Thời vụ trồng sắn thích hợp nhất ở Đông Nam Bộ và Tây Nguyên là vào đầu mùa mưa (từ tháng 04 – 05) và có thể trồng vụ Thu – Đông (từ giữa tháng 9 đến giữa tháng 10), nên tranh thủ trồng sớm khi đất đủ ẩm độ, không nên trồng vào các thời điểm có mưa nhiều hoặc khô hạn làm giảm khả năng mọc mầm của hom sắn (do ẩm độ đất cao hoặc thấp, nhiệt độ thấp dẫn đến hom sắn nảy mầm kém, rễ sắn hô hấp kém, các tác nhân nấm – bệnh và côn trùng dễ tấn công và gây hại cho hom sắn).

    IV. Phương pháp trồng

    Trồng hom nằm ngang trên những diện tích đất tương đối bằng phẳng, ở những diện tích đất có mưa nhiều thoát nước kém, đất lòng hồ, đất bán ngập có thể kéo luống hoặc lên liếp để trồng với các phương pháp hom xiên hoặc hom đứng.

    V. Khoảng cách và mật độ trồng

    Đối với đất tốt nên trồng với khoảng cách 1.0m x 1.0m, tương đưong với 10.000 cây/ha, đất xấu trồng với khoảng cách 1m x 0.9m hoặc 1m x 0.8m (tương đương với 11.080 cây và 14.000 cây/ha).

    – Tùy theo các loại đất mà bón với các công thức khác nhau, có thể kết hợp giữa bón phân vô cơ với phân hữu cơ như: phân chuồng, phân xanh và các loại phân hữu cơ dạng lỏng như Vedagro; Ami- Ami.

    – Công thức phân bón NPK: ((80kgN)+ (40kgP2O5)+ (80kgK2O))/ha; kết hợp với 5 – 10 tấn phân chuồng hoặc phân xanh, hay 7000 – 10.000L Vedagro/ha (trên đất đỏ) và ((160 kgN)+ (60 – 80 kg P2O5)+ (120 – 160 kgK2O))/ ha; kết hợp với 5 – 10 tấn phân chuồng hoặc phân xanh, hay 7- 10.000 L Vedagro/ha.

    – Thời gian bón phân: bón lót toàn bộ phân lân và phân hữu cơ. Bón thúc lần 1 vào giai đoạn từ 25- 30 ngày sau khi trồng: ½ phân đạm+ ½ phân kali, bón thúc lần 2 vào giai đoạn sau khi trồng từ 50- 60 ngày: ½ phân đạm+ ½ phân kali còn lại.

    – Thời điểm bón phân: bón phân khi đất có đủ ẩm độ, tránh bón vào lúc trời nắng hoặc đang mưa lớn.

    – Phương pháp và kỹ thuật bón phân: bón lót phân lân và phân hữu cơ khi cày bừa hoặc bón theo hàng hay hốc trước khi trồng; phân đạm và phân kali bón theo hốc (cuốc hốc cách gốc hoặc hom sắn 15cm rải đều phân xuống và lấp lại).

    VII. Phòng trừ cỏ dại

    – Phun thuốc diệt cỏ tiền nảy mầm Dual với lượng dùng là 2,5L/ ha, phun ngay sau khi trồng, đảm bảo lượng nước phun và ẩm độ đất đủ cho thuốc có thể thấm xuống đất từ 2 – 3cm.

    – Có thể kết hợp giữa làm cỏ bằng tay và phun thuốc: làm cỏ bằng tay 1 lần sau khi trồng từ 25 – 30 ngày, sau khi làm cỏ xong phun thuốc diệt cỏ tiền nảy mầm Dual với lượng dùng là 1,2L/ ha.

    VIII. Trồng xen và luân canh

    – Đất bằng (độ dốc < 8%) trồng xen lạc, đậu xanh hoặc một số cây họ đậu. Giữa 2 hàng sắn xen 2 hàng lạc hoặc 2 hàng đậu xanh, khoảng cách giữa 2 hàng sắn là 1.0 – 1.2m; giữa 2 hàng lạc và đậu xanh là 0.25 – 0.30m và giữa 2 cây lạc và đậu xanh là 0.15 – 0.20m.

    IX. Thu hoạch và bảo quản

    Thu hoạch sắn đúng thời điểm (thường tùy theo chu kỳ sinh trưởng của từng loại giống), khi hàm lượng tinh bột trong củ đạt từ 27 – 30%, hoặc khi cây đã rụng gần hết lá ngọn (còn lại khoảng 7 – 10 lá) và lá đã chuyển từ màu xanh sang vàng nhạt. Có nhiều phương pháp thu hoạch khác nhau: bằng cơ giới, bằng các dụng cụ thủ công và nhổ trực tiếp bằng tay. Thu hoạch đến đâu cần vận chuyển ngay đến các cơ sở chế biến, tránh để lâu hoặc phơi nắng ngoài đồng làm giảm hàm lượng và chất lượng tinh bột trong củ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Sắn Dây
  • Hướng Dẫn Trồng Một Số Loại Rau Cơ Bản
  • Trồng Và Chế Biến Quế, Phòng, Trừ Sâu Bệnh Trên Cây Quế
  • Kỹ Thuật Trồng Nấm Mỡ
  • Cây Nho Và Kỹ Thuật Trồng
  • Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Khoai Tây

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Và Kinh Nghiệm Trồng Cây Vải Thiều Cho Quả Sai, Không Sâu Bệnh
  • Kỹ Thuật Chăm Sóc Vải Thiều Giai Đoạn Ra Hoa, Đậu Quả
  • Bán, Trồng Sách Hướng Dẫn Trồng Cây Cảnh Và Các Loại Cây Quanh Nhà
  • Khai Giảng Lớp Bồi Dưỡng Kiến Thức Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Hoa Lan Nâng Cao
  • Cách Chăm Sóc Cây Sen Đá Lá Thơm
  • Cây khoai tây thuộc họ Cà (Solanaceae) là loại cây công nghiệp ngắn ngày trồng lấy tinh bột, khoai tây được coi là cây lương thực quan trọng sau cây lúa mì, lúa nước và ngô. Trong củ khoai tây có nhiều chất dinhh dưỡng với hàm lượng cao.

    Cây khoai tây có nguồn gốc từ Peru và được du nhập vào Việt Nam năm 1890, tới năm 2021 này là 127 năm, diện tích, năng suất, sản lượng liên tục thay đổi.

    Việt Nam là nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa. Vào mùa đông nhiệt độ trung bình 15 – 25 0 C, thuận lợi cho cây khoai tây sinh trưởng và phát triể

    I. THỜI VỤ

    Vụ Đông Xuân sớm: trồng vào đầu tháng 10, thu hoạch vào tháng 12.

    Vụ chính: trồng cuối tháng 10 đầu tháng 11, thu hoạch cuối tháng 1 đầu tháng 2.

    Vụ xuân: trồng tháng 12, thu hoạch vào tháng 3.

    II. CHỌN GIỐNG

    Hiện nay, trong sản xuất đang phổ biến nhiều giống khoai tây khác nhau có năng suất cao phẩm chất tốt được thị trường trong nước ưa chuộng và đảm bảo tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu:

    • Giống khoai tây Đức: Giống Mariela, Solara
    • Giống khoai tây Hà Lan: Giống Diamond (Diamant)
    • Các giống khác: Giống khoai tây KT3, Giống VT2, khoai tây hạt lai đời G1 (giống khoai tây lai Hồng Hà 2 và Hồng Hà 7)

    III. CHỌN ĐẤT VÀ LÀM ĐẤT

    Khoai tây phù hợp trên đất ruộng, đất cát pha, thịt nhẹ, đất phù sa ven sông với thành phần cơ giới nhẹ thoát nước và giữ ẩm tốt

    2. Làm đất:

    Cày bừa, làm đất nhỏ vơ sạch cỏ dại, tàn dư cây trồng vụ trước. Lên luống đơn, luống rộng 0,6 – 0,7m (trồng 1 hàng) hoặc lên luống kép, luống rộng 1,2m (trồng 2 hàng).

