【#1】Cách Trồng Và Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Mãng Cầu Cảnh Tại Nhà Ra Trái

1. Tổng quan về cây mãng cầu

Na, hay còn gọi là mãng cầu ta, mãng cầu dai/giai, sa lê, phan lệ chi, (danh pháp hai phần: Annona squamosa), là một loài thuộc chi Na (Annona) có nguồn gốc ở vùng châu Mỹ nhiệt đới. Na là một loại cây ăn quả khá phổ biến và được ưa chuộng tại các tỉnh phía Bắc. Gần đây, loại quả này đã trở thành một mặt hàng có tiềm năng, mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

Cây mãng cầu cao cỡ 2-5 mét, lá mọc xen ở hai hàng; hoa xanh, quả tròn có nhiều múi (thực ra mỗi múi là một quả), hạt trắng có màu nâu sậm. Mãng cầu ưa đất thoáng, không nên trồng ở đất thấp úng. Tuy chịu được đất cát xấu nhưng chỉ phát huy được ưu điểm nếu đất nhiều màu và không bón phân thì chóng già cỗi, nhiều hạt, ít thịt (cơm).

Mãng cầu tương đối chịu rét. Mùa đông ngừng sinh trưởng, rụng hết lá mùa xuân ấm áp lại ra đợt lá mới.

  • Chọn đất trồng mãng cầu: Cây mãng cầu thích hợp trồng ở nhiều loại đất khác nhau. Cây có thể được trồng ở đất cát sỏi, đất thịt, đất chua hay trung tính. Tuy nhiên, để có được sản lượng cao thì nên trồng Cây Mãng cầu trên đất dễ thoát nước, giàu dinh dưỡng. Có thể chú ý độ pH của đất : 5,5 – 6,5 (thích hợp trên đất phù sa hay đất rừng mới khai phá).
  • Chọn giống bằng cách gieo hạt: Cần chọn những Quả Mãng cầu có phẩm chất tốt, quả ở những cây nhiều quả, trái lớn. Chọn những quả ở ngoài tán và phải là quả chính vụ. Trước khi gieo có thể tiến hành đập nhẹ cho nứt vỏ hoặc lấy cát khô cho vào túi rồi chà xát cho thủng vỏ để Hạt Mãng cầu nhanh nảy mẩm.
  • Đối với phương pháp ghép cây: Cây Mãng cầu có thể được ghép mắt hoặc ghép cành. Gốc ghép được gieo từ hạt của cây đó. Khi đường kính cây đã đạt 8-10 mm có thể tiến hành ghép cây. Với mắt ghép thì nên lấy trên các cành đã rụng lá.
  • Chuẩn bị hố trồng: Hố trồng Cây Mãng cầu cần được đào rộng và sâu khoảng 50cm. Trước khi trồng, Bà con cần bón lót vào hố khoảng 15 – 20 kg phân chuồng, 0,5 kg lân cộng thêm 0,2 kg kali rồi trộn đều chúng với đất mặn.
  • Khoảng cách trồng Cây Mãng cầu: 3 x 3m hay 3 x 4m. Có thể tiến hành trồng xen vào chỗ trống trong vườn đã có các Cây Ăn Quả lâu năm.
  • Thời vụ: ở Miền Bắc, nếu trồng vào mùa xuân thì khoảng tháng 2 và tháng 3. Nếu vào mùa thu sẽ trồng vào tháng 8 và tháng 9. Còn ở Miền Nam thường được trồng vào đầu mùa mưa là tháng 4 và tháng 5.
  • Cách bón phân: Tuỳ theo độ tuổi của Cây Mãng cầu mà tiến hành lượng phân bón cho phù hợp, lượng phân bón cho Cây Mãng cầu trong 01 năm là:

– Với cây từ 1- 4 năm tuổi: 15-20kg phân chuồng, 0,7kg phân đạm, 0,4kg phân lân và 0,3kg kali.

– Với cây từ 5- 8 năm tuổi: 20-25kg phân chuồng, 1,5kg phân đạm, 0,7kg phân lân và 0,6kg kali.

– Với cây trên 8 năm tuổi: 30-40kg phân chuồng, 1,7kg phân đạm, 0,8kg phân lân và 0,8kg kali.

3. Cách thu hoạch Mãng cầu

Mãng cầu được thu làm nhiều đợt khi quả đã mở mắt và vỏ quả đã chuyển sang màu vàng xanh. Nên tiến hành hái quả còn một đoạn cuống và đợi khoảng vài ngày khi quả đã chín mềm là ăn được.

Ở Miền Bắc, mùa Mãng cầu thường chín vào khoảng tháng 6 đến tháng 9. Còn ở Miền Nam thì Mãng cầu được thu hoạch sớm sơn so với Miền Bắc.

【#2】Kỹ Thuật Trồng Cây Cảnh Trong Nước

Việc trồng cây trong nước đã có từ lâu. Năm 1860, hai nhà khoa học người Đức là Sachs và Knop đã dùng 10 nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng của cây (cacbon, hydro, oxy, nitơ, phốt pho, kali, canxi, magiê, lưu huỳnh, sắt) phối chế thành dịch dinh dưỡng để trồng cây.

Trong vòng 100 năm sau, trải qua nhiều thăng trầm, các nhà thực vật học đã làm cho việc trồng cây trong nước trở thành một quy trình kỹ thuật sản xuất thành thục và được phổ biến rộng rãi. Ở Nhật Bản năm 1960, người ta đã coi việc trồng cây trong nước là một trong phương pháp trồng và chăm sóc cây trong nghệ thuật làm vườn. Ở Trung Quốc, trong dân gian cũng đã sớm có tập quán trồng cây trong nước. Họ ngâm cây trong nước đợi đến khi ra rễ, sinh trưởng sau đó mới đem ra thưởng ngắm.

Khái quát về cây trồng trong nước

Một bình nước thủy tinh trong vắt, vài con cá lội lăn tăn, một nhành cây xanh thật là đẹp mắt. Trồng cây trong nước không những ngắm được vẻ đẹp của cây mà còn ngắm được bộ rễ xinh đẹp.

Ngày nay việc trồng cây trong nước được ứng dụng trong nghệ thuật trang trí nội thất. bình đựng thường sử dụng bình nghệ thuật và bình thủy tinh kết hợp với cây lá màu đủ màu sắc tạo nên một vẻ đẹp làm say đắm lòng người, mang lại cho con người một cảm giác thoải mái, căn phòng trở nên sáng sủa, sức sống tràn ngập.

Ở Sài Gòn vào mùa hè, khí trời rất oi bức, nếu trong phòng có một châu thủy tinh nước trồng cây thì chúng ta cảm thấy mát mẻ ngay. Nói về bày trí thì cây trồng trong nước đặt được mọi nơi trong nhà từ nhà bếp, phòng đọc sách, nhà tắm, phòng ăn….Nếu ở phòng trà, quán bar, quán cơm ….đặt những bình cây trồng trong nước sẽ vừa tao nhã, vừa kinh tế.

Trồng cây trong nước đang dần trở thành mốt trong nghệ thuật trang trí trong phòng ốc.

Ưu điểm của cây trồng trong nước

Việc trồng cây trong nước rất dễ thực hiện. Người không biết trồng cây cũng có thể làm được vì nó không sợ khô, thối rễ v.v. Nếu bạn đi đâu xa nhà, bạn cứ yên tâm cây sẽ không bị chết vì thiếu nước. Cây lá màu trồng trong nước rất sạch, có thể giảm được phá hoại của sâu bọ.

Cách chăm sóc chung cho cây trồng trong nước

1. Cách thay nước

Thay nước là phần quan trọng nhất, làm cho chậu cây xanh tốt, xinh đẹp hay là bị chết úng.

Nước cho cây là nước sạch, không phèn, không vôi, không mặn, không clo. Nếu sử dụng nước máy ta hứng nước để khoảng một đêm cho clo bay hơi hết là có thể sử dụng được. Sử dụng nước máy cho việc trồng cây trong nước là tốt nhất.

Vào mùa nắng, sau khoảng 5-7 ngày thay nước một lần. Mùa mưa hay lạnh, sau khoảng 7-10 ngày thay nước một lần.

Khi phát hiện cây bị thối rễ do nhiệt độ cao hay do bón nhiều phân, thì phải lập tức thay nước mới. Đồng thời cắt bỏ những nhánh rễ bị thối, úng. Lúc này nên thay nước hàng ngày cho đến khi cây mọc rễ mới và phát triển bình thường.

Mỗi khi thay nước ta kết hợp với việc cắt tỉa bỏ rễ già và rễ thối. Rửa sạch bộ rễ trước khi đưa lại vào chậu.

2. Bón phân

Cũng giống như cây trồng trong đất, cây trồng trong nước cũng cần phải bón phân. Khi bón phân cần thận trọng về liều lượng. Nếu bón quá liều sẽ làm cháy lá, nặng thì cây yếu và ủ rũ khó mà cứu chữa.

Dùng các loại phân bón lá như đạm, lân, kali hay hiện nay trên thị trường có loại NPK, pha thanh dung dịch rất loãng rồi xịt lên lá, nếu muốn bộ rễ phát triển thì dung urê nhưng pha thật loãng (0.1%) vì urê làm cho cây bạo phát bạo tàn.

3. Bình đựng cây trồng trong nước

Có thể chọn bất cứ loại bình nào miễn có thể đựng nước là OK. Nhưng đẹp nhất vẫn là bình thủy tinh trong suốt. Vì trồng trong chậu thủy tinh ta có thể vừa ngắm được lá mà còn ngắm được bộ rễ rất đa dạng, cổ quái … theo từng loại cây,

4. Thêm vài con cá kiểng cho sinh động:

Ngoài bình cây thông thường, ta có thể thả vài con cá dễ sống (như cá bảy màu) vào bình cho thêm phần sinh động. (Nếu vậy thì phải nhớ cho cá ăn. Mua các hũ thức ăn cá bán ở các tiệm cá kiểng).

* Kiểng lá không đòi hỏi khắt khe về kỹ thuật trồng và chăm sóc giống như một số loại cây trồng khác.

* Bộ lá của kiểng lá rất đẹp, nhiều màu sắc, tuổi thọ của lá dài, chưng bày được quanh năm, phù hợp với việc trang trí trong nhà và phòng làm việc

So với việc trồng cây trong chậu đất, ở thành phố là rất khó khăn vì trong quá trình chăm sóc, tưới nước và bón phân thường làm cho nhà cửa bị bẩn, hoen ố. Đó là chưa kể đến việc quên tưới nước, dẫn đến cây kiểng sẽ chết; Việc bố trí ở nhưng nơi như tủ, bàn … nơi làm việc rất khó khăn do quá nặng và bẩn (do việc tưới nước gây ra) nên người ta ít chưng bày ở các vị trí đó dù rất muốn.

