【#1】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Chuối Lùn

Cây chuối lùn có thể trồng quanh năm, tuy nhiên thời điểm tốt nhất là vào tháng 2 âm lịch cây sẽ cho thu hoạch vào dịp Tết. Như vậy, chuối sẽ được bán với giá cao hơn, giúp người trồng có thể tăng thêm thu nhập.

  • Tiêu chuẩn cây giống: Để chuối lùn cho ra quả vào đúng dịp Tết thì ở thời điểm trồng, bà con chọn những cây con có từ 6 – 9 lá mầm và có chiều cao khoảng 70 -90 cm.
  • Cây con phải to khỏe, không sâu bệnh và là cây thứ 2, thứ 3 ở cây mẹ đã trổ buồng. Nếu bà con chọn cây giống ở những cây mẹ chưa trổ buồng thì khi đào cây giống lên sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển và năng suất của cây mẹ sau này.
  • Sau khi đã chọn được những cây giống đạt tiêu chuẩn, đào toàn bộ củ và rễ của cây lên. Sau khi đào xong, ta tiến hành cắt hết rễ, mầm và lá cho cây con (chỉ để 1 lá ngọn trên cây) trước khi đem trồng. Điều này giúp cây không bị tiêu hao nước, dinh dưỡng, đồng thời khi cây chỉ có 1 lá thì giúp cây không bị đổ khi gặp gió to.
  • Sau khi cắt xử lý cây giống xong, bà con đưa cây vào chỗ râm mát trong 1 – 2 ngày để cây liền vết thương trước khi đem trồng.
  • Đất trồng: Bà con chọn loại đất thịt nhẹ, đất phù sa hoặc những vùng đất cao, dễ thoát nước như đất đồi để trồng chuối lùn. Vì với những vùng đất thấp, ngập nước, cây dễ bị thối rễ.
  • Đào hố: Tùy từng loại đất mà hố trồng có kích thước khác nhau. Với đất đồi cao, hố vuông có chiều rộng 1.3 – 1.5 m, sâu 50 cm. Với đất đồi thấp, đất thịt nhẹ, hố vuông có chiều rộng 80 cm, sâu 30 cm. Với những vùng đất cao, đào hố rộng hơn những vùng đất khác giúp cây có thể nhận đủ chất dinh dưỡng trong đất để phát triển tốt.
  • Trồng cây: Dùng cuốc, xẻng lấp đất vào hố, lượng đất dày khoảng 30 cm. Sau khi lấp đất xong ta dùng cuốc moi 1 hốc ở giữa rộng khoảng 30 cm để đặt cây chuối con vào. Bà con chú ý đặt cây thẳng đứng để tránh cây bị đổ và mọc nghiêng sau này.Tiếp theo ta lấp đất kín gốc cây, vừa lấp vừa giậm nhẹ để cây im gốc.
  • Bón lót: Sau khi lấp đất xong, ta tiến hành bón lót cho chuối lùn. Với mỗi gốc chuối, bón khoảng 1 xảo phân ủ mục và 200 – 300 gr phân tổng hợp.

    Cách bón: Đào 1 rãnh vòng quanh, cách gốc 20 – 30 cm gốc cây để rắc phân vào. Sau khi bón xong, dùng cuốc lấp đất kín phân. Như vậy, phân sẽ không bị phân hủy khi gặp ánh sáng mặt trời, lượng dinh dưỡng trong phân sẽ được đảm bảo một cách tốt nhất.

    Tiếp theo, dùng rơm rạ phủ kín bề mặt hố nhằm giữ độ ẩm cho đất đồng thời khi rơm mục sẽ tạo một lượng phân hữu cơ trong đất. Cuối cùng ta tưới nước xung quanh gốc cây.

    Để mầm cây: Khi trồng chuối lùn chỉ nên để 1 cây mầm duy nhất. Do vậy bà con phải kiểm tra mầm thường xuyên, nếu thấy xuất hiện mầm mới, nên dùng dao cắt bỏ để tránh phân tán chất dinh dưỡng nuôi cây.

    Cách cắt: Cắt sát gốc sau đó dùng mũi dao nhọn đâm thẳng xuống để diệt mầm đó đi.Không nên đào gốc mầm lên vì như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mẹ.

    Từ khoảng tháng 8, tháng 9 trở đi, ta mới bắt đầu để mầm làm cây giống cho năm sau.

    • Cắt bỏ lá già, khô: Trong quá trình cây sinh trưởng và phát triển sẽ xuất hiện những lá đã già và khô và gãy bám ở thân cây, đây là một trong số những nguyên nhân gây sâu bệnh cho cây. Bà con phải thường xuyên chú ý, nếu thấy có lá khô,lá vàng, bà con dùng dao cắt bỏ.
    • Bẻ bắp, tỉa quả: Sau khi cây trổ hoa và ra được khoảng 13 nải trên 1 buồng, bà con tiến hành bẻ bắp và tỉa quả cho cây. Dưới đáy buồng là hoa đực hay còn gọi là bi chuối. Lúc này, hoa đực đã hết tác dụng, vì vậy ta nên cắt bỏ đi.
    • Ngoài ra đáy buồng thường xuất hiện nải kẹ, quả nhỏ không phát triển, cũng nên cắt bỏ để không làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của buồng. Việc tỉa nải nên tiến hành vào buổi chiều, tránh trời mưa để hạn chế mất nhựa, làm ảnh hưởng đến mẫu mã của buồng chuối sau này.

    Làm cây chống buồng: Sau khi cây ra buồng được khoảng 1 tháng, ta phải làm cây chống buồng để giữ cho cây không bị đổ khi gặp gió.

    Cách làm: Chọn 2 cột tre hoặc gỗ chắc khỏe, dùng dây thép buộc chéo với nhau để làm cây chống buồng. Tiếp theo bà con đưa cây chống dựng vào chỗ tiếp xúc giữa thân và đầu buồng chuối. Sau đó buộc 1 thanh gỗ nằm ngang 2 cột chống để cột cố định hơn.

    Cuối cùng, dùng dây buộc cuống buồng vào thanh gỗ. Như vậy, buồng chuối sẽ được giữ chắc và không bị gãy khi quá nặng.

    【#2】Cách Trồng Lan Đùi Gà “cực Dễ Dàng” Cho Người Mới Chơi

    Trong dòng lan Hoàng thảo, cái tên lan Đùi Gà vừa lạ lại vừa quen với nhiều bạn mới chơi. Loài hoa nà mang một nét đẹp riêng biệt, có hương thơm rất quyến rũ, ra hoa rất sai và đặc biệt là dịp Tết Nguyên đán. Việc có thể tự tay trồng được một chậu lan đùi gà nở hoa rực rỡ cũng không khó như bạn nghĩ. Hôm nay, hãy cùng Fao tìm hiểu về cách trồng lan đùi gà cũng như cách chăm sóc loài hoa tuyệt vời này nhé!

    Lan đùi gà tròn và Lan đùi gà dẹt khác nhau như thế nào?

    Người ta chia lan đùi gà thành hai loại là lan đùi gà dẹt và lan đùi gà tròn. Tuy nhiên đối với nhiều người mới chơi lan thì cũng khiến họ hơi đau đầu để phân biệt 2 loại lan này. Nhưng với những đặc điểm của từng loại chúng tôi đưa ra dưới đây thì việc nhận diện là rất dễ dàng.

    1, Lan đùi gà tròn

    Chiều cao của lan đùi gà cao hơn so với lan đùi gà dẹt. Trung bình chiều cao của nó nằm trong khoảng từ 30 đến 60cm. Đặc biệt loại này có cây cao tới 80cm. Thân hình thuôn, tròn lẳn và mập.

    Trên thân là những sợi tơ màu xanh vàng trông rất thu hút. Lá lan đùi gà tròn có lớp bẹ màu ngà ngà trắng.

    Khi còn là thân non thì sẽ có màu chút tơ xanh còn thân già thì sẽ mang màu vàng thẫm các rãnh của thân già cũng sâu hơn. Tuy già hay non thì thân của chúng đều có hình dạng mập mạp và tròn đều.

    2, Lan đùi gà dẹt

    Đối với lan đùi gà dẹt thì thân của chúng dẹt, mỏng hơn và có nhiều đoạn gấp khúc nhìn rõ nét. Nhìn qua thì thân của lan đùi gà dẹt có khá nhiều nét tương đồng so với lan chuỗi ngọc.

    Thân của loại lan này ngắn hơn lan đùi gà tròn và chỉ cao khoảng 25 đến 40cm thôi. Điểm tương đồng duy nhất của 2 loại lan này là phần lá của chúng đều có bẹ và dài khoảng 10cm. Trên đầu lá là 2 thùy. Lá này nằm ở trên các thân tơ của cây.

    Cách trồng lan đùi gà

    Điểm khác biệt của lan đùi gà với nhiều loại lan khác là chúng thích khô thoáng, có thể chịu được khô hạn và gốc trồng thông thoáng. Bạn không phải do dự lựa chọn thân để thực hiện cách trồng lan đùi gà bởi chúng có rất nhiều loại thân khác nhau.

    Khi đã chọn được giống cây để trồng vào chậu thì lưu ý rằng giá thể phải nằm thấp hơn miệng chậu với khoảng cách nhất là 5 đến 7cm. Cùng lắm là cao bằng miệng chậu như vậy để tránh cây gặp phải tình trạng ngập úng nước.

    Nếu chọn được giá thể vững chắc thì bạn nên trồng gốc cây cao hơn so với miệng chậu, để khi có gió thì rễ cây không bị lung lay. Như vậy có thể thấy, điều cần lưu ý nhất khi trồng lan đùi gà là phải đảm bảo gốc cây luôn được thông thoáng.

    1, Chọn chậu khi trồng lan đùi gà

    Do đây là lại lan này ưa khô thoáng, không thích ngập nước vì vậy chậu trồng lan đùi gà cần có nhiều lỗ thoát nước. Do vậy sự lựa chọn tốt nhất là 1 chiếc chậu làm bằng đất nung, miệng chậu rộng, lòng chậu nông và có nhiều lỗ thoáng ở đáy và hai bên hông chậu.

    Hay bạn có thể sử dụng chậu gỗ trồng lan đùi gà cũng được. Có vẻ như loại chậu này tương đối phù hợp với loại lan đùi gà này đấy! Nếu không có điều kiện thì bạn sử dụng chậu nhựa cũng được. Nhưng dù sử dụng chậu nào thì luôn phải đảm bảo chậu có nhiều lỗ thoát nước để gốc cây được thông thoáng.

    2, Lựa chọn giá thể khi trồng Lan đùi gà

    Giá thể được nhiều người tin dùng để trồng lan đùi gà là than củi, sử dụng than củi làm giá thể thì lan sẽ bám vào chắc chắn vào giá thể, những mảnh gỗ nhãn hay vỏ thông được cắt ngắn khoảng 3 tới 4cm là được.

    Ngoài ra bạn có thể sử dụng dớn vụn của cây dương xỉ. Lưu ý chỉ dùng dớn của cây dương xỉ thôi chứ không được dùng các loại dớn chile đâu nhé! Thực ra lựa chọn giá thể nào cũng được miễn sao giá thể được xử lý kỹ trước khi ghép là được, chỉ là thành quả thu được thì khác nhau.

    Theo kinh nghiệm của nhiều người trong giới trồng lan chia sẻ thì bộ giá thể gồm than củi (đập thành miếng to khoảng ngón chân cái) rồi lót ở đáy chậu. Việc này vừa giúp giá thể không bị trôi vừa giúp lọc cặn bẩn trong nước giúp cho nguồn nước tinh khiết hơn để nuôi dưỡng lan.

    Tiếp đến là lớp gỗ nhãn giúp lưu giữ lượng nước vừa đủ khi tưới. Trên cùng thì trộn vỏ thông và dớn rồi trải đều. Giá thể 3 lớp như vậy là xong vừa đảm bảo được yêu cầu của bạn cũng như đảm bảo cho cây phát triển tốt.

    Chú ý khi sắp xếp giá thể không nên xếp bằng miệng chậu mà xếp cách miệng khoảng 2 đến 3cm là được.

    3, Kỹ thuật trồng Lan đùi gà vào chậu

    a, Ghép Lan vào giá thể

    Sau khi xếp xong giá thể thì bạn bắt đầu ghép lan vào giá thể. Trong cách trồng lan đùi gà thì đây là một trong những bước khá quan trọng, bạn hãy thật cẩn thận nhé! Thực tế, bạn không nên trực tiếp ghép lan vào giá thể luôn mà hãy làm theo bí quyết nhỏ dưới đây mà Fao chia sẻ nhé.

    Bạn cắt 1 miếng dớn hình vuông, độ to vừa miệng chậu là được. 4 góc phía trên miệng của chậu khoan 4 lỗ nhỏ vừa để luồn dây thép. Tiếp theo bạn nhẹ nhàng ghép đứng lan vào miếng dớn vuông bạn vừa cắt là được.

    Cuối cùng đặt cây vào miệng chậu và sử dụng dây thép luồn vào 4 lỗ trên miệng chậu, cố định chặt miếng dớn lại là xong. Cách này vừa giúp gốc lan chắc chắn lại cũng tôn thêm vẻ đẹp của lan đùi gà đấy chứ!

    Nhiều bạn còn thắc mắc không biết làm như nào để có thể ghép dớn. Vậy nên Fao sẽ hướng dẫn các bạn cách đơn giản này. Sử dụng búa hoặc đục cùng với 1 thanh sắt nhỏ đục 4 lỗ nhỏ ở 4 góc.

    Có thể đục nhiều lỗ hơn cũng không ảnh hưởng gì miễn là đừng làm dớn bị vỡ hay nứt là được. Những lỗ này có công dụng là rễ lan theo đó mà bám chắc vào giá thể hơn cũng như tạo điều kiện để rễ cây thông thoáng, hít thở tốt.

    b, Cố định cây khi trồng lan đùi gà

    Bạn có thể sử dụng lõi dây điện hoặc dây thép mỏng loại nhỏ cuốn chặt gốc lan này vào là được. Quan sát nếu thấy miệng chậu và miếng dớn còn khe hở thì đổ thêm dớn vụn hoặc vỏ thông vào cho kín.

    Chỉ được dùng 2 loại đó, không được đổ thêm bất cứ loại nào khác lên gốc cây nữa nhé! Xong xuôi thì bạn 1 lần nữa cố định chặt lại miếng dớn cho chắc chắn là được.

    Vậy là đã thực hiện xong xuôi phần quan trọng nhất, đó là gắn gốc lan vào giá thể. Nếu phần thân trên tản ra các hướng khá nhau, không theo trật tực thì sử dụng dây cột chặt lại quanh móc treo là được, việc này không hề ảnh hưởng tới sự phát triển của cây nên bạn đừng lo lắng nhé.

    Và nhiều bạn băn khoăn không có dớn thì sao có thể làm được cách Fao vừa chỉ. Thực ra dùng dớn hay loại gỗ mỏng nào cũng được. Chỉ cần bạn có khoan lỗ cho rễ lan chui xuống và bám vào giá thể là được.

    Cách trồng lan đùi gà vào gỗ

    Đặc tính nổi bật của lan đùi gà là chúng sống bám vào gỗ, ưa khô thoáng, không chịu được ngập úng và không khiến bạn do dự trong việc chọn thân bởi nó có nhiều thân để bạn lựa chọn.

    Do đó, áp dụng cách trồng lan đùi gà vào gỗ là 1 trong những cách thông minh để lan sinh trưởng, phát triển tốt. Nếu không có gỗ bạn có thể sử dụng dớn trụ hoặc thân gỗ bình thường cũng hoàn toàn được.

    1, Xử lý Lan khi mua về

    Bạn đừng vội vàng tiến hành ghép vào gỗ ngay sau khi mua lan về mà hãy loại bỏ những rễ hỏng, rễ chết lá vàng đi. Mục đích của việc làm này là tạo điều kiện, môi trường tốt nhất cho cây phát triển sau này.

    Sau đó bạn để cây ở những chỗ râm mát 1 lúc cho các vết cắt se miệng lại thì sử dụng keo liền sẹo bôi 1 lớp mỏng lên chỗ vết cắt. Như vậy để giúp ngăn cản vi khuẩn tấn công vào vết thương hở gây bệnh cho cây.

    Tiếp tục lấy dây buộc nhẹ chúng lại và treo vào những nơi thoáng mát, tránh mưa trực tiếp hay ánh nắng để vết thương lành lại cũng như cho chúng thích nghi với không khí vườn nhà.

    Nếu lan bạn mua về không có dấu hiệu dập nát hay nhũn, thối thì không cần thiết phải ngâm với dung dịch Physan 20SL. Chỉ cần dùng thuốc kích mọc rễ để ngâm chúng là được. Nếu cây có dấu hiệu ngược lại thì ngâm với dung dịch Physan 20SL là có cần thiết đó nhé.

    Ngoài atonix hay vitamin B1 pha loãng thì dung dịch kích rễ cũng được nhiều người trồng lan khuyên dùng với nó mang lại hiệu quả cao.

    2, Tiến hành ghép Lan vào gỗ

    Bạn cần tiến hành xử lí giá thể gỗ để cho lan bám vào trước khi bạn mua lan về.

    Bởi đặc tính của lan đùi gà là ưa khô thoáng nên bạn không cần phải thêm xơ dừa hay rêu vào. Làm vậy chỉ khiến lan khó chịu mà thôi. Nếu bạn quá lười, không thường tưới nước cho cây thì xếp 1 lớp rêu thật mỏng lên trên mặt đất. Lưu ý là phải thật mỏng nhé!

    Dòng lan đùi gà khác với loại thân thòng là chúng không rủ xuống dưới mà sẽ mọc theo hướng lên trên. Vì vậy, khi tiến hành ghép gỗ bạn cố gắng làm chúng hướng lên trên tránh để lòng thòng như loài phi điệp hay 1 số loại lan khác nhé! Vừa cản trở quá trình phát triển của cây mà còn mất tính thẩm mỹ.

    3, Thực hiện cố định Lan vào gỗ

    Trong khi sử dụng dây để buộc cố định lan thì bạn nên sử dụng loại dây nhựa hoặc lõi dây điện cỡ nhỏ luồn từ từ qua gốc cây và nhẹ nhàng xoắn lại. Lưu ý cần quan sát để tránh các mắt ngủ ra nhé!

    Trong trường hợp gỗ bạn sử dụng để gắn lan không có dạng hình tròn thì thay vì dùng dây đồng hoặc dây nhựa thì nên dùng dây cao su vì nó có độ đàn hồi rất tốt. Ngoài ra bạn có thể thực hiện khoan lỗ rồi luồn dây qua đó, buộc chặt gốc lan lại là được.

    Bạn áp dụng cách nào cũng được miễn sao bạn thấy dễ dàng và không ảnh hưởng tới sự phát triển của cây là được. Lưu ý nhỏ là khi sử dụng dây kim loại thì không được để chúng chạm vào gốc cây nhé!

    Cũng phải khoan lỗ ở những chỗ gỗ bị lõm để không bị ứ đọng nước gây thối rễ cây rồi mới tiếp tục cố định.

    4, Những lưu ý khi ghép Lan vào gỗ

    Áp dụng những lưu ý nhỏ sau đây thì thành công trong việc thực hiện cách trồng lan đùi gà là rất dễ dàng.

    Cách này áp dụng cho nhiều loại lan khác nhau chứ không chỉ có lan đùi gà.

    Khi đã tiến hành ghép xong bạn cũng không phải tưới nước ngay vì chúng chưa cần vội. Bạn chọn những nơi thoáng mát, tránh nắng gắt trực tiếp hay mưa to trong vòng 2 tuần đầu để treo chúng. Chú ý nên treo cao để cây nhận được nhiều gió.

    Sau 2 ngày thì mới bắt đầu tưới đẫm rồi duy trì tưới với tần suất 1 ngày 1 lần tới khi cây bắt đầu ra rễ, bám tốt vào giá thể và khi cây có thể tự tìm được nguồn nước thì giảm xuống cách 1 ngày tưới 1 lần là được.

    Với trường hợp cả ngày mưa liên tục thì bạn treo chúng ở chỗ có mái che, bởi chúng uống nhiều nước quá sẽ bị thối gốc và dẫn tới chết cây.

    Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu xong về cách trồng lan đùi gà cũng như cách chăm sóc loài hoa tuyệt đẹp này rồi. Qua bài viết này, Fao hy vọng bạn có thể tự tay trồng cho mình một chậu lan đùi gà nở hoa rực rỡ nhé ngay trong sân vườn nhà mình nhé. Chúc các bạn thành công!

    【#3】Cung Cấp Lan Đai Châu Hồng Cánh Sen Cây Lớn

    Tên cây: Lan Đai Châu hay còn gọi là Ngọc điểm.

    Tên khoa học: Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley.

    Ở nhiều vùng miền, hoa lan Đai Châu còn có nhiều tên gọi khác: miền Trung gọi là Nghinh Xuân (vì nở vào mùa xuân); miền Nam gọi là Ngọc Điểm; còn miền Bắc gọi là lan Đai châu (Chuỗi những hạt châu).

    Lan Đai châu, là một trong những loài lan bản địa, quý của Việt Nam. Nở hoa vào dịp Tết Nguyên Đán, có hương thơm và độ bền lâu, nên cây có giá trị kinh tế cao.

    Đặc điểm hình thái lan Đai châu hồng cánh sen

    Lan Đai châu sống phụ, thân mập, có thể cao đến 1m. Mang lá đều đặn thành 2 hàng trên thân, nhiều rễ chống lớn.

    Rễ:

    Lan Đai châu phát triển các dạng thân rễ nạc, to, dài và khỏe. Hệ rễ khí sinh vừa làm nhiệm vụ lấy nước, muối khoáng trên bề mặt vỏ cây gỗ, vừa bám chặt vào bề mặt giá thể để giữ cây khỏi bị đổ, hoặc gió cuốn đi. Ngoài ra rễ còn chống đỡ cho cây mọc cao, vươn ra chỗ có nắng.

    Thân:

    Lan Đai châu thuộc loại lan đơn thân, thân kém phát triển, thân ngắn và được bao bọc kín bởi các bẹ lá.

    Lá:

    Lá lan Đai châu mọc thành 2 hàng trên thân, lá thuôn dài, hình lòng máng, bẹ lá bao bọc thân cây, chóp lá chia 2 thùy lệch, có gai nhọn. Lá màu xanh, gân lá song song. Lá dày, phẳng, hình dải rộng, dài khoảng 15 – 45cm, rộng khoảng 3- 8cm, màu xanh đậm nổi các vạch trắng dọc lá, đỉnh chia 2 thùy tròn, gốc có bẹ.

    Hoa:

    Hoa lan Đai châu dạng cụm hoa bông lớn, cong xuống, dài khoảng 25 – 35cm. Cây thường ra hoa vào mùa xuân. Hiện nay có các giống lai mới du nhập về Việt Nam với hoa màu tím đỏ; màu trắng; màu đốm đỏ; màu cam, lan đai châu hồng cánh sen.

    Hoa lan Đai Châu thuộc loại hoa mẫu 3, kiểu hoa đặc trưng của lớp một lá mầm. Hoa lưỡng tính. Ba cánh đài thường có dạng cánh hoa, giống nhau và giống với 2 cánh tràng. Cánh tràng giữa biến đổi màu sắc và hình dạng. Có chức năng đặc biệt trong sự hấp dẫn và thụ phấn nhờ côn trùng gọi là cánh môi. Cánh môi xếp đối diện với cánh đài lưng và ở vị trí trong cùng. Cánh môi chia 3 thùy. Gốc cánh môi mang tuyến mật, gắn vào chân của cột nhị, nhụy. Cột nhị, nhụy nằm chính giữa hoa mang hạt phấn ở phía trên và đầu nhụy ở phía dưới, mặt trước.

    Đặc điểm sinh thái và điều kiện ngoại cảnh của lan Đai châu hồng cánh sen

    Loài lan này phân bố rộng rãi từ Bắc vào Nam của Việt Nam. Trên thế giới, cây phân bố ở Myanmar, Thailand, Laos, Cambodia, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc.

    – Nhiệt độ:

    Lan Đai Châu là lan nhiệt đới, nơi khởi nguồn của cây là ở những khu rừng nhiệt đới, nhiệt độ cao sẽ kích thích cây phát triển. Nhiệt độ thích hợp cho cây từ 26 – 32 độ C. Nhiệt độ dưới 15 độ C cây ngừng sinh trưởng, sức sống suy giảm. Trong điều kiện miền Bắc Việt Nam, vào mùa đông (tháng 11 đến tháng 3 năm sau) cần phải chống rét cho vườn lan.

