【#1】Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Nho

I- ĐẶC TÍNH:

Cây nho (Vitis vinifera) hiện được trồng phổ biến ở các nước thuộc vùng ôn đới và bán ôn đới. Ở nước ta nho trồng tập trung ở Ninh Thuận với diện tích khoảng 2.500 ha. Cây nho sinh trưởng và phát tốt trên đất phù sa, giàu chất dinh dưỡng, thoát nước tốt. Trên đất cát, đất lẫn sỏi đá ở các triền đồi cũng có thể trồng được nho miễn là có nhiều mùn, giàu chất dinh dưỡng, có điều kiện tưới nước vào mùa khô và thoát nước vào mùa mưa. Độ pH thích hợp cho cây nho cần có điều kiện khí hậu khô, độ ẩm không khí thấp, lượng mưa ít , nếu mưa nhiều kéo dài dễ làm bệnh phát sinh phát triển mạnh.

– Muốn trồng nho, trước hết phải tìm hiểu kỹ về điều kiện thời tiết khí hậu. Không phải quan tâm đến độ nhiệt ở miền Nam vì những nơi rét nhất như Đà Lạt, vẫn còn là nóng đối với nho, vả lại nho đã thích nghi tốt với độ nhiệt cao, thậm chí nắng to cũng không làm nám trái như với dứa, cam nhờ có giàn che.

Cơ bản nhất là phải có khí hậu khô nhiều nắng, độ ẩm không khí thường xuyên thấp. Vùng Ninh Thuận có lượng mưa thấp nhất nước 750 – 850 mm/năm và không khí tương đối khô. Tuy nhiên, lượng mưa quá cao tập trung vào những tháng cuối năm (tháng 9, 10, 11…) kết hợp với độ nhiệt cao làm cho bệnh phát triển mạnh và phải phun thuốc nhiều lần vào thời kỳ này.

Ở nhiều nơi khác ở miền Nam, vẫn có thể trồng nho kinh doanh với điều kiện là phải có mùa khô 4, 5 tháng nắng, và đất không bị úng nước mùa mưa do rễ nho là nơi xúc tích dự trữ của cây, rất mẫn cảm với tình trạng thiếu oxy. Cũng phải tính toán nên thu hoạch 1 vụ hay 2 vụ vì những nơi mưa nhiều chi phí về phun thuốc cộng với khả năng ô nhiễm môi trường làm giảm hiệu quả kinh tế của việc trồng nho.

Gió to không những có thể làm dập nát lá, chùm nho, còn có thể làm đổ giàn, vậy nên trồng nho ở những nơi hứng nắng, nhưng được che chắn kỹ. Những vùng hay có gió bão không thuận tiện.

Đất phù sa ven sông Dinh (Ninh Thuận), sâu, giàu chất dinh dưỡng, luôn thoát nước, là đất nho rất tốt. Tuy nhiên theo điều tra khảo sát của nghành nông nghiệp thì đất thịt, đất cát, đất lẫn sỏi đá ở các triền đồi, đều có thể trồng nho nếu đầu tư phân hữu cơ và phân khoáng với lượng cao, cũng phải có điều kiện tưới nước về mùa khô và bao giờ cũng phải thoát nước.

Độ pH thích hợp cho nho là pH = 6,5 – 7,0 nếu pH dưới 5 phải bón thêm vôi. Vùng Ninh Thuận mưa ít pH hay gặp là 6 – 7 có khi vượt 7 ở các đất phèn và trường hợp này phải rửa phèn. Đất phải nhiều mùn, vì thế phải bón nhiều phân hữu cơ. Vẫn theo điều tra của Nha Hố ở 30 điểm trồng nho vùng Ninh Thuận tỷ lệ mùn trong đất thường là 2% trong 100 g đất hàm lượng lân dễ tiêu là 77,76 mg và 44,47 mg kali trao đổi là những chỉ tiêu cao.

Tóm lại, nho ưa khí hậu khô và nhiều nắng. Có những điều kiện này thì những điều kiện khác, ví dụ về đất, về ánh sáng v.v… cũng thuận tiện theo, sợ nhất là mưa vì mưa làm rụng hoa, rụng trái, và nhất là tạo điều kiện cho nhiều bệnh nguy hiểm phát triển.

II- GIỐNG VÀ NHÂN GIỐNG:

Tất cả các giống nho trồng trong sản xuất hiện nay đều từ nước ngoài nhập vào từ thời Pháp thuộc và nhất là trong thời kỳ trước 1975. Nơi tập trung trồng nhiều giống nhất là Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Nha Hố nay là Viện Nghiên cứu Bông và từ đó các giống nho đã phổ biến vào trong sản xuất ở tỉnh Ninh Thuận và các tỉnh khác.