    IV. CHUẨN BỊ CỦ GIỐN a. Cách chuẩn bị củ giống bằng phương pháp bổ củ:

    Khoai tây có thể trồng nguyên cả củ hoặc trồng bằng miếng bổ. Có 2 cách bổ, bổ củ theo phương pháp truyền trống chấm xi măng khô, cách này đơn giản nhưng củ giống dễ bị thối nếu sau khi trồng gặp mưa. Bổ củ theo phương pháp cắt dính tuy có tốn công hơn nhưng tỉ lệ củ bị thối sau khi trồng ít hơn nhiều.

    b. Tiêu chuẩn củ giống

    Yêu cầu củ giống đem đi cắt phải có độ trẻ về sinh lý, thường là những củ giống từ nguồn nhập khẩu hoặc củ giống được bảo quản trong kho lạnh 4 0 C. Củ giống phải có khối lượng ít nhất 50g trở lên, đã hết thời gian ngủ nghỉ (đã phát mầm

    c. Phương pháp bổ củ chấm xi măng:

    Trước khi trồng 1- 2 ngày bổ củ giống, chỉ bổ củ giống to có nhiều mầm. Tốt nhất nên bổ theo chiều dọc củ để chất dinh dưỡng được phân bố đồng đều trên các miếng bổ tạo sự đồng đều của cây sau khi trồng. Mỗi miếng bổ phải có ít nhất 1 – 2 mầm. Dao cắt phải mỏng, sắc để tránh gây dập nát tế bào nơi vết cắt. Cần nhúng dao vào nước xà phòng đặc sau mỗi lần bổ 1 – 2 củ để tránh lây bệnh. Chấm mặt cắt của miếng khoai tây vào xi măng khô rồi xếp 1 lượt lên giàn

    d. Phương pháp cắt dính

    Cắt dọc củ theo chiều của mầm đỉnh để tiết kiệm miếng cắt là nhỏ nhất. Miếng cắt tuyệt đối không được cắt rời mà phải còn dính nhau 2 – 3mm, không được bẻ rời sau đó. Cắt xong phải áp ngay 2 miếng cắt còn dính liền xếp lại vào khay hoặc rổ rá. Tuyệt đối không được cho vào bao hoặc túi ẩm. Không cần xử lý củ giống sau cắt với bất kỳ hóa chất nào. Mỗi củ giống chỉ nên cắt đôi không nên cắt 3, 4. Sau khi cắt củ giống phải được bảo quản khô ráo, thoáng khí, nhiệt độ từ 18 – 20 0 C. Thời gian đê miếng cắt lành lại vết thương khoảng 7 – 10 ngày. Trước khi trồng 1 – 2 ngày nên tách rời hẳn miếng cắt để vết thương lành hoàn toàn

    V. CÁCH TRỒNG

    Rạch hàng trên mặt luống, rải toàn bộ phân chuồng mục và lân vào rạch trộn đều với đất trong rạch. Đặt củ giống hay miếng bổ vào rạch, chú ý tuyệt đối không được đặt củ giống hay miếng bổ tiếp xúc trực tiếp với phân. Khoảng cách giữa củ giống (hoặc miếng bổ) 25 – 30cm

    2.Trồng khoai tây nguyên củ:

    Đặt củ giống so le nhau, nằm ngang và mầm khoai hướng lên trên (không để củ giống tiếp xúc với phân). Dùng đất bột, mùn, trấu hoặc phân chuồng hoai mục phủ kín củ giống một lớp mỏng. Sau đó dùng rơm rạ phủ lên toàn bộ mặt luống khoảng 7 – 10cm. Tưới ướt nước đều lên mặt luống làm ẩm rơm rạ và đất. Nếu độ ẩm đất còn cao không cần tưới. Có thể dùng đất đè lên rơm rạ bay nếu gió mạnh

    VI. CHĂM SÓC: XỚI, LÀM CỎ, VUN GỐC

    Khi cây mọc lên khỏi mặt đất 7 – 10 ngày, cao khoảng 15 – 20cm thì xới nhẹ, làm sạch cỏ, bón thúc đợt 1 rồi vun luống, khi bón thúc thì bón vào mép luống hoặc giữa hai khóm khoai, không bón trực tiếp vào gôc cây làm cây chết. Kết hợp tỉa cây để lại 2 – 3 mầm chính

    2. Chăm sóc đợt 2:

    Cách đợt 1 từ 15 – 20 ngày khi đã qua tưới nước lần 2 thì tiến hành xới nhẹ, làm cỏ và vun luống lần cuối, lấy đất ở rảnh vun co luống to và cao, dày cố định luôn, vun luống hông đủ đất sẽ làm vỏ củ bị xanh hoặc mọc thành cây. Vét đất ở rãnh để khi ruộng bị nước sẽ nhanh khô.

    VII. T ƯỚI NƯỚC

    Trong 60 – 70 ngày đầu khoai tây rất cần nước, thiếu nước năng suất khoai tây giảm, ruộng khoai tây lúc khô, lúc ẩm làm cho củ bị nứt, giảm chất lượng củ.

    Dẫn nước hoặc tát vào rãnh để thấm nước vào luống khoai tây. Từ khi trồng đến khi khoai tây 60 – 70 ngày thường có 3 lần tưới nước, tưới đủ ẩm không để nước đọng trong ruộng khoai tây. Tưới phải kết hợp với làm cỏ, xới xáo, bón phân thúc.

    + Tưới lần 1: khi khoai tây mọc cao 20 – 25cm, đất khô thì tưới nước, đất cát pha cho ngập ½ luống, mỗi lần chỉ cho vào 3 – 4 rãnh, khi đủ nước thì cho tiếp vào 3 – 4 rãnh khác, lấp đầy rãnh củ, tháo đầu rãnh mới để nước thêm đều vào luống; với đất thịt nhẹ cho ngập 1/3 luống, cho nước vào cùng một lúc nhiều rãnh hơn.

    + Tưới lần 2: khoảng 2 – 3 tuần sau lần 1, đất cát pha cho ngập 2/3 luống, đất thịt nhẹ cho ngập ½ luống làm như lần 1.

    + Tưới lần 3: Khi đất khô, khoảng 2 – 3 tuần sau lần 2 và làm như lần 2.

    2. Tưới gánh:

    Không tưới trực tiếp vào gốc khoai tây mà tưới xung quanh gốc. Khi kết hợp tưới phân phải chú ý lượng phân hòa với nước. Không kết hợp tưới nước với phân chuồng vì có nhiều nấm gây thối củ.

    CHÚ Ý: Trước khi thu hoạch 2 – 3 tuần, cần đất khô ráo tuyệt đối.

    VIII. BÓN PHÂN

    Lượng phân bón cho 1 sào: 25kg Siêu Lót L1

    25kg Chuyên thúc F1

    Bón lót: 100% phân Siêu lót L1

    Bón thúc lần 1 (cây mọc cao 15 – 20cm):

    8 – 10 kg Chuyên thúc F1 (kết hợp vun xới nhẹ)

    Bón thúc lần 2 (10 – 15 ngày sau lần 1): 13 -15 kg Chuyên thúc F1.

    Cần tưới rãnh nhẹ để khoai tây nhanh mọc trong trường hợp đất bị khô.

    Kết hợp vun xới 2 lần kết hợp với bón thúc.

    Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho khoai tây, tốt nhất bằng biện pháp tưới rãnh

    IX. SÂU BỆNH HẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ Triệu chứng:

    – Bệnh virus xoăn lùn: Cây bị bệnh có lá xoăn lại, cây còi cọc và thấp lùn xuống. Cây bị nhẹ thì lá bị nhăn, phiến lá gồ ghề không phẳng, phiến lá có màu xanh đậm xen kẽ xanh nhạt trông không bình thường, củ nhỏ và ít củ.

    – Bệnh virus khảm lá: Trên phiến lá của những cây bị bệnh có những vết đốm màu vàng nhạt xen với màu xanh tự nhiên của lá tạo thành vết khảm lốm đốm. Lá cũng hơi biến dạng, lá nhỏ lại, mép hơi cong, mặt lá hơi gồ ghề.

    Biện pháp phòng trừ: Hiện nay, bệnh virus chưa có loại thuốc hóa học nào có thể trừ được, vì vậy phòng bệnh là chính.

    + Sử dụng giống sạch bệnh

    + Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, nếu thấy cây có triệu chứng của bệnh thì phải nhổ bỏ cả cây và củ cây bị bệnh để tiêu hủy.

    + Phun trừ rệp (môi giới truyền bệnh) bằng các loại thuốc trừ rầy như: Actara 25WG, Penalty 40WP…

    Triệu chứng: Cây đang xanh, lá và thân héo rũ đột ngột. Sáng hôm sau thấy cây tươi trở lại nhưng chiều lại héo rũ, vài ngày như vậy thì gốc cây bị thối nhũn và chết.

    Biện pháp phòng trừ: Chưa có thuốc trừ bệnh, phòng bệnh là chính

    + Sử dụng giống sạch bệnh

    + Luân canh khoai tây với lúa nước, không trồng trên những chân ruộng màu mà vụ trước trồng cây họ cà như khoai tây, cà chua, cà pháo, thuốc lá…

    + Dùng phân chuồng hoai mục để bón

    + Tránh dùng nước nhiễm khuẩn, khi mưa to phải tháo kiệt nước.

    + Khi cây bị bệnh phải khẩn trương nhổ bỏ và tiêu hủy.

    Triệu chứng: Do nấm Phytophthora infestans gây nên. Nấm bệnh gây hại trên lá, thân và củ. Trên lá, thân vết bệnh lúc đầu có dạng đốm nhỏ sau chuyển thành màu nâu, xung quanh vết bệnh thường có mép viền màu vàng nhạt, bệnh hại từ mép lá. Trên củ, vết bệnh hơi lõm xuống, màu nâu.

    Biện pháp phòng trừ:

    + Sử dụng củ giống sạch bệnh

    + Bón phân cân đối, không bón nhiều đạm

    + Tưới nước: Cây khoai tây là cây “Chân ẩm đầu khô” nên ưu tiên tưới rãnh, hạn chế tối đa việc tưới té.

    + Ở vụ đông, khi có gió đông hoặc khi để các vật dụng qua đêm mà sáng dậy thấy có đọng nước thì phun phòng bệnh ngay; ở vụ xuân cần phun phòng bệnh định kỳ. Có thể phun phòng bằng Booc đo 1%. Nếu bị bệnh có thể phun trừ bằng Rhidomin 72WP hoặc Kasuran 0,2%…

    Triệu chứng: Do nấm Rhizoctonia solani gây nên. ở cây bị bệnh, phần thân sát mặt đất bị teo thắt, biến màu nâu, lá cong lên biến màu vàng hoặc màu tím hồng, nhất là ở ngọn, bộ rễ bị thối mục. Nếu trồng trên những ruộng lúa bị nhiễm bệnh khô vằn thì bệnh phát triển nặng hơn.

    Biện pháp phòng trừ:

    + Nhổ bỏ cây bệnh để tránh lây lan.

    + Có thể dùng một số loại thuốc như: Validacin 5L, Anvil 5SC, Moceren 25WP… để phun cho cây khi có bệnh, hoặc phun xử lý rơm rạ ở những ruộng lúa bị nhiễm bệnh khô vằn.

    Triệu chứng: Trên củ giống bị bệnh có những vết lồi, nứt theo dạng chân chim, hình sao. Bên trong vết lồi có bột màu nâu. Trên rễ cây bị bệnh hình thành những u sần nhỏ, màu trắng, sau chuyển thành màu nâu. Bệnh phát triển mạnh do củ giống bị nhiễm bệnh từ vụ trước, hoặc trong môi trưởng ẩm độ cao (điển hình như vụ đông 2011, cuối vụ mưa nhiều nên khoai tây bị ghẻ củ rất nhiều). Giống khoai tây Diamant (Hà Lan) thường bị ghẻ cụ nặng hơn các giống khác.

    Biện pháp phòng trừ:

    + Lựa chọn những giống ít bị nhiễm bệnh

    + Không để đất ẩm, không bón phân chuồng chưa hoai mục

    + Dùng củ giống sạch bệnh.

    – Bọ trĩ: Sâu non cơ thể màu vàng nằm ở mặt dưới lá non, chích hút dịch lá ở các đường gân lá làm cho lá khô và chết. Khi bị hại nặng, cây bị chết nhanh chóng. Bọ trĩ gây hại nặng khi thời tiết hanh khô kéo dài. Vì vậy bọ trĩ thường gây hại nhiều trong vụ đông, ít hại trong vụ khoai tây xuân.

    – Rệp đào: Là loại côn trùng truyền bệnh virus cho cây khoai tây, gây hại ở mặt dưới của lá, ở các chồi non, hút dịch làm cho lá bị khô, cây còi cọc.

    Biện pháp phòng trừ: Có thể dùng Actara 25WG, Penalty 40WP…

    – Thường tập trung ở dưới lá non, ngọn cây, chích hút dịch cây làm cho lá có màu tím tái, lá và ngọn cây bị quăn lại. Cây bị hại nặng, ngọn cây như bị cháy. Nhện thường xuất hiện và gây hại khi trời hanh khô và nắng nhẹ. Vụ đông năm nay được dự báo là vụ đông ấm nên cần chú ý phòng trừ đối tượng này.

    – Nhện rất nhỏ, rất khó nhìn thấy bằng mắt thường. Đôi khi nhầm lẫn giữa triệu chứng của nhện đỏ và bọ trĩ gây hại. Có thể phân biệt bằng cách ngắt lá bị hại nắm trong lòng bàn tay, nếu lá bị giòn tan thì đó là nhện đỏ gây hại, không bị giòn tan có thể do bị bọ trĩ hại.

    Biện pháp phòng trừ: Dùng Ortus 5SC, Pegasus 500 DD… kết hợp với xà phòng hoặc nước rửa bát để tăng độ bám dính.

    X. THU HOẠCH

    Thu hoạch sớm hơn 5 – 7 ngày, khi thấy lá vàng, cây rạc dần và có thể thu hoạch được, sau khi khoai được 60 – 70 ngày tuyệt đối không cho nước vào ruộng khoai, nếu mưa phải tháo kiệt nước, không cắt lá cho lợn hoặc trâu bò ăn, thu hoạch vào ngày khô ráo, trước khi thu hoạch 10 ngày nên cắt cách gốc 15 – 20cm, củ không bị xây xát mà mã củ vẫn đẹp, khi thu hoạch cần phải phân loại ngay tại đồng ruộng, củ to và nhỏ riêng rẽ, để nhẹ nhàng cho vào sọt.