Nhằm khắc phục những nhược điểm mà kiểu trồng cây kiểng trong môi trường đất gây nên, giúp những người chơi cây kiểng có phương pháp trồng tối ưu, giảm công chăm sóc, giúp môi trường sống sạch đẹp. Xin chuyển giao kỹ thuật trồng cây kiểng lá trong môi trường thủy canh như sau:

Bước 1: tạo cây giống

Cây giống giâm trong môi trường đất cho ra rễ (số lượng rễ càng nhiều càng tốt)

Bước 2: cho cây làm quen môi trường nước

Nhổ cây giống lên, rửa thật sạch bộ rễ không còn dính chất hữu cơ, đất, cắt bỏ những rễ già, khô mục…cho vào nước lã (pH = 6.0 – 6.8 – tức nước bình thường). Giữ cây trong môi trường nước lã trong khoảng 7 – 10 ngày để cây quen với môi trường mới. Nhớ thường xuyên thay nước để chống trường hợp nước có mùi hôi, thối rễ … (có thể thay mỗi ngày hoặc sau vài ngày).

Bước 3: Tạo dung dịch dinh dưỡng

Đây chính là nguồn dưỡng chất, phân bón cho cây trong môi trường nước. Để cây phát triển tốt hơn.

Pha dung dịch dinh dưỡng như Bảng số 1 (bên dưới)

Bước 4: Cách bón chất dinh dưỡng

Châm dung dưỡng từ từ theo tỷ lệ: Dinh dưỡng: nước lã = 1:10, cho đến khi cây quen dần với mội trường này sẽ tiến hành đổ 100 % dung dịch dinh dưỡng để cây phát triển tốt.

Lưu ý:

– Mỗi giống có một mức độ thích ứng với nguồn dinh dưỡng khác nhau. Vì vậy, người chơi cần tăng, giảm các chất dinh dưỡng sao cho đảm bảo cây sinh trưởng bình thường.

– Trong quá trình trồng cây trong môi trường thủy sinh, nếu thấy bộ rễ bị thâm đen, có mùi thối, cây vàng lá liên tục … thì phải bổ sung chất OLC (chất tăng oxy trong nước), liều lượng khỏang 1 – 2g/ 10 lít nước, nhằm giúp hệ rễ của cây hô hấp tốt hơn

– Để cây có thế đứng tốt trong bình thủy tinh, có thể chèn vài hòn sỏi, viên bi … vào bình. Nhìn càng thêm hấp dẫn.

– Về ánh sáng: Nếu bình cây cảnh thủy sinh của quý vị để ở vị trị thiếu sáng cây sẽ khó phát triển tốt, vì không có đủ ánh sáng để thực hiện quá trình quang hợp. Giải pháp là khoảng mỗi tuần một lần, chịu khó đem bình cây ra bên ngoài, cho sưởi nắng trực tiếp từ ánh nắng mặt trời trong vài giờ đồng hồ. Hoặc có thể dùng ánh sáng điện (tốt nhất là đèn tròn) sưởi ánh sáng cho cây trong vài giờ, sau mỗi vài ngày. Nếu để ở bàn làm việc thì hầu như luôn có đủ ánh sáng rồi.

– Vài ngày một lần, nên dùng bình phun sương tưới lá cây, cho thêm xanh tốt.

– Bằng kỹ thuật như trên, đã thử nghiệm thành công trên các giống kiểng lá như: Thanh Tâm, Lẽ Bạn, Thuyền Trưởng Vàng, Nhẫn Bạc, Trầu Bà Chân Rít, Trúc Nhật Đốm Vàng, Tay Phật, Kim Phát Tài, Dạ Lan Italia, Trường Sinh, Trầu Bà Pháp, Thái Lan, Việt Nam, Phát Tài Mỹ, Phát Tài Thái Lan, Nguyên Thảo, Dương xỉ Thái Lan…

Chúc mọi người THÀNH CÔNG và tui cũng sẽ thử xem sao. He he.

Cây Cung Điện Vàng còn có tên gọi khác là cung điện hoàng hậu, hoàng mai mini. Đây là loại cây thuộc dòng sản phẩm “bình dân”

Mỗi tuần ít nhất 1 lần nên đưa cây ra hứng ánh sáng liên tục trong 2 giờ vào buổi sáng từ 7 giờ – 9 giờ. Cây Cung Điện Vàng có thể trồng được trong nhà, nơi ít ánh sáng và trong môi trường máy lạnh.

Khi trồng loại cây này ở nơi ẩm thấp, ít ánh sáng cây sẽ dễ bị bệnh thối lá, khi bị bệnh này, trên lá cây xuất hiện các đốm bị nhũn ra, có màu nâu đen, hoặc thối ở cuống lá sẽ làm cho lá bị gãy ở chỗ thối.

Cây Trầu bà sữa là sự hòa quyện giữa màu xanh ngát của cây và màu trắng sữa, tạo nên một sự độc đáo riêng biệt của cây. Cây thuộc họ dây leo thể hiện sự không ngừng nỗ lực vươn tới. Có rất nhiều nghiên cứu cho thấy Cây trầu bà giảm thiểu ô nhiễm ozon rất tốt, hút các khí độc từ máy vi tính. Thích hợp trưng trong bàn học, bàn làm việc. Mang lại vẻ xanh mát cho phòng làm việc, phòng học của bạn.

Cây đại đế lá xoắn có thể trồng theo phương pháp thủy canh nhưng tuổi thọ của chúng không cao. Chúng phù hợp với loại đất tơi xốp, ít bám dính, giữ ẩm tốt; hổn hợp đất trồng có thể là đất thịt, than bùn và đá trân châu hoặc bầu đất trồng lan gồm vỏ cây, than củi, sỏi nhỏ.

Cây đế vương đỏ thích hợp môi trường thiếu nắng. Cây thể hiện tinh thần đế vương, quyền uy. Thích hợp cho người quản lý, lãnh đạo trong một tổ chức. Ngoài ra, tên cây cũng góp phần thể hiện ý chí không ngừng nỗ lực để hướng tới vị trí cao hơn. Cây mang hai màu xanh khác nhau, tạo nên sự hài hòa bắt mắt và giúp chúng ta thư giãn đầu óc, bình thản trong tâm hồn mỗi khi ngắm nhìn chúng. Ngoài ra, các lá cây luôn xòe rộng, thể hiện tinh thần mến khách, chính vì thế, cây rất được ưa chuộng đặt tại lối ra vào như một lời gợi mời chào đón mọi người.

Ý nghĩa phong thủy: Cây giúp xua đi tà ma, chướng khí và góp phần mang lại sức khỏe, sự thanh bình trong tâm hồn.

Cây bách thủy tiên mang ý nghĩa may mắn, thịnh vượng, miền vui đến cho bạn, dáng cây thanh tao quí phái, thích hợp cho việc trang trí trong nhà, bàn khách, bàn học, bàn làm việc. là loại cây trồng trong nước rất đươc nhiều người yêu thích.

Cây cần thăng là một trong số những cây bonsai đẹp và quan trọng là có thể sống trong môi trường nước sau khi được “thuần” đúng cách và công phu. Bạn có thể dùng dây thép mảnh để uốn tạo dáng cho cây theo ý thích

Cây cau tiểu trâm, dừa tụ trân với hình dáng nhỏ xinh thể hiện sự không ngừng vươn lên, vượt qua mọi trở lại trong cuộc sống. Cau tiểu trâm thích nghi tốt với môi trường thiếu sáng. Đặt cây trên bàn làm việc, ngoài việc góp phần tô điểm thêm vẻ sang trọng cho không gian sống của quý khách. Cây còn giúp hút bớt khí độc, làm sạch không gian sống.

Cây si ấn độ ngoài tác dụng lọc không khí còn được áp dụng chữa trị nhiều bệnh trong dân gian

Bảng số 1: Môi trường nuôi trồng một số lọai kiểng lá

【#3】Kỹ Thuật Trồng Cây Cảnh Lá Trong Môi Trường Thủy Canh

* Kiểng lá không đòi hỏi khắt khe về kỹ thuật trồng và chăm sóc giống như một số loại cây trồng khác.

* Bộ lá của kiểng lá rất đẹp, nhiều màu sắc, tuổi thọ của lá dài, chưng bày được quanh năm, phù hợp với việc trang trí trong nhà và phòng làm việc.

Mặc khác, ở Thành phố, muốn trồng cây kiểng, bắt buộc người chơi phải mua đất về để trồng, nhưng việc trồng kiểng trên môi trường là đất thường cĩ những nhược điểm như sau: Việc tìm được đất để trồng cây ở thành phố là rất khó khăn; Trồng trên đất thường khó di dời ( khối lượng lớn, trọng lượng nặng); Trong quá trình chăm sóc, tưới nước và bón phân thường làm cho nhà cửa bị bẩn, hoen ố. Đó là chưa kể đến việc quên tưới nước, dẫn đến cây kiểng sẽ chết; Việc bố trí ở nhưng nơi như tủ, bàn … nơi làm việc rất khó khăn do quá nặng và bẩn (do việc tưới nước gây ra) nên người ta ít chưng bày ở các vị trí đó dù rất muốn.

Nhằm khắc phục những nhược điểm mà kiểu trồng cây kiểng trong môi trường đất gây nên, giúp những người chơi cây kiểng có phương pháp trồng tối ưu, giảm công chăm sóc, giúp môi trường sống sạch đẹp. Xin chuyển giao kỹ thuật trồng cây kiểng lá trong môi trường thủy canh như sau:

Bước 1: Cây giống giâm trong môi trường đất cho ra rễ (số lượng rễ càng cành tốt)

Bước 2: Nhổ cây lên, rữa sạch không còn chất hữu cơ, đất, cắt bỏ những rễ già, khô mục…cho vào nước lã (pH = 6.0 – 6.8), giữ cây trong môi trường nước lã khỏang 7 – 10 ngày. Thường xuyên thay nước để chống trường hợp nước hôi thối.

Pha dung dịch dinh dưỡng như Bảng số 1

Bước 4: Châm dung dưỡng từ từ theo tỷ lệ: Dinh dưỡng: nước lã = 1:10, cho đến khi cây quen dần với mội trường này sẽ tiến hành đổ 100 % dung dịch dinh dưỡng để cây phát triển tốt.

Lưu ý: Trên cơ sở này, mỗi giống có một mức độ thích ứng với nguồn dinh dưỡng khác nhau. Vì vậy, người chơi cần tăng giảm các chất dinh dưỡng sao cho đảm bảo cây sinh trưởng bình thường. Trong quá trình trồng cây trong môi trường thủy sinh, nếu thấy bộ rễ bị thâm đen, có mù thối, cây vàng lá liên tục thì phải bổ sung chất OLC (chất tăng oxy trong nước), liều lượng khỏang 1 – 2g/ 10 lít nước, nhăm giúp hệ rễ của cây hô hấp tốt hơn

Bằng kỹ thuật này, bài trên đã thử nghiệm thành công trên các giống kiểng lá như sau:

Thanh Tâm, Lẽ Bạn, Thuyền Trưởng Vàng, Nhẫn Bạc, Trầu Bà Chân Rít, Trúc Nhật Đốm Vàng, Tay Phật, Kim Phát Tài, Dạ Lan Italia, Trường Sinh, Trầu Bà Pháp, Thái Lan, Việt Nam, Phát Tài Mỹ, Phát Tài Thái Lan, Nguyên Thảo, Dương xỉ Thái Lan…

Bảng số 1: Môi trường nuôi trồng một số lọai kiểng lá

Các giống kiểng lá đã thử nghiệm thành công khi nuôi trồng trong môi trường thủy canh: Cau núi, Thin Thanh, Tay Phật, Quân Tử, Kim Phát Tài, Dạ Lan Italia, Trường Sinh, Trần bà Pháp, Thái, Nguyên Thảo

【#4】Kỹ Thuật Trồng Ớt Ngũ Sắc Cầu Vồng Vừa Ăn Quả Vừa Làm Cảnh

Cây ớt ngũ sắc trồng chậu ở nhà đơn gian

Để trồng ớt ngũ sắc cầu vồng không khó tại nhà như cần tuân thủ một số kỹ thuật như sau:

1. Một số đặc tính của cây ớt ngũ sắc cầu vồng

– Đây là giống ớt có tuổi thọ lên đến cả chục năm, tuy nhiên để cây khỏe, cho nhiều quả thì nên trồng mỗi năm một lần.