    – Ánh sáng:

    Lan Đai Châu thuộc nhóm ưa sáng trung bình, ánh sáng tán xạ thích hợp cho cây sinh trưởng, phát triển. Ánh sáng trực tiếp dễ làm cây lan Đai châu bị cháy lá. Cường độ sáng phù hợp cho cây sinh trưởng, phát triển từ 15.000 – 20.000 lux (khoảng 60% ánh sáng tự nhiên). Nếu trồng trong điều kiện thiếu ánh sáng, cây sẽ sinh trưởng chậm và yếu, lá có màu xanh sẫm. Bộ rễ kém phát triển, cây khó ra hoa. Tuy nhiên, sự ra hoa của lan Đai châu không phải do ánh sáng nhiều hay ít, nắng hay rợp, mà do thời gian chiếu của ánh sáng trong ngày. Vì thế cây lan Đai châu chỉ ra hoa vào dịp tết âm lịch. Tức vào thời điểm trong năm có ngày ngắn đêm dài.

    – Ẩm độ:

    Lan Đai châu nói chung và lan đai châu hồng cánh sen nói riêng chịu hạn khá tốt, nhưng cây thích ẩm. Nhờ có ẩm độ thích hợp, cây có thể hấp thu nước, muối khoáng qua rễ và lá cây một cách dễ dàng. Độ ẩm càng cao, rễ càng mọc nhanh và phát triển rất tốt. Độ ẩm thích hợp cho cây là từ 40 – 70%.

    – Tốc độ gió:

    Khu trồng phong lan Đai châu cần phải được thoáng gió, nếu vườn trồng không thông thoáng, ẩm độ cao và nhiệt độ cao sẽ làm hư hại cây và bệnh hại phát triển mạnh. Thường tốc độ gió trong vườn không quá mạnh, tránh gây ra va đập, dập nát cây, làm giá thể nhanh khô. Gió thoảng nhẹ, đủ làm cho vườn lan thông thoáng.

    II, Kỹ thuật trồng, chăm sóc lan Đai châu

    Giá thể trồng lan Đai châu hồng cánh sen

    Giá thể trồng lan Đai châu rất đơn giản, chỉ cần cột chặt cây giống vào một cây tựa trồng trong chậu với vài cục than to là đủ. Hoặc có thể ghép vào thân gỗ còn sống hoặc đã chết đều được.

    Giá thể khô thoáng, nhanh ướt, nhanh khô là điều kiện thuận lợi cho cây sinh trưởng, phát triển.

    Nhu cầu phân bón

    Lan Đai châu nói chung và lan đai châu hồng cánh sen nói riêng là một trong những loài có nhu cầu về phân bón cao. Chúng dễ dàng sử dụng bất cứ một dạng phân bón nào. Hữu hiệu nhất là phân hóa học có công thức 30-10-10. Tưới 2 ngày/lần với nồng độ 1 muỗng cà phê/4 lít nước. Sở dĩ sử dụng phân với chu kỳ như vậy, vì lan Đai châu không có giả hành nên không dự trữ được dinh dưỡng, ngoài ra giá thể trồng thông thoáng. Do đó sự lưu lại của dưỡng liệu trong giá thể là không đáng kể trong thời gian ngắn. Tốt nhất là dùng phân bóng dạng phun sương, vì loài này là loài phụ sinh nên có rất nhiều rễ trên không.

    Lan Đai châu có mùa nghỉ 3 tháng, từ đầu tháng 2 đến cuối tháng 4. Trong suốt 3 tháng nghỉ, ta chỉ tưới nước 1 lần/ngày và hoàn toàn không cung cấp dưỡng liệu cho cây. Vào đầu tháng 12 khi cây chớm nụ hoa, ta thay phân 30-10-10 bằng phân 10-20-20 và một tuần lễ trước khi hoa nở cho đến khi tàn, ta lại thay phân lần nữa từ phân 10-20-20 bằng phân 10-20-30, để tạo cho cây có sức chống đỡ trong mùa nghỉ.

    Thay chậu lan Đai châu hồng cánh sen

    Việc thay chậu cho Đai châu nên tiến hành vào đầu mùa mưa, vì lan Đai châu có mùa nghỉ. Nếu thay chậu trái mùa, cây vẫn sống nhưng bị ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây.

    Sâu bệnh

    Lan Đai châu là loài lan bản xứ, vì thế khả năng chống chịu của nó rất cao. Nó có khẳ năng chống chịu hầu hết các loài sâu bệnh.

    Tưới nước cho lan Đai châu

    Ẩm độ không khí và chế độ tưới nước cho lan Đai Châu hồng cánh sen, là yêu cầu quan trọng. Cây sẽ sinh trưởng mạnh trong điều kiện đủ nước. Đặc biệt thích hợp với những trận mưa rào bất chợt ở các khu rừng nhiệt đới. Do đó, khi tưới nước cho cây không chỉ làm ướt cây phong lan. Mà cần chú ý làm cho cả khu vườn có độ ẩm cao. Cần tưới 2 lần/ngày vào mùa mưa từ đầu tháng 5 tới đầu tháng 11; 3 lần/ngày vào mùa khô từ tháng 11 đến cuối tháng 1; từ tháng 2 tới tháng 4 ta chỉ tưới 1 lần/ngày cho cây đủ sống là được. Do đây là mùa nghỉ của cây. Mùa nghỉ thực tế của lan Đai châu nên bắt đầu sau khi hoa tàn cho đến khi rễ mới xuất hiện, lúc mùa mưa bắt đầu.

    Tuy nhiên, nếu độ ẩm liên tục cao và duy trì lâu dài thì lại gây hại cho cây. Bởi lan Đai Châu hồng cánh sen có khả năng dự trữ nước và dinh dưỡng tốt ở trong lá, trong thân và trong rễ. Cây có khả năng chịu hạn tốt hơn chịu úng. Rễ lan Đai Châu yêu cầu lúc khô, lúc ướt, thoáng khí để quang hợp và trao đổi khí.

    III. Ý nghĩa của lan Đai châu hồng cánh sen

    Đây là loại Lan có mùi thơm thoang thoảng. Vì thế rất có ý nghĩa, nếu trong giờ giao thừa bên bàn thờ có vài chậu Lan Ngọc điểm tỏa hương tưởng nhớ người quá cố.

    Cách sử dụng rất phong phú. Có thể đặt trên chậu; trưng bày trong phòng khách; treo trên ban công; cửa sổ; ghép trên thân cây đã chết; cây đang sinh trưởng; hoặc ghép lan trên non bộ tạo thành cảnh vật rất đẹp và mang dáng dấp tự nhiên.

    【#4】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Lan Đai Châu

    Trước đây, cây Rhynchostylis gigantea đã được nói đến trong bài Ngọc Điểm của tác giả Bùi xuân Đáng, đăng vào tháng 8 năm 2007. Nhưng gần đây có rất nhiều câu hỏi về nguồn gốc và cách nuôi trồng cây lan này. Chúng tôi xin lượm lặt các tư liệu khác để cống hiến các bạn.

    Kỹ thuật trồng và chăm sóc lan Đai châu

    Cây lan này mọc suốt từ Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Lào, Căm Bốt, Việt Nam, Trung Hoa, Borneo và Nam Dương. Tại Việt Nam cây lan Rhynchostylis gigantea mọc từ Bắc chí Nam. Những năm về trước, tại Biên hòa, Xuân Lộc cây Ngọc điểm vốn là giống lan thân thuộc.

    Trước năm 1975 ngay tại Sài Gòn vào dịp đầu năm, khách du xuân từ khúc vườn hoa Tao đàn qua đường Duy Tân, công viên Gia Long tới đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và Thảo Cầm Viên đều thấy mùi hoa Ngọc điểm ngào ngạt mùi trầm, mùi quế. Ngày nay thành phố mở mang, nhà cửa, xe cộ quá nhiều, khí thải lên cao, những cây lan quý đã biến dần may mắn lắm mới thấy một cây trên ngọn cây sao, cây dầu cao tít bên cạnh những ngôi nhà cao từng sừng sững. Cây Ngọc điểm đã bị người ta săn lùng khắp nơi hoặc nhập cảng từ các nước láng giềng cho nên bây giờ chỗ nào cũng có, như một vườn lan ở Bình Dương có tới hàng trăm cây đủ mầu sắc.

    Rhynchostylis gigantea thường được gọi là Ngọc điểm đai châu (chuỗi hạt châu) mà người bình dân gọi trại là tai trâu hay đuôi chồn hay gọi là lan me (vì thường mọc trên cây me tại Saigon). Hơn nữa lại nở vào mùa Xuân cho nên có thêm tên gọi là Nghinh Xuân. Cây lan này thường có 5-8 lá dài từ 20-30 cm, rộng 4-7 cm, mầu xanh vàng có những sọc trắng và những chấm tím. Cây lớn và khỏe manh có thể ra tới 3 – 4 chùm hoa cong và dài từ 15 đến 30 cm, hoa to chừng 3 cm, mầu hồng nhạt có những chấm tím, hương thơm ngát và 2-3 tuần mới tàn. Thỉnh thoảng có những giống trắng tuyền hay đỏ thẫm.

    Theo Kamemoto và Sagarik (1975) tại Bangkok, Thái Lan có cây Ngọc điểm với nhiều nhánh đã ra tới 30 chùm hoa. Ngoài ra cây lan ra hoa có nhiều mầu đỏ đã lai giống với một cây mầu đỏ khác đã tạo ra một giống đỏ tuyền. Những cây lan hoa mầu đỏ này, nếu mùa thu quá nóng, sẽ thành trở thành sắc đỏ có pha lẫn trắng.

    CÁCH TRỒNG Kỹ thuật trồng và chăm sóc lan Đai châu

    * Ánh sáng từ 3000 – 4000 ánh nến, hay ánh nắng không trực tiếp chiếu vào, nếu để ra ngoài nắng có thể bị cháy lá.

    * Cây cần phải để ở chỗ rộng rãi, thật thoáng gió.

    * Nhiệt độ vào mùa hè ban ngày: 85 – 90°F hay 29 -32°C và phải có sự cách biệt tối thiểu giữa ngày và đêm là 15°F hay 10°C, nếu không sẽ không ra hoa.

    * Mùa hè tưới nước 2-3 lần một ngày nếu trồng trên miếng gỗ. Nếu trồng trong chậu với vỏ cây hay than có thể tưới 2-3 lần một tuần nhưng phải để cho khô rễ giữa 2 lần tưới và không được để rễ cây bị úng nước trong chậu.

    * Chỉ bón phân khi thấy bắt đầu mọc lá hay đầu rễ có mầu xanh. Bón hàng tuần với ½ hay ¼ thìa cà phê gạt cho 4 lít nước. Phân bón có thể là 30-10-10 cho mùa xuân và mùa hè, đổi sang 10-20-30 vào cuối hè và thu, hoặc có thể dùng 20-20-20 quanh năm.

    * Thời kỳ nghỉ ngơi thường vào mùa đông và rất quan trọng. Nếu không tôn trọng lan sẽ không ra hoa hoặc sẽ chết.

    * Nhiệt độ mùa đông ban ngày cần từ 68-73°F hay 20-23°C.

    * Nhiệt độ ban đêm không được dưới 60°F hay 16°C.

    * Ẩm độ từ 50-60%, nếu quá thấp cần phun nước vào buổi sáng.

    * Ngưng tưới nước hoặc tưới rất ít suốt mùa đông và cần phải để khô lá và rễ trước khi trời tối.

    * Ngưng bón phân vào thời gian này.

    Luôn nhớ lan Ngọc Điểm thường mọc trên cây cao rất thoáng gió cho nên không ưa không khí tù hãm vì thế rễ cây không được ẩm ướt suốt ngày. Lan cũng không ưa bị quấy nhiễu (Disturb) hay thay chậu, cho nên cách trồng tốt nhất là cột vào miếng gỗ, miếng ngói hay vỏ cây hay trồng trong rỏ (basket) để phơi rễ ra ngoài. Nhưng trồng cách này cần phải có ẩm độ thật cao và mùa hè phải tưới tối thiểu mỗi ngày một lần, nhất là vào những ngày nóng nực hay khô ráo. Nếu trồng trong rỏ có thể bỏ thêm các miếng vỏ cây hoặc than cỡ lớn từ 4-5 cm trở lên. Một cách trồng khác là trồng trong chậu đất có nhiều lỗ. Muốn trồng cách này, hãy ngâm cây vào trong nước chừng 1 giờ, khi rễ đã mềm, bỏ vào trong chậu và xoay theo chiều kim đồng hồ hay ngược trở lại, rể sẽ bám vào chung quanh chậu.

    Thông thường Ngọc điểm nở hoa vào cuối mùa đông hay đầu mùa xuân và vào dịp Tết Nguyên Đán. Khi thấy lan ra nụ, hãy phun nước hoặc tăng thêm độ ẩm hoặc tưới sơ qua. Muốn lan nở sớm hơn hãy tăng thêm nhiệt độ hay là mang vào trong nhà để dưới ánh đèn, nhưng cần thoáng gió và độ ẩm. Nếu muốn lan chậm nở hãy mang vào chỗ rợp mát, vào phòng lạnh hoặc để nước đá ở gần, nhưng đừng cho vào gốc hay để rễ chạm vào.

    Tăng giảm nhiệt độ khá khó khăn với những người chơi lan tài tử, nhưng đối với nhà vườn có đủ hệ thống điều hòa nhiệt độ thì việc này chẳng có gì khó.

    【#5】Chiêm Ngưỡng 25 Loại Lan Hoàng Thảo Rừng Ở Việt Nam

    Như chúng ta nếu ai có tìm hiểu cũng biết được rằng, Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung là thiên đường của Dendrobium hay còn có tên gọi Hoàng Thảo. Nó được biết đến như loài hoa có sức sống rất mạnh mẽ, mãnh liệt trên những thân cây. Phân bố trên một diện tích rộng lớn từ địa đầu móng cái xuống tới những khu rừng ngập mặn vẫn còn tìm thấy hoàng thảo.

    BẠCH CÂU (DENDROBIUM CRUMENATUM)

    HOÀNG THẢO KONTUM – DENDROBIUM KONTUMENSE GAGNEP

    HẠC VỸ HỒNG, PHI ĐIỆP HỒNG – DENDROBIUM PIERARDII

    HOÀNG THẢO HẠC VỸ – TÊN KHÁC: HUỲNH THIÊN ĐẠI HỘI, NGỌC LAN. – TÊN KHOA HỌC: DENDROBIUM APHYLLUM (ROXB.) FISHER – TÊN ĐỒNG NGHĨA: DENDROBIUM PIERARDII ROXB. EX HOOK. – THÂN RẤT DÀI, THÒNG, HOA CÁNH MỎNG, MÀU HƯỜNG NHẠT, MÔI CÓ BỚT VÀNG NHẠT ĐIỂM NHỤY, MÔI CÓ LÔNG NHUNG. HOA NỞ VÀO KHOẢNG THÁNG 3-5. (CÓ NGƯỜI CHO RẰNG: CÂY ĐẠI Ý THẢO LÀ DENDROBIUM APHYLLUM (ROXB.) FISHER VÀ CÂY HẠC VĨ LÀ DENDROBIUM PIERARDII ROXB. EX HOOK.) LOẠI THÂN NHỎ, DÀI CỨNG XUẤT XỨ NHIỀU NƠI TỪ BẮC VÀO NAM; CÓ NHIỀU HÌNH THÁI HOA, MÀU SẮC HOA NHƯNG CƠ BẢN LÀ CÁI LƯỠI (LIP) ĐẦY LÔNG MỊN HÌNH LOE PHỄU, TRONG HỌNG CÓ NHỮNG VẰN NGANG MÀU TÍM. CÁNH HOA TRẮNG, CÓ LOẠI TÍM HỒNG. TÙY THUỘC VÀO DẠNG THÂN CÂY MÀ CÓ CÁC HÌNH THÁI HOA KHÁC NHAU: – LOẠI THÂN NHỎ, DÀI, CỨNG; LÁ NHỎ, MỎNG THÌ HOA MÀU NHẠT VÀ KÍCH THƯỚC HOA NHỎ HƠN (THƯỜNG XUẤT HIỆN Ở KHU VỰC PHÍA NAM) – LOẠI THÂN CĂNG MẬP, MỀM MỌNG NƯỚC; LÁ DẦY CĂNG THÌ HOA MÀU ĐẬM, HOA TO ĐẸP HƠN (XUẤT XỨ TỪ NHỮNG VÙNG CÓ KHÍ HẬU LẠNH NHƯ SƠN LA, SAPA…) – NGOÀI RA CÒN CỐ MỘT SỐ LOẠI TRUNG GIAN CÓ MÀU SẮC HOA KHÁC LẠ NHƯ MÀU LÔNG GÀ CON, ÁNH XANH HOẶC TRẮNG HOÀN TOÀN. – CÁCH TRỒNG: GHÉP GỖ, GHÉP BẢNG DỚN. CHĂM SÓC- XEM PHẦN KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC DENDROBIUM.

    HOÀNG THẢO HOÀNG LẠP, HOÀNG LAN, NẾN VÀNG, THỦY TIÊN HOÀNG LẠP DENDROBIUM CHRYSOTOXUM TÊN VIỆT: HOÀNG THẢO HOÀNG LẠP, HOÀNG LAN, NẾN VÀNG, THỦY TIÊN HOÀNG LẠP ĐỒNG DANH: CALLISTA CHRYSOTOXA MÔ TẢ: PHONG LAN, THÂN CÂY HÌNH THOI, CAO 20-30 CM LÁ 4-8 CHIẾC DÀI 12×5 CM HOA TỪ 8-20 CHIẾC NGANG 5 CM, RẤT THƠM VÀ MAU TÀN. NỞ VÀO MÙA ĐÔNG VÀ XUÂN. NƠI MỌC: VINH, BAN MÊ THUỘT, KONTUM, ĐÀ LẠT, LÂM ĐỒNG, SÔNG BÉ, LỘC NINH. ĐIỀU KIỆN NUÔI TRỒNG: TRỒNG NƠI CÓ NẮNG SÁNG HAY CHIỀU W = WARM NÓNG TỪ 60-90°F HAY 15.6-32.2°C I = INTERMEDIATE VỪA TỪ 50-80°F HAY 10-26.7°C ẨM ĐỘ: 50-70% CŨNG CÓ KIỂU HOA GIỐNG VỚI KIM ĐIỆP, NHƯNG THÂN MẬP, CỨNG HƠN NHIỀU, CÓ 3-7 LÁ DAI CỨNG Ở ĐỈNH, PHÁT HOA THƯỜNG Ở ĐỈNH VÀ CÁC MẮT GẦN NGỌN. MANG NHIỀU ĐẶC TRUNG CỦA DÒNG THỦY TIÊN NÊN CÁCH TRỒNG CŨNG TƯƠNG TỰ: ƯA NẮNG, ƯA ẨM NÊN CẦN TƯỚI NHIỀU VÀ THƯỜNG XUYÊN TRONG NĂM, CÂY KHÔNG CÓ MÙA NGHỈ.

    HOÀNG PHI HẠC (DENDROBIUM SIGNATUM) CÓ NHIỀU DẠNG KHÁC NHAU, CÓ KHI CÁNH TRẮNG HOÀN TOÀN VỚI CÁNH MÔI CÓ HỌNG VÀNG HOẶC CÓ 2 VỆT NÂU, CÓ KHI ĐẦU CÁNH PHỚT HỒNG NÊN CÓ NGƯỜI GỌI LÀ HỒNG PHI HẠC. HOA CÓ MÙI THƠM NHẸ.

    HOÀNG THẢO LONG TU ĐÁ – DENDROBIUM CREPIDATUM THÂN NGẮN, CÓ MÀU XANH VỚI CÁC SỌC TRẮNG DO BẸ LÁ KHÔ TẠO THÀNH CHẠY NỐI TỪ MẮT NỌ ĐẾN MẮT KIA CỦA THÂN, LÁ MỎNG, RỄ RẤT NHỎ THƯỜNG TẠO THÀNH BÚI.

    MÓNG RÙA – DENDROBIUM KEITHII

    HOÀNG THẢO XANH LƯỠI – DENDROBIUM STUARTII

    LONG TU LÀO, VÔI CÁNH TÍM, DENDROBIUM PRIMULINUM

    PHI ĐIỆP TRẮNG – GIẢ HẠC TRẮNG – DENDROBIUM ANOSMUM VAR. ALBA

    PHI ĐIỆP TÍM – GIẢ HẠC – DENDROBIUM ANOSMUM – DEN SUPERBUM XUẤT XỨ TỪ NHIỀU NƠI KHẮP BẮC – TRUNG – NAM, MỖI NƠI CÓ MỘT ĐẶC ĐIỂM THÂN LÁ HOA RIÊNG NHƯNG ĐỀU CÓ CHUNG 1 KẾT CẤU: THÂN CỨNG, LÁ MỌC SO LE, DÀY, CÓ LOẠI THÂN CÓ THỂ DÀI ĐẾN 2M, NHƯNG CÓ LOẠI THÂN DÀI TỐI ĐA 0,5 M. HOA BIẾN THIÊN TỪ MÀU TRẮNG ĐẾN TÍM ĐẬM, LƯỠI MỞ HÌNH TIM, PHỦ LÔNG MỊN NHƯ NHUNG, CÓ ÁNH KIM, TRÊN LƯỠI THƯỜNG CÓ 2 MẮT TÍM ĐẬM, HƯƠNG THƠM ĐẬM MÙI TRẦM TRỒNG PHI ĐIỆP GIỐNG HẠC VỸ, NÊN ĐỂ NẮNG 100% SẼ CHO NHIỀU HOA. MÙA HÈ TƯỚI NHIỀU, BÓN PHÂN ĐỀU ĐẶN TUẦN 2 LẦN, KHI ĐẦU THÂN TRÒN LẠI, LÁ RỤNG THÌ BỚT TƯỚI, MÙA ĐÔNG ĐỂ KHÔ KHÔNG TƯỚI, CHỈ KHI NÀO THẤY THÂN TEO TÓP THÌ TƯỚI ĐẪM 1 LẦN, TRÁNH TƯỚI LÊN THÂN VÀ TRÁNH TƯỚI VÀO NHỮNG NGÀY LẠNH QUÁ.

    KIM ĐIỆP – DENDROBIUM CAPILIPES VAR. ELEGANCE

    KIM ĐIỆP QUĂN HAY LONG NHÃN, MÃ TIÊN THẠCH HỘC – DENDROBIUM FIMBRIATUM CÂY PHÂN BỐ TỪ NAM Á ĐẾN ĐÔNG NAM Á. TẠI VIỆT NAM, CÂY CÓ MẶT Ở CÁC KHU VỰC: SA PA, BA BỂ, VINH, CÀ MAU, LÂM ĐỒNG

    HOÀNG THẢO KIM THOA HOA VÀNG – PHI ĐIỆP VÀNG – DENDROBIUM AURANTIACUM

    KIM ĐIỆP THƠM – DENDROBIUM TRIGONOPUS

    HƯƠNG DUYÊN VÀNG – DENDROBIUM UNIFLORUM

    HOÀNG THẢO HƯƠNG DUYÊN DENDROBIUM ELLIPSOPHYLLUM TANG ET WANG (DENDROBIUM REVOLUTUM AUCT. NON LINDL.) MÔ TẢ: LAN SỐNG PHỤ SINH, MỌC BỤI, THÂN MỀM, DÀI 40 – 50CM, CÓ RÃNH DỌC SÂU. LÁ XẾP DÀY ĐẶC Ở ĐỈNH, DẠNG TRÁI XOAN DÀI, ĐẦU TÙ, GỐC CÓ BẸ. HOA ĐƠN ĐỘC Ở MỖI ĐỐT, MÀU VÀNG XANH HAY TRẮNG, CÁNH MÔI LỚN, TRẢI RỘNG, CÓ 3 THÙY PHẲNG, VỚI 3 VẠCH MÀU NÂU ĐỎ ĐẬM. HOA THƠM. PHÂN BỐ: CÂY MỌC CHỦ YẾU Ở TÂY NGUYÊN (DAKLAK, LÂM ĐỒNG, KONTUM, GIA LAI…) VÀ PHÂN BỐ Ở LÀO, CAMPUCHIA, MIANMA, THÁI LAN, TRUNG QUỐC.

    BẠCH HOẢ HOÀNG (DENDROBIUM BELLATULUM)

    BÁO HỶ (DENDROBIUM SECUNDUM)

    CHUỖI NGỌC ĐIỆN BIÊN (DEN FINDLAYANUM)

    DENDROBIUM ABERRANS – LOÀI NÀY ĐƯỢC SCHLTR. MIÊU TẢ KHOA HỌC ĐẦU TIÊN NĂM 1912.