    Bảo quản: có thể cho vào kho lạnh hoặc để tán xạ kho Bảo ôn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chăm Sóc Cây Cảnh Trong Nhà Giúp Cây Luôn Xanh Tươi
  • Cách Chăm Sóc Cây Đinh Lăng
  • Kĩ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Sở
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Cây Nho Chuỗi Ngọc
  • Ý Nghĩa Hoa Cẩm Tú Cầu Và Kỹ Thuật Chăm Sóc Sai Hoa, Nhiều Màu
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Khoai Tây Po3

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Đậu Nành Trên Đất Ruộng Lúa
  • Hướng Dẫn Cách Chăm Sóc Cây Mít Thái Cho Năng Suất Cao
  • Cây Nhãn Muộn Hưng Yên
  • Cây Giống Nhãn Muộn Hưng Yên
  • Kế Hoạch Trồng Và Chăm Sóc Vườn Cây Thuốc Nam
  • PO3 là giống khoai tây có thời gian sinh trưởng 90-100 ngày với tiềm năng năng suất cao, kháng bệnh mốc sương tốt. Củ hình oval, da vàng, ruột vàng, chất lượng tốt, hàm lượng chất khô và tinh bột cao, phù hợp với chế biến công nghiệp.

    (tính cho 1000m2):

    + Phân chuồng 4m3, lân vi sinh 25-30kg, vôi 100kg.

    + Phân hoá học: 33kg urê, 94kg lân super và 42kg kali.

    – Cách bón:

    + Bón lót: Toàn bộ phân chuồng, vôi, lân vi sinh, lân super, 8kg urê và 10kg kali.

    + Bón thúc:

    Lần 1: 7-10 ngày sau khi cây mọc, bón 10kg urê, 10kg kali, kết hợp xới gốc, làm cỏ.

    Lần 2: 15-20 ngày sau mọc, bón hết số phân còn lại, kết hợp làm cỏ, vun luống.

    Chọn củ giống sạch bệnh (cỡ 30-50g/củ), mầm đều khoẻ, dài 1-1, 5cm. Trồng hai hàng so le với khoảng cách cây 40cm (3.700-3.800 củ/1.000m2). Trồng sâu 5-6cm, lấp kín củ bằng đất tơi xốp. Sau khi trồng tưới đẫm nước, sau đó cách 2-3 ngày tưới một lần để cây mọc nhanh, sinh trưởng tốt. Đảm bảo tưới đủ nước trong thời kỳ cây tạo củ.

    – Phòng trừ sâu và ruồi đục lá

    + Áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) như vệ sinh đồng ruộng, hạn chế ký chủ xung quanh ruộng, dùng bẫy vàng, cắt bỏ lá bị nhiễm ruồi nặng, phun thuốc phòng trừ.

    + Thuốc hoá học (tính cho bình 8 lít): Polythrin (15ml), Supracide (30ml), Netoxin (15g), Trigard (10ml), Lannate (20g). Ruồi đen có khả năng quen thuốc nên cần luân phiên thay đổi thuốc. Không dùng một loại thuốc quá 3 lần trong một tháng.

    – Phòng trừ bệnh nấm: Dùng Mancozeb (25g) phun phòng định kỳ 10 ngày/lần. Khi phát hiện bệnh cần luân phiên thay đổi với Curzate M8 (20g), Kocide (20g), Funguran (25g)…

    – Phòng trừ héo rũ và bệnh vi khuẩn khác: hiện chưa có thuốc đặc hiệu để trừ bệnh này nên tốt nhất là phòng bệnh với các biện pháp sau:

    + Luân canh: chỉ nên trồng khoai tây 3 năm một lần trên cùng một ruộng và luân canh với cây trồng khác họ cà.

    + Xử lý đất: dùng calcium hypochlorite 3kg/1000m2 vãi đều, phay sâu 20cm, xúc luống và tưới đẫm để 2-3 ngày sau mới trồng. Có thể phun thêm Mocap (20ml/bình), Sicosin (30ml/bình) trên mặt luống, tưới thấm trước khi trồng.

    + Dùng củ giống sạch bệnh.

    + Khi thấy xuất hiện bệnh thì nên nhổ bỏ cây bệnh và rắc vôi vào gốc để tránh lây lan.

    Cắt dọn thân lá 7-10 ngày trước khi thu hoạch. Hạn chế làm sây sát củ trong lúc thu hoạch, vận chuyển. Loại bỏ củ thối, sứt mẻ. Đóng gói bao bì theo yêu cầu khách hàng.

    Nếu cần mẫu mã đẹp, ngay sau khi thu hoạch chọn củ đẹp, rửa sạch bằng nước máy (tránh gây vết trầy xước). Xử lý 2 phút trong dung dịch calcium hypochlorite 1% hoặc nước vôi 2% đã lọc trong. Rửa lại bằng nước sạch, hong thật khô vỏ trước khi đóng gói.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Cách Nào Để Cây Sứ Thái Ra Hoa Đúng Dịp Tết Nguyên Đán
  • Giới Thiệu Về Cây Hồ Tiêu Việt Nam
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Chanh Leo Colombia
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Chanh Leo
  • Kỹ Thuật Nhân Giống Và Chăm Sóc Cây Đinh Lăng
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Khoai Tây (Kỳ 2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Trồng Cây Lan Kim Tuyến Vừa Làm Cảnh Vừa Làm Thuốc
  • Những Bí Mật Về Cây Lan Kim Tuyến Có Thể Bạn Chưa Biết
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Cỏ Lạc
  • Cách Chăm Sóc Cây Mai Vàng Mới Trồng
  • Cây Sen Đá Móng Rồng Để Bàn Và 3 Lưu Ý Cách Chăm Sóc
  • 6. Chăm sóc

    Sau trồng có thể phủ luống khoai tây bằng chất liệu hữu cơ như: rơm, rạ hoặc mùn mục để tạo độ tơi xốp cho đất, giúp cho việc trao đổi chất.

    b. Xới xáo, làm cỏ, vun gốc

    – Khi cây mọc lên khỏi mặt đất 7-10 ngày, cao khoảng 15 – 20 cm tiến hành chăm sóc lần 1 bằng cách xới nhẹ, làm sạch cỏ, bón thúc đợt 1 rồi vun luống, kết hợp tỉa cây để lại 2-3 mầm chính.

    – Cách lần 1 từ 15-20 ngày khi đã qua tưới nước lần 2 thì tiến hành xới nhẹ, làm cỏ và vun luống lần cuối, lấy đất ở rãnh vun cho luống to và cao, dày cố định luôn, vun luống không đủ đất sẽ làm vỏ củ bị xanh hoặc mọc thành cây. Vét đất ở rãnh để khi ruộng bị nước sẽ nhanh khô.

    Thường xuyên giữ đất đủ ẩm, dùng nguồn nước sạch để tưới. Trong 60-70 ngày đầu khoai rất cần nước, nếu thiếu nước hoặc nước trong ruộng không đồng đều lúc khô, lúc ẩm làm củ bị nứt, chất lượng củ và năng suất giảm.

    Có hai phương pháp tưới cho khoai tây:

    – Tưới gánh: Không tưới nước trực tiếp vào gốc khoai mà tưới xung quanh gốc. Có thể kết hợp tưới với phân đạm và kali nhưng phải chú ý lượng phân hòa với nước, thùng 10-12 lít chỉ pha 1 nắm phân nhỏ là vừa. Không kết hợp tưới nước với phân chuồng vì có nhiều nấm gây thối củ.

    – Tưới rãnh: Với ruộng phẳng, cho nước ngập 1/2 rãnh, khi nước ngấm đều thì tháo kiệt, tránh để nước đọng ở rãnh trong thời gian dài sẽ làm phát sinh và lây lan nguồn bệnh. Đặc biệt, khi phát hiện trên ruộng có bệnh héo xanh vi khuẩn thì tuyệt đối không được tưới rãnh vì sẽ tạo điều kiện cho bệnh lây lan rộng. Từ khi trồng đến khi khoai 60-70 ngày thường có 3 lần tưới nước. Tưới phải kết hợp với xới xáo, làm cỏ, bón phân thúc.