– Loài cây ớt ngũ sắc là cây ưa sáng ấm, ẩm, không chịu được rét và khô.

– Ớt thường có chiều cao khoảng 50 – 60 cm, cây phân nhiều nhánh, thân thẳng, lá mọc lệch. Hoa nở từ tháng 5 đến tháng 7. Quả mọc chùm trên đỉnh cành. Cùng một cây nhưng quả có nhiều màu sắc khác nhau: xanh, đỏ, vàng, tím, trằng. Tùy thuộc vào vùng khí hậu được trồng mà tỷ lệ các màu sẽ khác nhau. Ở khu vực ôn đới tỷ lệ phân phối các màu sẽ tương đối đều. Càng về khu vực nhiệt đới thì tỷ lệ màu tím hoặc màu đỏ sẽ chiếm ưu thế hơn.

Ớt ngũ sắc cầu vồng trồng chậu tại nhà đơn giản

2. Thời vụ trồng ớt ngũ sắc phù hợp trong năm

– Ớt có thể trồng được 3 vụ trong năm:

– Vụ sớm: Gieo hạt tháng 8 – 9, thu hoạch từ tháng 12 – 1 dương lịch.

– Vụ chính (Đông Xuân): Gieo hạt tháng 10 – 11, thu hoạch tháng 2-3 dương lịch.

– Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5, thu hoạch 8-9 dương lịch.

3. Chuẩn bị chậu trồng ớt ngũ sắc

– Tùy vào nhu cầu, mục đích, sở thích mà có thể chọn các loại chậu có kích cỡ, chất lượng chậu khác nhau. Tuy nhiên để cây ớt ngũ sắc sinh trưởng phát triển tốt nên chọn các dạng chậu, vật dụng như thùng xốp, chậu nhựa… có kích thước lớn, bề sâu trên 25 cm thì cây có không gian phát triển tốt.

Ớt ngũ sắc trồng làm cây cảnh

4. Cách chọn giá thể trồng ớt ngũ sắc cầu vồng

– Cây ớt ngũ sắc là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng nên giá thể cần đảm bảo độ tơi xốp, thoát nước tốt.

– Giá thể trồng có thể chọn các loại giá thể có bán trên thị trường đều phù hợp để trồng hoa thược dược như giá thể hữu cơ cao cấp, giá thể T – Rat, …

– Giá thể có thể tự phối trộn theo công thức phối trộn bao gồm: đất (đất phù sa, đất màu); xỉ than ( mùn cưa, xơ dừa); phân chuồng hoai mục (phân vi sinh) được phổi trộn theo tỷ lệ: 1/2 đất + 1/4 xỉ than + 1/4 phân chuồng hoai mục. Sau khi trộn đều theo tỷ lệ trên thì cần tiến hành xử ký nấm bệnh tồn tại trong giá thể bằng các dung dịch như Daconil 75 WP (1 gram/1 lít nước) hoặc dung dịch Ridomil Gold 68 WG (nồng độ 3 gram/ 1 lít nước) phun đều vào giá thể đã trộn ( 40 – 50 lít dung dịch/ 1 m 3 giá thể).

5. Kỹ thuật chọn giống ớt ngũ sắc cầu vồng

– Có thể trồng ớt ngũ sắc bằng cách tự ươm hạt hoặc mua cây con sẵn.

– Trồng ớt ngũ sắc cầu vồng bằng cách ươm hạt, nên lưu ý chọn hạt giống ớt ngũ sắc ở những đơn vị cung cấp hạt giống uy tín, chất lượng. Hạt giống ớt ngũ sắc phải có tỷ lệ nảy mầm cao (chọn hạt giống còn hạn sử dụng, bao bì nguyên vẹn, không rách, ẩm..).

– Đối với cây con thì nên chọn giống cây con từ 3 – 4 lá thật, cây khỏe, không nhiễm sâu bệnh hại, cây phát triển đều.

Hạt giống ớt ngũ sắc cầu vồng

6. Kỹ thuật xử lý hạt giống ớt ngũ sắc trước khi gieo

Trước khi gieo ngâm hạt rau chân vịt vào nước nóng (2 sôi, 3 lạnh) trong 3 – 4 giờ. Sau đó vớt ra, rửa bằng nước sạch. Khi hạt róc nước thì đem gieo. Làm được như vậy thì hạt sẽ mọc nhanh, mọc đều và cây khỏe.

7. Kỹ thuật gieo hạt giống ớt ngũ sắc cầu vồng

Kỹ thuật gieo hạt giống ớt ngũ sắc cầu vồng

– Cho giá thể đã được xử lý nấm bệnh cao chậu sao cho giá thể cách miêng chậu từ 7 – 10 cm. Trước khi trồng cây con vào chậu cần tưới ẩm cho giá thể. Thời điểm trồng nên trồng vào buổi chiều.

– Nếu gieo bằng hạt thì sau khi gieo hạt, sau đó phủ 1 lớp đất mỏng khoảng 1 cm. Đối với trồng cây con thì trồng cây con xong, ấn nhẹ để giữ chặt cây, phủ một lớp đất mỏng vào gốc cây từ 1 – 2 cm. Tiếp tục phủ một lớp rơm rạ lên trên để giữ ẩm cho cây.

– Sau khi gieo trồng xong dùng vòi hoa sen tưới nhẹ cung cấp độ ẩm cho cây.

8. Kỹ thuật chăm sóc ớt ngũ sắc cầu vồng

– Tưới nước: Mùa mưa cần đảm bảo thoát nước tốt, mùa nắng phải tưới nước đầy đủ. Tưới rãnh (tưới thấm) là phương pháp tốt nhất, tiết kiệm nước, không văng đất lên lá, giữ ẩm lâu, tăng hiệu quả sử dụng phân bón. Mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt.

– Tỉa nhánh: Tỉa bỏ các cành, lá dưới điểm phân cành để cây ớt phân tán rộng và gốc được thông thoáng. Nên tỉa cành lúc nắng ráo.

Trồng ớt ngũ sắc trong chậu làm cây tiểu cảnh

– Bón phân: Phân nên chia làm 4 lần bón:

+ Lần 1: 20 – 25 ngày sau khi trồng: 4kg Urê + 3kg Kali + 10kg NPK (16-16-8) + 2kg Calcium nitrat.

+ Lần 2: Khi ớt đã đậu trái đều: 6kg Urê + 5kg Kali + 10 – 15kg NPK (16-16-8) + 2kg Calcium nitrat.

+ Lần 3: Khi bắt đầu thu trái: 6kg Urê + 5kg Kali, 10 – 15kg NPK (16-16-8) + 3kg Calcium nitrat.

+ Lần 4: Khi thu hoạch rộ: 4kg Urê + 4kg Kali, 10-15kg NPK (16-16-8) + 3kg Calcium nitrat.

+ Chú ý: Trong giai đoạn nuôi trái, trái ớt thường bị thối đuôi do thiếu canxi. Vì vậy, nhà nông cần phun bổ sung thêm Canxi, có thể bằng Clorua canxi (CaCl2) phun định kỳ 7-10 ngày/lần. Đồng thời, phun thêm phân vi lượng có Bo để ớt dễ đậu trái và ngừa trái bị sẹo.

9. Thu hoạch ớt ngũ sắc cầu vồng

Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt cả cuống trái, tránh làm gãy nhánh. Ớt cay cho thu hoạch 35-40 ngày sau khi trổ hoa. Ở các lứa rộ, thu hoạch ớt mỗi ngày, bình thường cách 1-2 ngày thu 1 lần. Nếu chăm sóc tốt thời gian thu hoạch có thể kéo dài hơn 2 tháng.

10. Một số sâu, bệnh thường gặp:

– Bọ trĩ, bọ phấn trắng: Có thể dùng Confidor, Admire… để phòng trị.

– Sâu xanh đục trái: Sâu phá hại búp non, nụ hoa, cắn điểm sinh trưởng, đụt thủng quả, khi trái ớt còn xanh cho đến lúc gần chín.

– Sâu ăn tạp: Sâu gây hại trên lá, và cây con. Phòng trị bằng cách ngắt bỏ tổ trứng, tổ sâu non hoặc dùng: Sumicidin, Cymbus, Decis…

– Bệnh héo cây con: Bệnh thường gây hại cây con trong líp ương hoặc sau khi trồng khoảng một tháng tuổi. Dùng Validacin, Anvil, Ridomil; Copper -B,….

– Bệnh héo chết cây: Đối với bệnh do vi khuẩn, cần nhổ và tiêu hủy; dùng vôi bột rãi vào đất, hoặc Starner, New Kasuran, Copper Zin C tưới nơi gốc cây hay phun ngừa bằng Kasumin. Đối với cây bệnh do nấm, cần phát hiện sớm, phun ngừa hoặc trị bằng thuốc Copper B, Derosal, Appencarb super, Ridomil, Score.

– Bệnh thán thư: Có thể sử dụng một số loại thuốc: Copper B, Mancozeb, Antracol, Ridomil,…

Cây ớt ngũ sắc cầu vồng

Nguồn: Admin tổng hợp – NO

    ớt rất đa dạng về màu sắc và kích thước. Ớt được chia làm 2 loại chính là ớt ngọt và ớt cay. Không chỉ có tác dụng làm gia vị mà còn có tác dụng chữa bệnh …

    Quy cách đóng gói: 0,1g; cây có chiều cao trung bình từ 30-50 cm, cây cho tán rộng, có nhiều màu trên một cây, màu trái chuyển từ vàng chanh sang tím, quả có hình chóp nhỏ, cho thu hoạch từ 80-90 ngày sau trồng.