    DENDROBIUM AFFINE -LOÀI NÀY ĐƯỢC (DECNE.) STEUD. MIÊU TẢ KHOA HỌC ĐẦU TIÊN NĂM 1840.

    HOÀNG THẢO KÈN TÊN KHOA HỌC LÀ DENDROBIUM LITUIFLORUM. HOÀNG THẢO KÈN LÀ MỘT TRONG NHỮNG LOẠI LAN TUYỆT ĐẸP VÀ QUÝ HIẾM. NGOÀI TỰ NHIÊN BÂY GIỜ RẤT KHÓ CÒN TÌM THẤY DO BỊ SĂN LÙNG QUÁ NHIỀU VÌ VẺ ĐẸP CỦA CHÚNG. HOÀNG THẢO KÈN TÊN KHOA HỌC LÀ DENDROBIUM LITUIFLORUM. PHONG LAN BIỂU SINH TRONG RỪNG LÁ RỘNG TRÊN THÂN CÂY Ở ĐỘ CAO KHOẢNG 300-1600M, PHÁT TRIỂN TRONG NHIỆT ĐỘ MÁT ĐẾN ẤM NÓNG, LOÀI KÈN CÒN CÓ KHẢ NĂNG CHỊU LẠNH XUỐNG ĐẾN 1,2 º C. CHÚNG CẦN ÁNH SÁNG TRUNG BÌNH, KO ƯA NẮNG TRỰC TIẾP. THÂN CÂY DÀI 50-80 CM MỀM MẠI RỦ XUỐNG, HÌNH TRỤ,CĂNG TRÒN, NHẲN BÓNG, THON NHỌN DẦN VỀ PHÍA ĐẦU NGỌN, ĐÔI KHI ĐỐT THÂN THẮT HÌNH THOI RẤT NHẸ. LÁ HẸP, THUÔN DÀI, DẺO DAI RỤNG VÀO MÙA THU.. .HOA MANG SẮC TÍM QUYẾN RŨ BIẾN THIÊN TỪ NHẠT ĐẾN SẬM,MÔI LOA HÌNH CHIẾC KÈN,VÀNH MÔI TRẮNG.. HOÀNG THẢO KÈN RẤT SAI HOA, NỞ NHIỀU HOA TO 6-7 CM, MỌC TỪNG CHÙM 2-3 CHIẾC TRÊN 1 MẮT Ở CÁC ĐỐT GIỮA THÂN ĐẾN NGỌN, PHÁT SINH TỪ THÂN CÂY TRỤI LÁ CŨ. CÂY NỞ HOA TỪ CUỐI MÙA ĐÔNG ĐẾN MÙA XUÂN, RẤT THƠM VÀ LÂU TÀN.KÈN CẦN NHIỀU ẨM VÀ PHÂN BÓN TRONG LÚC PHÁT TRIỄN THÂN NON, CHỈ ĐỂ KHÔ KHI CÂY ĐÃ NGỪNG PHÁT TRIỂN. KÈN THUỘC LOẠI DỄ TRỒNG,NHƯNG ĐIỀU ĐÓ CÒN PHỤ THUỘC VÀO THỜI TIẾT VÙNG MIỀN. HOÀNG THẢO KÈN NHÌN XA RẤT GIỐNG VỚI DEN.ANOSMUM VÌ MÀU TÍM TRẦM NA NÁ NHƯNG THỰC TẾ SO SÁNH NHAU THÌ HÌNH DÁNG KHÁC BIỆT HOÀN TOÀN. GIẢ HẠC KIÊU SA, KÈN QUYẾN RŨ.. HOÀNG THẢO KÈN LÀ MỘT TRONG NHỮNG LOẠI LAN TUYỆT ĐẸP VÀ QUÝ HIẾM. NGOÀI TỰ NHIÊN BÂY GIỜ RẤT KHÓ CÒN TÌM THẤY DO BỊ SĂN LÙNG QUÁ NHIỀU VÌ VẺ ĐẸP CỦA CHÚNG. Ở MỘT SỐ NƠI TRÊN THẾ GIỚI NÓ CÒN ĐƯỢC ĐƯA VÀO DIỆN ĐƯỢC BẢO VỆ NGHIÊM NGẶT. NƯỚC TA MAY MẮN LÀ MỘT TRONG NHỮNG VÙNG ĐẤT ĐC TẠO HÓA BAN CHO LOÀI HOÀNG THẢO KÈN, NẾU KHÔNG CÓ BIỆN PHÁP BẢO VỆ KỊP THỜI CÓ THỂ LÂM VÀO NGUY CƠ TUYỆT CHỦNG NGOÀI TỰ NHIÊN. NGƯỜI TA ĐÃ TÍNH ĐẾN CHUYỆN NUÔI CẤY MÔ ĐẠI TRÀ CHO LOÀI NÀY ĐỂ GIẢM TẢI SỰ SĂN LÙNG CHÚNG TRÊN RỪNG.

    (Nguồn: internet)

    【#6】Tìm Hiểu Cây Ớt Và Kỹ Thuật Trồng An Toàn

    Tìm hiểu CÂY ỚT CAY và kỹ thuật trồng an toàn cây ớt

    Ảnh: Cây ớt

    I. GIỚI THIỆU

        Ớt cay được xem là cây gia vị nên có mức tiêu thụ ít. Gần đây ớt trở thành một mặt hàng có giá trị kinh tế vì ớt không chỉ là gia vị tươi mà còn được sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu để bào chế các thuốc trị ngoại khoa như phong thấp, nhức mỏi, cảm lạnh hay nội khoa như thương hàn, cảm phổi, thiên thời… nhờ tính chất capsaicine chứa trong trái. Nhờ vậy nhu cầu và diện tích ớt ở nhiều nước có chiều hướng gia tăng.

        Ở Việt Nam việc canh tác ớt chưa được quan tâm, phần lớn canh tác lẻ tẻ, không đầu tư thâm canh cao nên năng suất thấp, thường chỉ đạt 800-1.000kg ớt tươi /1.000m2.

    II. ĐẶC TÍNH SINH HỌC

    – Rễ:

    Ớt có rễ trụ, nhưng khi cấy rễ phân nhánh mạnh và cây phát triển thành rễ chùm, phân bố trong vùng đất cày là chính.

    – Thân:

    khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4-5 cạnh. Thân có lông hoặc không lông, cây cao 35-65 cm, có giống cao 125-135 cm. Ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đổi tùy theo điều kiện canh tác và giống.

    – Lá:

    Mọc đơn, đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông.

    – Hoa:

    Lưỡng phái, mọc đơn hoặc thành chùm 2-3 hoa. Hoa nhỏ, dài, hoa màu xanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn. Tràng hoa có 6-7 cánh màu trắng hoặc tím. Số nhị đực bằng số cánh hoa và mọc quanh nhụy cái. Phần trong cánh hoa có lỗ tiết mật.

       Hoa ớt có thể tự thụ phấn hay thụ phấn chéo do côn trùng vì ớt thuộc loại tiền thư, thụ phấn chéo có ý nghĩa lớn ở ớt cay, tỷ lệ thụ phấn chéo từ 10-40 % tùy giống, do đó cần chú ý trong công tác để giống và giữ giống thuần.

    – Trái:

    Trái có 2-4 thùy, dạng trái rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón, bề mặt trái có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẵn; trái khi chín có màu đỏ đen vàng; trái không cay hay rất cay.

    Chiều dài và dạng trái đóng vai trò quan trọng trong việc chọn giống ớt xuất khẩu dưới dạng quả khô. Ớt quả khô nguyên trái phải dài hơn 9 cm và khi khô không rời cuống. Việc chế biến ớt bột không đòi hỏi tiêu chuẩn về kích thước và dạng trái nhưng yêu cầu về màu sắc, độ cay và tỷ lệ tươi/khô khi phơi; ớt trái to ở nước ta có tỷ lệ tươi/khô là 6,5:1 trong khi ớt trái nhỏ có tỷ lệ này là 8:1. Trái chưá nhiều hạt tròn dẹp, nhỏ có màu nâu sáng,

       Ớt là cây chịu nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng là 18-30oC. Nhiệt độ cao trên 32oC và thấp dưới 15oC. Cây tăng trưởng kém và hoa dễ rụng. Ớt là cây không quang cảm, tuy nhiên trong điều kiện ngày ngắn các giống ớt cay phát triển tốt và cho năng suất cao. Ớt chịu đựng được điều kiện che rợp đến 45%, nhưng che rợp nhiều hơn ớt chậm trổ hoa và rụng nụ.

    III. GIỐNG

    Hiện nay nhiều nơi vẫn canh tác giống địa phương là chính. Giống trồng phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miền Trung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi. Ngoài ra Viện Nghiên Cứu NN Hà Nội công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa (1987), điều này chứng minh nguồn giống ớt phong phú, đa dạng chưa được biết đến ở nước ta. Tuy nhiên giống địa phương bị lai tạp nên thoái hóa, quần thể không đồng đều và cho năng suất kém, trong khi các giống F1 có khả năng cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao nên bắt đầu được ưa chuộng và đang thay thế dần các giống địa phương.

    1. Giống lai F1:

    Giống Chili (công ty Trang Nông phân phối): Trái to, dài 12-13 cm, đường kính trái 1,2-1,4cm; trọng lượng trung bình trái 15-16 gram, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, cứng, cay trung bình, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Cây cao trung bình 75-85 cm, sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt v

    à cho năng suất cao.

    Giống số 20 (công ty Giống Miền Nam phân phối): sinh trưởng mạnh, phân tán lớn, ra nhiều hoa, dễ đậu trái, bắt đầu cho thu hoạch 85-90 ngày sau khi cấy, cho thu hoạch dài ngày và chống chịu tốt bệnh virus. Trái ớt chỉ địa dài 14-16 cm, thẳng, ít cay, trái cứng nên giữ được lâu sau thu hoạch, năng suất 2-3 tấn/1.000m2.

    Giống TN 16 (công ty Trang Nông phân phối): Cho thu hoạch 70-75 ngày sau khi gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4-5 cm, đường kính 0,5-0,6cm, trọng lượng trung bình 3-4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh trưởng tốt quanh năm.

    Giống Hiểm lai 207 (công ty Hai Mũi Tên Đỏ phân phối): Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-3 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/cây, chống chịu khá bệnh thán thư.

    2. Giống địa phương:

    Giống Sừng Trâu: Bắt đầu cho thu hoạch 60-80 ngày sau khi cấy. Trái màu đỏ khi chín, dài 12-15 cm, hơi cong ở đầu, hướng xuống. Năng suất 8-10 tấn/ha, dễ nhiễm bệnh virus và thán thư trên trái.

    Giống Chỉ Thiên

    Giống Chỉ Thiên: Bắt đầu cho trái 85-90 ngày sau khi cấy. Trái thẳng, bóng láng, dài 7-10 cm, hướng lên, năng suất tương đương với ớt Sừng nhưng trái cay hơn nên được ưa chuộng hơn.

    Giống Ớt Hiểm: Cây cao, trổ hoa và cho trái chậm hơn 2 giống trên nhưng cho thu hoạch dài ngày hơn nhờ chống chịu bệnh tốt. Trái nhỏ 3-4 cm nên thu hoạch tốn công, trái rất cay và kháng bệnh đén trái tốt nên trồng được trong mùa mưa.

    IV. KỸ THUẬT TRỒNG

    1. Thời vụ

        Ở đồng bằng sông Cửu Long ớt có thể trồng quanh năm, tuy nhiên trong sản xuất thường canh tác ớt vào các thời vụ sau:

    Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12-1 dl và kéo dài đến tháng 4-5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên đất bờ líp cao không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài, tuy nhiên diện tích canh tác vụ này không nhiều.

    Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10-11, trồng tháng 11-12, bắt đầu thu hoạch tháng 2-3 dl. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh.

    Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5 trồng tháng 5-6 thu hoạch 8-9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn giống kháng bệnh thán thư.

    2. Chuẩn bị cây con

       Lượng hạt giống gieo đủ cấy cho 1.000m2 từ 15-25 gram (150-160 hột/g). Diện tích gieo ương cây con là 250 m2. Chọn đất cao ráo hay làm giàn cách mặt đất 0,5-1 m, lót phên tre hay lá chuối rồi đổ lên trên một lớp đất, phân, tro dày 5-10 cm rồi gieo hạt. Cách này dễ chăm sóc cây con và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc phá hại. Cũng có thể gieo hạt thẳng vào bầu hay gieo theo hàng trên líp ương. Hạt ớt thường nẩy mầm chậm, 8-10 ngày sau khi gieo mới mọc khỏi đất, cây con cấy vào lúc 30-35 ngày tuổi, có sử dụng màng phủ cây con nên cấy sớm lúc 20 ngày tuổi.

    3. Cách trồng:

        Đất trồng ớt phải được luân canh triệt để với cà chua, thuốc lá và cà tím. Trồng mùa mưa cần lên líp cao vì ớt chịu úng kém. Khoảng cách trồng thay đổi tùy thời gian dự định thu hoạch trái, nếu ăn trái nhanh (4-5 tháng sau khi trồng) nên trồng dày, khoảng cách trồng 50 x (30-40) cm, mật độ 3.500-5.000 cây/1.000m2; nếu muốn thu hoạch lâu nên trồng thưa, 70 x (50-60) cm, mật độ 2.000-2.500 cây/1.000m2.

    4. Sử dụng màng phủ nông nghiệp (bạt plastic)

    4.1 Mục đích:

    a. Hạn chế côn trùng và bệnh hại: Mặt màu bạc của màng phủ phản chiếu ánh sáng mặt trời nên giảm bù lạch, rầy mềm, giảm bệnh do nấm tấn công ở gốc thân và đốm trên lá chân

    b. Ngăn ngừa cỏ dại: Mặt đen của màng phủ ngăn cản ánh sáng mặt trời, làm hạt cỏ bị chết trong màng phủ.

    c. Điều hoà độ ẩm và giữ cấu trúc mặt đất: Màng phủ ngăn cản sự bốc hơi nước trong mùa nắng, hạn chế lượng nước mưa nên rễ cây không bị úng nước, giữ độ ẩm ổn định và mặt đất tơi xốp, thúc đẩy rễ phát triển, tăng sản lượng.

    d. Giữ phân bón: Giảm rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặc mưa to, ít bay hơi nên tiết kiệm phân.

    e. Tăng nhiệt độ đất: Giữ ấm mặt đất vào ban đêm (mùa lạnh) hoặc thời điểm mưa dầm thiếu nắng mặt đất bị lạnh.

    f. Hạn chế độ phèn, mặn: Màng phủ làm giảm sự bốc hơi qua mặt đất nên phèn, mặn được giữ ở tầng đất sâu, giúp bộ rễ hoạt động tốt hơn.

    4.2 Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp

    – Vật liệu và qui cách: Dùng 2 cuồn màng phủ khổ rộng 0.9-1m trồng ớt hàng đơn, còn hàng đôi 1,5 cuồn màng khổ 1,2-1,4 m, diện tích vải phủ càng rộng thì hiệu quả phòng trừ sâu bệnh càng cao. Chiều dài mỗi cuồn màng phủ là 400 m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống.

    – Lên liếp: Lên liếp cao 20-40 cm tùy mùa vụ, mặt liếp phải làm bằng phẳng không được lồi lõm vì rễ khó phát triển và màng phủ mau hư, ở giữa liếp hơi cao hai bên thấp để tiện việc tưới nước.

    – Rãi phân lót: Liều lượng cụ thể hướng dẫn bên dưới, nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì màng phủ hạn chế mất phân và không bị cỏ dại canh tranh. Có thể giảm bớt 20% lượng phân so với không dùng màng phủ.

    – Xử lý mầm bệnh: Phun thuốc trừ nấm bệnh như Oxyt đồng hoặc Copper B (20 g/10 lít) hoặc Validacin (20 cc/10lít) đều trên mặt liếp trước khi đậy màng phủ.

    – Đậy màng phủ: Mùa khô nên tưới nước ngay hàng trồng cây trước khi đậy màng phủ. Khi phủ kéo căng vải bạt, hai bên mép ngoài được cố định bằng cách dùng dây chì bẻ hình chữ U mỗi cạnh khoảng 10 cm ghim sâu xuống đất (dây chì sử dụng được nhiều năm) hoặc dùng tre chẻ lạc ghim mé liếp.

    5. Bón phân: (tương tự cà chua)

    Tùy theo loại đất, mức phân bón trung bình toàn vụ cho 1.000m2 như sau:

    20 kg Urea + 50 kg Super lân + 20 kg Clorua kali + 12 kg Calcium nitrat + (50-70) kg 16-16-8 + 1 tấn chuồng hoai + 100 kg vôi bột, tương đương với lượng phân nguyên chất (185-210N)-(150-180P2O5)-(160-180K2O) kg/ha.

    * Bón lót: 50 kg super lân, 3 kg Clorua kali, 2 kg Calcium nitrat, 10-15 kg 16-16-8, 1 tấn phân chuồng và 100 kg vôi. Vôi rải đều trên mặt đất trước khi cuốc đất lên liếp, phân chuồng hoai, lân rãi trên toàn bộ mặt liếp xới trộn đều. Nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì phân nằm trong màng phủ ít bị bốc hơi do ánh nắng, hay rửa trôi do mưa.

    * Bón phân thúc:

    Lần 1: 20-25 ngày sau khi cấy (giống thấp cây) và 20 ngày sau khi cấy (giống cao cây). Số lượng 4 kg Urê, 3 kg Clorua kali, 10 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat. Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân một bên hàng cà hoặc đục lổ màng phủ giữa 2 gốc cà.

    Lần 2: 55-60 ngày sau khi cấy, khi đã đậu trái đều.

    Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại cà hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

    Lần 3: Khi cây 80-85 ngày sau khi cấy, bắt đầu thu trái.

    Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

    Lần 4: Khi cây 100-110 ngày sau khi cấy, thúc thu hoạch rộ (đối với ớt sừng dài ngày).

    Lượng bón: 4 kg Urê, 4 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

    Chú ý:

    Ớt thường bị thối đuôi trái do thiếu canxi, do đó mặc dù đất được bón vôi đầy đủ trước khi trồng hoặc bón đủ Calcium nitrat nhưng cũng nên chú ý phun bổ sung phân Clorua canxi (CaCl2) định kỳ 7-10 ngày/lần vào lúc trái đang phát triển để ngừa bệnh thối đuôi trái..

    Nếu không dùng màng phủ, nên chia nhỏ lượng phân hơn và bón nhiều lần để hạn chế mất phân.

    Nhằm góp phần tăng năng suất và phẩm chất trái, nhất là trong mùa mưa có thể dùng phân bón lá vi lượng như MasterGrow, Risopla II và IV, Miracle,… Bayfolan, Miracle… phun định kỳ 7-10 ngày/lần từ khi cấy đến 10 ngày trước khi thu hoạch.

    6. Chăm sóc:

    6.1 Tưới nước:

    Ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và phát triển trái mạnh. Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít. Nếu khô hạn kéo dài thì tưới rảnh (tưới thấm) là phương pháp tốt nhất, khoảng 3-5 ngày tưới/lần. Tưới thấm vào rãnh tiết kiệm nước, không văng đất lên lá, giữ ẩm lâu, tăng hiệu quả sử dụng phân bón. Mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để nước ứ đọng lâu.

    Tưới thấm và tưới nhỏ giọt

    6.2 Tỉa nhánh:

       Thông thường các cành nhánh dưới điểm phân cành đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng. Các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng

    6.3 Làm giàn:

    Giàn giữ cho cây đứng vững, để cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu trái. Giàn được làm bằng cách cắm trụ cứng xung quanh hàng ớt dùng dây chì giăng xung quanh và giăng lưới bên trong hoặc cột dây nilong lúc cây chuẩn bị trổ hoa.

    7. Phòng trị sâu bệnh

    7.1 Sâu hại

    ::

    – Rầy lửa, bọ trỉ, bù lạch (Thrips sp.)

    – Thành trùng và ấu trùng rất nhỏ có màu trắng hơi vàng, sống tập trung trong đọt non hay mặt dưới lá non, chích hút nhựa cây làm cho đọt non bị xoăn lại. Thiệt hại do bọ trĩ, bọ dưa có liên quan đến bệnh siêu trùng.

    – Bù lạch có tính kháng thuốc rất cao, nên định kỳ 7-10 ngày/lần phun dầu khoáng DC-Tron plus (Caltex) sẽ giảm đáng kể sự tấn công của bù lạch; khi thấy mật số vài ba con trên một đọt non cần phun một trong các loại như Confidor 100SL, Admire 50EC, Danitol 10EC, Vertimec…0.5-1%o, cần thay đổi thuốc thường xuyên.

    – Sâu xanh đục trái (Heliothis armigera): Thành trùng là bướm đêm, kích thước to, thân mập nhiều lông, cánh màu vàng sáng, giửa cánh có một chấm đen to và một chấm trắng nằm cạnh nhau. Trứng đẻ thành ổ có phủ lông vàng; một bướm cái đẻ 200-2000 trứng. Âu trùng là sâu có nhiều lông, màu sắc thay đổi từ màu hồng, xanh, xanh vàng đến nâu đen theo môi trường sống. Sâu ở phía ngòai thò đầu vào bên trong phá hại búp non, nụ hoa, cắn điểm sinh trưởng, đụt thủng quả từ khi còn xanh cho đến lúc gần chín làm thối trái. Nhộng màu nâu đỏ nằm trong lá khô hoặc trong đất.

    – Bọ phấn trắng (Bemisia tabaci): Thành trùng màu trắng bóng, dài 3-4 mm, bay chậm, hình dáng giống như bướm. Âu trùng rất giống rệp dính, màu trắng trong, được phủ một lớp sáp, ít bò, thường cố định một chổ chích hút mô cây. Trứng, ấu trùng và thành trùng luôn luôn hiện diện ở mặt dưới lá trên các loại cây ăn trái, bầu bí, dưa, cà, ớt, bông vãi, thuốc lá. Ấu trùng và thành trùng đều chích hút làm lá biến vàng, cây mau suy yếu, giảm năng suất và truyền bệnh siêu trùng như rầy mềm. Bọ phấn trắng phát triển nhanh trong điều kiện nóng và khô, rất dễ quen thuốc khi phun ở nồng độ cao, hoặc phun thường xuyên định kỳ.

       Trong tự nhiên có nhiều loài ong ký sinh trên ấu trùng bọ phấn trắng. Thuốc hiệu quả là Admire, Confidor, phun ở mặt dưới lá.

    – Rầy nhớt, rầy mềm (Aphis spp.)

    Còn được gọi là rầy mật, cả ấu trùng lẫn thành trùng đều rất nhỏ, dài độ 1-2mm, có màu vàng, sống thành đám đông ở mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa làm cho ngọn dây dưa chùn đọt và lá bị vàng. Rầy truyền các loại bệnh siêu vi khuẩn như khảm vàng. Chúng có rất nhiều thiên địch như bọ rùa, dòi, kiến, nhện nấm.. nên chỉ phun thuốc khi nào mật số quá cao ảnh hưởng đến năng suất. Phun các loại thuốc phổ biến rầy mềm như Trebon, Bassa.

    d- Sâu ăn tạp, sâu ổ, sâu đàn (Spodoptera litura)

    – Sâu non lúc nhỏ sống tập trung ở mặt dưới phiến lá nên gọi là sâu ổ, khi lớn lên phân tán dần, mình có màu xám với khoan đen lớn ở trên phía lưng sau đầu, ăn lủng lá có hình dạng bất định, hoặc cắn đứt ngang thân cây con. Sau đó sâu thường chui vào sống trong đất, ẩn dưới các kẻ nứt hay rơm rạ phủ trên mặt đất, nhộng ở trong đất.

    – Nên làm đất kỹ trước khi trồng vụ sau để diệt sâu và nhộng còn sống trong đất, xử lý đất bằng thuốc hạt. Có thể ngắt bỏ ổ trứng hay bắt sâu non đang sống tập trung.

    Nên thay đổi loại thuốc thường xuyên, phun vào giai đoạn trứng sắp nở sẽ cho hiệu quả cao: Sumicidin 10EC, Cymbus 5EC, Karate 2.5EC, Decis 2.5 EC… 1-2%o có thể pha trộn với Atabron 5EC từ 2-3 cc/bình xịt 8 lít.

    7.2 Bệnh hại:

    – Bệnh héo cây con: Do nấm Rhizoctonia solani, Phythophthora sp., Pythium sp. Bệnh thường gây hại cây con trong líp ương hoặc sau khi trồng khoảng một tháng tuổi. Vết bệnh thường xuất hiện ở phần thân ngay trên mặt đất, nấm tấn công vào gốc làm gốc cây bị thối nhũn và cây bị gãy gục, phần cây bên trên vết bệnh vẫn còn tươi xanh, sau đó cây mới bắt đầu héo. Bệnh phát triển mạnh khi ẩm độ cao, nấm lưu tồn trên thân luá, rơm rạ, cỏ dại, lục bình, hạch nấm tồn tại trong đất sau mùa gặt lúa.