Qua nhiều năm đào thải hiện chỉ còn lại trong sản xuất 4 giống trong đó giống Muscat blanc gần như không được trồng nữa, mặc dù thơm ngọt nhưng có một nhược điểm rất quan trọng là vỏ mỏng trái dễ vỡ, không chịu khi vận chuyển.

Hiện nay giống Cardinal chiếm tới 99% diện tích trồng nho cả vùng Ninh Thuận:

1. Cardinal (nho đỏ) không chỉ là giống quan trọng của Việt Nam mà cả của các nước quanh vùng như Philippines, Thái Lan v.v… và có nhiều ưu điểm quan trọng : mã đẹp, dễ vận chuyển, sinh trưởng nhanh, chất lượng khá.

2. Cardinal có một ưu điểm nữa hơn các giống khác đã được nhập vào Việt Nam, từ cắt cành đến chín chỉ khoảng 90 ngày, với 1 tháng ngủ nghỉ trước khi lại cắt để cho ra trái vụ sau, tổng cộng 4 tháng cho 1 vụ, một năm có thể thu ba vụ, tiêu chuẩn kinh tế quan trọng của người trồng nho hiện nay.

– Đặc điểm của nghề trồng nho là phải cho cây leo giàn. Ở các nước nhiệt đới khác người ta dùng cọc hình chữ T bằng sắt hoặc bằng bê tông, tay dọc chữ T cắm sâu xuống đất, tay ngang buộc năm dây thép cách nhau đều. Tay ngang rộng từ 1,2 m đến 1,5 m. Chiều cao từ tay ngang tới mặt đất từ 1,2 m đến 2 m tùy vùng. Cao thì thoáng nhưng dễ đổ do sức nặng của cả hàng cây, đặc biệt khi mang trái. Hai cột hai đầu phải đóng cọc gia cố.

– Ở Ninh Thuận bà con làm giàn. Giàn nho thông thường gồm hai hay nhiều hàng cọc. Trên đầu cọc, cao độ 1,8 m – 2,0 m, giăng một giàn dây thép ngang dọc cho nho leo. Giàn to thì phải gia cố những hàng cọc phía rìa bằng những thanh gỗ, thanh sắt, sào tre v.v… đủ vững để không sụp đổ, dưới sức nặng của cành lá và trái nho.

Cho nho leo và cắt tỉa: Cho leo giàn không có gì khó. Dùng một cái sào, hoặc cọc gỗ lớn bằng ngón tay cái, cắm gần gốc nho, cắm dựng đứng. Chọn trong các ngọn nho ngọn khỏe nhất buộc cho leo lên giàn. Bao nhiều ngọn phụ, hoặc cành sinh ra sau này cắt hết, sát đến tận nách lá để có một thân duy nhất to khỏe. Khi ngọn chính đã lên tới giàn, ngắt búp sinh trưởng để cho các cành cấp 1 phát triển.

Ngọn của thân chính sau khi vươn tới giàn thì ngắt đi. Trong các cành mọc từ thân ra chọn lấy hai cành khỏe nhất, buộc vào dây thép cho phát triển theo hai hướng ngược. Hai cành cấp 1 này sẽ trở thành 2 tay, buộc chặt vào dây thép bằng một loại dây có thể tự hủy được (đay, bẹ chuối, vỏ cây leo, dây ni lông v.v…). Không dùng dây thép vì sẽ thắt lấy tay, cản trở lưu thông của nhựa. Khi tay đã mọc dài 1 – 1,2 m lại bấm ngọn để lại trên mỗi tay một số cành cấp 2 gọi là cành quả. Cành quả cũng buộc vào dây thép, tránh gió lay, làm rách lá rụng mắt và không cho đè lên nhau, khoảng 10-12 tháng sau trồng, khi các cành cấp 2 đã hóa gỗ, màu nâu, mắt đã nổi rõ thì tiến hành để trái bằng cách cắt hết cành lá đã có, chỉ để lại cành quả, mầm dự trữ ở chân cành quả (cành quả vụ sau). Những cành to khỏe dài hơn 1m thì cắt ở vị trí mắt thứ 6,8, các cành nhỏ ngắn thì cắt ở mắt vị trí số 1 -2 để tạo các cành dinh dưỡng cho vụ sau. Sau khi cắt cành 20 ngày cây bắt đầu ra hoa, 25-30 ngày đậu trái. Mỗi dây chỉ để 2-3 chùm, trên các chùm cần loại bỏ các trái có dị tật, méo mó, sâu bệnh để tập trung dinh dưỡng nuôi các trái còn lại.