    Ca = 10 %; Dạng bột màu trắng; Ca-EDTA-10 hòa tan tốt và ổn định trong nước, độ hòa tan trong nước 99%

    Alpha Na-NAA (Natri, α-naphthalenacetat) là một loại auxin tan được trong nước có nhiều tác dụng trong nông nghiệp, ưu điểm đặc trưng nhất chính là khả năng kích thích ra rễ, kích thích quả to, nhánh to, kích thích nảy

    Ớt ngọt hay còn gọi là ớt chuông, ớt xào; là loại cây thích hợp với nhiệt độ ở vùng ôn đới trong khoảng 20 – 22oC. Để trồng được cây ớt ngọt cho năng suất chất lượng cao…

【#5】Quy Trình Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Nhãn Lồng Hưng Yên

Nhãn là một trong những loại trái cây rất được ưa chuộng và trồng phổ biến ở Việt Nam, cây nhãn có nguồn gốc từ các nước Châu Á như Trung Quốc, Thái Lan,Việt Nam,..Là loài cây thân gỗ, cao khoảng 5-10m,tán lá tròn xoè ra và rậm rạp, cành non có lông. Vỏ cây xù xì, có màu xám. Thân nhiều cành, lá um tùm xanh tươi quanh năm.. Quả tròn có vỏ ngoài màu vàng xám, hầu như nhẵn. Hạt đen nhánh, có áo hạt màu trắng bao bọc. Nhãn được trồng chủ yếu ở các vùng phía bắc nước ta với mục đích chính là kinh tế, ăn trái và làm bóng mát.

Đặc điểm nổi bật của cây

    Ở nước ta có nhiều loại nhãn phong phú như nhãn thóc, nhãn hương chi, nhãn gỗ,…nhưng nổi tiếng và thơm ngon nhất phải kể đến nhãn lồng Hưng Yên – một trong những đặc sản được ưa chuộng nhất.Nhãn lồng có đặc điểm sinh lý tương tự những loại nhãn khác những cái cốt lõi làm nên thương hiệu của nó chính là hương vị của quả, quả nhãn lồng khi chín to, tròn có màu nâu sậm, cùi trắng dày, mọng nước và có hương vị ngọt thơm lạ miệng không có giống nhãn nào sánh được.Là loại cây dễ trồng, mọc nhanh, thích hợp với những loại đất thịt pha cát, nới có đất canh tác sâu và cần nhiều nước.Để có được năng suất cao, bà con chú ý chăm sóc và bón phân đầy đủ.

  • Chuẩn bị đất trồng:. Nên trồng nhãn trên mô đất, mô đất đắp thành hình tròn rộng 60-80cm, cao 50-70cm. Đất trong mô trộn với 10-15kg phân chuồng hoai, tro trấu, 0,5kg phân lân và nên chuẩn bị mô từ 15-30 ngày trước khi trồng.
  • Khoảng cách trồng tùy thuộc vào đất đai và mô hình trồng, có thể chọn khoảng cách thích hợp là 6x5m, 6x6m, tương đương khoảng 300-350cây/ha. Trong những năm đầu, khi cây chưa giao tán, có thể trồng xen những cây ngắn ngày như rau, đậu, đu đủ… Cách trồng: Khoét lỗ trên mô vừa với bầu cây con, nhẹ nhàng xé bỏ bọc nylon rồi đặt bầu cây vào lỗ sao cho cổ rễ bằng hoặc thấp hơn mặt đất 2-3cm, lấp đất lại vừa khuất mặt bầu, ém đất xung quanh gốc, cắm cọc để buộc cây con vào (để tránh rễ bị lung lay dễ làm đứt rễ, cây con phát triển kém, nếu đứt nhiều rễ, cây sẽ chết) và tưới đẫm nước, sau đó thường xuyên giữ ẩm cho cây.
  • Đắp mô, bồi liếp: Trong 2 năm đầu, hàng năm cần đắp thêm đất khô vào chân mô, giúp mô cao hơn, rộng hơn. Tới năm thứ 3 trở đi, hàng năm nên vét bùn non ở đáy mương bồi thêm một lớp mỏng 2-3cm ngay sau khi làm gốc, bón phân, nếu trồng nhãn trên đất thịt pha sét thì hàng năm nên bón thêm phân hữu cơ giúp đất thông thoáng hơn, tạo điều kiện tốt cho bộ rễ phát triển.
  • Làm cỏ, xới xáo: Cần thường xuyên làm cỏ để tránh cạnh tranh dinh dưỡng, hạn chế sự cư trú, xâm nhập của sâu bệnh gây hại. Kết hợp xới xáo đất giúp đất thông thoáng nhằm giúp bộ rể tăng cường trao đổi chất, không dùng cuốc lưỡi và không xới sâu vì làm tổn thương bộ rễ. Tuyệt đối không diệt cỏ bằng các hóa chất trong vườn nhãn nói riêng và vườn cây ăn trái nói chung.
  • Tưới, tiêu nước: Nhãn rất cần nước, nếu được tưới đầy đủ nhãn sẽ phát triển nhanh, ra hoa, kết trái tốt.
  • Tỉa cành, tạo tán: Sau thu hoạch cần tiến hành tỉa bỏ những cành sâu bệnh, cành bị che khuất trong tán cây, cành vượt,… đồng thời bấm tỉa những cành vừa được thu trái để giúp cây ra tược non đồng loạt.
  • Phòng trừ sâu bệnh: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo chỉ dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc.
  • Bọ xít: Phun Basudin 0,2% hoặc Diazinnon 0,04%; Dipterex 0,015 – 0,1%, Trebon 0,15-0,2% (Phun 2 đợt liền nhau cách nhau một tuần vào khoảng cuối tháng 4).
  • Sâu tiện vở nhãn: Dùng thuốc bơm vào lỗ đục hoặc dùng gai mây để bắt. Dùng nước vôi đặc quệt lên gốc cây.
  • Rệp sáp: Dung Dimecron, BI58 (0,15 – 0,28%).
  • Dơi, Rốc: Bó các chùm nhãn trong giấy cứng, bao cói, mo cau, túi PE để bảo vệ quả.
  • Nhện hái lá: Phun Nuvacron 0,2%.

Công dụng của nhãn lồng

    Nhãn lồng là một thức quả ngon dùng để ăn tươi trực tiếp, làm nguyên liệu chế biến thực phẩm dược phẩm, chế biến món ăn,.. Nhãn lồng còn giúp an thần dễ ngủ,gỗ nhãn cũng được sử dụng làm đỗ mỹ nghệ, bên cạnh đó, nhãn lồng cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao, là một trong những mặt hàng nông sản chất lượng của Việt Nam xuất khẩu ra thị trường quốc tế.

Chúng tôi chuyên cung cấp cây giống chính gốc

Mọi thông tin vui lòng liên hệ:

Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội – Trung Tâm Cây Giống Chất Lượng Cao

Địa chỉ: Trâu Quỳ- Gia Lâm- Hà Nội

Email: [email protected]

Điện thoại: 0912 850 282

【#6】Quy Trình Kỹ Thuật Canh Tác Cây Đậu Phộng, Cây Lạc

Ngày đăng: 2021-12-27 15:11:41

I. Kỹ thuật canh tác cây đậu phộng, cây lạc:

1. Chuẩn bị đất:

– Làm đất: Cày sâu, bừa nhỏ tơi xốp và nhặt sạch cỏ dại trước khi rạch hàng.

– Đối với đất màu làm liếp rộng 1,2 – 1,5m, rãnh rộng 20 – 30cm. Vụ đông xuân không lên liếp, trồng thành băng rộng 5 – 6m, đào rãnh giữa các dãi băng để tiện đi lại, chăm sóc và tưới nước.

– Trồng mùa mưa (vụ hè thu và thu đông) nhất thiết phải lên liếp thoát nước.

2. Giống:

Một số giống đậu phụng phổ biến như Đậu giấy (Đồng Nai, Sông Bé, Biên Hòa). Giống VD2 của Công ty cổ phần giống cây trồng Miền nam. Giống L14, MD7 và LDH01 do viện Khoa học nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ chọn lọc…

3. Thời vụ:

– Vụ Đông Xuân (chính vụ) gieo tháng 11 – 12 thu hoạch tháng 2 – 3.

– Vụ Hè Thu gieo tháng 4 – 6 thu hoạch 7 – 8.

– Vụ Thu Đông gieo tháng 7 – 8 thu hoạch tháng 10 – 11.

4. Kỹ thuật gieo hạt:

– Trước khi gieo xử lý hạt bằng thuốc Rovral kết hợp với Regent 3H (hoặc BAM 5H).

– Gieo hạt:

+ Gieo hốc: Đất sau khi được xới kỹ và lên liếp, dùng chày 4 – 5 mũi nhọn đi lùi trên ruộng để chọc lỗ (hốc) và gieo tia hạt. Khoảng cách hốc 20 – 25cm và gieo 2 – 3 hạt/hốc.

+ Gieo hàng: Dùng cào 4 – 5 răng với khoảng cách các răng 25cm kéo dọc mặt liếp có độ sâu 4 – 5cm và gieo hạt cách nhau 7 – 9cm. Lượng đậu giống vỏ là 180 – 200kg/ha.

– Độ sâu gieo hạt: Mùa nắng, đất nhẹ gieo sâu 5cm, mùa mưa, đất nặng gieo sâu 3cm.

II. Kỹ thuật chăm sóc và bón phân cho cây đậu phộng, cây lạc

1. Bón phân:

– Bón vôi trước khi làm đất khoảng 500kg/ha và 2 – 3 năm bón 1 lần.

– Bón lót 2 – 3 tấn phân chuồng hoai kết hợp với phân hóa học.

Có thể áp dụng công thức phân: 25kg N – 60kg P2O5 – 60kg K2O/ha.

Thời kỳ bón:

+ Bón lót toàn bộ phân hữu cơ và kali + 50% lân +1/3 phân đạm kết hợp với thuốc trừ kiến, mối.

+ Phân đạm còn lại chia ra làm hai lần bón thúc:

– Thúc 1: 10 – 15 ngày sau khi gieo;

– Thúc 2: 25 – 30 ngày sau khi gieo

50% phân lân còn lại sẽ được bón vào thời điểm cây ra hoa để làm tăng năng suất (nên dùng super lân để bón).

2. Chăm sóc:

– Trồng dặm: 3 – 5 ngày sau khi gieo.

– Làm cỏ vào ngày thứ 15 và ngày thứ 30 sau khi gieo, kết hợp bón phân thúc.

3. Tưới nước:

Có 2 cách tưới:

a. Tưới phun:

– Lần tưới đầu tiên vào thời điểm ngay sau khi gieo, sau đó tưới 7 – 10 ngày/lần.

– Tưới cho đất đủ thấm nước và nên tưới cuốn chiếu, tránh đi lại nhiều trên ruộng. Thiết kế những đường rãnh nhỏ để tiêu nước khi cần thiết, nhất là trường hợp gặp mưa to.

b. Tưới rãnh: Áp dụng phổ biến ở những vùng đất nhẹ và trồng lên liếp.

– Số lần tưới như tưới phun và lần tưới đầu tiên cũng áp dụng ngay sau khi gieo. Nơi cao tưới trước, nơi trũng tưới sau. Tưới cho rãnh nước thấm đều và hạn chế đi lại trên rãnh sau khi tưới. Các rãnh tưới phải thông thoáng, dẫn nước tốt.

Các giai đoạn cây đậu cần nước: vừa gieo xong; ra hoa; đâm tia và tạo trái. Ngưng tưới trước khi thu hoạch 10 – 12 ngày.

III. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH:

A. Bệnh:

1. Bệnh héo cây con: Bệnh gây hại chủ yếu ở giai đoạn cây con (2 tuần tuổi). Cây bị héo, quan sát ngay gốc cây chết thấy có khuẩn ty màu trắng, sau đó trở thành cương hạch tròn màu trắng rồi nâu. Phun thuốc Kitazin 50 EC theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

2. Bệnh đốm lá: có 02 loại:

+ Đốm nâu: Hại chủ yếu trên lá, vết bệnh có màu nâu, nâu vàng, xung quanh vết bệnh có quần vàng, trên vết bệnh có 1 lớp mốc màu xám, mặt dưới vết bệnh có màu nhạt hơn.

+ Đốm đen: Bệnh xuất hiện đầu tiên ở những lá dưới gốc sau đó lan lên những lá phía trên, vết bệnh có màu đen đều ở 2 mặt. Vết bệnh có hình tròn, dưới lá màu đen sẫm, dày. Từ trung tâm vết bệnh lan ra xung quanh, vết bệnh có hoặc có viền vàng rất nhỏ.

Bệnh gây hại nặng vào giai đoạn 70 ngày sau khi trồng. Dùng thuốc gốc đồng hoặc lưu huỳnh như: Benlate, Kumulus, Kasuran, Bordeaux phun vào 20 – 25 ngày sau khi thu.

3. Gỉ sắt: Triệu chứng: Bệnh phát sinh chủ yếu trên lá, đôi khi có trên cuống lá, thân, tia quả. Vết bệnh là các mụn nhỏ màu vàng cam ở dưới các mặt lá, bệnh nặng làm lá khô vàng và rụng đi. Bệnh do nấm gây ra, có thể hại trên tất cả giai đoạn sinh trưởng của cây. Khi chớm bệnh có thể phun Daconil, Dithane M45, Bavistin …

4. Lỡ cổ rễ: Dùng thuốc Validamycin, Anvil, Mancozeb …

5. Bệnh chết nhát: Vụ đông xuân, cây đậu thường bị bệnh chết nhát khoảng 10 – 20 ngày sau gieo. Bệnh chết nhát trên cây đậu phụng còn gọi là bệnh chết ẻo làm thiệt hại lớn đến năng suất và chất lượng đậu. Bệnh do nhiều tác nhân: vi khuẩn gây héo xanh, nấm gây héo rũ gốc, mốc đen, mốc trắng.

Biện pháp phòng trừ:

+ Luân canh với các loại cây trồng khác (lúa, bắp …); sử dụng phân hữu cơ, bón phân cân đối.

+ Xử lý hạt trước khi gieo. Trộn hạt giống với các loại thuốc như Hạt Vàng 50 WP liều lượng 100gr/30kg giống hoặc Saizole 5 SC liều lượng 100ml/30kg giống hòa với nước và tưới đều lên hạt đậu giống trước khi đem gieo khoảng 1 – 2 giờ.

Khi cây được 20 – 40 ngày tuổi, phun các loại thuốc Mexyl MZ 72WP: 1,5kg/ha + KNO3: 1kg/ha, Dipomate 80WP: 1,5kg/ha + Multi-K.

B. Sâu:

– Sâu xanh da láng, sâu tơ, sâu xám: phun Vectimec, Polytrin, Regent …

– Sùng đất: sử dụng các loại thuốc Regent, Basudin …

– Sâu đất: rãi thuốc trừ sâu dạng hạt vào đất từ 1 – 2 tuần lễ trước khi gieo hạt.

Chú ý: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải theo nguyên tắc “4 đúng” (đúng thuốc, đúng liều lượng và nồng độ, đúng lúc và đúng cách).

IV. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN

Việc thu hoạch và bảo quản có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hạt đậu.

Thu hoạch phải đúng độ chín, (khoảng 3 tháng sau khi gieo) khi có 70 – 75% số quả chín/tổng số quả của cây. Gần ngày thu hoạch nhổ một số cây mẫu để kiểm tra xác định ngày thu hoạch thích hợp.

Quả đậu phụng tươi sau khi thu hoạch có lượng nước 45 – 55% trọng lượng. Cần phải làm khô để hạ độ ẩm xuống còn 9 – 11% bằng cách phơi nắng hoặc sấy. Nếu phơi thì tránh phơi trực tiếp dưới ánh nắng mạnh trên 45ºC.

Quả giống sau khi đã làm khô, để nguội rồi đóng gói trong bao tải bên trong có túi ni lông, khâu kỹ. Nên bảo quản đậu phụng vỏ tốt hơn đậu hạt. Nơi bảo quản cần khô ráo, thoáng mát. Độ ẩm trong kho bảo quản tốt nhất khoảng 65 – 70%, ẩm quá hạt dễ bị nấm mốc làm hư hại nhưng nếu khô quá hạt bị giòn và dễ vỡ khi vận chuyển.

Nhiệt độ bảo quản càng thấp thì thời gian bảo quản được càng dài. Bảo quản trong phòng lạnh 12 – 13ºC. Đậu giống không nên bảo quản quá 12 tháng.

Trong điều kiện bảo quản ở gia đình có thể dùng hai lớp cót quây, ở giữa là lớp trấu khô hoặc tro bếp để chống ẩm (giống như phương pháp bảo quản lương thực). Nếu số lượng ít có thể bảo quản bằng chum vại và bịt kín.

TIN TỨC KHÁC :

【#7】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Cau Ta

Cây cau ta hay còn gọi là cây cau ăn trầu, là một loại cây đã rất quen thuộc với người dân Việt Nam. Nó tượng trưng cho một hình ảnh thôn quê đơn sơ, mộc mạc và gần gũi. Chính vì thế mà những sân vườn biệt thự, các công trình cảnh quan trồng loại cau này để tạo cảm giác được nhìn lại những cái xưa cũ của bản làng Việt Nam.

– Tốc độ sinh trưởng trung bình, sống lâu năm.

– Cây chỉ nhân giống được từ hạt của quả để tạo cây con.

– Cây cau lúc nhỏ chịu bóng, càng lớn cây càng ưa sáng. Cây thích hợp ở những nơi đất ẩm, đất tốt.

B/ Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây cau ta:

Nhân giống chủ yếu bằng quả. Nên chọn cây cau ‘mẹ’ khỏe, xanh tốt dưới 8 năm tuổi. Khi quả còn nhỏ, bỏ bớt một số chùm đầu, chọn những quả mẩy, đều, để cho chín vàng mới thu hoạch. Khi thu hoạch chỉ để 3 – 5 ngày, sau đó cắt bỏ phía đầu vỏ quả, tạo điều kiện cho mầm phát triển. Sau đó đưa vào ủ trong cát sạch để nảy mầm rồi mới cho vào luống ươm. Trong quá trình ủ cần giữ độ ẩm khoảng 70 – 80% và đề phòng kiến, bọ hung cắn phá. Khoảng 20 ngày sau, mở bao nếu thấy đầu cuống quả có nẩy lên một mộng nhỏ màu trắng, to bằng hạt đậu xanh thì nghĩa là cây đã nẩy mầm. Sau khoảng 3 – 4 tháng sau, cây Cau cao 20 – 30cm có thể mang đi trồng nơi cố định.

Cần phải đào hố lớn, sâu theo dạng hình vuông.

Muốn cây dễ sinh trưởng và không bị sâu bệnh nhiều thì phải bón lót phân chuồng, phân hữu cơ trước kết hợp với những bón vôi xuống hố trước khi trồng cây cau con.

So với những loài cây khác thì cây cau là cây dễ trồng và ít sâu bọ

【#8】Kỹ Thuật Trồng Cây Bông Vải

Quy trình canh tác:– Chọn đất

– Dùng giống kháng- Lùi thời vụ

– Mật độ và khoảng cách- Phân bón cho cây bong-dùng chất điều hoà sinh trưởng bit

– Chăm sóc – làm cỏ – xới xáo- Bấm ngọn

– Chống hạn cuối vụ-tưới tiêu .- Phòng trừ sâu bệnh hại bong

– Thu hoạch – Phân loại bông hạt

1. Chọn đất trồng bông

Bông vải là cây ưa nước, nhưng rất sợ bị úng vì vậy cần chọn đất cao ráo, dễ tiêu nước, có nguồn nước tưới chủ động.

2 . Chọn giống kháng Giống được sử dụng là VN 01-2 kháng sâu rầy

3 .Lùi thời vụ

Thông thường bông vải ở nước ta có hai thời vụ trồng đó là vụ khô (còn gọi là vụ Đông Xuân) và vụ mưa (còn gọi là vụ Mùa). Tuy nhiên mỗi vùng có điều kiện khí hậu, đất đai khác nhau, nên thời vụ trồng cũng khác nhau. Ở Đồng Nai thời vụ trước 20/6-30/7 cho năng suất cao nhất , sau này cuối vụ lại có hiện tượng áp thấp nhiệt đới làm cho chất lượng bông giảm sút do mưa nhiều không thể thu hoạch bông .Cho nên thời vụ gieo trồng được chuyển qua tháng 8 dương (lùi 15 -30 ngày ) nhưng khi trồng vào thời điểm này lại có vấn đề khác nảy sinh : chất lượng bông tăng nhưng lại bị khô hạn vào cuối vụ làm cho bông và nụ bị rụng .Một giải pháp khác được đề ra là tăng mật độ trồng

4 . Mật độ trồng

Lúc đầu mật độ trồng là 13000-16000 cây , hiện nay đã lên đến 45000-50000 cây/ha nhưng phải tăng một cách từ từ để nông dân thích ứng với kĩ thuật mới này.

Hiện nay ta mới đưa vào mô hình mùa vụ Đông Xuân , đây là mô hình hoàn toan mới , bao gồm 2 loại hình:

* Lá bông kép : hàng-hàng là 40, 2 hàng 90 cm, cây-cây 20

* lá bông đơn : hàng -hàng là 80, 2 hàng 90 cm , cây-cây là 20mật độ kép là 76000 cây đơn , đơn là 62800 cây

thời vụ gieo trồng Vụ Đông Xuân là 19-23/11 , hiện nay là khoảng 95-100 ngày .Số quả trung bình /cây kép là 11 quả /cây năng suất 3,4 tấn/ha

Số quả trung bình /cây đơn là 15-16quả /cây năng suất 4 tấn/ha và còn tăng thêm

Khi áp dụng kĩ thuật mới này thì cây bông phát triển rất tốt về chiều cao , cành lá rậm rạp , nhưng điều này cũng không tốt do cây bông phát triển thiên về ” sinh trưởng sinh dưỡng ” trong khi chúng ta mong muốn cây thiên về ” sinh trưởng sinh thực ” tức là cho ra được nhiều quả bông .Để khắc phục hiện tượng này ta có thể dùng chất điều hoà sinh trưởng

5 . Phân bón chất điều hoà sinh trưởng

Bón lót: Việc bón phân trước khi gieo bông là rất cần thiết và là một tiến bộ kỹ thuật, đặc biệt có hiệu quả đối với vùng đất xấu và cây trồng trước không phải là cây họ đậu.