    – Phun, Validacin 5L, Anvil 5SC, Rovral 50WP, Ridomil 25 WP 1-2%o; Copper -B 2-3%o, Tilt super 250 ND, Bonanza 100 (các loại thuốc trị bệnh đốm vằn trên luá đều trị được bệnh này)

    – Bệnh héo chết cây do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum, nấm Fusarium oxysporum, F. lycopersici, Sclerotium sp.: Bệnh thường gây hại khi cây đã trưởng thành, hoặc khi cây bắt đầu mang trái. Đầu tiên các lá ngọn bị héo vào buổi trưa, và tươi lại vào buổi chiều mát, sau vài ngày cây bệnh chết hẳn, không còn khả năng hồi phục, bộ rễ không phát triển.

    Đối với bệnh do vi khuẩn cần nhổ và tiêu hủy cây bệnh; dùng vôi bột rãi vào đất, hoặc Starner, New Kasuran, Copper Zin C tưới nơi gốc cây hay phun ngừa bằng Kasumin. Đối với nấm cần phát hiện sớm, phun ngừa hoặc trị bằng thuốc Copper B, Derosal, Appencarb super, Ridomil, Score.

    – Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum sp. Bốn loài Colletotrichum được tìm thấy trên ớt là: C. gloesporiodes, C. capsici (2 loài quan trọng nhất), C. acertatumC. coccodes. Bệnh thường gây hại trên trái đang hay đã chín trong điều kiện có mưa nhiều, hoặc ẩm độ không khí cao. Vết bệnh lúc đầu hình tròn, úng nước, hơi lõm xuống, sau đó lan

    dần ra, tâm vết bệnh có màu nâu đen, viền màu nâu xám, bên trong có nhiều vòng đồng tâm và có những chấm nhỏ li ti màu đen nhô lên cao. Bệnh gây hại chủ yếu trên trái làm trái mất thương phẩm. Ở đồng bằng sông Cửu Long bệnh phát triển và lây lan mạnh vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 7, 8, 9 dl. Nấm bệnh tồn tại rất lâu trong đất, trên cây và trong hạt cây bệnh.

         Các thuốc Copper B, Manzate, Mancozeb, Antracol, Ridomil được sử dụng rộng rãi để trừ bệnh này. Tuy nhiên, bệnh khó phòng trị trong mùa mưa và vì bịnh chỉ xuất hiện rất trễ khi trái chín. Hiện nay biện pháp trồng giống kháng bệnh như ớt hiểm trong mùa mưa là kinh tế nhất.

    – Bệnh héo muộn do nấm Phytophthora infestan: Bệnh gây hại trên thân, lá và trái. Vết bệnh lúc đầu có màu xanh úng nước, sau đó chuyển sang màu nâu đen. Nếu trời ẩm bên dưới vết bệnh có tơ màu trắng bao phủ; nếu thời tiết khô thì vết bệnh khô dòn, dễ vở. Bệnh thường xuất hiện ở cuống trái, bệnh nặng làm trái dễ rụng.

    Không trồng ớt liên tục nhiều năm trên cùng một ruộng. Phun trị khi bệnh xuất hiện với các loại thuốc Aliette, Manzate, Mancozeb, Curzate.

    V. THU HOẠCH VÀ ĐỂ GIỐNG

        Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh. Ơt cay cho thu hoạch 35-40 ngày sau khi trổ hoa, ở các lứa rộ thu hoạch ớt mỗi ngày, bình thường cách 1-2 ngày thu 1 lần, nếu chăm sóc tốt năng suất trái đạt 20-30 tấn/ha.

        Làm giống nên chọn cây tốt, cách ly để tránh lai tạp làm giảm giá trị giống sau này. Chọn trái ở lứa thu hoạch rộ, để chín chín hoàn toàn trên cây, hái về để chín thêm vài ngày rồi mổ lấy hạt, phơi thật khô, để vào chai lọ kín và để nơi khô ráo. Hạt ớt chứa nhiều chất béo, do đó hạt khô thường hút nước lại và gia tăng ẩm độ, vì vậy trữ hạt ở điếu kiện nóng ẩm (ẩm độ trữ hơn 70% và nhiệt độ 20oC) hạt mất khả năng nẩy mầm 50% trong thời gian 3 tháng và mất khả năng nẩy mầm hoàn toàn trong thời gian 6 tháng. Trữ hạt trong điều kiện khô, kín (ẩm độ 20%, nhiệt độ là 25oC), hạt khô (ẩm độ 5%) có thể giữ độ nẩy mầm 80% trong 5 năm.

        Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thuận lợi cho việc canh tác ớt và khả năng xuất khẩu ớt thu ngoại tệ cũng không nhỏ. Tuy nhiên để thực hiện được điều đó cần chú ý những điểm như sau:

    – Các giống ớt địa phương hiện trồng có năng suất còn thấp và tỷ lệ ớt tươi/khô cũng thấp.

    – Ớt xuất khẩu thường ở dạng khô. Phương pháp làm ớt khô bắng cách phơi ớt tươi trực tiếp ngoài nắng thường làm ớt mất màu, không phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu. Ngoài ra việc phơi nắng kéo dài trong 10-20 ngày tạo điều kiện cho bệnh đén trái tiếp tục phát triển trong thời gian phơi và làm mất phẩm chất ớt.

        Ớt xuất khẩu và dùng trong chế biến thực phẩm còn đòi hỏi các tiêu chuẩn như độ cay, mùi hương mà các giống trồng hiện chưa đáp ứng được. Do đó cần chú ý công tác chọn tạo giống và kỹ thuật chế biến ớt, bảo đảm tiêu chuẩn xuất khẩu thì cây ớt mới có giá trị kinh tế cao.

    【#7】Kỹ Thuật Trồng Lan Đai Châu – Ngọc Điểm

    Trước đây, cây Rhynchostylis gigantea đã được nói đến trong bài Ngọc Điểm của tác giả Bùi xuân Đáng, đăng vào tháng 8 năm 2007. Nhưng gần đây có rất nhiều câu hỏi về nguồn gốc và cách nuôi trồng cây lan này. Chúng tôi xin lượm lặt các tư liệu khác để cống hiến các bạn.

    Cây lan này mọc suốt từ Miến Điện, Thái Lan, Mã Lai, Lào, Căm Bốt, Việt Nam, Trung Hoa, Borneo và Nam Dương. Tại Việt Nam cây lan Rhynchostylis gigantea mọc từ Bắc chí Nam. Những năm về trước, tại Biên hòa, Xuân Lộc cây Ngọc điểm vốn là giống lan thân thuộc.

    Lan đai châu - ngọc điểm

    Trước năm 1975 ngay tại Sài Gòn vào dịp đầu năm, khách du xuân từ khúc vườn hoa Tao đàn qua đường Duy Tân, công viên Gia Long tới đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và Thảo Cầm Viên đều thấy mùi hoa Ngọc điểm ngào ngạt mùi trầm, mùi quế. Ngày nay thành phố mở mang, nhà cửa, xe cộ quá nhiều, khí thải lên cao, những cây lan quý đã biến dần may mắn lắm mới thấy một cây trên ngọn cây sao, cây dầu cao tít bên cạnh những ngôi nhà cao từng sừng sững. Cây Ngọc điểm đã bị người ta săn lùng khắp nơi hoặc nhập cảng từ các nước láng giềng cho nên bây giờ chỗ nào cũng có, như một vườn lan ở Bình Dương có tới hàng trăm cây đủ mầu sắc.

    Rhynchostylis gigantea thường được gọi là Ngọc điểm đai châu (chuỗi hạt châu) mà người bình dân gọi trại là tai trâu hay đuôi chồn hay gọi là lan me (vì thường mọc trên cây me tại Saigon). Hơn nữa lại nở vào mùa Xuân cho nên có thêm tên gọi là Nghinh Xuân. Cây lan này thường có 5-8 lá dài từ 20-30 cm, rộng 4-7 cm, mầu xanh vàng có những sọc trắng và những chấm tím. Cây lớn và khỏe manh có thể ra tới 3 – 4 chùm hoa cong và dài từ 15 đến 30 cm, hoa to chừng 3 cm, mầu hồng nhạt có những chấm tím, hương thơm ngát và 2-3 tuần mới tàn. Thỉnh thoảng có những giống trắng tuyền hay đỏ thẫm.

    Theo Kamemoto và Sagarik (1975) tại Bangkok, Thái Lan có cây Ngọc điểm với nhiều nhánh đã ra tới 30 chùm hoa. Ngoài ra cây lan ra hoa có nhiều mầu đỏ đã lai giống với một cây mầu đỏ khác đã tạo ra một giống đỏ tuyền. Những cây lan hoa mầu đỏ này, nếu mùa thu quá nóng, sẽ thành trở thành sắc đỏ có pha lẫn trắng.

    Cách trồng lan Đai châu – Ngọc điểm

    • Ánh sáng từ 3000 – 4000 ánh nến, hay ánh nắng không trực tiếp chiếu vào, nếu để ra ngoài nắng có thể bị cháy lá.

    • Cây cần phải để ở chỗ rộng rãi, thật thoáng gió.

    • Nhiệt độ vào mùa hè ban ngày: 85 – 90°F hay 29 -32°C và phải có sự cách biệt tối thiểu giữa ngày và đêm là 15°F hay 10°C, nếu không sẽ không ra hoa.

    • Độ ẩm cần thiết từ 70-80%.

    • Mùa hè tưới nước 2-3 lần một ngày nếu trồng trên miếng gỗ. Nếu trồng trong chậu với vỏ cây hay than có thể tưới 2-3 lần một tuần nhưng phải để cho khô rễ giữa 2 lần tưới và không được để rễ cây bị úng nước trong chậu.

    • Chỉ bón phân khi thấy bắt đầu mọc lá hay đầu rễ có mầu xanh. Bón hàng tuần với ½ hay ¼ thìa cà phê gạt cho 4 lít nước. Phân bón có thể là 30-10-10 cho mùa xuân và mùa hè, đổi sang 10-20-30 vào cuối hè và thu, hoặc có thể dùng 20-20-20 quanh năm.

    • Thời kỳ nghỉ ngơi thường vào mùa đông và rất quan trọng. Nếu không tôn trọng lan sẽ không ra hoa hoặc sẽ chết.

    • Nhiệt độ mùa đông ban ngày cần từ 68-73°F hay 20-23°C.

    • Nhiệt độ ban đêm không được dưới 60°F hay 16°C.

    • Ẩm độ từ 50-60%, nếu quá thấp cần phun nước vào buổi sáng.

    • Ngưng tưới nước hoặc tưới rất ít suốt mùa đông và cần phải để khô lá và rễ trước khi trời tối.

    • Ngưng bón phân vào thời gian này.

    Luôn nhớ lan Ngọc Điểm thường mọc trên cây cao rất thoáng gió cho nên không ưa không khí tù hãm vì thế rễ cây không được ẩm ướt suốt ngày. Lan cũng không ưa bị quấy nhiễu (Disturb) hay thay chậu, cho nên cách trồng tốt nhất là cột vào miếng gỗ, miếng ngói hay vỏ cây hay trồng trong rỏ (basket) để phơi rễ ra ngoài. Nhưng trồng cách này cần phải có ẩm độ thật cao và mùa hè phải tưới tối thiểu mỗi ngày một lần, nhất là vào những ngày nóng nực hay khô ráo. Nếu trồng trong rỏ có thể bỏ thêm các miếng vỏ cây hoặc than cỡ lớn từ 4-5 cm trở lên. Một cách trồng khác là trồng trong chậu đất có nhiều lỗ. Muốn trồng cách này, hãy ngâm cây vào trong nước chừng 1 giờ, khi rễ đã mềm, bỏ vào trong chậu và xoay theo chiều kim đồng hồ hay ngược trở lại, rể sẽ bám vào chung quanh chậu.

    Thông thường Ngọc điểm nở hoa vào cuối mùa đông hay đầu mùa xuân và vào dịp Tết Nguyên Đán. Khi thấy lan ra nụ, hãy phun nước hoặc tăng thêm độ ẩm hoặc tưới sơ qua. Muốn lan nở sớm hơn hãy tăng thêm nhiệt độ hay là mang vào trong nhà để dưới ánh đèn, nhưng cần thoáng gió và độ ẩm. Nếu muốn lan chậm nở hãy mang vào chỗ rợp mát, vào phòng lạnh hoặc để nước đá ở gần, nhưng đừng cho vào gốc hay để rễ chạm vào.

    Tăng giảm nhiệt độ khá khó khăn với những người chơi lan tài tử, nhưng đối với nhà vườn có đủ hệ thống điều hòa nhiệt độ thì việc này chẳng có gì khó.

    【#8】Một Số Bí Quyết Chọn Gà Chọi – Đúc Kết Từ Kinh Nghiệm Chơi Gà

    Gà chân xanh chân vàng hay còn gọi là nhật nguyệt cước kê. Gà này có tánh linh, biến thế rất hay. Tuy nhiên không phải chỉ có đôi chân này thôi là hay mà còn phải xem về tiềm lực bên trong con gà, thể hiện qua hình thể, dáng đi đứng. Để đúng là một con nhật nguyệt cước kê thì phải có kiểu hình thể sau: lùn chân, tướng đi chuối về phía trước, mã to lông ướt, đôi cánh xếp ngược lên lưng, lông đuôi và mã dài chấm đất. Thường thì tướng gà thế này không ai chấp nhận. Tuy nhiên nếu có đôi chân nhật nguyêt thì quả đúng là linh kê có 1 không 2

    – Gà mồng rồng, gà chọi thường không ai thích con gà trống nào có cái mồng rồng to tướng chỉ để làm chổ dựa cho đối thủ đánh. Thế nhưng một khi cái mồng rồng này đi với đôi chân tam bản, các ngón chân nhỏ và dài thì con gà trở nên không có đối thủ, bất kể đến đối thủ nặng bao nhiêu cân vân có thể thắng được. Gà này tôi đã từng nuôi, ô ớt chân vàng 2.6 đánh thắng ô mã lại chân chì 3.6 trong vòng 4 đốt nhang. Gà này thường tranh đá mặt dọc, khi xuất đòn từ 3 – 5 cái mới chịu buông mỏ

    – Gà tử mị , gà này cũng thường gặp. Gà này khi ngủ giống như chết mà chết cũng như ngủ. Loại này không được xếp vào các loại linh kê, nhưng vẫn được xem là gà tài

    – Gà bốc cát : đặc điểm rất dễ nhân thấy là khi nó đi thường rất chậm so với những con gà bình thường, chạy thì không thể nhanh được vì mỗi bước đi nó phải nhất chân thật cao. Khi đứng yên thì thường đứng một chân, chân trụ là chân thuận. Gà này cũng thường, có biệt tài đá sỏ, nhưng khi gặp những đối thủ có chân thuận đối ngịch với thế đá hầu nữa thì dù có bốc cát quăng ra cũng có lúc bốc “cứt”..

    – Gà lắc mặt : Thường gà này có bột mặt tròn, dân chơi gà hay gọi là mặt nguyệt, gà này đá mé rất hay, hay trông đá mặt dọc. Ưu điểm đánh nhanh thắng nhanh. Gà này vẫn bị thua cho những con đá bợ và đá hầu

    – Né lồng: tướng gà lúc nào cũng như đang dè, khi nhốt trong lồng thì đi kiểu như say rượu. Gà này có biệt tài sỏ ngang. Xoay trở được cả hai bên. Thế đá này dường như không đối thủ. Thế nhưng vẫn kỳ với những con gà đá bợ và đá sỏ dọc

    – Gà ngũ sắc chỉ có ở con gà sám son. Ngủ sắc trông kinh kê được cho là thuần văn nên con này rất hay, biết xoay trở biến thế, nhưng thế thường đá nhất, hay nhất vẫn là thế sỏ ngang

    – Gà lông voi, loại này rất hiếm gặp, nếu gà có lông voi thì bất kể dòng giống, bất kể gà lai hay gà chính. Trong kinh kê gà này được xếp đầu – Thiên hạ vô địch. Con này có thể xếp ngang với ẩn đầu rồng và nhân tự đầu hổ

    –  Gà có vảy ác tinh cũng thuộc dạng linh kê. vảy tròn nhỏ màu đỏ nằm chính giữa ngón thới và ngón nội

    ( trên đây là những con gà tôi từng sở hữu và chứng nghiệm hai quyển sách “Đạo Kê Diễn Nghĩa” và Kinh Kê)Sau Đây Là Quyển Đạo Kê Diễn Nghĩa

    1. Hậu biên yến quản đồng hành 

    Hậu biên đồng hành tức là Hậu Biên Tiên Lộ. Hàng biên và hàng hậu cùng song song đi xuống, cuối cùng hàng hậu tấp vào hàng biên cùng đi xuống ngón ngoại. Đây là gà quý.

    2. Giáp Long Chi Tự Điềm Lành Hữu Linh

    Vảy Giáp Long đóng ở ngón thới. Vảy có hình cánh bướm hoặc từa tựa vảy rồng nên được gọi là giáp long. Loại thần kê này chuyên dùng móng làm trảo để điểm vào mắt địch.

    3. Âm minh thư đoản tài tình, 

    4. Âm minh hùng đoản thanh vang hổ gầm. 

    5. Hổ gầm khẩu chớ lặng câm, 

    6. Hoặc rung khẩu hạ biết ra vẹn toàn.

    Âm minh thư đoản là tiếng gáy thanh, rít mà ngắn ở tiếng ngân cuối. Cũng là loại gà có tài.

    Âm minh hùng đoản là tiếng gáy mạnh mà ngắn ở tiếng ngân cuối. Tiếng gáy có âm thanh như cọp rống. Khi gà gáy mạnh và tiếng gáy kết thúc ngắn gọn thì đó là gà dữ.

    – Gà gáy phải há lớn miệng mới tốt. Ngậm miệng lặng câm không tốt.

    – Khi gáy mỏ dưới không rung mới tốt. Rung thì cũng chưa vẹn toàn.

    7. Vậy thời cho rõ đừng oan, 

    8. Kẻo mà hay phản “Đạo Kê” là thường. 

    9. Xem gà ta phải cho tường,

    Người xưa xem phép đá gà là Ðạo vì nó đòi hỏi sự thông suốt kê kinh. Ðoạn này xác quyết sự chính xác của kinh và quy sự thất bại vào người xem kinh chưa thông suốt.

    10. Rõ ràng “hoa thới” một đường thẳng ngay. 

    11. Nội lên tiếp ứng nào hay, 

    12. Có mà “giáp độc” chận ngay là tài.

    – “Hoa Thới” tức là Thới Hoa Ðăng. Vảy của ngón thới không ngưng lại ở chậu mà chạy thẳng lên tới cựa rõ ràng thắng tắp thì gọi là Hoa Thới.

    – Vảy của ngón nội không ngưng ở chậu mà chạy thẳng lên tiếp ứng với Thới Hoa Ðăng tạo thành ngã ba và nhập một đi thẳng tới cựa.

    – Cả hai hàng vảy này bị Ðộc giáp chặn lại tại cựa. Vảy độc giáp ở hàng Quách là một vảy lớn hả mồm ngậm chiếc vảy cuối cùng của Hoa Ðăng.

    Lưu ý: vảy Ðộc giáp không phải là một liên giáp mà chỉ là một vảy lớn.

    13. Chận rồi còn thể là hai, 

    14. Chấn trên giữ dưới thế hoài phải phân. 

    15. “Thần hổ đệ nhất” nên cân,

    Đoạn này mô tả vảy “Đệ Nhất Thần Hổ Đao”.

    – Vảy ĐNTHĐ là đại giáp nội đóng tại hàng Quách, tức là liên giáp bao gồm ba vảy.

    – ĐNTHĐ hả miệng ngậm chiếc vảy cuối cùng của Thới Hoa Đăng đi lên vì thế vảy này đóng trên cựa 1 ly.

    – ĐNTHĐ phải đóng cả hai chân.

    Gà có vảy này được liệt vào hạng “Linh Kê”.

    16. “Hổ Thần Đệ Nhị” cũng phân rõ ràng. 

    – Đệ Nhị Thần Hổ Đao nằm ở hàng Quách và cũng hả miệng ngậm ngọc giống như Đệ Nhất Thần Hổ Đao. Cả hai đều nằm trên cựa 1 ly nhưng Đệ Nhị Thần Hổ Đao không phải là một đại giáp mà chỉ là một liên giáp. Đại giáp do ba vảy tạo thành, liên giáp chỉ do hai vảy mà thôi.

    – Hai chân đều có Đệ Nhị Thần Hổ Đao đóng, nếu không thì thất cách.

    – Thới Hoa Đăng của vảy phải rõ ràng và thẳng tắp. (Đăng có nghĩa là đèn. Đèn đỏ rực thắp sáng thẳng hàng đẹp như hoa nở nên gọi là đèn hoa.) Có lẽ vì những vảy này nổi lên tròn trịa đẹp như đèn hoa nên có tên là Hoa Đăng.

    – Gà có chân này có tài cản cựa địch khó đâm. Rất quý.

    Thưa quý độc giả, Tàng Kinh Các của Nhất Phẩm Ðường lưu trữ nhiều Giáp Kinh của các danh gia. Một trong những Giáp Kinh này do danh sư Phan Kim Hồng Phúc biên soạn và trong đó có sự khác biệt của Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Thần Hổ Ðao.

    Sau đây Mộng Lang xin trình bày những điểm quan trọng của ngài Hồng Phúc.

    Theo như Sư Kê Phan Kim Hồng Phúc thì Thần Hổ Ðao không phải là một liên giáp hay đại giáp mà chỉ là một giáp tại hàng Quách.

    – Ðệ Nhất Thần Hổ Ðao thì đóng trên cựa một ly và cũng mở miệng ngậm ngọc.

    – Ðệ Nhị Thần Hổ Ðao cũng có hình dáng tương tự nhưng nằm cao hơn.

    Gà có vảy này thì ra đòn xuất quỷ nhập thần. Khó có địch thủ nào sống sót để gáy.

    *Thầy Phan Kim Hồng Phúc không cho biết vảy Đệ Nhị Thần Hổ Đao nằm cách cựa bao nhiêu nhưng phỏng theo hình vẽ của thầy thì Đệ Nhất Hổ Đao nằm cách cựa khoảng một vảy hoa đăng, Đệ Nhị Hổ Đao nằm cách cựa khoảng 2 vảy hoa đăng. Hình vẽ dưới đây là tài liệu riêng của Tàng Kinh Các nhưng phương vị của vảy thì giống nhau.

    17. Quay sang “liên cước tam hoàn”,

    18. Đôi chân phải có ngọc song mặt tiền.

    Ngọc song có thể là Song Cúc và cũng có thể là Lưỡng Ngọc Song Cước. Mộng Lang xin đưa ra cả hai để quý độc giả dễ bề nghiên cứu.

    Vảy Song Cúc đóng ở mặt tiền cả hai chân. Vị trí của vảy ở hai chân phải tương xứng nhau thì mới tốt. Nếu vảy này đóng ngay cựa thì đúng cách.

    Gà có vảy Song Cúc có biệt tài đá liên hoàn cước. Mỗi lần xuất chiêu là đá liên tục ba bốn đòn.

    Lưỡng Ngọc Song Cước

    Cả hai chân đều có vảy to phía trên cựa. Một chân có đại giáp ở hàng Thành. Một chân có đại giáp ở hàng Quách.

    Gà có vảy này luôn luôn có biệt tài đá song cước cực kỳ lợi hại và được nổi danh làLưỡng Cước Kê (Theo Sư Kê Phan Kim Hồng Phúc)

    Gà có Lưỡng Ngọc Song Cước đá song cước nhưng gà này có đá “liên cước tam hoàn” hay không thì không thấy sư kê nhắc đến.

    19. Rõ ràng nó đá đòn kiêng,

    20. Lại thêm đòn thủ mé cần đòn ngang.

    21. Thêm rằng bể hậu khai biên,

    22. Là tiên giáng xuống cậu tên gà nòi.

    Ðòn kiêng có lẽ là đòn quăng còn gọi là xạ. Ðòn quăng là đòn đá vào mặt và cần cổ địch thủ bất thình lình mà không mổ trước.

    Bể Hậu Khai Biên là cậu của gà nòi.

    Có sách chép: ” Bể Biên Khai Hậu” là cậu gà nòi. Bể hay khai thì cũng giống nhau. Ðường “Quách” và đường Hậu đều có một vảy nứt ra chia làm hai. Gà ấy là gà hay.