    + Tưới lần 1: Sau trồng khoảng 2-3 ngày, khi khoai mọc cao khoảng 20-25 cm, nếu đất khô có thể dẫn nước vào ruộng, mỗi lần chỉ cho vào 3-4 rãnh, khi đủ nước thì cho tiếp vào 3-4 rãnh khác, lấp đầy rãnh củ, tháo đầu rãnh mới để nước thêm đều vào luống. Đất cát pha cho ngập ½ luống; đất thịt nhẹ cho ngập 1/3 luống, cho nước vào cùng một lúc nhiều rãnh hơn.

    + Tưới lần 2: khoảng 2-3 tuần sau lần 1, đất cát pha cho nước ngập 2/3 luống, đất thịt nhẹ cho ngập ½ luống làm như lần 1. Kết hợp bón thúc đợt 1 và khử lẫn cây lẫn giống, nhổ bỏ cây bệnh.

    + Tưới lần 3: Sau lần tưới 2 khoảng 15-20 ngày tiến hành tưới nước lần 3. Đợt tưới nước này cũng là kết thúc cho chu kỳ sản xuất khoai tây, kết hợp bón thúc đợt 2 và khử lẫn cây lẫn giống, nhổ bỏ cây bệnh.

    Chú ý: Trước khi thu hoạch khoảng 2 tuần, cần ngừng tưới nước. Nếu trời mưa phải tháo nước kịp thời để đất khô ráo tuyệt đối.

    7. Phòng trừ sâu bệnh hại chính

    Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng và khuyến khích áp dụng các biện pháp quản lý cây trồng tổng hợp (Sử dụng giống kháng bệnh, thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học, kỹ thuật làm đất, bón phân, luân xen canh cây trồng hợp lý, vệ sinh đồng ruộng …)

    – Sâu xám: Sâu xám phát sinh nhiều trong điều kiện thời tiết lạnh, ẩm độ cao, chủ yếu phá hại từ tháng 11 đến cuối tháng 2 ở giai đoạn cây còn nhỏ. Sâu xám thư­ờng cắn ngang gốc cây khi khoai tây đang ở thời kỳ mọc. Khoảng 9-10 giờ tối sâu xám ở d­ưới đất chui lên mặt đất và bám vào cây để ăn lá, đến khoảng 5-6 giờ sáng thì chui xuống gốc cây hoặc d­ưới đất để ẩn.

    Biện pháp phòng trừ:

    + Dẫn nước ngập ruộng trước khi chuẩn bị đất để trồng. Soi đèn bắt sâu vào 9-10 giờ tối hoặc vào buổi sáng sớm. Dùng bẫy chua ngọt để bẫy bướm (4 phần đường đen + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước + 1% thuốc).

    + Dùng Basudine hạt để xử lý đất, liều lượng dùng từ 1,5-2,0kg cho một sào Bắc bộ hoặc dùng Nuvacron nồng độ 0,15%; Sumicidin 0,1% phun vào buổi chiều sau trồng.

    – Nhện trắng: Nhện trắng thư­ờng xuất hiện và gây hại khi thời tiết ấm. Chúng tụ tập ở mặt dưới lá non, ngọn cây và chích hút dịch làm cho lá và ngọn quăn lại.

    Dùng Supracide 40EC hoặc Pegrasus để phun phòng trừ.

    – Bọ trĩ: Bọ trĩ xuất hiện và gây hại khoai tây khi thời tiết ấm. Chúng chích hút dịch lá làm cho lá bị khô và chết.

    Dùng thuốc Supracide 40EC hoặc Treebon 10EC hoặc Sumicidin 20ND hoặc Bassa 50EC, Sherpa nồng độ 0,1- 0,15% để phun trừ ngay sau khi bọ trĩ xuất hiện.

    – Rệp: Rệp có cơ thể hình bầu dục, thuôn dài, quanh mình có sáp trắng. Rệp cái không có cánh, rệp đực có cánh, trứng có lớp lông sáp phủ kín. Rệp nhỏ, dài khoảng 1- 2mm. Rệp sống trên nhiều loại cây. Với cây khoai tây, thời kỳ cây sinh trưởng mạnh (30 – 60 ngày tuổi) thường có rệp xuất hiện. Chúng tụ tập ở phần ngọn, ở các nách lá, nằm dưới mặt lá. Khi khoai gần thu hoạch, rệp sống chủ yếu ở gốc cây, bám vào mắt củ khoai gần mặt đất. Đến khi bảo quản, nhất là bảo quản bằng kho tán xạ thì rệp sống tập trung ở mắt củ, xung quanh mầm để hút dịch, làm thui mầm khoai.

    Khi mật độ rệp xuất hiện cao, phun thuốc Altach 5EC, Cyper 25EC (20 ml/16 lít nước), Mospilan 3EC (20 ml/16lít nước), Hopsan 75EC (50 ml/16 lít nước), Nouvo 3.6EC (8-10 ml/16 lít nước); Pegasus 500EC hoặc Treebon 10EC.

    – Sâu hà khoai tây: Sâu hà khoai tây chưa xuất hiện ở vùng trồng khoai tây miền Bắc, nhưng đã có ở Đà Lạt từ lâu. Sâu hà khoai tây gây hại ở thân, lá và củ. Khi chuyển giống khoai tây từ Đà Lạt đi vùng khác cần lưu ý đối tượng này để tránh lây lan.

    Dùng Sherpha để phun.

    b. Bệnh chính hại khoai tây

    Bệnh virut xoăn lùn:do virút Y gây ra, đây là loại bệnh phổ biến ở Việt Nam. Bệnh xoăn lùn th­ường làm giảm từ 10-90% năng suất.

    Triệu chứng thường gặp: khi khoai tây bị bệnh này lá bị xoăn lại, cây còi cọc thấp lùn xuống, lá bị nhăn, phiến lá gồ ghềkhông phẳng, phiến lá có màu xanh đậm xen kẽ xanh nhạt trông không bình thườngcủ nhỏ và ít củ.

    Bệnh virút khảm: do virút X, S và M gây ra, bệnh ít nghiêm trọng hơn nh­ưng lại rất phổ biến ở Việt Nam, làm giảm năng suất 10-15%.

    Triệu chứng thường gặp: cây bị bệnh virút khảm trên phiến lá có những vết đốm mầu vàng nhạt xen với mầu xanh tạo thành vết khảm lốm đốm

    – Bệnh virút cuốn lá (PLRV): gây hại nghiêm trọng và làm giảm năng suất tới 90%.

    Triệu chứng thường gặp: cây bị virút cuốn lá thì lá phía d­ưới bị cong cuốn lên, khi nắm lá vào tay và bóp mạnh lá bị gẫy dòn.

    * Biện pháp phòng trừ bệnh virút chung:

    + Diệt trừ các tác nhântruyền bệnh như rệp và bọ phấn… Sử dụng giống sạch bệnh và nhổ bỏ cây bệnh. Bón phân cân đối, không bón nhiều phân đạm. Luân canh cây trồng, thu dọn tàn dư cây bệnh trên đồng ruộng. Không trồng khoai tây gần ruộng trồng cà chua, bầu, bí.

    + Gieo ươm cây con trong nhà lưới ngăn cản bọ phấn gây hại. Nhổ bỏ cây bị bệnh trên ruộng để tiêu hủy.