Công thức bón phân là 180-75-75 ( 2:1:1) , ngoài ra còn bón 1 ít lưu huynh và vi lượng.

Làm cỏ và bón 3 lần 25-45-65

Phun KNO3 cuối vụ 7 ngày /lần

Dùng chất điều hoà sinh trưởng pix để khống chế cây phát triển .Hợp chất này bắt đầu được sử dụng vào năm 2000, đến nay 100% diện tích đã được sử dụng.

Phun Pix vào các ngày sau khi gieo lần lượt là 28,35,45,55 nagỳ sau khi gieo

6 . Chăm sóc – làm cỏ – xới xáo

Chăm sóc thời kỳ cây con là rất quan trọng, cây khỏe sẽ cho năng suất cao. Khi cây bông đạt 15 ngày sau gieo cần phải xới xáo nhẹ xung quanh gốc nhằm phá váng tạo độ thoáng cho bộ rễ phát triển và trừ cỏ dại lấn át khi cây bông còn nhỏ.

Thời kỳ ra nụ cần tiến hành xới sâu để xúc tiến bộ rễ ăn sâu, độ sâu xới từ 10 – 15 cm. Đồng thời kết hợp vun đất vào gốc cây nhằm chống đổ.

Khi bông đã ra hoa, bộ rễ đã phát triển khá mạnh, lúc này không nên xới sâu làm tổn thương rễ. Chỉ nên xới nhẹ sau mưa hoặc sau khi tưới, đồng thời vun cao vào gốc để tránh cây bị đổ ngã.

7. Bấm ngọn

Bấm ngọn thân chính và bấm đầu cành là kỹ thuật quan trọng trong toàn bộ kỹ thuật chỉnh cành. Bấm đúng lúc sẽ hạn chế ưu thế phát triển về phía ngọn, làm cho nụ nhiều, quả nặng hơn, hạn chế chiều cao cây, và chín sớm.

Bấm ngọn bông phụ thuộc độ phì đất, chế độ chăm sóc, khí hậu, giống… Nên bấm ngọn vào thời kỳ cây bông đã có khoảng 14 – 15 cành quả (70 – 85 ngày tuổi). Sau bấm ngọn thường xuyên đánh cành vượt.

8.Tưới tiêu – Chống hạn cuối vụ

Bông là cây rất cần nước, nhưng không chịu úng, để đạt năng suất cao, phẩm chất tốt cần chú ý:

– Về mùa khô, tưới định kỳ 10 – 15 ngày/lần.

– Về mùa mưa, phải chủ động tiêu nước, bông vải rất sợ bị úng nước dù chỉ trong thời gian ngắn.

Chống hạn cho cây vào cuối vụ:

– Dùng chế phẩm tăng sự cứng cáp của cây ( pix )

– Dùng KNO3 ( N và K hàm lượng cao khoảng 40% ) để tăng khả năng đậu quả cho cây bông.

– Phủ đất bằng thân bắp, rơm rạ

– Dùng phân hữu cơ đẳng trương để chống hạn : phân này bao gồm phân hữu cơ hoá sinh bình thường và chế phẩm đẳng trương AMF1 hoặc AMF2 có tác dụng hấp thu nước trong mùa mưa và trương lên hàng ngàn lần , khi mùa khô đến sẽ giải phóng nước cho cây hút

Với phương pháp chống hạn trên thì ta có thể duy trì hạn trong vòng 10-15 ngày mà không ảnh hưởng gì đến năng suất hay chất lượng của cây bông mà còn có thể tăng 3-5 quả/cây.

9. Phòng trừ sâu bệnh hại bông

* Các bệnh haị ở cây bông:– Lở cổ rễ

– Phấn trắng- Xanh lùn

* Phương pháp phòng trị:

– Nhổ bỏ cây bệnh và diệt môi giới- Dùng giống kháng ( sâu xanh )

– Sâu hồng ở Đồng Nai ít- Sâu đo

– Sâu cuốn lá- Côn trùng chích hút : rầy rệp , bọ trỉ , nhện đỏ phát triển nhanh và mạnh, nếu không trị kịp thời sẽ gây ra hiện tượng cháy lá.

Đốivới bọ trĩ cần có công tác kiểm tra thường xuyên để phát hiện sớm thì mới phòng trị có hiệu quả được, có thể dùng Admire để phun khi phát hiện có bọ trĩ

Khi bắt đầu thu hoạch cần ngừng tưới nước để quả chín đều.

10. Thu hoạch – Phân loại bông hạt

– Đặc điểm nở quả và tình hình thời tiết lúc thu hoạch: Cây bông từ lúc gieo đến khi quả đầu tiên nở thường mất 100 – 115 ngày. Giống như trình tự nở hoa, đậu quả, quả bông chín từ cành dưới lên và từ trong ra ngoài. Thời kỳ đầu do đặc tính của cây và khí hậu còn ẩm do mưa, tốc độ nở quả thường chậm hơn một chút. Đợt thu hái đầu tiên khi cây có 2 – 3 quả nở và cách quả đầu tiên nở từ 10 – 15 ngày, những đợt sau chỉ cách đợt trước khoảng 7 – 8 ngày.

Khi hết mưa, nắng chiều, nhiệt độ cao, gió lớn bông chín nhanh hơn.

Những sai sót thường gặp khi thu hoạch bông hạt

– Thu bông chưa nở đầy đủ: Bông nở đầy đủ là những quả bông có các múi bông bung, xốp, toàn bộ bông phủ kín quả. Quả chưa chín đủ múi bông chưa bung, còn ở dạng múi cau, vỏ quả đang còn tươi, màu xanh. Những quả bông chưa nở hết thường xơ, hạt có độ ẩm cao, nếu không phơi kịp thì dễ bị mốc, làm giảm chất lượng.

– Thu lẫn bông múi cau, bông vàng ố, bông đen: Khi quả chín gặp mưa, bông sẽ bị thối dẫn đến múi bông không thu được, hạt bị thối lép, hoặc do ẩm nên bông bị mốc. Những loại bông này không được thu để chung với loại bông tốt vì nó sẽ làm giảm phẩm cấp bông hạt, nên để riêng.

– Để lẫn lá, tai quả, đất: Khi thu hái không cẩn thận, dễ bị dính đất, lá khô, tai quả vào bông hạt, nhất là thu hái về buổi trưa nắng, chiều, tai lá khô và giòn.

– Để lẫn vật lạ, nhất là sợi nylon: Khi để lẫn sợi nylon vào bông sẽ gây khó khăn lớn cho công đoạn nhuộm màu công nghiệp, đây là vấn đề hết sức cẩn trọng vì ảnh hưởng rất lớn đến phẩm cấp.

【#9】Kỹ Thuật Trồng Nhân Sâm Hàn Quốc Cực Kì Đơn Giản

Việc nhân sâm Hàn Quốc được các sứ giả từ Trung Quốc và Nhật Bản đến du lịch khắp nơi cho thấy nhân sâm Hàn Quốc khác biệt rất nhiều so với nhân sâm sản xuất ở các vùng khác.

Mặc dù nhân sâm Hàn Quốc tự hào về tính hợp pháp lâu đời nhưng số lượng nhân sâm được trồng ở Trung Quốc, Hoa Kỳ và Canada, được cải tiến giống và sản xuất hàng loạt, hiện đang được bán khá nhiều.

Tại thị trường nhân sâm Hồng Kông, nơi diễn ra phần lớn hoạt động mua bán nhân sâm của thế giới, lượng nhân sâm Hwagi từ Hoa Kỳ và Canada chiếm hơn ⅔.Sở dĩ nhân giống sâm ra đời là để khắc phục tình trạng này và nâng cao năng suất trồng sâm.

Giống nhân sâm Hàn Quốc được cho là khác biệt nhất thế giới

I. TÌM HIỂU NGUỒN GỐC GIỐNG SÂM HÀN QUỐC

1. Lịch sử trồng nhân sâm tại Hàn Quốc

Có câu nói rằng khi nhắc đến nhân sâm thì người ta gọi là nhân sâm rừng. Nhân sâm hoang dã mang đến hiệu quả làm thuốc rất lớn nên nó thường đường săn lùng. Có thể dễ dàng nhận thấy tình trạng thiếu nhân sâm xuất hiện vào cuối triều đại Goryeo do rễ cây phát triển sau một thời gian dài (khoảng 6 năm tuổi). Việc nhân giống nhân sâm hàng loạt như hiện nay một cách nghiêm túc có thể được tìm thấy trong ‘Biên niên sử của Jeongjo’ sau giữa triều đại Joseon.

Vào những năm 1900, phương pháp trồng nhân sâm Hàn Quốc bằng phương thức xuống nương làm rẫy được phát triển, để trồng cây che nắng, việc làm đất dược liệu để che nắng và quản lý đất đai được phát triển.

Trước đó, chưa có ý thức về việc nuôi dưỡng các giống nhân sâm, nhưng từ năm 1926, các giống nhân sâm có màu sắc khác nhau bắt đầu được phát hiện. Ở Gaepung-gun, Gyeonggi-do, Hwangsukjong có màu vàng, và Deunghwangsukjong, một loại quả màu vàng cam ở giữa màu đỏ và vàng, được tìm thấy ở Jangdan-gun, thân nhân sâm có màu xanh lục. Trong khi đó, các loài bản địa có thân màu tím và quả màu đỏ đã bắt đầu được gọi là cây cảnh. Với sự xuất hiện của các chủng này, việc chọn lọc các nguồn gen bắt đầu.

Củ nhân sâm Hàn Quốc có nhiều giống khác nhau

Một nghiên cứu có hệ thống hơn bắt đầu vào năm 1962 với việc thành lập Trung tâm Thử nghiệm Nhân sâm Hàn Quốc trực thuộc Viện Nghiên cứu Độc quyền Trung ương.

Sau đó, Viện Nghiên cứu Nhân sâm Hàn Quốc được thành lập vào những năm 1970, và Viện Nghiên cứu Nhân sâm Hàn Quốc được mở rộng và tổ chức lại thành Viện Nghiên cứu Nhân sâm và Thuốc lá Hàn Quốc vào những năm 1980. Kể từ thời điểm này, các thử nghiệm thích nghi tại địa phương đã được thực hiện nghiêm túc đối với các dòng do các trang trại thu thập và chọn lọc.

Trong những năm 1990, nhân giống lai cũng đã được thử nghiệm trên nhân sâm trồng ở các vùng khác, chẳng hạn như nhân sâm Hoa Kỳ và nhân sâm Samchil, nhưng khi nhân sâm Hàn Quốc và nhân sâm Hoa Kỳ không tạo ra hạt giống, nghiên cứu đã bị dừng lại.

Phải đến những năm 2000, sự phát triển lâu dài của các giống nhân sâm mới bắt đầu được đền đáp. Vào đầu năm 2000, khi Tập đoàn Nhân sâm Hàn Quốc được tư nhân hóa, 317 nguồn gen đã được chuyển giao cho Cục Phát triển Nông thôn, qua đó Cục Phát triển Nông thôn, một tổ chức quốc gia, chịu trách nhiệm nhân giống nhân sâm. Ngoài ra, nghiên cứu về nhân giống nhân sâm đã bắt đầu được tiến hành nghiêm túc tại Viện nghiên cứu cây trồng chuyên ngành trong vùng.