    23. Trường thành địa giáp nên coi,

    24. Những vảy ấy có gà hay thường thường.

    Trường thành là vảy ở hàng Thành lấn sang hàng Quách. Khi ta nhìn ở mặt tiền thì thấy vảy hàng Thành có diện tích rộng theo chiều ngang.

    Vảy Ðịa Giáp là một vảy nhỏ ở dưới lòng bàn chân. Phải lật lên mới thấy. Loại gà này được liệt vào “Linh Kê”.

    25. Thới mang nhân tự một đường,

    26. Dễ mà khinh nó sọ bêu phải tường.

    Ngón thới có vảy nứt như chữ Nhân thì gọi là Nhân Tự Thới. Gà có vảy này chuyên nhả đòn độc và thượng hành đi trên. Nếu nhân tự mà đóng ở các vảy cuối sát móng thì gà có tài móc mắt.

    27. Phải tường tứ ứng mà thương,

    28. Đôi chân như một trường nương người mời.

    Tứ Ứng Độ Sơn là 4 vảy độ đếm từ cựa trở lên nằm trên gò cao cách biệt với các vảy độ kế tiếp khuyết hẳn xuống. Nếu được 3 vảy nổi cồm lên thì gọi là “Độ Tam Ứng” và kém hơn gà tứ ứng, ngũ ứng, lục ứng v.v.

    Gà có Tứ Ứng Độ Sơn cả hai chân là gà quý.

    Gọi là Độ Sơn vì hình thể cao hẳn lên như 4 ngọn núi.

    Lưu ý: Bốn vảy này phải to lớn gần bằng nhau.

    29. Song liên là vảy của trời,

    30. Phải xem cho nhớ đời đời nước hai.

    Song Liên là liên giáp nội do hai vảy dính liền tạo thành và đóng tại hàng Quách.

    Theo tài liệu trong Tàng Kinh Các thì có hai loại song liên tự.

    Loại thứ nhất 

    – Song Liên đóng ngay cựa nhưng không cần phải ngậm ngọc, và cũng không cần phải có đường thới hoa đăng.

    Loại thứ hai 

    – Song Liên phải ngậm ngọc và đóng ngay cựa. Đường thới hoa đăng phải tốt. Viên ngọc bị ngậm không nhất thiết là ngọc cuối cùng. Gà có Song Liên Tự theo cách này ăn đứt các vảy Nhật Thần, Hổ Khẩu, và Hàm Long.

    Lưu ý: Đừng lộn Song Liên Tự với Đệ Nhị Thần Hổ Đao. Đệ Nhị Thần Hổ Đao đóng trên cựa. Song Liên Tự đóng tại cựa.

    Theo các sư kê thì gà có Song Liên thì có đòn độc từ cuối nước thứ hai đổ đi.

    31. Hiểu rằng vảy nhỏ “lạc mai”,

    32. Chẳng nên căn cứ một hai đòn tài.

    Lạc Mai là bốn năm vảy chụm lại và đóng trên hoặc dưới cựa. Gà có vảy này thuộc loại thường. Ta không nên căn cứ một hai đòn hay mà giữ gà này vì nó không phải là chiến kê.

    33. Đòn tài bán nguyệt nữ giai,

    34. Thêm vào ngón giữa ra oai nhiều đường.

    Vảy bán nguyệt là một đường chỉ vòng bán nguyệt tại cựa. Tuy nhiên, câu này không mô tả đường chỉ đó mà muốn đề cập tới ngón chân cong hình bán nguyệt.

    Bán Nguyệt Nội là hai ngón nội của cả hai chân cong hình bán nguyệt. Nếu gà mà có bán nguyệt tại ngón giữa (ngón Chúa) thì lại càng cực kỳ hay.

    Chiến kê có chân cong hình bán nguyệt có biệt tài móc mắt đối phương, giỏi song cước, nhảy cao và đá tạt ngang rất ác nghiệt.

    35. Đừng cho thất hậu bản lườn,

    36. Riêng hai thứ ấy kiên cường phải sâu.

    Những sư kê có nhiều kinh nghiệm thì họ cho rằng hàng vảy quan trọng bậc nhất không phải là hàng vảy tiền phía trước mà chính là hàng vảy hậu phía sau. Tiền hư thì còn gỡ gạc được, chứ nếu hậu hỏng thì không thể dùng được nữa.

    Một con thần điểu tốt phải có hàng vảy hậu no tròn và đều đặn từ chậu đến gối.

    Bản lườn tức là lườn tam bản. Loại lườn này có đáy trệt và hai vách hơi vuông vức trông giống như đáy của loại thuyền đóng bởi ba miếng ván nên gọi là lườn tam bản. Kinh sách khuyên ta không nên dùng loại gà có lườn tam bản.

    Ngược lại với lườn tam bản thì có lườn tàu có đáy nhọn. Khi ta “vô tay” nâng gà lên thì sẽ cảm thấy đáy lườn cộm vào lòng bàn tay.

    “Vẹo lườn thì bỏ, vẹo mỏ thì nuôi”

    Xương lườn nằm ở phía dưới bụng của gà. Nếu xương lườn sâu và thẳng không bị “vạy” thì chiến kê ấy có thể tạm coi là tốt.

    37. Tam tài tứ quý là đâu,

    38. Song tam song quý mới hầu tài cho.

    Theo tài liệu của Tàng Kinh Các thì có rất nhiều loại tam tài khác nhau. Loại thông thường là ba vảy nhỏ đóng sát gối như hình vẽ này.

    Qúy điểu có loại vảy này thì ra đòn cực kỳ mãnh liệt hung ác.

    Tứ quý là bốn hàng vảy đóng sát gối. Chiến kê có tứ quý chuyên đá lòn, đá dĩa. Con gà đi dưới cũng có nhiều đòn độc ma quái riêng của nó.

    Song tam = hai chân có tam tài

    Song quý = hai chân có tứ qúy.

     39. Gà tài vảy độ càng to, 

    40. Nghinh thiên cho tỏ bo bo “độ điền”. 

    41. Độ điền mới quý làm sao, 

    42. Hẳn là vua cả trên cao lộng hành.

    Mộng Lang truy cứu nhức cả đầu nhưng cũng không tìm ra được vảy “Ðộ Ðiền”. Có lẽ là vảy độ có hình vuông như chữ Ðiền chăng ?

    43. Đến lần biên độc làm anh,

    Ðộc biên là một hàng vảy biên chạy từ đầu gối xuống quá chậu ra ngón ngoại.

    Thần Ðiểu có vảy độc biên thì đá chết địch thủ, khó có con nào thoát chết.

    44. Đa biên mà dứt chẳng lành hiện ra.

    Ða biên là có từ hai hàng vảy biên trở lên.

    Ða biên mà đứt đoạn thì càng tồi. Kinh sách khuyên ta không nên dùng.

    45. Dặm xa ngoại ngón chỉa ra, 

    46. Gà hay cũng đặng tài xa phải đòn. 

    47. Ngón giữa giáp vảy nhập môn, 

    48. Tài hay móc họng như côn thọc hầu.

    Có sách cho rằng nếu ngón Ngoại có vảy nứt ra hoặc có vảy nhỏ chen vào thì tốt. Nhưng cũng có sách cho đó là xấu.

    Kê Kinh viết:

    “Vảy may vảy rủi đâu là 

    Hư có vảy ngoại thiệt là chẳng may.”

    Tất cả các sách đều ghi nhận nếu vảy ở hàng thành (còn gọi là ngoại) mà bị nứt ra thì là điềm chẳng may. Vảy của ngón Ngoại là do hàng Thành tiếp tục chạy xuống quá chậu mà thành. Như thế chúng ta có thể kết luận rằng dậm tại ngón Ngoại là xấu.

    Một trong những tài liệu ghi nhận dặm Ngoại xấu đã ghi thêm rằng nếu dặm Ngoại cách ba vảy tính tử móng chân thì càng tồi, gà có số bị đui.

    Nhưng nếu vảy nhỏ dặm vào ngón Chúa (ngón giữa) thì đó là điềm tốt. Ðoạn này có thể mô tả vảy Ẩn Ðầu Long. Ẩn Ðầu Long nằm sát móng trước vảy nhập môn và bị vảy nhập môn che khuất. Khi bẻ cong móng lên thì sẽ thấy nó lộ ra. Nếu vảy giặm nằm ở vị trí khác trên ngón Chúa thì nó có tên là Lạc Diệp. Gà có vảy Lạc Diệp và Ẩn Ðầu Long là gà dữ.

    ————————————————

    Công nhận gà có vẩy giắt tại ngón ngọ là gà hay, giống này quá dữ đòn và cực hung hăng có khi đá cả người vì ông bác tôi có con gà cú có vẩy này chuyên đánh người.

    Bác Mộng Lang kiếm đâu được sách hay thế, chỉ bảo cho anh em đọc với, mọi người phải cảm ơn bác nhiều đấy!

    đọc sách (của tác giả Minh Tâm nào đấy) thấy trường hợp nứt vảy hay dặm ở hàng ngoại cũng rất phức tạp : (hàng ngoại = hàng thành + ngón ngoại)

    – nếu có 1 vảy hàng Thành vô cớ bị nứt thì gọi là Khai Tiền – đây là điềm báo xui xẻo (gà đá xổ chơi thì hay nhưng đá độ có tiền thì xui ??); còn nếu có 1 vảy nứt ở hàng Quách – thì gọi là Bàng Khai – gà thường thường còn dùng được.

    – nếu có 2 vảy liên tiếp ở hàng Thành bị nứt thì là Xuyên Thành – tốt (nếu 2 vảy liên tiếp hàng Quách nứt thì gọi là Tả Công – tốt); các trường hợp này nếu các vảy dưới cựa “nứt” thì tốt hơn.

    – các sách điều ghi “Dặm ngoại bất tồn” – nếu có vảy nhỏ dặm chen vô hàng Ngoại đều xui xẻo, gà dễ bị mù ( điều này tôi chưa thấy thực tế, vì gặp trường hợp này chủ gà đều sợ không dám cho ra trường; trong thực tế tôi thấy nhiều con gà chẳng có cái vảy giặm nào 2 chân rất đẹp nhưng sáp trận cũng bị địch đá cho mù mắt

    à các bác cho tôi hỏi cái: có phải “Dặm ngoại” = “Liên giáp ngoại” ???

    Cho em hỏi cái khác nhau của 2 vẩy “nguyệt tà” và “xuyên đao” ?

    Câu hỏi của nhà vua thì gachoihn đã trả lời rồi.

    Nhưng theo sách thì có tới hai quyển phân biệt Nguyệt Tà và Xuyên Ðao. Theo đó thì Nguyêt Tà chỉ đóng dưới cựa mà thôi.

    Vẩy vấn tại cựa mà phía hàng thành thấp , hàng quách cao gọi là vày gi

    Nguyệt tà hình trăng khuyết hoặc từa tựa như vậy, còn xuyên đao thì vẩy có hình nhọn chỉ vào cựa.

    Cả hai đều cao ở hàng thành và thấp ở hàng quách đóng chéo xuống chứ không phải ngang , 2 vẩy này có tác dụng như nhau (gà có vẩy này chắc chắn 1 điều biết dùng cựa) nên người ta thường gọi thế nào cũng được, có người gọi xuyên đao, có người gọi nguyệt tà, ngoài này có người gọi trễ giáp.

    Vẩy vấn tại cựa mà phía hàng thành thấp , hàng quách cao thì mình hỏi mấy ông bác chơi gà cũng chịu , họ bảo gà có vẩy quấn như vậy không phải kiểu, nhưng các ông ấy chỉ biết kinh nghiệm về gà đòn thôi gà cựa thì không biết theo như BEBI nói thì chắc là đúng cho cả gà cựa.

    Mà có người bảo gà tre cũng là 1 giống của gà chọi , không biết có đúng không nhỉ?

    Tôi nghĩ phép xem vảy là áp dụng chung cho tất cả lọai gà chọi, tùy theo loại gà minh chơi là linh động ứng dụng.

    Với gà cựa ta phải chú trọng các vảy cho biết gà “nhạy cựa”, “tránh cựa”… còn với gà đòn phải để ý thêm các vảy báo tài “về khuya”.

    ví dụ vảy “Song Liên” mà anh Lang đã nói trên là một vảy rất quý với gà đòn; nhưng có thể không hay với gà cựa : vì gà “Song Liên” này tới cuối nước thứ 2 đi mới chịu xuất chiêu, trước đó thì đá rất thường; lỡ khi gặp địch thủ ác quá, thì nội trong hiệp đầu đã bị chém cho tơi tả (nhiều khi tiêu tùng luôn) rồi còn sức đâu nữa mà ra chiêu các hiệp sau  ; nhưng cũng kiểu vảy này với gà đòn thì khác, các hiệp một hai nó đá như chơi những người không biết cứ đổ bạc về phía con gà kia; nhưng tới hiệp ba chẳng hạn gà mình chỉ cần “xuất chiêu” là tha hồ hốt bạc

    Phép xem vảy có thể đem ra áp dụng cho cả hai loại. Kinh sách dạy ta tùy cơ ứng biến. Tỷ như gà có vảy Lạc Ma Hàm Cốc vốn có tài đứng nước khuya thì áp dụng cho đá đòn hay hơn đá cựa.

    Bài Kinh theo vần thơ lục bát được truyền tụng là do Tả Quân Lê Văn Duyệt viết và theo sử liệu thì quê quán tổ tiên của Tả Quân vốn ở Quảng Ngãi; từ đời nội tổ đã dời về Nam lập nghiệp. Qua đời thân sinh thì lại dời về Rạch Gầm, (thuộc tỉnh Mỹ Tho ngày nay.) Mỹ Tho, Sóc Trăng, và các tỉnh miền Tây thì nổi tiếng về gà cựa nên nhiều người đã cho rằng bài Kinh của Tả Quân là viết cho gà cựa.

    Ðể tiếp tục tụng niệm kinh gà, xin mời qúy độc giả suy niệm đoạn kinh sau:49. Con nào sọ thắt liền nhau,

    50. Biết rằng là nó cam đau chịu đòn.

    51. Khấc đầu nó chịu đá lòn,

    52. Lủi sau lòn trước là con thế gà.

    53. Thế gà hẳn có tài ma,

    54. Nhằm đâu cũng đặng miễn là phản công.

    Ðoạn này mô tả sọ gà. Theo sách vở thì cái sọ gà khá quan trọng. Tỷ như sách xem tướng liệt những kẻ có bướu sau gáy thuộc vào thành phần phản loạn thì gà cũng có sách tướng riêng của nó. Thế nên, một người Sư Kê thượng thặng thì phải biết sọ gà của mình.

    Khi một vị Sư Kê đưa tay bóp ngang sọ gà phía trên gò mắt thì thấy nơi đó bị khuyết và nhọn về phía trước theo xương sọ. Nếu nơi đó mà thắt lại, khuyết nhiều, thì đó là con gà thế.

    Ở phía sau ót cũng vậy. Tất cả mọi sọ gà đều thắt lại và bằng phẳng trước khi nổi lên cao để nối với xương cổ. Nếu sọ mà dài ra sau quá thì không có nghĩa là gà xấu, nó chỉ không phải là con gà thế.

    Gà thế thì có tài ngoai lên lòn xuống đủ mọi cách để hạ địch thủ, nó là con gà khôn.

    55. Gà mà có quản mai hồng,

    56. “Mai son” thời biết anh hùng là đây.

    Theo Thầy Phan Kim Hồng Phúc thì gà có quản mai hồng là gà có đôi chân chia làm ba màu rõ rệt.

    57. “Tam Vinh” vảy ấy gà hay,

    Cũng theo thầy PKHP thì Tam Vinh là chân cẳng minh bạch. Ba hàng vảy Ðộ, Biên, Hậu phải đúng cách: Hàng Ðộ phải no đủ, Biên không bị đứt đoạn, Hậu phải xuống quá cựa.

    58. Lộc điền cũng đặng gà cay gà kỳ.

    Lộc Ðiền là hai vảy đâu đầu với nhau. Nếu hai vảy này được ngăn bởi đường đất nhỏ ở giữa không lấn qua Quách hoặc Thành thì nó có tên là Lộc Ðiền Tự. Vảy này xấu.

    Nếu đường đất ngăn chia hai vảy này quay đầu vào Quách thì nó có tên là Lộc Ðiền Nội. Vảy này tốt nếu đóng ngang cựa. Nếu đóng ở những nơi khác thì cũng thuộc loại thường.

    Ngược lại nếu đường đất quay đầu ra Thành thì nó có tên là Lộc Ðiền Ngoại. Vảy này xấu.

    59. “Tiểu son” tấm đỏ “ác tinh”, 

    60. Nó là một thứ nên kinh phải nhường.

    Chân gà thì có rất nhiều vảy nhỏ lấm tấm ở giữa các khe ngón. Nếu những vảy lấm tấm ở giữa ngón thới và hàng nôi có một vảy có màu đỏ như son thì gọi là Tiểu Son. Gà này đựơc liệt vào hạng ác tinh đâm chém rất dữ.

    61. Vào tay cho biết đoạn trường,

    “Vào tay” là thò tay ra giữa bụng gà và nâng nhẹ lên để biết đựơc xương lườn dài hay ngắn; dài thì tốt, ngắn thì xấu. Ở những trường gà mà cho phép Sư Kê của đôi bên “vào tay” thì ấy là lúc các Sư Kê khảo nghiệm khả năng chiến đấu của nhau. Một sư kê kinh nghiệm chỉ cần vào tay cả hai con gà cũng đoán biết được khá nhiều về kết quả của cuộc đấu.62. Quản ngay mới đặng một đường như tên.

    Quản, còn gọi là cán, là khoản chân từ đầu gối tới chậu.

    Quản ngay thẳng thì tốt, quản xiên vẹo, khuyềnh ra thì xấu. Quản mà thắt ở khúc giữa thì qúy.

    63. Ghim kia trường đoản một bên, 

    64. Nó là độc nhãn có tên rành rành.

    Xương ghim nằm ở phía dưới hậu môn. Khi nhìn từ phía sau thì ta sẽ thấy hai đầu nhọn của ghim nhô ra. Nếu hai xương ghim này khít cỡ ngón tay thì tốt. Nếu xương ghim hở rộng ra quá thì gà này tung đòn thiếu chính xác.

    Ngoài ra, nếu hai xương ghim không đều nhau, một bên dài một bên ngắn thì số kiếp con gà ra trường trước sau gì cũng bị đui mắt. Ðoạn kinh trên quả quyết như thế không sai trật.

    65. Xét cho có ngọn có nghành, 

    66. Con nào gò nhật là anh can trường. 

    67. Gò cao mặt khuyết mà thương, 

    68. Thương chi gò lép nhãn to mà lồi.

    Gò nhật ở đoạn này là gò mắt. Xương gò quanh mắt của gà mà có hình bán nhật thì gà ấy được xem là lì lợm.

    “Gò cao mặt khuyết” là nói về gò má. Gà lỳ lợm dữ tợn thì xương gò má nổi cao, mặt mũi uy nghi như một võ tướng.

    Kinh sách chê loại gà có gò má lép và đôi mắt to và lồi. Gà có mắt to và lồi thì dễ bị đá mù.

    Rồi tiếp tục

    69. Thẳng lưng cánh hẹp đã rồi, 

    70. Lại thêm đuôi phụng cổ đôi mình đầy.

    Cẩn thận đừng nhầm lẫn cánh hẹp và vai hẹp. Gà có vai rộng thì mạnh và tốt hơn vai hẹp. Tuy nhiên, gà có vai rộng mà cánh lại hẹp ôm sát thân mình thì tuyệt.

    Một con gà bình thường mà có hai cánh xoạc rộng và phệ xuống thì không tốt.

    Ðuôi phụng hay “Phụng Vỹ” là đuôi dài chấm đất. Gà có phụng vỹ thì có lắm tài.

    Cổ đôi là gà có thêm miếng da sau ót từ gáy xuống tới lưng.

    Lưng gà tốt thì phải xuôi với cần cổ và thẳng băng xuống đuôi.

    Nếu lưng gà và lưng cánh bằng phẳng như mặt bàn, cao phần trên và hạ thấp xéo xuống mé đuôi thì tốt.

    71. Bày ra lưng tốt như vầy, 

    72. Lưng tôm chẳng khéo lưng gầy tài nghiêng. 

    73. Ngắn lưng tài ấy bất thiêng, 

    74. Lại thêm ngắn mã ngắn biên thường tài.

    Gà có lưng gù và lưng tôm đều xấu. Năm thì bảy kiếp thì có gà lưng gù có tật có tài còn bình thường thì không dùng được.

    Gà có lưng ngắn thì kém tài.

    Gà có lông mã ở hai bên hông dài thì tốt, ngắn thì xấu. Ngắn biên tức là hàng vảy biên ở chân gà không chạy dài từ gối quá chậu mà bị đứt đoạn. Loại gà đoản biên này không nên dùng.

    75. Đuôi dài giữa thủ một hai, 

    76. Vũ đôi đa sắc đa oai mà trường. 

    77. Hậu thêm lông quản lông cương, 

    78. Hẳn là lông tượng có đường hiển vinh. 

    79. tài như sấm động vang đình, 

    80. Một mình trấn thủ “kê linh” “kê thần”. 

    Ðuôi gà mà có chen thêm một vài cọng lông đa sắc nhiều màu thì gà có tài.

    Hậu thêm lông quản lông cương

    Lông quản ???

    Lông Cương tức là lông thép.

    Gà có lông mã thép thì rất dữ. Lông mã thép thì nhìn cũng thấy nó cứng rắn. Khi ta sờ vào thì thấy nó khô cứng chứ không mềm như những cọng lông mã bình thường.

    Các loại lông voi (lông tượng):

    Lông voi (tượng) thì cũng chỉ có một hoặc hai cọng mà thôi. Lông này thường mọc ở cánh và đuôi. Cũng có con mọc ở đùi.

    Loại 1: Lông cứng và to như kẽm. Lông này tuy cứng nhưng rất dẻo và nếu bị bẻ cong thì nó cũng duỗi thẳng y như cũ. Loại lông voi này Mộng Lang đã từng cầm xem qua. Loại này được xem là hiếm. Ngàn con có một.

    Theo Sư Kê Nguyễn Tú thì có thêm hai loại lông voi khác nữa như hình số 2 và 3.

    Loại 2: Lông cứng, lớn sợi, hơi quăn như sợi tóc ngứa. Loại này thường gặp hơn loại 1.

    Loại 3: Lông xoắn lại và có sức co giật như lò xo. Loại này cũng hay thường gặp.

    81. Phụng đuôi điểm rất ân cần, 

    82. Quăn lông xoắn mã trông bần mà thương. 

    83. Kê kia phản vỹ nhiều đường, 

    84. Đặng xem cho biết “tứ thương khứ đà”. 

    Ðuôi phụng như đã nói trên là đuôi dài chấm đất.

    Ngoài ra, có các loại lông đuôi đặc biệt sau đây:

    Nguyệt cung: lông đuôi có nhiều khúc trắng như trăng lưỡi liềm.

    Bạch linh: Lông đuôi có một sợi trắng không đen chỗ nào

    Lông mã là lông ở hai bên hông của gà. Lông mã cứng như xương nên gọi là thép. Gà cựa mà có mã dài, rậm và có mũi nhọn như kim thì đó là con gà chiến. Lông mã mà có vài cọng xoắn lại như hình vẽ này thì lại càng dữ tợn. Mã có nhiều màu sắc khác nhau “tạp sắc” thì không hay. Nhưng nếu có chấm nhỏ li ti thì tuyệt.

    Phản Vỹ: Ðuôi có vài sợi lông quăn lại như tóc uốn. Khi kéo thì thẳng ra, khi buông tay thì lại quăn trở lại như lò xo.

    Tứ Thương Khứ Ðà?

    Hôm nay chúng ta tìm hiểu về triều thiên của các vị vua.

    85. Một hai mão thủ xem qua, 

    Tả quân Lê Văn Duyệt đã từng mô tả mồng gà như mão quan. Phàm trời đất đã xếp đặt cho con gà tài có một chiếc mão oai phong phù hợp với tài năng của chúng.

    ML đã từng được xem qua diện mạo của hai con gà xuất chúng thì cả hai đều có mão xếp từng lớp đổ về phía mỏ như vương miện của Tần Thuỷ Hoàng.

    86. Dáng to mà ngã bất là chỉ thiên. 

    87. Anh hùng chẳng ngã chẳng nghiêng, 

    88. Chấn trên mồng thủ trung kiên thăng trời.

    Mồng gà có gốc từ mỏ và mọc về sau đầu. Nhưng nếu gà có gốc mọc từ trên đầu và đổ về phía trước mỏ thì không gọi là mồng mà gọi là Mão.