Cắt hết cành lá đã có, chỉ để lại các bộ phận sau đây :

– Cành quả để hình thành trái và gỗ mới.

– Mầm dự trữ ở chân cành quả để thay thế các cành này vụ sau.

B- Bón Phân:

1. Bón lót: Trước khi trồng, bón cho mỗi hố 2 – 3 kg Better HG01 + 0,5 kg lân.

2. Bón phân cho nho thời kỳ kiến thiết cơ bản:

– Cây nho cần khoảng 10 – 12 tháng để tạo bộ tán, leo giàn, trong thời kỳ loại phân thích hợp là Better NPK 16-12-8-11+TE.

– Những tháng đầu sau khi trồng có thể pha 30 -50 gam phân với 10 lít nước tưới đều vào vùng rễ nho.

– Các tháng sau có thể bón trực tiếp với lượng 50 – 70 kg/ha/lần, bón kết hợp xới đất phá váng và vùi lấp phân bón.

3 Bón phân cho nho kinh doanh:

– Trung bình mỗi tấn nho, cây sẽ lấy đi khỏi đất 3,14 kg N, 0,71 kg P¬2O5, 5,86 kg K2O, 0,86 kg MgO, 4 kg CaO, 42 ppmFe, 15,7ppm Zn, 9,1 ppm Cu, 5,3 ppm B, 7ppm Mn… như vậy với năng suất bình quân 10 tấn/ha, cây nho lấy đi khỏi đất 31,4 N, 1 kgP2O5 , 58,6 K2O và nhiều trung vi lượng khác. Để nho đạt năng suất cao, ổn định, bón phân như sau:

– Sau khi thu hoạch: xới đất phá váng, bón 6-10 tấn phân hữu cơ Better HG01 + 100-150 kg phân Better NPK 16-12-8-11+TE ( phân tím), kết hợp phun phân bón lá đầu trâu ĐT001 định kỳ 7-10 ngày/lần.

– Trước cắt cành: bón 100 -150 kg Better NPK 16-12-8-11+TE (phân tím), phun 2-3 lần phân bón lá đầu trâu ĐT001.

– Khi trái lớn bằng hạt tiêu: 100 -150 kg phân Better NPK 12-12-17-9+TE (phân xanh), kết hợp phun thêm phân bón lá đầu trâu ĐT 907 hoặc Better KNO3.

– Khi trái lớn bằng hạt đậu: 150 -200 kg Better NPK 12-12-17-9+TE (phân xanh), kết hợp phun phân bón lá ĐT 907 hoặc Better KNO3, ngưng phun trước thu hoạch 10 ngày.

Cần xới nhẹ đất giữa hai hàng nho hoặc cách gốc nho 0,5-1m để rải phân, sau rải phân cần lấp đất để vùi phân, tránh thất thoát.

IV- SÂU BỆNH HẠI::

– Nhện đỏ: bám ở mặt dưới lá hút lấy nhựa, đặc biệt lúc mới đâm chồi. Trị bằng các thuốc: Bi 58 ND, polytrin P 440EC, DC Tron Plus 98,8EC…

– Bọ trĩ: trị bằng các loại thuốc Regent 800WG, Confidor 100SL…

– Sâu ăn lá, sâu đục thân, đục quả: trị bằng các thuốc Sherpa 25ND, Decis 2,6ND…

– Bệnh mốc sương: trên là bệnh xuất hiện ở mặt trên có những vết màu xanh-vàng, sau đó chuyển sang đỏ nâu, mặt dưới lá, tơ nấm phát triển thành một màng mỏng, trắng trắng những lông tơ. Bệnh còn gây hại cả tay leo, đọt, hoa và chùm 68WP, Antracol 70WP….

– Bệnh phấn trắng: nắm bệnh gây hại các đọt non, bệnh phủ một lớp phấn trắng như bột lên lá non, cành thân non, trên cành lúc đầu bệnh cũng ở dạng phấn trắng nhưng sau đó chuyển sang nâu, các thuốc trị 53,8 DF, Champion 57,6DP, Kocide 250EC…

Hiếu Giang Better kính chúc bà con trúng mùa được giá!

【#2】Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Dâu Tây

Cây dâu tây đang trồng có tên khoa học là Fragaria vesca L., kết quả của sự lai ghép giống F. Chiloensis duch và F. Virginiana Duch. Người Anh gọi là “Strawberry”, người Pháp gọi là “Fraisier”, khi đem qua Việt Nam vì có nguồn gốc từ Pháp nên được gọi là “dâu tây”.