    – Sử dụng thuốc để trừ bọ phấn truyền bệnh: Nouvo 3.6EC (8-10 ml/16 lít nước), Altach 5EC (15-20ml/16 lít nước), Cyper 25EC(15-20 ml/16 lít nước), Wellof 330EC (40 ml/ 16 lít nước).

    – Bệnh héo xanh: Bệnh héo xanh, do vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây nên. Đây là loại bệnh nghiêm trọng phổ biến ở vùng nhiệt đới nóng ẩm và lây lan nhanh.

    Biện pháp phòng trừ:

    + Sử dụng củ giống sạch bệnh, không bón phân tư­ơi và nhổ bỏ cây bệnh.

    + Luân canh với lúa n­ước, không nên trồng khoai tây ở những ruộng mà trư­ớc đó vừa mới trồng khoai tây, cà chua, cà hoặc thuốc lá…

    Bệnh mốc sư­ơng: Do nấm Phytophhthora infestans gây nên. Khi nhiệt độ xuống thấp từ 15-180C có mưa phùn kéo dài, trời nhiều mây mù, độ ẩm không khí cao thường phát sinh bệnh mốc sư­ơng.

    Kiểm tra đồng ruộng và phun phòng đều trên 2 bề mặt của lá bằng thuốc Boóc đô nồng độ 1% hoặc Ridomil Mancozeb 72W; Zineb pha 25-30 gam/1 bình 10 lít.

    – Bệnh héo vàng: Bệnh héo vàng do nấm ( Fusarium spp.) gây nên, cũng không thành dịch nghiêm trọng, nhưng khi trời nóng dễ xẩy ra ở thời kỳ mọc và cây phát triển, làm cho củ bị bệnh, gây ra thối khô trong kho bảo quản.Ban đầu những lá ở phía dưới bị vàng úa, sau đó những lá trên ngọn cũng vàng rồi héo và chết toàn cây. Bào tử nấm trên cây rơi xuống đất và xâm nhập vào củ. Nấm héo vàng bám vào củ khó phát hiện hơn nấm lở cổ rễ nên khi loại củ bị bệnh khó hơn và gây nên củ bị thối khô trong kho.

    Biện pháp phòng trừ:Sử dụng củ giống sạch bệnh để trồng; Trồng khoai tây luân canh với lúa nước; nhổ bỏ cây bị bệnh để tránh lây lan. Có thể dùng thuốc Moceren loại 25%WH phun lên cây với nồng độ 10 – 12g/bình phun tay.

    8. Thu hoạch và bảo quản

    – Trước khi thu hoạch cần loại bỏ cây bệnh, cắt bỏ thân lá để hạn chế bệnh hại truyền về củ giống. Thu hoạch khoai tây ở thời điểm phù hợp khi thấy lá vàng, cây rạc dần với thời tiết khô ráo. Khoai tây giống thu hoạch sớm hơn 5 – 7 ngày so với khoai thương phẩm.

    – Khi thu hoạch, cần phân loại cỡ củ, củ to và nhỏ riêng rẽ, để nhẹ nhàng cho vào sọt ngay trên đồng ruộng để tránh sự xây sát.

    – Loại bỏ những củ bị dập, không nguyên vẹn. Bảo quản những ở nơi khô, tối và thoáng khí.

    – Khoai thương phẩm đóng gói trong bao bì, vận chuyển đến nơi tiêu thụ.

    Theo khuyennongvn.gov.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Trồng Cây Không Khí Đơn Giản Tại Nhà
  • Cách Chăm Sóc Hoa Phong Lan
  • Cách Chăm Sóc Hoa Lan Tại Nhà
  • Cây Hoa Tử La Lan
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Hoa Hải Đường Nở Hoa
  • Biện Pháp Chăm Sóc Kỹ Thuật Một Số Cây Trồng Chính: Môn

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trinh Kỹ Thuật Trồng Rau Sạch Bằng Hệ Thủy Canh Đơn Giản
  • Những Bước Cơ Bản Trong Việc Trình Bày Món Ăn
  • Người Nhật Trồng Rau Ở Đà Lạt
  • Kỹ Thuật Trồng Rau Sạch Và Chăm Sóc Rau Trên Sân Thượng
  • Ông Bố Trẻ Trồng Rau Sạch Cho Vợ Ngắm, Con Xơi
  • Hai nhóm cây môn sọ( Colocasia esculenta L.) và khoai mùng ( Xanthosoma sagittifolium L.) đều được trồng phổ biến trong vườn gia đình của vùng bán sơn địa.

    Thuộc họ Ráy – Araceae

    Chuẩn bị đất để trồng khoai môn sọ mùng bao gồm, dọn sạch cỏ và cày bừa kỹ. Nhóm khoai này là loại cây có bộ rễ ăn nông vì vậy yêu cầu đất phải tơi xốp, nhiều mùn thì năng suất mới cao. Trồng trong đất vườn thì không cần lên luống mà chỉ cần cày luống rồi trồng luôn vào đường cày. Trồng trên nương thì cày theo đường đồng mức rồi bổ hốc trồng luôn.

    Trong 3 loại vật liệu kể trên, trồng bằng đầu mặt củ được coi là tốt nhất

    4. Thời vụ trồng

    Trước khi trồng phải căn cứ vào chủng loại giống, điều kiện đất đai để lựa chọn mật độ cho phù hợp. Giống có dạng khóm đứng, đẻ nhánh nhiều thì trồng dày hơn những giống dạng xoè, đẻ nhánh ít, đất tốt trồng thưa hơn đất xấu. Hiện nay, mật độ thường áp dụng là từ 35000 đến 40000cây/ ha cho giống lấy củ và 40000- 50000cây/ha cho nhóm trồng lấy dọc.

    6.Cách trồng

    Trồng các củ con hoặc đầu mặt củ đều phải trồng sâu dưới mặt đất khoảng 5-7cm. Trồng nông, củ cái mới sẽ phát triển lên trên bề mặt đất, củ ăn sẽ bị sượng. Đặt củ sao cho mầm chính hướng lên trên. Trồng xong phủ một lớp rơm rạ hay cỏ khô trên mặt luống là rất cần thiết để giữ ẩm cho củ giống mọc mầm nhanh và sau này cho cây sinh trưởng mạnh.

    Làm cỏ, xới xáo, vun: Trồng khoai trong vườn làm cỏ, xới xáo nhẹ và vun gốc là cần thiết trong vòng 3-4 tháng đầu sau trồng. Khi tán lá đã che kín luống thì không cần thiết làm cỏ nữa. Hai tháng cuối, khi cây xuống dọc, nếu có cỏ chỉ nên nhổ bằng tay không nên đào cỏ sâu sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển củ. ở giai đoạn phình củ, vì củ luôn phát triển hướng lên do đó để củ có chất lượng tốt, không sượng, phải đảm bảo củ luôn được vùi dưới mặt đất. Lúc này cuốc đất xa gốc đắp lên luống, phủ thêm vào gốc là tốt nhất.