    Con gà này có mão từng lớp đổ về phía mỏ. Gà có mão là Vương Kê, có phong cách đường đường là một Chúa Công, tài trí một trời một vực.

    Mồng gà như hình tam giác có đỉnh nhọn chỉ lên trời thì gọi là mồng chỉ thiên. Gà có mồng thẳng không nghiêng mé tả hoặc mé hữu được cổ nhân ưa chuộng và liệt vào hạng anh hùng.

    Trong các loại mồng gà thì mồng dâu là thường gặp nhất.

    Mồng dâu không to cũng không nhỏ, nó có từ ba hoặc bốn cạnh trở lên và thường ngay thẳng.

    Một loại mồng khác là mồng trích. Mồng như mồng chim trích, thường thì mồng này trệt xuống. Gà mồng trích đá nhanh.

    Mồng lá chỉ có nơi gà cựa. Gà mồng lá đá hăng dữ nhưng nếu không hạ địch thủ trong ba nhang đầu thì càng về khuya càng dễ thua.

    Mồng Hoa

    Gà có mồng như cánh hoa nhiều cánh xếp lại. Nếu mồng này mà đổ về trước thì chẳng khác gì mão quan. Các Hành Giả khi đá gà mà gặp đối thủ có mồng xếp lớp đổ về trước như con này thì nên cẩn thận.

    89. Lại thêm hàm kéc lá đôi,

    Hàm kéc lá khoé miệng sâu rộng như miệng kéc. Gà có khoé miệng sâu thì mạnh mỏ và khi mổ thì bám rất chắc.

    Mỏ lá đôi hay mỏ “ba lá” là loại mỏ có hai rãnh ở bên hông mỏ. Nhìn từa tựa như mỏ được ghép lại bởi hai phần.

    90. Mỏ xuôi mà đoản chính tôi anh hùng.

    Mỏ gà càng dài thì càng yếu. Càng cong thì càng chậm.

    Mỏ xuôi mà đoản là mỏ thẳng và ngắn. Mỏ xuôi và hơi cong vừa phải là tốt nhất. Mỏ như mỏ chim sẽ thì cắn nhanh đớp lẹ khiến đối phương không kịp né tránh.

    Mỏ nhỏ mà dài thì yếu

    Mỏ cong thì chậm

    91. Túc trường có thể hình cung,

    Ðùi gà và quản gà cong theo hình cung là tốt nhất.

    Ðùi gà và quản gà thẳng băng như cây cột thì không tốt, không tốt.

    Quản cong hình cung nhưng đùi thẳng băng 90 độ như cột nhà là không tốt. Dễ bị ngã ngửa.

    Gà có thế đứng hai đầu gối chụm lại và hai bàn chân xoạc rộng như hình này thì đá đòn không ngay.

    92. Đại song đại lép tài trung văn toàn. 

    93. Nở đùi ngắn quản thì ngoan. 

    Ðại song đại lép là nói về quản gà, còn gọi là chân, cán, cặp giản v.v.

    Quản gà mà to thì gà đá chậm, mau mệt.

    Quản gà lép gầy xương xẩu là tốt nhất. Đá lâu mệt, đứng nước khuya tốt.

    Ðùi gà phải nở nang to bằng thân hoặc lớn phình lớn hơn thân mới tốt. Nếu ta nhìn từ phía trước mà thấy đùi gà phình to hơn thân thì tốt.

    Ðùi gà phải nở theo hình bầu dục. Ðùi tròn xấu, đòn yếu kém.

    94. Hậu trên nở dưới thắt ngang cán thần.

    Quản gà mà thắt lại khúc giữa thì tốt. Thắt quản không có nghĩa là quản bị cong. Quản ngay thẳng như mũi tên nhưng thắt lại ở đoạn giữa.

    Như hình vẽ thì quản gà tại A và C đều lớn bình thường nhưng đoạn B bị thắt lại.

    95. Cán thần cứ một mà phân, 

    96. Đùi hai trên dưới bất cân mà tài. 

    Ðùi gà phải dài gấp đôi quản gà. Ðùi hai quản một theo như câu “Lưỡng túc tam phân” là đúng sách vở.

    Ðùi gà là phần quan trọng vì sức mạnh của cú đá được phát xuất từ đùi. Ðùi gà to và dài thì sức mạnh nhân đôi.

    Bế gà lên, gập chận lại như hình vẽ và tính từ chậu lên tới gối là phần quản. Nếu chậu gà của bạn chỉ dài tới nửa phần đùi thì bạn đã có một con gà “Lưỡng túc tam phân”.

    97. Nhìn xa ngón ngọ thấy dài, 

    98. Sát trung cang điểm là hai thứ quà,

    Sát Cang Điểm và Trung Cang Điểm đều nằm ở ngón Ngọ. (còn gọi là ngón Chúa). Ngón Ngọ là ngón chân dài nhất trong bốn ngón. Có sách không gọi là Cang Điểm mà gọi là Cân Điểm và Can Điểm.

    Trung Cang Điểm là ngón Chúa cứ cách hai vảy lại có một điểm đốm khác màu đóng vào như vệt chấm. Gà có vảy này thì tài nghệ nghiêng trời lệch đất.

    Trung Cang Điểm cuồng kê thường hạ địch thủ ở nhang thứ nhất. Ít có con nào sống sót qua nhang thứ hai.

    Sát Cang Điểm, hay Sát Cân Điểm là ngón Ngọ có hai điểm đốm ở hai vảy sát nhau. Gà có vảy này thì đá tới tấp như hung thần. Cuồng kê này đá khắp mình mẩy đối phương không chừa chỗ nào.

    99. Ngực gà cũng thể nhìn qua. 

    100. Gặp như thực tả “quý kê” hẳn là. 

    101. Hẳn là giống ấy văn gia, 

    102. Đa mưu chiến lược tài ra tật nguyền. 

    Gà có “trữ thực tả” là gà có bầu diều bên trái. Bình thường thì mọi con gà đều có bầu diều bên phải. Những con gà trữ thực tả thì rất hiếm và có ẩn tài.

    Tiện có con “trữ thực tả kê” này thì Mộng Lang xin “tả” kỹ thêm về đôi chân của một con gà đòn. Theo như kinh sách thì gà chọi phải có cặp đùi to bằng hoặc to hơn thân mình của nó. Ta có thể đứng phía trước và xem xét nếu thấy cặp đùi nở to bằng hoặc hơn thân mình của nó thì đó là cặp đùi tốt. Qúy Bồ Tát cần lưu ý thêm là quản (phần chân từ chậu đến gối) gà phải nhỏ và thẳng thì mới tốt. Quản to và mập thì xấu.

    103. Lưỡi đầu lưỡng chẽ đã duyên, 

    104. Lại thêm lưỡi thấp lưỡi chuyên như rùa. 

    105. Gà này giống tỏ con vua, 

    106. Điểm đen đầu lưỡi bất thua “kê thần”. 

    107. Như trên đã kể ân cần, 

    108. Kẻo rằng chẳng đặng xa chân thời phiền.

    Lưỡi đầu lưỡng chẽ (lưỡng thiệt) là đầu lưỡi của gà chia đôi thành hai lưỡi. Gà này rất quý.

    Gà có lưỡng thiệt thì lưỡi bị chẻ ra như hình 1.

    Gà có bớt đen ở đầu lưỡi cũng được liệt vào hạng gà qúy không thua “kê thần” như hình 2.

    Lưỡi thấp (Đoản thiệt) hay lưỡi rùa là gà có lưỡi nhưng rất cụt như hình vẽ. Theo như kinh sách thì gà lưỡi rùa miệng rất hôi thối.

    Đoản thiệt kê đựơc xem như Hoàng Thái Tử vì có tài nghệ áp đảo quần thần.

    109. Bấy lâu tướng vảy bất duyên, 

    110. Cùng xin xuất hết chinh chuyên “Đạo gà”. 

    111. Đạo gà như thể trăm hoa, 

    112. Biết đâu mà kể vảy xa vảy gần.

    Thú chọi gà được Sử Ký đề cập đến tại xứ ta ít nhất là từ cuối thế kỷ thứ mười ba vì khi quân Nguyên xâm lấn nước ta thì Thái-Sư-Thượng-Phụ Hưng Đạo Đại Vương có khiển trách binh sĩ và các tì tướng của ngài về tội mê chọi gà.

    Nước ta có chiến tranh triền miên. Khi Pháp chiếm kinh thành Huế thì đã thiêu rụi thư viện quốc gia. Kinh sách, tài liệu hiếm quý phút chốc tan biến thành khói. Có thể là các pho sách bị đốt bao gồm những tài liệu thơ phú liên quan tới Đạo Kê của cổ nhân.

    “Đá như trong Kinh” – Người xưa dày công nghiên cứu kê pháp và xem nó như nghề nghiệp. Ðạo Kê (Gọi là Kê Ðạo theo cách đọc của Hán văn hoặc Ðạo Kê theo lối đọc của Việt văn) là Đạo, là Nghiệp có lẽ vì nó đòi hỏi sự hiểu biết có bài bản.

    113. Xa gần nó ở ngoài chân, 

    114. Lộ dung hình dữ nên phân thế này. 

    115. Con nào đá cựa đá tầy, 

    116. Đá ngang đá dọc đá rày chẳng kiêng. 

    117. “Vy đao” “yểm địa” “thắt biên”, 

    118. Thì ra vảy ấy bất kiêng bất nhường.

    Theo tài liệu của mình thì Giáp Vy Đao không phải là những vảy nhỏ của hàng thới đi lên mà là vảy của hàng Quách (còn gọi là hàng Nội). Giáp Vy Đao có mũi nhọn như mũi dao chỉa vào cựa. Giáp Vy Đao phải có từ ba mũi trở lên. Nếu chỉ có hai mũi thì nó có tên là Song Phủ Đao.

    Chiến kê có Giáp Vy Đao ra đòn ác độc sát phạt tới tấp dọc ngang khiến đối phương không kịp thở.

    Vảy Yểm Ðịa là một vảy nhỏ dặm thêm vào của ngón Ngọ sát chậu. (cẩn thận đừng lộn với vảy Ẩn Ðịa).

    Trong phép xem vảy thì vảy nhỏ ăn vảy to. Vảy bên chân trái ăn vảy bên chân phải.

    Yểm Ðịa đóng cả hai chân thì gà có tài hạ địch thủ trong nhang đầu. Nhưng quý Bồ Tát cũng biết rằng khi hai con gà tài gặp nhau thì cuộc đấu có thể sẽ không kết thúc nhanh chóng mà trái lại kéo dài vì những con gà có tài tấn công thường cũng có tài né tránh chịu đòn bền khuya.

    Mình đã từng được nghe những mẩu chuyện kể về hai con gà tài đụng nhau mà mỗi con đều đã có thành tích hạ đối phương trong nhang đầu lại không thể hạ được nhau cho tới nhang cuối để rồi hoà nhau nhưng khi về thì sáng ra cả hai đều lăn ra chết.

    Người xưa giải thích rằng những con Thần Kê không phục nhau và chúng không bỏ chạy tuy trong mình mang nội thương và lục phủ ngũ tạng đã nát bấy nên sau khi kết thúc trận đấu thì quy tiên.

    Quản gà mà có rãnh ở giữa tạo ra bởi hai hàng vảy Thành và Quách nổi cao lên như hình vẽ này thì gọi là Hàm Rập, vảy này tốt.

    No Hậu

    Theo như các Sư Kê lão luyện thì họ chú ý tới hàng hậu nhiều hơn là hàng tiền. Nếu hàng tiền đựơc xem như hàng vảy chứa đựng tài nghệ cho các đòn tấn công thì hàng hậu được xem như hàng thủ thế của gà. Tiền tốt mà hậu bần thì hỏng. Hậu tốt mà tiền bần thì vẫn có thể xài tạm.

    Gà có hàng hậu no nê và chạy dài từ gối xuống tới cựa hoặc sâu hơn đều được xem là tốt. Con nào vảy hậu xuống không tới cựa hoặc nát hoặc khiếm khuyết đều bị loại bỏ.

    119. Thất hậu đoản thẳng một đường,

    Đoản Hậu 

    Vảy hậu xuống chưa tới cựa như hình vẽ này thì xấu, không nên đem ra Kê Trường.

    120. Lại thêm chia gối chán chường ối a !

    Nát Gối

    Hàng hậu xuống tới hoặc quá cựa nhưng sát gối mà nát như hình vẽ này thì cũng xấu. Không dùng được.

    Kém Hậu

    Hàng hậu xuống tới cựa nhưng vảy hậu nhỏ lăn tăn yếu ớt như hình vẽ thì được xem là kém hậu, cũng không nên dùng.

    Khai Hậu

    Hàng hậu có một vảy nứt ra cũng không xài được ngoại trừ hai trường hợp sau đây:

    1. Bể Biên

    Hàng Quách cũng có một vảy bể ra thì gọi là “Bể Biên Khai Hậu” là cậu gà nòi. Ấy là điềm lành. Bể biên đây không phải là bể hàng biên mà là một vảy ở hàng Quách bể ra. Bể hay khai cũng đồng nghĩa. Câu “Bể biên khai hậu” hơi tối nghĩa và dễ hiểu lầm. Phải chi sách vở gọi là “Bể Quách Khai Hậu” thì ít có ai hiểu lầm.

    2. Quấn Cán

    Kê Kinh có chép:

    “Rằng mà khai hậu nhỏ to 

    Mà có quấn cán chẳng lo chút nào.”

    Hàng tiền có thêm một vảy Vấn Cán, (còn gọi là Quấn Cán). Vảy vấn cán là một vảy dài vấn ngang quản từ Thành qua Quách. (Tựa như vảy Án Thiên hoặc Phủ Ðịa nhưng địa điểm là từ hàng vảy thứ tư trở xuống và trên cựa.)

    Đa Hậu

    Hàng hậu xuống tới cựa nhưng bị chia ra thành hai hoặc ba hàng vảy thì thất cách nên còn gọi là thất hậu

    121. Ai ơi áp khẩu chỉ ra, 

    122. Tài hay lụn bại thêm là phí công.

    Có hai tài liệu về vảy Áp Khẩu. Theo nhiều tác giả danh tiếng (Mộng lang xin tạm giấu tên) thì vảy Áp Khẩu là ở ngón Thới có một hàng vảy bình thường đột nhiên có một vảy chia đôi thành hai vảy. Nhưng tài liệu hình vẽ vảy áp khẩu như vậy không đúng như Kê Kinh.

    Tài liệu thứ hai về vảy Áp Khẩu của tác giả Vũ Hồng Anh thì vảy Áp Khẩu là đường chỉ chẻ ra và sổ dài từ gối xuống chậu và đổ ra rãnh giữa ngón Nội và ngón Chúa (điểm B) hoặc sổ xuống rãnh giữa ngón Chúa và ngón Ngoại (điểm A) theo như câu “hoặc ngoại hoặc chính trung tâm”. Hình này Mộng lang vẽ phỏng theo hình của tác giả Vũ Hồng Anh.

    Kê Kinh chép:

    Áp khẩu đường chém chẻ hai, 

    Đóng trên các vảy xổ dài xuống ngay. 

    Ấy vảy nó chỉ ra rày. 

    Vảy ấy là nó như bày cây kim. 

    Hoặc ngoại hoặc chính trung tâm, 

    Nuôi thì tốn lúa lại thêm thua tiền.

    Theo Kinh thì hình vẽ vảy Áp khẩu của tác giả Vũ Hồng Anh có phần chính xác hơn. Mộng lang xét thấy chính xác hơn chứ bản thân mình chưa từng thấy qua nên không dám kết luận. Theo như trong kinh thì vảy này là một đường chỉ chém băng qua các vảy như một cây kim. Có lẽ nó phải là một đường chỉ thẳng băng thì đúng như trong kinh hơn.

    Gà có vảy Áp Khẩu là gà xấu, không thể đem ra trường được.

    123. Đôi chân thủy được như sông, 

    124. Vảy khô như chết móng rồng phải kiêng.

    Vảy chân của gà chọi mỏng và trong như mặt nước sông thì ra đòn rất nhanh. Gà có vảy trong và mỏng thì dùng cho gà cựa thì tốt. Đối với gà đòn thì nên chọn vảy khô và lởm chởm như vảy gà chết vì gà có vảy khô tuy ra đòn chậm nhưng đá đau thấu xương.

    Kê Kinh có câu:

    Bất câu xanh xám trắng ngà, 

    Ðường đất cho nhỏ vảy mà cho trong……. 

    Khai mương vảy dóng khô vi 

    Chơn như gà chết võ thuần chẳng sai.

    Vảy trong và mỏng thì đường đất phải cho nhỏ, vảy khô thì Thành và Quách phải nổi cao (còn gọi là hàm rập hoặc khai mương) thì mới tốt.

    Cũng theo Kê Kinh thì:

    …Vảy đóng cho mỏng chân dày phân ba 

    Ngón dài nhỏ thắt tằm nga. 

    Đường đất như chỉ đóng xà cựa kim. 

    ……Cho hay là thể thuần văn 

    Địch cùng võ thể mười phần toàn công.

    Và:

    …..Vảy thời to kịch hình dung võ toàn, 

    Đá thời động địa kinh thiên, 

    Sánh cùng văn thể thủ thành đặng đâu.

    Xem thế thì gà chọi có vảy khô như vảy gà chết thì thuộc dòng Võ. Gà có vảy mỏng và trong như mặt nước sông thì thuộc dòng Văn. Văn quan ăn võ quan. Tuy nhiên, tất cả còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác

    Khi một con thần kê thác đi thì các Sư Kê thường giữ lại cặp chân gà để nghiên cứu. Chân gà chết lâu ngày thì thịt teo và vảy khô lởm chởm. Đoạn này mô tả vảy khô như vảy gà chết là vậy.

    Mình không có tài liệu về móng rồng mà chỉ có tài liệu về vảy rồng thôi.

    Vảy gà xếp lên nhau theo hình thức “Nhân Tự” 人 là gà quý.

    Theo Hán văn thì:

    Nhân = người

    Tự = chữ.

    Gà có vảy nhân tự xếp lên nhau trông giống như   Chưởng”.

    125. “Tam Tài” đòn quý đòn thiêng, 

    126. Nó hay quăng đá bất kiêng chẳng nề. 

    Vảy Tam Tài đã được mô tả trong những trang trước. Ngoài ra, khi vảy phủ địa mà có ba cái thì nó đựơc gọi là Tam Tài Phủ Địa, 3 vảy Huyền Châm thì gọi là Tam Tài Huyền Châm v.v.

    Gà đá quăng là nạp đòn mà không cần phải núm đầu hay lông đối thủ.

    127. Chân nào tứ trụ đa thê, 

    128. Đòn hay hiểm hóc vỗ về nước khuya,

    (Theo ít nhất là 2 danh sư thì vảy Tứ Trụ là 4 vảy giặm ngang cựa mà chia đều nhau, không vảy nào lớn nhỏ. Tài liệu vảy Tứ Trụ của các danh sư kém phần chính xác, hình vẽ chưa hợp lý, bổn Tự cần phái thuộc hạ đi nghiên cứu thêm.

    129. “Lạc ma hàm cốc” cũng khuya, 

    130. Còn như ám chỉ ra tia độc đòn.

    Vảy Lạc Ma Hàm Cốc là một vảy có hình tròn thuộc hàng Quách nằm dưới cựa. Theo như Ðạo Kê thì gà có vảy này rất bền nước khuya.

    Gà có vảy này ưa bay cao, đá mép, đá hầu và đá tạt rất giỏi.

    Ám Chỉ tức là Nguyệt Ám Chỉ. Ðường chỉ này nhỏ xíu quấn ngang sát gối từ Quách qua Thành hình ánh trăng lưỡi liềm. Gà có chỉ này ra đòn độc địa na ná như phép Nhất Dương Chỉ của nhà họ Ðoàn . Chỉ này còn đựơc gọi là Chỉ Nguyệt Anh. Theo một vài danh sư thì gà có chỉ này rất may độ.

    131. Xuyên thành hổ trảo nhiều con, 

    132. chém như dao cắt địch bon chạy dài. 

    Xuyên Thành là hai vảy dưới cựa sát nhau của hàng Thành có đường nứt. Ðịa điểm của vày này là khoảng dưới cựa. Gà có Xuyên Thành tung đòn nặng nề đủ làm gãy cổ đối thủ.

    Nếu vảy Xuyên Thành mà nằm ở hàng Quách thì nó có tên là Phả Công, (có nơi gọi là Tả Công). Gà có Phả Công chuyên đá tạt rất hung dữ.

    Theo danh sư Phan Kim Hồng Phúc thì vảy hổ trảo là chân gà có vảy lốm đốm xanh, đen, hoặc đỏ. Gà có vảy này đá chắc đòn. Mộng lang không có tài liệu hình vẽ của vảy này.

    133. Cẳng nào vấn án hoành khai, 

    134. Khôn lanh như chớp chẳng sai nhiều đường.

    Có ít nhất là 3 sự dị biệt giữa các danh sư về vảy Vấn Án Hành Khai.

    Theo danh sư Huỳnh Ngọc Trảng thì vảy Vấn Án Hành Khai là 1 vảy vấn có 1 đường nứt ở giữa, vảy này nằm tại cựa hay từ cựa tới chậu thì tốt hơn nằm ở quản gà.

    Xem ra thì vảy này gần giống vảy Lộc Ðiền Tự nhưng khác nhau ở đường đất chia đôi. Lộc Ðiền Tự có đường đất chia đôi. Vấn Án Hành Khai cũng có đường chia đôi nhưng chỉ là đường nứt.

    135. “Hổ đầu” “hắc bạch” phải thương,

    Hổ đầu có thể là Hổ Ðầu Nhâm – ngón chúa có nhiều vết đốm khoang nhỏ li ti. Gà có Hổ Đầu Nhâm ra đòn cực mạnh từ nước hai đổ đi.

    Ngoài ra, ngón chúa có một dặm nhỏ ở vảy đầu tiên sát móng thì gọi là Hổ Đầu. Cũng tại điểm này mà có vảy Nhân Tự thì gọi là Nhân Tự Ðầu Hổ. Tất cả đều là vảy của gà dữ.

    Hắc tức là Hắc Hổ Thới. Các ngón của hai chân đều có móng trắng duy ngón Thới có móng đen cả hai chân thì gọi là Hắc Hổ Thới. Gà này giao tống mạnh.

    Bạch tức Bạch Ðầu Chỉ. Tất cả các móng đều đen duy ngón chúa của cả hai chân có móng trắng. Gà có Bạch Đầu Chỉ có biệt tài song phi và đá tạt.

    Vảy này gởi riêng cho Nhị Ca.

    Theo danh sư Huỳnh Ngọc Trảng thì Độ Tam Tằng là độ có hai hàng kẽm kèm theo hộ vệ hai bên. Một hàng kẽm ở bên hàng Quách và một hàng kẽm ở bên hàng Hậu.

    Nếu nhìn từ sau cựa của gà và đi theo chiều kim đồng hồ vòng ra phía trước thành một vòng tròn thì chúng ta sẽ có những hàng vảy như sau:

    Độ/Kẽm/Quách/Thành/Biên/Hậu/Kẽm/Độ.

    Và như thế thì chúng ta trở lại vị trí ban đầu là Độ.

    Theo danh sư Huỳnh Ngọc Trảng thì gà có độ tam tằng rất tốt.

    Sự khác biệt gữa hai vảy Vấn Án Hành Khai và Ðâu Ðầu là “đường nứt ở giữa”.

    Khi gà còn nhỏ thì vảy Vấn Án Hành Khai chỉ là một vảy vấn (quấn). Nhưng khi trưởng thành hoặc về già thì có đường nứt chia đôi vảy vấn nên gọi là Vấn Án Hành Khai. Còn vảy Ðâu Ðầu thì ở giữa chỉ là đường đất bình thường. (không phải đường nứt.)

    Có khá nhiều dị biệt giữa các danh sư về hình thức của vảy này nhưng Mộng lang chỉ chọn làm tài liệu những vảy nào có hình thức đúng như tên gọi hoặc đúng như Kê Kinh mô tả mà thôi.

    Tên gọi của vảy Vấn Án Hành Khai theo bổn sư hiểu thì là một vảy quấn (Vấn) bị nứt (Khai) một đường (Hành), trấn ngự phía trước (Án).

    Tiếp tục Ðạo Kê thì:

    136. Như thương “ẩn địa” “giáp cương” là thường.

    Vảy Ẩn Ðịa nằm ẩn ở dưới vảy Phủ Ðịa. Vảy Phủ Ðịa là một vảy vấn nằm dưới tất cả các vảy của quản gà. Khi khẽ lật mí vảy Phủ Ðịa lên thì sẽ thấy vảy Ẩn Ðịa nếu có.