Điển hình là tỉnh Chungcheong Nam, nơi có Geumsan, cũng được coi là di sản nông nghiệp, và tỉnh Gyeonggi, nơi nổi tiếng với nhân sâm Kaesong, đã bắt đầu nghiên cứu các giống nhân sâm. Nhờ những nỗ lực đó từ những năm 1990, đến năm 2021 đã có khoảng 32 giống sâm được đăng ký vào Nguồn giống quốc gia.

2. Sự khó khăn khi nhân giống nhân sâm Hàn Quốc tại các nước khác

Phát triển giống nhân sâm một cách nhất quán, bền bỉ, khó như nuôi con. Sự khác biệt lớn nhất giữa trồng trọt với các loại cây trồng khác và trồng nhân sâm là thời gian sử dụng. Cây nhân sâm một khi được trồng trên ruộng ít nhất là 3 năm và tối đa là 6 năm nên cần quản lý tốt điều kiện thổ nhưỡng và bỏ nhiều sùng. Ngoài ra, nếu mùa hè quá nóng, việc trồng sâm cau khó trồng vì nhiệt độ cao gây nhiễu loạn, ngừng quang hợp và giảm trọng lượng của rễ.

Ngay cả sau sáu năm cống hiến, cũng không thường xuyên nghe thấy lời nói rằng bạn đang làm việc với Trời vì bạn không thể làm gì được thiên tai. Đúng là khó phát triển giống vì thời gian trồng và thu hoạch kéo dài. Phải mất 12 đến 15 năm để trồng một loại nhân sâm theo phương pháp nhân giống nhân sâm thuần chủng, và mất gần 30 năm để tạo ra một giống thương phẩm bằng cách lai các giống thuần chủng đó.

Kỹ thuật trồng nhân sâm Hàn Quốc đã có từ rất lâu

Thực tế là rất khó để có thể gieo khoảng 40 hạt giống từ một củ nhân sâm mỗi năm, và sự biến đổi hẹp về tính trạng di truyền và kém đa dạng là những yếu tố khiến việc nhân giống nhân sâm gặp nhiều khó khăn.

Vì đây là một loại cây trồng khó trồng nên có nhiều yếu tố khác nhau cần được cải thiện thông qua việc chọn giống. Điển hình là phát triển các tính trạng chống chịu nhiệt độ cao nhằm cải tạo tập tính cháy màu vàng nâu từ ngọn xuống lá mà không phát triển dễ dàng ở nhiệt độ nóng. Ngoài ra, nhân sâm rất nhạy cảm với đặc tính của đất mà còn bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng nồng độ muối của đất trong quá trình canh tác lâu dài nên dễ xảy ra hiện tượng vàng lá, đỏ rễ. Một trong những mục tiêu của chăn nuôi là tăng khả năng chống mặn để không xảy ra các rối loạn sinh lý này.

Cũng cần lưu ý tăng khả năng chống chịu bệnh đốm lá, là bệnh truyền qua đường không khí thường gặp khi trồng sâm và tăng cường khả năng chống bệnh lở cổ rễ, một loại bệnh gây hại điển hình do trồng hàng loạt.

Ngoài ra còn có nhiều giống khác nhau được tạo ra bằng cách phản ánh từng đặc điểm. Tập đoàn Nhân sâm đã phát triển khoảng 20 giống, bao gồm Cheonpung, được đăng ký lần đầu vào năm 2002. Tại đây, có 4 giống như Cheonryang do Cục Phát triển Nông thôn phát triển, 2 giống do Văn phòng Hợp tác Công nghiệp-Học thuật Đại học Gyeonggiwon và Đại học Kyunghee phát triển, và 3 giống do Công viên tỉnh Chungnam phát triển.

So với các loài thông thường, chúng có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn và chứa một lượng lớn saponin, là một thành phần thuốc, đồng thời được phát triển để cho năng suất cao. Tuy nhiên, điều đáng tiếc là việc cung cấp giống trồng cho các trang trại mất nhiều thời gian do tốc độ sinh trưởng thấp.

Mặc dù các nghiên cứu về nhân giống đại trà đã được thực hiện thông qua nuôi cấy mô, nhưng rất khó để có được cây bình thường và vượt trội, và tỷ lệ sống của cây giống cấy mô thấp trong môi trường tự nhiên, vì vậy nó không được áp dụng cho nhân giống nhân sâm thực tế. Ngoài ra, vì ưu tiên chọn tạo giống lấy người sản xuất làm trung tâm, nên việc bồi dưỡng các giống hướng đến người tiêu dùng với năng khiếu chế biến xuất sắc vẫn là một nhiệm vụ.

II. CÔNG NGHỆ, KỸ THUẬT VÀ CÁCH TRỒNG NHÂN SÂM HÀN QUỐC TẠI VIỆT NAM

Hàn Quốc đang sản xuất nhân sâm tốt nhất trên thế giới vì có điều kiện khí hậu bốn mùa thích hợp cho việc trồng nhân sâm, và nằm ở vĩ độ 36 đến 38 độ Bắc, cũng như thổ nhưỡng thích hợp cho việc trồng nhân sâm.

Các khu vực trồng nhân sâm Hàn Quốc có thể được phân thành rộng rãi thành các khu vực sản xuất hồng sâm và bạch sâm, các khu vực sản xuất nguyên liệu chính 6 năm tuổi bao gồm Ganghwa, Pocheon, Jeongok, Gimpo, Yongin, Anseong và Seosan, Chungnam. Mặt khác, các vùng sản xuất nguyên liệu sâm trắng dưới 4 năm tuổi chính là Gyeonggi-do, Geumsan, Punggi và Jinan.

Nhân sâm Hàn Quốc là giống cây bán trung tính, chỉ trồng được tại nơi không có quá nhiều năng, thời gian canh tác từ 3-5 năm, rất dễ bị hư hại do thiên tại như dịch bệnh ngầm như thối rễ, môi trường bất thường hoặc thổ nhưỡng không phù hợp. Từ khi trồng đến khi thu hoạch, rất khó để đảm bảo số lượng ổn định.

Chọn địa hình thuận lợi để trồng sâm tại Hàn Quốc

1. Đặc điểm sinh trưởng của nhân sâm

– Giống cây nhân sâm Hàn Quốc thuộc loại cây lâu năm, ưa bóng râm, kháng bệnh kém.

– Tốc độ phát triển rất chậm và sức cản của không khí rất yếu.

– Rễ nhân sâm có lớp biểu bì mỏng và trong suốt đến mức có thể nhìn thấy bên trong có nước, rất mỏng manh nên lâu nayngười ta gọi là rễ nước.

– Cây sâm được hấp thụ trong thời gian dài với số lượng ít trong 6 năm (thời gian sinh trưởng thực tế là 36 tháng). Dođó nếu tính chất đất tốt, độ âm đất tốt, trạng thái sinh trưởng của rễ mịn thì khó có thể xuất hiện hiện tượng ức chếsinh trưởng do đất thiếu dinh dưỡng.

– Nhiệt độ thích hợp để nảy mầm và phát triển là: 10 ~ 15 °C

2. Kỹ thuật trồng sâm Hàn Quốc tại Việt Nam

Để trồng nhân sâm thành công cần phải đảm bảo về điều kiện, địa hình, đất đai như sau:

– Địa hình: Nơi có thông gió tốt về hướng Bắc (hoặc Đông Bắc). Độ dốc bẳng hoặc đất bằng.

– Đất: Đất mùn thoát nước tốt – Đất thịt mùn – Độ phì nhiêu cao.

– Nên chọn khu vực trồng trước đã trồng đậu tương, lúa mạch, khoai lang tốt. Trồng rau, tỏi và hành lá kém.

Đất là yếu tố quan trọng để trồng sâm. Đất cần phải đảm bảo sự bằng phẳng, thoát nước tốt, cuốc ải phơi đất. Khi chuẩn bị vào vụ trồng thì cuốc đất, đập đất nhỏ, nhặt sạch cỏ dại, lên luống rộng khoảng 150cm, mỗi luống dài khoảng 5m, vét luống cao khoảng từ 30-35cm, mỗi rãnh luống khoảng từ 25-30cm. Cuốc mỗi hỗ trên mặt luống thành từng hàng cách nhau khoảng 20cm, mỗi hàng cách hàng khoảng 25-30cm.

Trồng nhân sâm Hàn Quốc cần phải làm giàn che

Mỗi sào Bắc Bộ (diện tích khoảng 360m2) khoảng 0,2-0,3kg hạt. Chuẩn bị hạt giống cần có các khâu thực hiện như sau:

– Chọn hạt giống: Hạt giống phải được thu hái từ những cây nhân sâm từ 3 năm tuổi mới đảm bảo chất lượng. Hạt giống được chọn phải là loại có quả chín đỏ, đều cho vào nước. Chà nhẹ đến khi vỏ quả bị vỡ, rửa sạch hạt và để khô ráo. Sau đó, phơi hạt trong nắng nhẹ khoảng 3 ngày. Tốt hơn hết nên bảo quản hạt trong ngăn mát tủ lạnh.

– Gieo hạt: Kỹ thuật trồng sâm Hàn Quốc ở Việt Nam thường có 2 cách gieo cơ bản là gieo trực tiếp lên vườn ươm và gieo trong túi bầu. Gieo trong túi bầu cần chú ý đến túi bầu D=9-12, dùng que chọc giữa túi sâu khoảng 2cm. Cho hạt nhân sâm vào dùng trong cát ngọt phủ kín lên và phủ thêm một lớp vỏ trấu, cần phải tưới nước ẩm thường xuyên.

Ngâm hạt nhân sâm trong nước theo tỉ lệ: 2 sôi và 3 lạnh khoảng 5h rồi vớt ra ủ trong khăn ấm 3 ngày. Mỗi ngày rửa 1 lần vào buổi chiều, thời gian nảy mầm trong khoảng 110 ngày. Đến khi cây cao từ 5-7cm thì có thể mang ra ruộng sản xuất để trồng.

– Gieo hạt trực tiếp lên luống cần làm, loại đất tơi xốp, đã bón lót phân vi sinh hoặc phân chuồng hoai mục, rạch rãnh cây theo chiều ngang của luống rộng 7-10 cm, sâu khoảng 3-4cm. Bỏ từng hạt vào trong túi, mỗi hạt cách nhau khoảng 5cm, 200 hạt/m2, phủ thêm 1 lớp cát ngọt và lớp trấu lên, đồng thời phải giữ ẩm thường xuyên.

Trước khi trồng sâm Hàn Quốc, bạn cần phải phân biệt được thời gian sinh trưởng của nhân sâm là khá dài. Năm đầu là thời kỳ rễ, thân và lá mới bắt đầu hình thành. Từ năm thứ 2-4 là thời kỳ cây nuôi dưỡng. Năm thứ 6, rễ của cây sẽ thành nhân sâm và mang đến giá trị cao, có thể bắt đầu thu hoạch.