    Tưới nước: Quản lý nước là khâu rất quan trọng trong trồng và thâm canh khoai mụn sọ mựng, đặc biệt là trồng giống khoai mùng lấy dọc lá, thường nông dân hay trồng khoai mùng dọc tím lấy dọc cạnh nơi thoát nước, ẩm. Trồng khoai chủ động tưới tiêu thì cần lưu ý:

    Triệu chứng ban đầu của bệnh là các vết bệnh trên lá với những đốm nhỏ hình tròn màu tái xanh, sau đó vết bệnh lan rộng theo đường tròn và hình thành vết bệnh điển hình với các vết chết hoại màu nâu và có viền đồng tâm. Khi vết bệnh bị hoại tử hoàn toàn, ở trung tâm vết bệnh thường có màu nâu đậm, đôi khi màu đen, rất giòn và có thể mục nát. Vết bệnh có thể phát triển đan xen vào nhau và làm cho toàn bộ bộ lá bị tàn lụi. Tác nhân gây bệnh là nấm thuộc loài Bệnh sương mai: Phytophthora Colocasiae Racib, loại nấm sương mai ( Phytophthora) họ Pythiaceae, bộ nấm sương mai ( Peronospolales) lớp nấm tảo ( Phycomycetes) Phòng trừ với những biện pháp sau:

    Bệnh khảm lá xuất hiện ngay từ khi cây mới mọc và đạt cao điểm vào 80- 100 ngày sau trồng với mức độ bệnh có thể đạt 10-15% hoặc cao hơn. Hầu hết các triệu chứng khảm trên môn sọ đều do virut Bệnh khảm lá: Dasheen m osaic virus (DMV) gây ra. Virut gây bệnh thuộc nhóm Potyvirus, họ Potyviridae. Phần tử virut có dạng sợi dài, mềm, kích thước 11 x 750 nm. Axit nucleic của nhân là ARN. Bệnh xuất hiện trên đồng ruộng trong suốt thời gian sinh trưởng của cây. Triệu chứng đặc trưng của bệnh là xuất hiện hiện tượng mất màu hoặc màu vàng hình chân chim xen kẽ với các đám lá có màu xanh trên phiến lá và dọc theo gân lá. Ngoài ra bệnh còn làm lá bị biến dạng. Hiện tượng khảm lá được biểu hiện dưới một số dạng triệu chứng khác nhau như khảm gân xanh lá vàng, khảm lông chim và biến dạng lá. Các cây bị nhiễm dạng bệnh khảm lá biến dạng thường có các lá cuốn lại hoặc bị biến dạng một phần hoặc biến dạng toàn bộ phiến lá. Lá bị bệnh không những biểu hiện triệu chứng biến dạng mà còn xuất hiện các vết khảm màu xanh đậm lẫn các đám màu vàng hoặc mất màu. Cây bị khảm biến dạng thường rất còi cọc. Biện pháp phòng trừ:

    Vì là cây trồng trong vườn là chính nên khoai môn sọ mùng chủ yếu được trồng xen dưới bóng các lọai cây ăn quả như chuối, hồng, mận, bưởi, cam… Tuy nhiên để tránh hiện tượng thối rễ và thối củ do nấm Corticium gây ra, nên trồng khoai này luân canh với các loại cây rau ăn lá hoặc cây rau gia vị hoặc các loại cây họ bầu bí, họ đậu.

    TS. Nguyễn Thị Ngọc Huệ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Cải Tạo Độ Phì Cho Đất
  • Một Số Biện Pháp Kỹ Thuật Nâng Cao Hiệu Quả Trong Chăn Nuôi Gia Cầm
  • Cách Trồng Rau Sạch Trên Ban Công Đủ Ăn Quanh Năm Cho Cả Gia Đình
  • Trồng Rau Sạch Tại Nhà Tiện Lợi Bằng Chậu Nhựa Thông Minh
  • Ưu Điểm Của Hệ Thống Trồng Rau Sạch Trong Nhà
  • Kỹ Thuật Trồng, Chăm Sóc Cây Sắn (Khoai Mỳ)

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Hoa Hồng Xanh Cực Đơn Giản Ngay Trên Sân Thượng
  • 5 Năm Trồng Hoa Trên Sân Thượng, Mẹ Hải Phòng Giờ Có Vườn Hoa Hồng Đẹp Như Công Viên
  • Cách Trồng Dưa Lưới Trong Thùng Xốp Cho Quả “ngọt Lịm”
  • Trồng Ngay Dưa Lưới Khủng Tại Nhà Theo Cách Này Để Có Trái Ăn Mỏi Miệng Suốt Hè
  • Cách Trồng Dưa Lưới Trên Sân Thượng “vô Cùng Độc Đáo”
  • 1. Chuẩn bị đất

    Cây sắn có đặc tính nông học là dễ trồng, thích nghi với nhiều loại đất và vùng sinh thái khác nhau; chịu được các điều kiện khô hạn và có thể trồng được ở các vùng khí hậu có lượng mưa thấp; tuy nhiên, cây sắn không chịu được ngập- úng.

    2. Chuẩn bị giống

    Các giống sắn có năng suất cao được trồng phổ biến trong sản xuất hiện nay bao gồm: KM419, KM101, KM94, KM140, KM98-5, NA1, KM98- 7, KM21- 12, 06Sa08, HL- S10, HL- S11. Giống sắn KM94 đang bị nhiểm nặng bệnh chổi rồng (phytoplasma sp.); mặt khác các vùng sản xuất sắn của Đông Nam bộ (Tây Ninh) hiện nay đang bị nhiễm rệp sáp hồng rất nặng do đó không nên sử dụng nguồn giống sắn bị nhiễm bệnh hoặc ở các vùng có rệp sáp gây hại.

    Giống sắn để trồng trên diện rộng hoặc sản xuất đại trà phải lấy từ những ruộng sản xuất tốt hoặc các ruộng nhân giống riêng (nếu có), tuổi của cây sắn trong các ruộng này đạt từ 8 tháng trở lên. Cây sắn dùng làm giống phải khỏe mạnh, không bị nhiễm sâu- bệnh, nhặt mắt, không buông lóng, khi chuẩn bị hom giống nên loại bỏ những cây giống bị khô (không có nhựa mủ) và bị trầy, xước trong quá trình vận chuyển.

    Thời gian bảo quản cây giống không quá 60 ngày (tính từ khi thu hoạch), sau khi thu hoạch vận chuyển và bảo quản ngay tại những nơi khô ráo và có bóng mát. Có nhiều cách để bảo quản khác nhau như: bó từng bó để nằm hoặc dựng đứng cây giống trong bóng râm, hoặc có thể cắm thẳng từng cây xuống đất theo từng cụm từ 500- 1000 cây/cụm. Trong thời gian bảo quản cây giống có thể bị rệp sáp hoặc các loại côn trùng gây hại, vì thế có thể sử dụng các loại thuốc diệt côn trùng phun định kì (tuần/ lần) để phòng trừ.

    Hom sắn để trồng lấy từ đoạn giữa thân cây sắn, chiều dài của hom sắn trồng sản xuất là 15- 20cm, đạt tối thiểu là 6- 8 mắt, không nên chặt hom quá ngắn hoặc quá dài, những hom sắn mầm ngủ thể hiện không rõ phải lọai bỏ. Khi chặt hom dùng các loại dụng cụ sắc- bén để chặt và tránh làm cho hom bị thương tổn về mặt cơ giới như trầy vỏ hoặc dập phần thân gỗ của hom.

    Để tránh cho hom giống bị sâu bệnh phá hoại nên xử lý hom giống trước khi trồng bằng cách nhúng vào các hỗn hợp thuốc diệt nấm và côn trùng thông dụng hoặc rải thuốc trừ côn trùng theo hàng và hốc trước khi đặt hom sắn. (Thiamethoxam, Gauclo 600Fs, Enalclo 40Fs, Ridomin)

    3. Thời vụ trồng

    Vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên& Đồng bằng sông Cửu Long thường có hai thời vụ trồng sắn: vụ đầu mùa mưa, xuống giống từ 30/04 đến 15/06, thu hoạch sau khi trồng 7- 11 tháng; vụ cuối mùa mưa, xuống giống 15/09 đến 15/10, thu hoạch vào cuối tháng 9, tháng 10 của năm sau. Ngoài ra, cũng có thể trồng sắn vào thời điểm các ngày nắng trong năm nếu chủ động được nước tưới và đất trồng. Vụ đầu mùa mưa, nên tranh thủ trồng sớm khi đất đủ ẩm độ, không nên trồng vào các thời điểm có mưa nhiều hoặc khô hạn làm giảm khả năng mọc mầm của hom sắn (do ẩm độ đất cao hoặc thấp, nhiệt độ thấp dẫn đến hom sắn nảy mầm kém, rễ sắn hô hấp kém, các tác nhân nấm- bệnh và côn trùng dễ tấn công và gây hại cho hom sắn).