    Lưu ý: Ðừng lộn vảy Ẩn Ðịa với vảy Yểm Ðịa.

    Mộng Lang không có tài liệu của “giáp cương”.

    137. Nhật thần hổ khẩu khai vương,

    138. Chỉ tài võ nghệ cao cường phải ra. 

    Theo Kê Kinh thì vảy Nhật Thần là vảy có thể chống đỡ được đao thương.

    Nhật thần vảy đóng ở đâu,

    Nó đóng ngang cựa để hầu phòng thương……..

    Cũng theo Kê Kinh thì hình thức của vảy Nhật Thần là một liên giáp có đường nứt ở giữa như câu:

    Liên giáp hai vảy dính liền

    Liên giáp nứt giữa, nhựt thần rất hay.

    Có sách cho rằng vảy Nhật Thần có hình tròn. Nhưng Kê Kinh chỉ nói rằng vảy Nhật Thần là một Liên Giáp đóng tại hàng Quách do hai vảy dính liền nhau (giống như Hổ Khẩu) nhưng có thêm đường nứt ở giữa mà thôi.

    Bất kể vảy Nhật Thần có hình tròn hay ngũ giác nhưng điểm quan trọng là phải có đường nứt ở giữa và đóng ngang cựa. Nếu không có đường nứt ở giữa hoặc đóng nơi khác thì không phải là Nhật Thần.

    Chiến kê có vảy Nhật Thần ra đòn long trời lở đất. Ðường nứt ở giữa của vảy tựa như một lời cảnh cáo cho những địch thủ chán sống.

    137. Nhật thần hổ khẩu khai vương,

    Vảy Nhật Thần và Hổ Khẩu đều là Liên Giáp Nội đóng tại cựa. Liên Giáp Nội là hai vảy ở hàng Quách dính liền nhau không có đường đất ngăn đôi.

    Vảy Hổ Khẩu không có đường nứt chia đôi.

    137. Nhật thần hổ khẩu khai vương,

    Vảy Khai Vương là 4 vảy vấn đóng ở giữa chậu và có một đường khai (nứt) chạy băng qua vảy thứ hai và ba. Ðường nứt tạo ra chữ Vương 王

    Kê Kinh viết:

    Khai vương giữa chậu hai bên

    Chẳng sớm thì muộn không quên đòn tài.

    Vảy Khai Vương phải đóng dưới cựa và càng sát chậu càng tốt. Vảy Khai Vương mà đóng trên cựa thì thất cách.

    Có sách mô tả vảy Khai Vương đựơc tạo ra bởi hai vảy vấn chứ không phải 4 vảy vấn. Mộng lang chọn dùng loại 4 vảy vấn vì bản thân đã từng đựơc xem qua, loại 2 vảy vấn bị trùng tên với vảy Gạc Thập.

    Có một số Sư Kê không thích vảy Khai Vương vì tuy rằng vảy này là vảy tài nhưng gà lại ít gặp may.

    VỪa đọc qua thấy ML giải thích về vẩy đâu đầu , nói thực thì tên vẩy mình không biết nhiều , chỉ nhìn thì mới biết thôi, nhưng theo mấy tay chơi gà ngoài này nói thì vẩy đâu đầu như ML nói khác cơ, đâu đầu là 1 chùm vẩy chụm đầu vào nhau , đâu đầu vào nhau (khác với các vẩy chụm vào nhau hình hoa thị , hình hoa thị xoáy trên gối , hay dính vào nhau hình chữ vương thì lại là gà tài) , vẩy đâu đầu là 4 vẩy hoặc 8 vẩy hay nhiều hơn đâm đầu sát vào nhau cơ, nếu đóng trên gối thì lại càng chán hơn.

    nếu nói đến đường nứt không thì có 4 loại nứt:

    – nứt ngang : 1 vẩy quấn có thêm 1 đường nứt lõm xuống như vết chém ngang

    – nứt dọc : 1 vẩy quấn có thêm 1 đường nứt lõm xuống như vết chém dọc

    – nứt hình chữ thập : 1 vẩy quấn có thêm 2 đường nứt lõm xuống như dấu cộng ấn vào.

    – nứt hàng nội (vết chém dọc vào 2 vẩy hàng nội, hay vết rạch hình chữ chi trên 1 vẩy to) , nếu nứt hàng ngoại thì phá cách , ít dùng.

    cả bốn loại nứt trên thì gà hay đặc biệt là nứt hình chữ thập là tốt nhất, nhưng tất cả chỉ nứt trên 1 vẩy to thôi hoặc vết chém dọc trên 2 vảy hàng nội.

    Như vậy vẩy khai vương không phải là 1 vẩy to có vết chém hình chữ vương, mà là 6 vẩy riêng rẽ dính lại (dính lại khác với đâu đầu lại hay khác với vết chém trên một vẩy lõm xuống) tạo thành vẩy to hình chữ vương (nhìn qua như 1 vẩy to nhưng là 6 vẩy dính lại nhưng cũng không phải là 1 vẩy to thực có vết chém chữ vương), gà cực hay, ngoài này gọi là vương giáp , đứng đầu các vẩy tài , cực quý vì không dễ gì người đời lại gọi là vương giáp đâu, các cụ ngày xưa đã gọi cái gì là vương thì không phải thứ vừa.

    Còn nhật thần thì cũng có cả nhật thần chỉ nữa phải không? đã là mắt trời thì chắc phải có 2 mắt tròn to và đẹp nữa chứ…. tôi cũng chưa nhìn thấy con gà nào có vẩy này cả, nên cũng không biết hay thế nào, tôi đang nuôi con ô chân xanh , có vẩy phủ địa 1 chân, đang hi vọng vào nó nhiều mà không biêt thế nào..

    Đa số sách kinh kê QNC đọc thì đa số là nói về mặt tiền ít nói về hàng vảy độ.

    -Vảy Tam Tần: có 3 hàng vảy độ (cả 2 chân) chạy dài từ gối xuống chốt cựa. Theo QNC được biết thì những con gà này rất khôn (thuờng thì loại gà tránh né), và rất may độ.

    -Hoa Mai: o hàng vảy độ có một vảy ở giữa 5 cái vảy nhìn giống bông hoa. Những con gà có bông mai thường thì có chân hiểm đá chết địch thủ.

    Bác Mông Lang có thể nào vẽ giúp em được không. Tại vì em không biết vẽ minh hoạ.

    Khi tìm được đến đây thì thầy Mộng Lang đã quảy gánh ngao du sơn thủy rồi hả ! BaLoi đọc bài Đạo Kê được thầy ML diễn nghĩa rất tài tình. Lấy làm phục lắm vì BaLoi chơi gà cũng đã lâu, ngày còn bên VN cũng có nghe mấy tay Sư Kê nói về cuốn sách Đạo Kê này nhưng chưa hề thấy qua. BaLoi nghe mấy sư phụ chơi gà nói lại là ông chủ gà Mai Lĩnh, một tay chơi gà rất nổi tiếng ở miền Nam trước 1975. Mai Lĩnh là tên của Mai Lĩnh Ấn Quán, nhà xuất bản , in sách. Tay Mai Lĩnh này chơi gà cũng là bậc sư, có con gà mái lưỡi đen đúc ra nhiều con gà chinh chiến ăn nhiều trận nổi tiếng, dân Sài gòn, Biên Hòa đều biết tiếng. !!!

    Có 1 trận gà của Mai Lĩnh thua gà BaLoi rất độc đáo !!!

    Vảy Nhật Thần là do chữ “Nhật” (日) tức mặt trời đóng ngay cựa. Vảy này là một liên giáp có dạng hình chữ nhật như chữ Hán. và có đường nứt ở giữa giống như chữ “Nhật”. Nhật Thần có nghĩa là Mặt trời mọc buổi sớm.

    Vảy Hổ Khẩu (miệng cọp) là do chữ Hán “Khẩu” (口) là miệng. Đây cũng là vảy liên giáp đóng ngay cựa. Tuy nhiên ít khi nào chúng ta có thể tìm thấy gà có lọai vảy này đóng vuông vức vì còn phụ thuộc vào đường chia của vảy bên hàng “Thành”. Do đó không phải bắt buộc là vuông góc hòan tòan như hai chữ “Nhật” và “Khẩu” trong chữ Hán.

    139. Đao kia vảy đóng hoa cà, 

    Ấy là đao độc chết thà chẳng khinh. 

    141. Gặp tên song phủ giáp kinh, 

    Nhất thời đâm chết nhì thời bất dung. 

    Trong câu 139 nói đến gà có 6 vảy đóng ngay tại cựa như hình Hoa cà. Hoa cà có 6 cánh và ở giữa một vảy xem như là đài hoa. Lọai gà có vảy Hoa cà đâm rất độc hại, nếu đâm là gà đối phương không mù thì khó mà thóat chết. Thường là gà ba hàng vảy chạy xuống dễ tạo thành hình Hoa cà nhưng không đúng lắm. Nếu gà có 2 hàng trơn mà ở ngay cựa chẽ thảnh 3 hàng vảy thì mới tạo ra vảy Hoa cà.

    Trong câu 141 nói đến lọai gà có vảy “Song Phủ” như hình hai cái búa giao nhau. Trong kê Kinh cũng có nhắc đến lọai vảy tương tự như “Song Phủ” là “Nguyệt Phủ”, các hành giả chư tôn hay lầm lẫn giữa hai loại vảy này:

    Nguyệt phủ là vảy buá trăng, 

    Thân nội cái vảy dường chưng buá hình. 

    Hai hàng vảy đóng rành rành, 

    Hai bên đâu lại hiệu danh giao đầu.

    Trong Hán Văn, chữ “phủ” có nghĩa là cái búa có dạng như sau 斧 do đó mỗi chân từ hàng quách (thân nội tính ra) có vảy chạy chéo lên như hình lưỡi búa. Trong sách “Giáp Kinh” của Nhất Phẩm Đường cũng có nói đến lọai vảy kinh thiên động địa này. Gà có vảy “Song Phủ” hay “Nguyệt Phủ” mỗi lần ra trận là có cảnh “máu chảy đầu rơi”, phải lấy mạng gà đối phương.

    {Hình Vẽ của ĐCCH về Song Phủ Đao}

    Nếu đọc lại câu trong Kinh Kê thì thấy chữ “Nguyệt Phủ” là hai vảy có hình như lưỡi búa nhưng đóng hoành ngang sang hàng Thành. Trong Hán tự chữ Nguyệt là 月, do đó phải là vảy vấn liền từ hàng quách sang hàng thành ( Hai hàng vảy đóng rành rành). Nếu chỉ có 1 vảy vấn đóng ngay cựa được gọi là vảy “Nguyệt tà” hay “Xuyên Đao”. Nếu hai vảy vấn đóng ngay cựa có hình dạng hơi loe rộng ra như hình đầu búa rìu (bên hàng thành) thì đó là vảy “Nguyệt Phủ”.

    Nếu hai chân đều đóng vảy “Nguyệt Phủ” như trong câu “Hai bên đâu lại hiệu danh giao đầu” thì thật là vảy độc hại. Gà có vảy “Nguyệt Phủ” hay “Song Phủ” không những có tài đâm mà còn dùng cựa để chém như lưỡi búa !!!

    {Hình vẽ của ĐCCH về Nguyệt Phủ Đao – giống như song phủ đao nhưng là hai vảy vấn như hình búa đóng ngay cựa }

    143. Xem đao phải biết hãi hùng, 

    Cựa kim đóng thấp vòng cung vẹn toàn. 

    Phòng đao “giáp thới” truy hoan, 

    146. Ửng tâm nhật nguyệt mưu toan hổ rừng. 

    Câu 143 và 144: Gà mà có cựa hình dạng nhỏ và nhọn lễu như cây kim đóng thấp phía sau chân. Hơn thế nữa là có hình hơi cong như hình cây cung là giòng gà giỏi về đâm cựa. Gà cựa nhọn hình cung thì có tài lấy mắt gà đối phương nhấp nháy.

    Câu 145 và 146: Gà có vảy (nứt như chữ thập) mang hình chữ Giáp 甲 đóng ở đầu ngón thới cũng là một lọai gà sở trường về dùng cựa như đao để đâm gà đối phương. Trong phần này Đạo Kê đang bàn về “đao” nên nói đến “Nhật Nguyệt” là một bên cựa màu trắng, một bên cựa màu đen. Lọai gà có cựa Nhật Nguyệt thường được xem như là lọai Linh kê ra đòn dữ như cọp. Trong Kê Kinh có bổ túc thêm như sau :

    “Ðôi chơn nhựt nguyệt anh linh chẳng vừa.”

    Tuy nhiên Kê Kinh lại nói đến đôi chân chứ không riêng gì cựa, vì thế nhiều sư kê đã diễn rộng ra cựa Nhật Nguyệt không chỉ gói gọn trong màu của cựa mà còn nói đến màu sắc của cả cặp chân nữa. Thí dụ như một chân trắng và một chân đen (rất híêm thấy), hay chân trắng cựa đen, hay chân đen cựa trắng đều được xếp vào lọai gà “Nhật Nguyệt”.

    Một điểm khác tiện đây xin được bàn thêm cùng các tôn gỉa, các bậc sư kê và nghệ nhân chơi đá gà là hầu hết đều dùng chữ “anh linh” để diễn đạt là gà Linh Kê. Theo thiển ý của BaLoi thì chữ “Linh” được hiểu theo Việt Ngữ là “linh thiêng” và huyền bí ở đây không hẳn đúng lắm. Tuy nhiên hai chữ “anh linh” hiểu theo nghĩa tiếng Hán Việt thì đó chỉ là một lọai tài giỏi, nhanh nhẹn hơn bậc thường tình thôi. Cho nên gà “Nhật Nguyệt” ra trường đụng phải gà hay hơn cũng bị thảm tử như thường. Các tôn giả không nên hiểu theo hai chữ “Linh Kê” là gà linh nên không thể thua và không thể bị đá bại.

    147. Thới mà cao thấp không chừng, 

    Án bên cánh tả đoản đừng phải phân. 

    Phủ hoành song giáp là trân, 

    150. Đòn luôn khép chặt đôi chân phải tường.

    Câu 147 và 148: Gà mà có ngón thới, là ngón nằm phía sau gần cựa mà một bên cao, một bên thấp không đều nhau, các chư vị nên cẩn trọng nếu đụng phải. Nếu gà mà có ngón thới bên chân trái ngắn hơn chân phải thì đó là con gà dùng móng để ra chiêu “Hổ Trảo Cầm Nã Thủ” để ra đòn độc hạ thủ gà đối phương khi lâm trận.

    Câu 149 và 150: “Phủ Hòanh Song Giáp” tương tự như vảy “Nguyệt Phủ” mô tả trong Kê Kinh đã diễn giải ở câu 141 – Đạo Kê. “Phủ hòanh” là vảy có hình cái búa đóng ngang (hòanh) từ hàng quách kéo qua hàng thành. Vảy này phải được đóng cả hai chân thì mới gọi là vảy của quý kê.

    Gà có lọai vảy “Phủ Hoành Song Giáp” có hình dạng như chiếc búa này ra đòn rất khôn lanh, mưu lược và khống chế gà đối phương, gài thế đưa vào tử lộ để dứt điểm trận đấu.

    151. “Nhím kê” nó thật cao cường, 

    “Mỵ kê” mà có ngũ thương tử hình, 

    Dung nhan ấy thật là tinh, 

    154. Ngưỡng qua thời biết anh linh cả đời.

    Câu 151 và 152: Những con gà có lông mã chỉa ra tua tủa cứng như lông nhím, còn được gọi là gà “lông thép”. Đây là một trong những lọai gà có đặc điểm dị kỳ như “qúai kê” ẩn tướng. Lọai gà lông nhím này có tài nghệ rất cao cường nếu ra trường gà mà các hành gỉa đụng phải lọai gà này phải đề phòng.

    “Mỵ Kê” đây là “Tử Mỵ Kê” mà có “ngũ thương” (伍 鎗) tức là cái kiềng hay cái vạc có 3 chân xếp bằng nhau. Ở đây ý nói đến thế ngủ của “Tử Mỵ Kê” khi nằm ngủ đầu xỏai ra phía trước và mỏ chấm xuống đất làm thành 1 điểm, hai điểm phía sau là hai đầu cánh xòe ra chống xuống đất tạo thành 3 điểm chống đỡ trong lúc ngủ trông vững chãi như cái vạc 3 chân.

    Câu 153 và 154: Hai câu này chỉ diễn giải thêm về Tử Mỵ Kê. Lọai gà Tử Mỵ Kê dấu tướng rất khó lòng khám phá ra. Nó chỉ lộ hình tướng trong khi ngủ mê mệt mà thôi, cho nên chư vị chơi gà phải tinh ý cho lắm mới khám ra con gà mình có phải là “Tử Mỵ Kê” hay không ? Nếu đúng là Tử Mỵ Kê thì thật là gà quý hiếm và tài giỏi, cả đời chưa dễ dầu gì gặp được một.

    155. “Án thiên” gối phủ an nơi, 

    Gà hay kiếm đặng mà chơi mà chiều. 

    “Ám long” vảy ấy mĩ miều, 

    158. Một là “quái kiệt” hai là “linh kê”. 

    Gà nếu có vảy vấn đầu tiên đóng ngang ngay gối thì đó chính là “Án Thiên”. Dựa theo luật bất thành văn của Đạo Kê là nếu gà có 3 vảy liền nhau gọi là “Tam Tài”. Do đó vảy “Án Thiên” đóng tại gối theo thứ tự từ trên xuống là Đệ Nhất Án Thiên, Đệ Nhị Án Thiên và Đệ Tam Án Thiên thì là gà có quý tướng. Tuy nhiên nếu không có Đệ Nhất mà chỉ có Đệ Nhị hay Đệ Tam Án Thiên thì không phải là gà hay, chỉ trung bình thôi. Một số dịch gỉa diễn nghĩa gà có “Án Thiên” là gà của Trời e không đúng lắm. Quản gà được chia 2 phần Thượng và Hạ, phần gần sát gối gọi là Thiên (trời cao) và phần sát chậu nơi vảy bắt đầu phân nhánh ra các ngón gọi là Địa (đất thấp). Chữ “Án Thiên” có nghĩa là vảy đóng nơi cao nhất trên quản gà.

    {Hình vẽ của ĐCCH}

    Con gà có vảy “Án Thiên” là loại gà có khí phách quân tử anh hùng ra trận không dễ gì thua. Những con gà có vảy kém hơn thường “soi” vảy “Án Thiên” để biết mặt gà “chính danh quân tử” và biết tài cao thấp mà chịu thua trước. BaLoi có kinh nghiệm qua và từng chứng kiến con gà thường “soi vảy” Án Thiên của quý kê và khiếp đảm bỏ chạy ở hiệp 3 trong khi nó vẫn còn tỉnh táo và khỏe không có dấu hiệu gì là thua.

    Trong các loại vảy có liên hệ đến rồng trong Đạo Kê có nhắc đến 3 loại. Đó là Giáp Long, Giao Long và Ám Long.

    Gà có Giáp Long là có vảy tròn cạnh và xếp hình như chữ Nhân (人) được xếp lớp như vảy rồng xếp từ đầu đến cuối ngón thới như đã được thầy Mộng Lang giải thích ở câu 2.

    “Giao Long Chi Tự’ là loại gà có vảy nhữ chữ “Chi” (之) do hai hàng thành và quách giao nhau từ trên gối xuống chậu đa xéo qua xéo lại như chữ chi (Chi tự).

    Riêng “Ám Long” là gà có vảy tròn như vảy rồng nhưng không lộ hình tướng (Ám là ngầm, ẩn đi) mà mọc ở những nơi khó thấy như dưới đế chậu hay những nơi khác trong mình gà. Trong Kê Kinh có câu:

    Ẩn tinh to nhỏ không cùng, 

    Nó ẩn dưới chậu danh đồng ẩn long

    Theo BaLoi thì chữ “Án” ở đây có nghĩa là “chắn ngang” (theo định nghĩa của Tự điển Việt Nam). Hai chữ Thiên và Địa là thuật dùng từ của cổ nhân để phân biệt nơi cao thấp trong quản gà một cách thi vị hóa mà thôi. Do đó Án Thiên được hiểu là vảy đóng và chắn ngang ở vảy cao nhất trên quản gà.

    Còn nếu dịch theo Hán Việt thì chữ “Án” có nghĩa là : Đè xuống – vảy Án Thiên ở trên cao nhất đè các vảy khác bên dưới (quản gà).

    159. Khai tiền vảy đóng một bề, 

    Vàng son đã hết gà chê gà thường. 

    Gà thường gối vảy ngũ tu, 

    162. Hoặc chân rọc chậu sinh ngu đui mù. 

    Câu 159 và 160 : Hai câu này nói đến những vảy xấu của gà. Gà nếu có vảy khai ở mặt tiền, bất kể ở hàng thành hay hàng quách đều là bị chê không còn gì để “vớt vát”. Duy chỉ có một điểm son cuối cùng là nếu gà bị khai tiền và khai luôn cả hậu thì 2 điểm xấu trấn áp nhau thành ra điểm tốt. Khai tiền ở bên hàng quách (bên hàng gần cựa) mà có khai hậu thì thật là quý tướng kê, còn được gọi là “cậu gà nòi” !

    Câu 161 và 162 : Gà có vảy “ngũ tu” là vảy nhỏ xếp thành hàng ngang từ gối trở xuống, còn được gọi là “gà nát gối”. Câu 162 nói về lọai gà có đường nứt hay đường đất của vảy như bị cắt thắng (rọc) 1 đường chạy từ vảy trổ xuống kẽ móng chúa (giữa) và móng ngọai. Lọai gà này nuôi chỉ “ăn hại thóc lúa” và nếu đem ra trường chỉ là “bị thịt” cho gà người ta đá chứ không có tài cán gì hết ! Rọc chậu hơi giống “Áp Khẩu” chỉ khác là Áp Khẩu thì chạy từ gối gà xuống kẽ của 2 ngón chân.

    Gà có những lọai vảy này thương được sư kê lọai bỏ vào đợt đầu tuyển lựa khi gà được 2 hay 3 tháng.

    Baloi có nghe đến vảy “Tứ Vi” tức là 4 vày giao đầu nhau. Trong hình con gà này có vảy “Tứ Vi” đóng ngay cựa bên chân trái.

    Các cao thủ võ lâm có biết vảy “Tứ Vi” có công dụng và đặc điểm gì không ?

    Hình như còn một tên nữa cho lọai vảy này được gọi là vảy “Gạc Thập”.

    Gà có vảy gạc thập thì hay đâm cựa và có đòn độc, tôi biết một con gà ô chân vàng có vảy này. Từ khi nó khai mỏ tôi đã được xem con gà này, nó có đòn chui thông vỉa, đánh mé mu lưng sập gà luôn. Tôi xem 5, 6 kỳ vần thì trận nào cũng thì con gà đối phương bị đánh 1 đòn nằm bệt dưới chân luôn. Sau ra sới ăn được 2 độ đều chì có hơn 3 ho

    【#9】Kỹ Thuật Nuôi Gà Đá Nòi Tổng Hợp

    Đối với gà mái, từ khi nở ra, lớn lên con nào có ngoại hình “ngố” thể chất khoẻ mạnh, tính khí hung dữ và có một số đặc điểm ngoại hình qui định phẩm chất tốt sẽ được giữ lại làm gà mái sinh sản. Chúng được kiểm định qua vài lứa, nếu sản xuất ra được nhiều gà trống đạt thành tích cao thì tiếp tục sử dụng nhân giống, nếu không đạt thì bị loại bỏ, chuyến sang giết thịt. Đối với gà trống, con nào có ngoại hình tốt, thể chất tốt, tính tình hung hăng thì được đưa vào huấn luyện, trong quá trình này người ta tiếp tục chọn theo các tiêu chí:

    – Có thể chất tốt (có khả năng chịu đòn, gan lì, luyện tập và thi đấu bền bỉ).

    – Có thế đánh hay, đòn đá đẹp và hiểm.

    – Có khả năng tránh đòn tốt.

    Tỉ lệ gà được huấn luyện thành công và trở thành gà thi đấu là rất thấp, chỉ đạt dưới 20% so với tổng số gà trống lúc nở ra.

    Phân bố

    Gà chọi được nuôi từ xa xưa ở nhiều địa phương thuộc tỉnh Bình Định. Đến nay, ước tính cả tỉnh có khoảng 1000 gà trống được tuyển chọn, huấn luyện và sử dụng làm gà thi đấu ở các cấp độ khác nhau. Tất cả các huyện và thành phố đều có nuôi và tổ chức trường đấu gà, song tập trung nhất là thành phố Qui Nhơn, Tây Sơn và Hoài Nhơn.