Khi trồng cần phải bóc bầu cây nhẹ nhàng để giúp không làm ảnh hưởng đến rễ của cây, đào mỗi hố sâu khoảng 10-12cm, ấn nhẹ gốc, vun thêm một lớp mỏng đất cho kín hố. Chú ý không để hố của cây bị úng nước làm củ thối. Đến khi cây sâm cao được 10cm thì phải theo dõi đất trồng thường xuyên, đồng thời xới đất nhẹ nhàng để giúp không làm ảnh hưởng đến cây giống.

Quy trình phát triển nhân sâm Hàn Quốc

Trồng nhân sâm cần phải có rạ hoặc rơm phủ lên kín luống mới mang đến hiệu quả cao cho củ sau này để giúp thuận tiện cho quá trình chăm sóc nhân sâm. Rạ cần phải được phủ dày lên luống tối thiểu khoảng 3-4cm, được giữ ấm cho mùa đông.

Trước khi thực hiện trồng nhân sâm Hàn Quốc, người trồng cần phải tiến hành bón lót các loại phân này gồm: 2-3 tạ phân chuồng mục + 12-15kg supe lân + 12- 15 kg NPK( 15-15-15) + 4- 5kg ure.

– Bón thúc mầm: Khi cây sâm nhú mầm, cần phải dùng phân chuồng hoai mục và phân vi sinh rải đều một lớp trên mặt luống. Chú ý, cần phải phủ lên luống một ít lớp đất màu, phun phòng bệnh thối nhũn cho cây định kỳ 10 ngày 1 lần.

– Bón thúc lần 2: Sau lần 1 khoảng 2 tháng, bón bằng phân tổng hợp và phân chuồng tương tự như trên.

Sử dụng loại lưới phản quang màu đen che dọc theo luống. Chú ý: Cần phải trồng cây nhân sâm ở trong khay, rọ không có lưới che, cần phải để trong mát và tránh ánh nắng mặt trời mùa hè chiếu vào.

– Cần phải đảm bảo giữ ẩm cho cây, không nên để quá ẩm kéo dài làm gây thối củ.

– Thực hiện làm rãnh thoát nước bên ngoài đồng ruộng, không được để nước mưa hoặc nước vào tràn qua ruộng sâm. Hết mưa phải tháo nước triệt để.

– Nhổ cỏ bằng tay và vét rãnh luống. Tháng 3 sâm sẽ nhú mầm, tháng 4-5 đảm bảo giữ ẩm cho cây, tránh nắng hạn.

– Trước tháng 6 cần phải làm vệ sinh vườn, vét rãnh luống và khơi thông hệ thống thoát nước.

– Cuối mùa mưa cần phải bón phân quanh gốc, vét rãnh luống, thực hiện nhặt sạch cỏ dại để sâm ngủ đông.

Nhân sâm là vị thuốc lâu đời bậc nhất của Đông y

Hiệu quả của nhân sâm như một loại dược liệu đã được ghi nhận là Shinnongbonchogyeong (AD 456 ~ 536), một văn bản y học tốt nhất ở phương Đông, và người ta đã phát hiện ra rằng có các phân loại như nhân sâm Triều Tiên và nhân sâm Bách Tế trong Bonchogangmok của Lee Sijin (1596 sau Công nguyên).

Phương pháp trồng nhân sâm rất độc đáo, không giống như các loại cây trồng thông thường, một khi đã trồng nhân sâm thì ít nhất phải trồng lại trong 15 năm, số lượng nhân sâm thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào thổ nhưỡng và địa hình. Nhân sâm khó trồng nên người ta làm đất thích hợp cho việc trồng nhân sâm bằng cách lặp lại thêm cây gọn gàng trong 2 năm trước khi trồng. Nó được trồng mà không cần phân bón hóa học bằng cách cấy cây con được trồng trong một loại đất đặc biệt và che nắng.

Cách trồng cây nhân sâm Triều Tiên – Hàn Quốc có thể nói là cơ sở nuôi trồng lâu đời nhất vẫn duy trì phương pháp canh tác hữu cơ truyền thống. Trồng nhân sâm củ lớn với sự phát triển cân đối của đầu não, thân và chân là “chìa khóa” của việc trồng trọt.

【#10】Chuyên Gia Chia Sẻ Kỹ Thuật Trồng Mãng Cầu Cây Khỏe

Điều kiện sinh trưởng của mãng cầu xiêm

Trái mãng cầu xiêm còn có những tên gọi khác như mãng cầu gai, na dai, na Xiêm. Những yếu tố thiên nhiên quyết định đến khả năng sinh trưởng, phát triển của cây:

Cây có thể sinh trưởng trong điều kiện nhiệt độ từ 25 – 32 độ C, cây có khả năng chịu hạn rất kém, thời tiết mưa nhiều với độ ẩm cao là điều kiện thuận lợi để cây sinh trưởng, phát triển.

Na dai là loại cây ăn trái ưa sáng, tiếp xúc với ánh sáng mặt trời nhiều giúp cây sinh trưởng tốt hơn, đặc biệt có đủ ánh sáng cây sẽ kháng sâu bệnh tốt hơn.

Mặc dù mãng cầu có thể thích nghi được với nhiều loại đất trồng khác nhau. Nhưng cây có khả năng chịu ngập úng kém, độ pH phù hợp để cây phát triển là từ 4,5 – 6,5.

Kỹ thuật trồng cây mãng cầu xiêm

Hiện nay, mãng cầu vẫn được nhân giống bằng hình thức ươm hạt từ cây mẹ. Hạt giống cây mãng cầu chuẩn cần đảm bảo những yêu cầu sau:

Cây cho nhiều trái.

Hình dáng đẹp.

Tỷ lệ cơm lớn.

Tuy nhiên nếu không có thời gian và ít kỹ năng về ươm giống, bà con có thể chọn mua cây giống ghép hoặc chiết cành từ những vườn ươm uy tín.

Nếu trồng cây mãng cầu ở những vùng đất bị nhiễm mặn, mực nước thường xuyên dâng cao thì có thể ghép cây mãng cầu với gốc bình bát. Đây cũng là phương pháp giúp cây mãng cầu sinh trưởng tốt hơn, cho nhiều trái và đảm bảo thời gian thu trái kéo dài.

Với khu vực miền Tây, trái mãng cầu có thể trồng quanh năm. Tuy nhiên thời điểm thích hợp nhất để trồng loại cây ăn trái này là từ tháng 4 – 5 dương lịch. Đây là thời điểm có mưa nên khi trồng cây sẽ không mất quá nhiều thời gian và nguồn nước tưới.

Mật độ cây trồng phụ thuộc vào diện tích vườn, đặc thù cây giống trồng theo hình thức chuyên canh hay xen canh.

Loại cây này có thể được trồng trên nhiều loại đất khác nhau như đất phù sa ven sông đất phèn, đất bãi bồi. Dù trồng cây trên loại đất nào thì bà con vẫn cần chú ý độ ph thích hợp là 4,5 – 6,5.

Hố trồng cây mãng cầu cần được đào sâu, tơi xốp, đảm bảo tạo thành những mô đất có chiều rộng từ 40 – 60cm, cao khoảng 30cm.

Hố trồng cần được chuẩn bị trước ngày đặt cây giống khoảng 7 ngày, thời gian này để phơi ải và diệt trừ sâu bệnh hại cây.

Trong hố trồng cây ngoài vôi bột thì cần có thêm phân chuồng ủ hoai mục, phân lân để cung cấp thêm nguồn dinh dưỡng cho đất.

Cây giống sau khi cắt bỏ lớp bọc nilon bên ngoài thì đặt vào giữa hố trồng, vùi đất và nén chặt quanh gốc để cố định rễ cây. Bà con lưu ý sau khi trồng cần tưới đẫm nước cho cây để kích thích rễ nhanh bén vào đất.

Chăm sóc cây mãng cầu xiêm

Phân bón lót cho cây mãng cầu thường sẽ là 15kg phân chuồng ủ hoai cùng 0,5kg phân lân nung cháy, kết hợp với đó có thể thêm 0,5kg vôi bột để diệt trừ mầm bệnh cho hố trồng.

Loại phân bón thúc cho cây mãng cầu mà bà con có thể ưu tiên sử dụng là phân NPK cùng 10kg phân chuồng trong một năm. Sau 3 năm, lượng phân bón NPK có thể tăng lên thêm 300g cho mỗi gốc, bón đến khi cây được 9 năm tuổi thì lượng phân bón dừng lại đều qua mỗi năm tiếp theo, không tăng lên nữa.

Mỗi năm, số lần sử dụng phân bón thúc cho cây trồng sẽ là 3 lần: Cây sau khi thu hoạch vào cuối mùa mưa, cây đang nuôi trái vào đầu và cuối mùa mưa.

Cây mãng cầu có thể sinh sống trong môi trường nhiệt độ cao, khả năng chịu hạn tương đối tốt. Tuy nhiên nếu bà con muốn năng suất trái cao thì bắt buộc phải cung cấp cho cây trồng đủ lượng nước cần thiết. Cây giống nếu được trồng vào đầu mùa mưa thì không cần cung cấp quá nhiều nước. những ngày nắng gắt trong mùa khô, bà con có thể ưu tiên tưới thêm cho cây mỗi ngày 1 lần để cung cấp độ ẩm mà cây cần.

Phòng trừ dịch bệnh gây hại

Bệnh thối rễ ở cây mãng cầu thường do tuyến trùng và nấm gây ra. Cây bị bệnh tấn công sẽ dần suy yếu, lá vàng và rụng dần. Thậm chí cây bị thối rễ nặng còn dẫn đến chết. Bà con có thể sử dụng thuốc để phòng trừ bệnh. Với những cây bị bệnh nặng, bà con nên đào hố để chôn.

Bệnh thán thư ở cây mãng cầu do loại nấm Colletotrichum gloeosporioides tạo thành. Những cây bị bệnh sẽ xuất hiện tình trạng thối mềm trên cánh và dần lây lan sang trái. Vào mùa mưa tình trạng bệnh sẽ lây lan nhanh và diễn biến phức tạp hơn.

Cách tốt nhất để đề phòng bệnh đó là nên cắt tỉa cành cây thông thoáng để đảm bảo quá trình quang hợp. Với trái mãng cầu bị rụng, cây chết thì bà con nên tiêu hủy để tránh tình trạng lây lan sang những cây khác.

Một số loại sâu bọ khác thường tấn công cây mãng cầu gai là rệp, rầy, sâu hút nhựa…khiến năng suất trái bị ảnh hưởng đáng kể. Những loại sâu bọ này tấn công cũng là nguyên nhân làm bệnh hại xâm nhập vào cây.

Khi bà con áp dụng đúng kỹ thuật trồng cây mãng cầu, thời điểm cây bắt đầu thụ phấn đến khi cây cho trái là khoảng 4 tháng.

Chúng tôi mong rằng với thông tin về kỹ thuật trồng mãng cầu được tổng hợp trong bài viết này. Việc trồng và chăm sóc cây mãng cầu đã không còn là vấn đề khó khăn đối với bà con. Chúc bà con thành công, cảm ơn bà con đã quan tâm theo dõi bài viết.