    Các vùng khác tùy theo mùa vụ của vùng mà xuống giống.

    4. Phương pháp trồng

    Có ba phương pháp trồng hom sắn: Trồng hom nằm ngang trên những diện tích đất tương đối bằng phẳng, ở những diện tích đất có mưa nhiều thoát nước kém có thể kéo luống hoặc lên líp để trồng với các phương pháp hom xiên hoặc hom đứng. Ngoài ra, nếu trồng vào vụ cuối mưa ẩm độ đất thấp thì nên trồng hom đứng hoặc xiên.

    5. Khoảng cách và mật độ trồng

    Tùy theo giống và theo đất để bố trí khoảng cách và mật độ trồng thích hợp, đối với các giống thân thẳng, ít hoặc không phân nhánh (như KM140, KM101, KM419…) là 1,0m x 0,8 – 0,7m hoặc 0,8 x0,8m, tương ứng mật độ là 12.500 cây – 15.625 cây/ ha. Đối với các giống sắn có thân cong, phân cành nhiều (như KM94, KM414, KM98-5…) khoảng cách trồng thích hợp là 1,0m x 1,0m- 0,8m, tương ứng 10.000- 12.500 cây. Đất tốt và trung bình trồng với khoảng cách 1,0x 1,0m, tương đưong với 10.000 cây/ ha, đất xấu trồng với khoảng cách 1 m x 0,9 m hoặc 0,8 m x 0,8 m (tương đương với 12.500 cây và 15.625 cây/ha).

    6. Bón phân, tưới nước Phân bón

    Tùy theo các loại đất mà bón với các công thức khác nhau, có thể kết hợp giữa bón phân vô cơ với phân hữu cơ như: phân chuồng, phân xanh và các loại phân hữu cơ dạng lỏng.

    Để đạt năng suất củ từ 25- 40tấn/ ha thì công thức bón NPK cho sắn là: 80N + 40P 2O 5 + 80K 2O& 160N + 80P 2O 5 + 160K 2 O

    Đối với các vùng có điều kiện thời tiết, đất đai và chế độ nước tưới để đạt năng suất từ 45- 60 tấn củ tươi/ ha, có thể bón với công thức cho 1 ha là:

    Phân hữu cơ: 10- 15 tấn phân chuồng hoặc 3 tấn vi sinh EaKmat kết hợp 2 tấn vôi.

    Phân Khoáng: 250N + 130P 2O 5 + 250- 300K 2 O. Tương đương 550 kg Urea + 815 kg lân supe + (420- 500kg KCl)

    + Bón lót: toàn bộ vôi, phân chuồng hoặc (vi sinh), lân (tương đương 850 kg super lân) được bón trước khi cày lần 2.

    + Bón thúc lần 1 vào giai đoạn từ 25- 30 ngày sau khi trồng: 1/3 phân đạm+ 1/3 phân kali.

    + Bón thúc lần 2 vào giai đoạn sau khi trồng từ 50- 60 ngày: 1/3 phân đạm + 1/3 phân kali.

    + Bón thúc lần 3: toàn bộ lượng đạm và kali còn lại, bón ở thời điểm 80 – 90 ngày sau trồng.

    Thời điểm bón: bón khi đất có đủ ẩm độ, tránh bón phân vào lúc trời nắng hoặc đang mưa lớn.

    Phương pháp và kỹ thuật bón: phân lân và phân hữu cơ bón lót khi cày bừa hoặc bón theo hàng hay hốc trước khi trồng; phân đạm và phân kali bón theo hốc (cuốc hốc cách gốc hoặc hom sắn 15- 20cm rải phân xuống và lấp lại).

    Tưới nước

    Trong điều kiện chủ động được nước tưới có thể tưới bổ sung vào cuối mùa mưa hoặc trong những tháng bị khô hạn hoặc khi trồng vào mùa khô. Thông thường có thể tưới nước cho cây sắn từ 6- 10 lần/ vụ; khoảng cách giữa các lần tưới từ 2- 3 tuần/ lần.

    7. Phòng trừ cỏ dại

    Phun thuốc diệt cỏ tiền nảy mầm Dual với lượng dùng là 2,5Lít/ ha (phun ngay sau khi trồng, đảm bảo lượng nước phun và ẩm độ đất đủ cho thuốc có thể thấm xuống đất từ 2- 3cm), sau đó làm cỏ bằng tay 2 lần vào thời điểm 3 tháng sau trồng và 6 tháng sau trồng.

    Có thể làm cỏ bằng tay 1 lần sau khi trồng từ 25- 30 ngày, sau khi làm cỏ xong phun thuốc diệt cỏ tiền nảy mầm Dual với lượng dùng là 1,5 lít/ ha.

    Đối với các chân ruộng luân canh với lúa nước cần xử lý cỏ dại trước khi trồng (bằng các nhóm thuốc diệt cỏ gốc Glyphosate).

    8. Phòng trừ sâu bệnh

    Một số bệnh hại trên sắn: bệnh cháy lá do vi khuẩn, bệnh đốm lá, bệnh chổi rồng. Biện pháp phòng trừ tốt nhất là sử dụng cây giống sạch bệnh, bón phân cân đối, đầy đủ.

    Một số sâu hại trên sắn: mối, rệp sáp; trong đó mối là loại sâu hại chủ yếu và quan trọng trên sắn. Mối gây hại chủ yếu ở giai đoạn mới trồng và quá trình bảo quản. Để phòng trừ mối gây hại, sử dụng Diazan 10H từ 3 – 5kg /ha rải vào đất khi cày bừa hoặc theo hốc lúc trồng.

    9. Thu hoạch, bảo quản

    Thu hoạch đúng thời điểm (thường tùy theo chu kỳ sinh trưởng của từng giống sắn), khi hàm lượng tinh bột trong củ đạt từ 27- 30%, hoặc khi cây đã rụng gần hết lá ngọn (còn lại khoảng 6- 8 lá) và lá đã chuyển từ màu xanh sang vàng nhạt. Có nhiều phương pháp thu họach khác nhau: thu họach bằng cơ giới, các dụng cụ thủ công và nhổ trực tiếp bằng tay. Thu hoạch đến đâu vận chuyển ngay đến các cơ sở chế biến, tránh để lâu hoặc phơi nắng ngoài đồng làm giảm hàm lượng tinh bột trong củ. Đối với trường hợp bán sắn lát, sắn thu hoach đến đâu thì phải tiến hành xắt lát rồi phơi khô tại ruộng. Sắn lát khô với ẩm độ từ 11- 12% cỏ thể đem bán ngay hoặc bảo quản trong bao- kho chứa, cần xử lý các loại thuốc xông hơi để phòng trừ côn trùng và mọt.

    Nguồn: Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Miền Nam (http://iasvn.org/)

    Comment

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Khoai Mì
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Ớt Chỉ Thiên
  • Hướng Dẫn Gieo Hạt Giống Hoa Dạ Yến Thảo Dễ Lên Nhất
  • Cách “trồng Dưa Hấu Trên Sân Thượng” Vô Cùng Sáng Tạo
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Dưa Hấu Tí Hon Trong Thùng Xốp Cho Trái Ngọt Trĩu Cành
  • Tin tức online tv