    Chơi gà chọi cũng là hoạt động giao lưu văn hoá, cho nên giống gà chọi Bình Định hiện nay không chỉ tồn tại riêng ở Bình Định mà còn phát tán ra các tỉnh lân cận như Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hoà, Gia Lai, ĐakLak.

    Gà trống thi đấu đạt thành tích cao thường được bán đi nhiều nơi trong và ngoài nước.

    Phương thúc nuôi gà chọi và tổ chức chọi gà ở Bình Định

    Người chơi gà chọi ở Bình Định Khá đông, song phần lớn là người nuôi gà trống với số lượng ít (1 – 3 con), có một số gia đình nuôi gà mái để tạo giống. Nếu có dòng mái tốt thì họ thường giữ độc quyền, không bán con mái ra ngoài mà chỉ bán con trống.

    Chọn và nhân giống

    – Chọn dòng mái tốt theo ngoại hình, thể chất (thường là những con mái dữ) và đời trước cũng như đời sau của nó có nhiều con trống đạt thành tích cao. Gà mái chọn nhân giống thường là đã đẻ một vài lứa và tuổi không quá già (<6 năm tuổi).

    – Chọn gà trống có ngoại hình tốt và có thành tích cao, tuổi từ 1.5 – 4.0 năm, không đồng huyết với mái đã chọn.

    – Bổ sung dinh dưỡng cho gà trống và gà mái đã chọn trong suốt một tháng trước khi giao phối.

    – Tiến hành ghép phối (thường là vào cuối tháng chạp và đầu tháng riêng).

    – Ấp nở: theo truyền thống, người ta thường cho gà nở vào mùa xuân bằng phương thức ấp tự nhiên do bản thân gà mẹ thực hiện với một vài động tác hỗ trợ của con người. Đã có một số thử nghiệm ấp bằng máy, song lại được đánh giá là chưa thành công, thể hiện ở nhược điểm là gà lớn lên có khả năng thi đấu rất kém.

    Thức ăn và dinh dưỡng

    Theo truyền thống, gà chọi Bình Định được nuôi dưỡng bằng thức ăn tự nhiên dạng nguyên, bao gồm: lúa, gạo, ngũ cốc, giun, dế, động vật thuỷ sinh, côn trùng cây cỏ,…. Ngày nay, người ta sử dụng thức ăn hỗn hợp công nghiệp để cho gà con ăn ở giai đoạn theo mẹ. Sau 1.5 tháng tuổi cho thêm lúa, gạo, cơm, ngô, ếch, nhái, lươn, thịt bò, lòng đỏ trứng, rau, giá,…. khi tăng lượng lúa thì rút dần cám công nghiệp , đến khi tách mẹ thì cho ăn hoàn toàn bằng lúa. Cho gà ăn làm hai bữa vào 9 giờ sdáng và 4 – 5 giờ chiều. Riêng gà con cho ăn tự do, gà tách mẹ ngoài hai bữa chính còn tự đi kiếm ăn. Gà lớn trên 6 tháng cho ăn thêm rau, giá, xà lách, chuối sứ, cà chua, mỗi tuần cho ăn thêm 1 – 2 bữa lươn hoặc thịt bò.

    * Khẩu phần ăn cho gà con tách mẹ (cho ăn tự do):

    – cám gạo : 10%

    – bắp : 20%

    – lúa : 30%

    – Cá tươi nấu chín : 20%

    – Rau( muống, cải, xà lách) : 20%.

    * Khẩu phần cho một gà trống thi đấu/ ngày:

    – Lúa : 0.25 kg.

    – Rau, giá : 0.10 kg.

    – Lươn, thịt bò : 0.10 kg.

    Quản lý huấn luyện gà thi đấu

    – Gà con được nuôi chung cả ổ và theo mẹ đến 2.5 hoặc 3 tháng tuổi.

    – Sau khi tách mẹ vẫn được nhốt chung, cho đến 4 – 5 tháng tuổi thì tách riêng trống, mái. Gà trống lúc này được nhốt riêng mỗi con một ô, không cho các con trống thấy mặt nhau để tránh mổ và đá bậy.

    – Khi gà đã gáy rõ tiếng thì bắt đầu cắt lông ở các vùng đầu, cổ, ức, đùi nhằm bộc lộ da ở các vùng này. Đồng thời cắt tai, tích.

    – Cho gà đá thử 1 – 5 trận, xem con nào có khả năng đá hay thì giữ lại huấn luyện tiếp, hoặc không thì bán hoặc giết thịt.

    – Huấn luyện gà bằng các việc chính:

    + Quần sương: cho gà vận động vào sáng sớm hàng ngày.

    + Xát nghệ: dùng nghệ giã nhỏ, hoà với rượu, nước trà, nước tiểu trẻ con sát vào vùng da đã cắt lông trong vòng 3 tháng để cho da dày lên nhằm tăng khả năng chịu đòn và giảm thương tích khi thi đấu.

    + Dầm cẳng: trước khi thi đấu 1 tháng, gà được cho ngâm chân trong hỗn dịch: nghệ, muối, nước tiểu để cho gà được cứng chân.

    – Tổ chức thi đấu:

    + Gà được phân theo 3 hạng: hạng tiểu (<3.0 kg), hạng trung (3.0 – 3.5 kg) và hạng đại (từ 3.5 kg trở lên). Các gà cùng hạng thường được thi đấu với nhau. Tuy nhiên, nếu là gà có tài nghệ cao thì chủ gà có thể cho đấu với hạng trên.

    + Mỗi trận đấu thường được tổ chức từ 01 hiệp trở lên, mỗi hiệp có thời gian 20 phút. Thời gian nghỉ giải lao giữa các hiệp đấu là 05 phút để săn sóc và hồi phục cho gà.

    – Mùa thi đấu: Mùa chọi gà thường được tổ chức vào dịp Tết và Xuân, kéo dài từ tháng chạp đến tháng tư âm lịch. Sau đó, từ tháng năm đến tháng mười một âm lịch là mùa gà thay lông nên không sử dụng thi đấu được.

    Đặc điểm ngoại hình

    Gà chọi Bình Định có tầm vóc to lớn, xương to, cơ bắp phát triển, chân cao và to khoẻ, có cựa ngắn hoặc không có, lớp biểu bì hoá sừng ở cẳng chân dày và cứng, Gà đá bằng sức mạnh của bàn chân chứ không phải bằng khả năng đâm xuyên của cựa.

    Màu sắc của lông, da

    Nhìn chung màu sắc của gà chọi Bình Định đa dạng, có thể thuần màu hay đa màu trên một cá thể. Thông thường màu sắc lông phụ thuộc vào màu lông của con trống là chính, màu lông giống con trống chiếm tie lệ 50 – 60%.

    * Màu lông

    + Gà có lông đen tuyền, gọi là gà ô, loại này chiếm tỉ lệ cao nhất.

    + Gà có lông đen, lông mã màu đỏ gọi là gà Tía.

    + Gà có màu lông xám tro gọi là gà Xám.

    + Gà có màu lông giống lông chim ó gọi là gà ó.

    + Gà có màu lông trắng roàn thân, gọi là gà Nhạn.

    + Gà có lông 5 màu ( đỏ, đen, vàng, trắng, xám), gọi là gà Ngũ sắc.

    Ngoài ra, còn có một số có màu lông pha tạp như gà đen có chấm trắng…

    * Màu mỏ:

    Màu mỏ cũng có màu sắc đa dạng, thường thấy mỏ có màu trắng ngà, màu vàng, màu đen, màu xanh lợt (xanh đọt chuối).

    * Màu chân:

    Lớp biểu bì hoá sừng (vảy) ở bàn chân và các ngón chân gà chọi Bình Định cũng có màu sắc không giống nhau giữa các cá thể. Thậm chí, cùng một cá thể song màu sắc hai chân lại khác nhau. Thường thấy gà hai chân đen, vàng, xanh lợt, trắng, vàng đốm nâu, một chân vàng một chân đen hoặc trắng. Màu sắc cựa gà thường giống màu chân, song có con có hai cựa với hai màu khác nhau mặc dù hai chân lại cùng màu.

    * Màu da:

    Phần da đầu, cổ, ức, đùi và hông có màu đỏ và dày. Các phần khác như: lưng, nách, cánh lại có màu vàng hoặc trắng và da mỏng.

    Tầm vóc

    Gà chọi Bình Định có tầm vóc to lớn, chân cao, xương ống chân to, ngón dài và khoẻ, bàn chân (ống chân) gà trưởng thành có con dài tới 15 cm, song thường thấy loại 10 – 13 cm. Ngực rộng với cơ ngực nổi rõ. Đùi to, dài và cơ phát triển. Tuy nhiên bụng lại rất gọn, khoảng cách giữa hai mỏm xương chậu hẹp (1.5 – 3.0 cm ở gà trống). Phao câu và lông đuôi phát triển (lông đuôi có thể dài tới 30 cm). Khối lượng cơ thể trưởng thành của gà trống có thể đạt 5.0 kg, song thường gặp loại gà nặng từ 3.5 – 4.5 kg. Khối lượng cơ thể trưởng thành của gà mái đạt 3.5 – 4.0 kg. Tuy nhiên, trong quá trình nuôi dưỡng và huấn luyện gà, người ta thường khống chế khối lượng của gà trống thi đấu ở khoảng 3.0 – 3.8 kg, là khoảng khối lượng mà gà phát huy tốt nhất các đòn đá hay và hiểm.

    Chỉ tiêu             Trống             Mái

    Dài thân (cm)         22             20

    Vòng ngực(cm)       41             31

    Dài lườn (cm)        13,5            12

    Sâu ngực (cm)      15,75          13,5

    Cao chân (cm)      31,5            25

    Dài đùi (cm)          17,5           11,5

    Một số đặc điểm ngoại hình khác

    – Gà chọi Bình Định có ít lông, lông to, dài, cứng và dòn (rất dễ gãy).

    – các phần đầu, cổ, ngực, đùi rất thưa lông nhưng hai cánh có bộ lông phát triển, giúp gà có khả năng cất cao mình để tung đòn đá.

    – Mặt gà gọn gàng, thường khômg có tích, tai ít phát triển.

    – Mồng nhỏ và thấp, có 3 loại mồng (lá, dâu, cục)

    – Mỏ gà to, ngắn, nhọn và khoẻ.

    – Mắt thường nhỏ và sâu. mí mắt dầy, màu mắt đa dạng: mắt bông (màu đen pha trắng), mắt hạt cau (màu nâu có tia phát từ đồng tử ra xung quanh), có con mắt màu đồng thau hoặc mắt đen, xanh.

    Đặc điểm sinh trưởng, phát dục và sinh sản

    Khả năng sinh trưởng

    Bảng1: khối lượng cơ thể qua các tháng tuổi (gam)

    Tháng tuổi

    Gà trống

    Gà mái

    Sơ sinh

      38 ± 0,24

       38 ±  0,24

    1

    260 ± 3,17

    260 ± 3,17

    2

    650 ±7,20

     470 ±  4,12

    3

    1264 ±18,20

     1056 ± 11,15

    4

     1654  ±  22,60

    1280 ±17,50

    5

     2632 ± 30,70

     1513 ± 22,45

    6

      3005 ±  35,40

     2076 ± 28,92

    9

    3 371 ± 33,35

     2325 ± 26,48

    12

    3765  ± 38,90

     2628 ± 25,40

    18

    4034 ± 39,55

    2870 ± 25,70

    Phát dục

    Gà trống 06 tháng tuổi biết gáy, đến 07 tháng tuổi thì gáy rõ tiếng và có khả năng đạp mái. Gà mái 06 tháng tuổi bắt đầu cắp ổ, 07 tháng thì chịu trống và đẻ trứng lứa đầu.

    Gà chọi Bình Định thay lông theo mùa, quá trình thay lông diễn ra từ tháng năm, tháng sáu đến tháng mười một âm lịch. Lần thay lông thứ nhất bắt đầu từ lúc gà được 4 – 5 tháng tuổi, và đến 16 tháng thì thay lông lần thứ 2. Trong mùa thay lông, gà xuống sức, đồng thời do lông cánh bị rụng nên gà khó có thể bay lên để tung đòn và đỡ đòn nên người ta không cho gà thi đấu vào thời gian này mà để dưỡng gà cho mùa đấu năm sau.

    Sinh sản

    Tuổi đẻ quả trứng đầu tiên : 192 ngày.

    Khối lượng trứng : 52 – 0,55 gam/quả.

    tỷ lệ trứng có phôi : 91,6%.

    Tỷ lệ nở/trứng : 85%.

    Số trứng đẻ/lứa : 8 – 12 quả.

    Thời gian gà mẹ nuôi con : 3 tháng.

    Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ : 5 tháng.

    Mục đích chính của việc nuôi gà chọi sinh sản là sản xuất ra gà trống có khả năng thi đấu. Trong thời gian theo mẹ, gà con học được ở gà mẹ khá nhiều thế đánh. Chính vì vậy, thời gian gà mẹ nuôi con phải kéo dài đến 3 tháng. Mỗi năm, gà mẹ chỉ sản xuất được vài ổ gà con và tuổi khai thác kéo dài đến 9 – 10 năm. Gà mẹ có khả năng kiếm mồi khá, song lại vụng nuôi con.

    Các tính trạng đặc biệt

    Gà chọi Bình Định có thể chất tốt, thể hiện ở đặc điểm có sức chịu đòn khá và thi đấu bền bỉ, rất nhiều con chịu đựng được 40 hiệp đấu liên tục (mỗi hiệp dài 20 phút và thời gian giải lao giữa các hiệp là 5 phút). Nhiều gà chọi Bình Định đã thi đấu và nổi tiếng ở các trường đấu Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cam pu chia, Thái Lan,…nhờ các thế đánh hay, đòn đá đẹp và hiểm. Gà chọi Bình Định có tốc độ sinh trưởng chậm, trên 1 năm tuổi mới thành thục về thể vóc. Nuôi theo phương thức truyền thống tại các hộ gia đình, gà 18 tháng tuổi đạt bình quân 4.034g con trống và 2.870 g ở con mái.

    【#10】Nghề Chơi Lan Lắm Kỳ Công

    Người xưa thường nói: “Vua chơi lan, quan chơi trà” có nghĩa là: Bậc vua chúa mới dám chơi hoa lan, còn hàng quan lại thì chỉ chơi hoa trà thôi. Lan là loại hoa vương giả, đẹp đến mê hồn và không ở đâu có sự kết hợp hài hòa giữa cái đẹp trong tự nhiên và bản tính hướng thiện của người đời như giới chơi lan…

    Lan được người chơi chia làm hai dòng chính là Địa lan và Phong lan. Trong đó, Phong lan lại có hai nhánh là bản địa (Việt Nam) và Catlan (phiên âm qua tiếng Hán của lan Cattleya) được du nhập vào Việt Nam. Catlan có nguồn gốc từ những cánh rừng Nhiệt đới vùng Amazon Nam Mỹ, được những nhà thám hiểm Châu Âu đưa về Cựu lục địa. Sau này, nó theo chân những người Pháp đến Việt Nam cuối thể kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Catlan tuy hơn hẳn lan bản địa vì nhiều màu sắc nhưng thực sự không thể so sánh được về mùi hương. Bởi lan bản địa là lan vừa có hương vừa có sắc, hương thì ngọt ngào quyến rũ, sắc thanh tao ấn tượng.

    Huyền thoại và sự thật về 7 khóm Lan hài đỏ

    Những năm 90 của thế kỷ 20, giới săn lùng lan lưu truyền câu chuyện về 7 khóm Lan hài đỏ duy nhất của Việt Nam bị bọn buôn lậu quốc tế đánh cắp và bí mật đưa theo đường biển thoát ra nước ngoài. 7 khóm Lan hài đỏ lưu lạc qua tay bọn buôn cây cảnh quốc tế, khi đến Mỹ thì thì bị hải quan cửa khẩu phát hiện và tịch thu toàn bộ số lan này. Tuân thủ công ước Công ước Cites quy định việc tiếp nhận, chăm sóc và duy trì sự sống cho các loài động thực vật bị buôn bán trái phép. Hải quan Mỹ đã chuyển toàn bộ số lan đó về Trạm cứu hộ thuộc Vườn bách thảo Mỹ. 7 khóm Lan hài đỏ này đã ở đó rất lâu và không có ai đến nhận, cuối cùng không rõ vì lý do nào mà “mô” (giống) của nó lại xuất hiện trên thị trường chợ đen Mỹ.

    Thực hư không ai dám chắc, nhưng chuyện về Lan hài đỏ Việt Nam gây chấn động giới chơi lan Âu, Mỹ những năm đầu thế kỷ 20 thì hoàn toàn có thật. Sự thật là, khoảng năm 1913, khi những người lính viễn chinh Pháp trở về cố quốc mang theo những giò phong lan của xứ Đông Dương nhiệt đới, thì lập tức nó trở thành sự kiện gấy chấn động giới chơi lan. Đó là những giò phong lan có tên Lan hài đỏ, tên khoa học là Paphiopedilum delenatii, giới chơi lan sành điệu thì gọi là “Kỳ hoa dị thảo”. Có lẽ người đầu tiên sở hữu nó tại Pháp thời đó là ông De.Lenat.

    Đã hơn 70 năm, ở Việt Nam không ai còn nhìn thấy loài Lan hài đỏ ở rừng VN. Cho đến một ngày, một nhà khoa học chuyên nhân giống bằng công nghệ tế bào người Séc tên là Peter Schwott đã tới Việt Nam để nghiên cứu hoa lan trong 7 năm trời. Kết quả cuối cùng ông đã tìm ra xuất xứ của Lan hài đỏ nằm trong khu vực giáp ranh giữa Lâm Đồng và huyện Ninh Sơn (Khánh Hòa). Mang tiến bộ của kỹ thuật hiện đại, Peter Schwott nhân giống Lan hài đỏ bằng phương pháp vô tính, song song với phương pháp gieo hạt truyền thống. Kết quả thu được khá bất ngờ, ông lại thành công bằng phương pháp gieo hạt trong ống nghiệm, một phương pháp hữu tính. Lan hài đỏ mang quốc tịch Việt Nam là sự thật hiển nhiên và giới chơi lan không ngừng săn lùng nó bằng bất cứ giá nào.

    Kỳ công có một không hai

    Đến tận bây giờ, người chơi lan ở Hà Nội vẫn còn thán phục khi nhắc đến những bộ sưu tập lan lớn và đầy đủ của các bậc tiền bối như cụ Trưởng Tràng ở Ngọc Hà; cụ Đức Thái ở Lãn Ông hay cụ Mỹ ở phố Thuốc Bắc. Tiếc thay, giờ này các cụ đã nhàn du tiên cảnh và những giò lan quý cả một đời chăm chút cũng dần mai một. Thế hệ tiếp nối của người chơi lan đều đã có tuổi đời trên dưới 60, như bác Chi ở Định Công; bác Huân ở Văn Điển hay bác Thanh Tùng BTV của Đài tiếng nói Việt Nam đang cố gắng khỏa lấp dần chỗ trống mà các cụ để lại. Trong vườn của các bác có rất nhiều loại lan khác nhau như: Tam bảo sắc; Thiết bảo sắc; Tiểu kiều; Đại kiều; Hoàng thảo; Phi điệp; Công phi tiên; Vảy rồng, Đuôi chồn; Đuôi cáo; Bắp ngô; Thanh mạc; Tiểu mạc; Thanh ngọc; Cẩm tố; Mạc biên; Thanh trường; Thanh đoản; Hoàng vũ; Trần mộng – Yên tử…

    Người chơi lan miền Bắc chủ yếu chú trọng sưu tầm lan Việt. Họ thưởng hoa theo lối truyền thống tao nhã và luôn tôn trọng niêm luật khắt khe đã đề ra. Với họ, màng hoa, giò hoa, thân lá phải được chau chuốt đến chỉn chu, tỉ mẩn để bất cứ giò lan nào cũng là một tác phẩm nghệ thuật. Qúy và sang trọng hơn tất cả vẫn là Lan hài Đỏ, lan Ngọc điệp (chuỗi ngọc) – dân gian hay gọi là Ngọc điểm; Đái châu (Đái có nghĩa là chuỗi, Đái châu: Chuỗi ngọc); Đuôi chồn…. Loài hoa này có nguồn gốc từ rừng sâu nhiệt đới và hoa của nó có màu rực rỡ, hay nở đúng dịp xuân về. Mỗi giò Ngọc Điệp thường có từ ba đến bốn ngọn, nếu giò nào có tới mười ngọn là cực hiếm, bởi số hoa sẽ tương ứng với số ngọn.

    Kế đến là lan Trần mộng, huyền thoại kể rằng: khi Trần Nhân Tông dời kinh thành về Yên Tử – Quảng Ninh, trong đêm ngủ, Ngài mộng thấy có người đến yết kiến và dâng tặng một giò hoa rất đẹp. Sáng ra, nghi nghi hoặc hoặc nhà vua đi sâu vào trong núi thì bắt gặp tại một khe sâu có một loài hoa lạ, đẹp và vô cùng thuần khiết. Đời sau người ta gọi loài hoa này là lan Trần mộng (giấc mộng của vua Trần) để chỉ điển tích rũ sạch bụi trần bước vào cõi thiền thuần khiết của ngài.

    Chơi hoa và chung thủy với hoa lan phải kể đến Trần Tuấn Anh – người Hà Nội. Anh đã gần 20 năm chơi lan, từng ngược xuôi khắp mọi miền đất nước để săn lùng phong lan. Cũng vì tìm lan mà nhiều lần Tuấn Anh lạc trong rừng sâu nhiều ngày. Qua tháng năm, vườn ngọc lan ở Thanh Xuân của Tuấn với hơn 300 loài lan luôn dành được sự “kính trọng” của giới chơi lan. Năm 2002, là năm đánh dấu một sự kiện không thể quên đối với Tuấn Anh: Anh đã tìm được một loài lan hoàn toàn mới tại miền núi Tây bắc Việt Nam. Loài lan này có tên khoa học là Dendrobium tuananhii được thế giới công nhận và tên anh đã được đặt cho loài này.

    Lan mỗi mùa mỗi khác. Địa lan thường nở vào mùa xuân với các loài Bạch cập, Mạc lan, Tố tâm, Hoàng vũ, Ánh kim, Hạc đỉnh, Loan điểm… màu sắc rực rỡ, hương thơm thanh thoát. Còn phong lan lại khác! Mùa đông có Đông lan; Tố tâm. Mùa hè có Bạch ngọc; Đại kiều; Tiểu kiều. Còn Hoàng vũ, Trần Mộng, Mặc lan lại nở vào mùa xuân. Nhưng người chơi lan ngại nhất là những cơn gió nồm cuối năm âm lịch, hơi gió ấm có thể làm nở bung những giò lan quý mà người chơi đã cất công chăm sóc bấy lâu.

    Lan công nghiệp thường được trồng trong giò bằng đất nung. Giới sưu tầm đánh giá lan là loài cây “bán âm, bán dương”, tức là không thể chịu hạn hoặc chịu úng. Việc chăm sóc đòi hỏi nhiều điều tỉ mỉ, lý tưởng nhất để lan phát triển là môi trường có độ ẩm cao, thường xuyên được tưới dưới dạng sương nhiều lần trong ngày. Trong vườn, nếu để địa lan ở dưới thì bên trên thường có một giàn thiên lý che bớt ánh mặt trời trực tiếp, và là yếu tố cần thiết để duy trì độ ẩm thường xuyên. Giàn cây cũng được người chơi lan tận dụng để treo những giò phong lan bên dưới. Thân gỗ mềm, hơi xốp để phong lan có thể bám rễ nhanh và sinh trưởng tốt là giá thể lý tưởng cho phong lan. Cũng có khi phong lan được trồng trong chậu đất, chậu sành với than hoa hoặc củi mục, đây tuy là thứ nguyên liệu dễ kiếm, rẻ tiền nhưng lại đáp ứng được nhu cầu thoát nước nhanh, mà vẫn giữ được độ ẩm cao cho lan. Khi cây chuẩn bị ra hoa là thời điểm cây đạt đến chu kỳ sinh trưởng mạnh nhất trong năm, lúc này tách nhánh lan là thuận tiện nhất.

    Ngày nay, bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào tân tiến, người ta có thể cho ra đời hàng nghìn, hàng vạn hoa lan, nhưng sự thực không có loài lan công nghiệp nào có thể thay thế được lan tự nhiên. Bởi khi chăm lan, những người chơi không chỉ tự tay chăm chút cho cái đẹp, mà họ còn đang dưỡng một cái Tâm trong sáng.