A- ĐIỀU KIỆN CANH TÁC:

I. ĐẤT TRỒNG:

Dâu tây thích hợp với các loại đất thịt nhẹ, hàm lượng chất hữu cơ cao, đất ấm, giữ ẩm nhưng thoát nước tốt. Nếu đất giàu chất hữu cơ cây dâu tây sẽ phát triển tốt, năng suất cao và kéo dài thời gian thu hoạch quả. Độ ẩm cần thiết trên 4%, độ pH thích hợp từ 6-7.

II. KHÍ HẬU:

Dâu tây thích hợp với khí hậu mát lạnh. Nhiệt độ phù hợp cho cây dâu từ 18 – 22 độ C. Đặc biệt là nhiệt độ ngày đêm cao sẽ tạo điều kiện để tăng năng suất và chất lượng trái.

Thời kỳ sinh trưởng phát dục:

– Phân hóa chồi non và trổ hoa – Nhiệt độ thích hợp: 15-24 độ C

– Kết trái – Nhiệt độ thích hợp: Ngày 20-24 độ C, đêm 6-10 độ C

– Quả chin – Nhiệt độ thích hợp: 15-20 độ C

Cây dâu đòi hỏi ánh sáng dồi dào thì mới sinh trưởng mạnh, thiếu ánh sáng thường ảnh hưởng đến khả năng ra hoa kết quả. Ẩm độ không khí cao và mưa kéo dài thường xuất hiện bệnh cây.

B- KỸ THUẬT TRỒNG TRỌT:

I. GIỐNG:

1. Các yếu tố về tiêu chuẩn giống tốt:

II. KỸ THUẬT LÀM ĐẤT, LÊN LUỐNG:

Chọn đất thịt nhẹ, vùng cao ráo, thoát nước tốt. Cây dâu tây là đối tượng của sâu bệnh khá phong phú. Anh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng trái khi thu hoạch, do đó biện pháp chọn đất, làm đất, xử lý đat cần phải chú trọng đúng mức để hạn chế nguồn bệnh ban đầu lây lan từ đất.

– Vệ sinh đồng ruộng thu dọn tất cả tàn dư cây trồng, cỏ dại.

– Làm đất và xử lý vôi 100 kg/1.000m2 và các loại thuốc sâu, thuốc bệnh.

– Bón lót các loại phân.

Luống trồng:

– Luống cao 20 – 25 cm ở vùng đất thấp.

– Luống cao 15 – 20 cm ở vùng đất cao.

Trồng trong nhà nilông: Trồng hàng 3, rò rãnh 1,2m – 1,3m; cây x cây: 35 – 40 cm.

Trồng ngoài trời: Trồng hàng 3 (kiểu nanh sấu), rò rảnh 1,2m – 1,3m, cây x cây: 40 – 45 cm (tùy thuộc vào giống, đất và điều kiện thâm canh).

Cây dâu đòi hỏi dinh dưỡng nay đủ và cân đối. Ngoài NPK, cần quan tâm đến nhóm trung lượng, vi lượng vì nó quyết định quan trọng đến chất lượng và khả năng kháng bệnh của cây dâu. Thâm canh cây dâu đòi hỏi phải bón phân đầy đủ phân hữu cơ để bảo đảm lượng mùn trong đất cao ( 8% – 10%) đặc biệt trong điều kiện những nơi đất nghèo mùn.

+ Phân hữu cơ sử dụng cho cây dâu nếu dùng phân chuồng phải ủ nóng và xử lý thuốc nấm bệnh và đạt yêu cầu hoai mục trước khi sử dụng để tránh lây lan nguồn sâu bệnh và cỏ dại. Tốt nhất nên dùng phân hữu cơ đã chế biến.

+ Bón phân đạm cho cây dâu cần chú ý đến màu sắc của lá thời kỳ, tốc độ sinhtrưởng phát dục để điiều chỉnh liều lượng tăng hay giảm thích hợp.

+ Phân lân ảnh hưởng đến khả năng ra hoa, đậu trái, phát triển hệ rễ và ra ngó (mạ) của cây dâu.

+ Phân Kali quyết định về năng suất, trọng lượng độ cứng, chất lượng trái. Khả năng kháng bệnh của cây dâu và tăng cường quang hợp trong điều kiện thiếu ánh sáng trong vụ hè thu, nhất là canh tác trong nhà nilông (cây dâu yêu cầu ánh sáng dồi dào).

+ Canxi, Bo, Magiê ảnh hưởng quang trọng đến chất lượng trái. Canxi còn tạo điều kiện cho sự hấp thụ dinh dưỡng được điều hòa và hạn chế một số bệnh sinh lý trên trái.

+ Bo ảnh hưởng đến khả năng phân hóa mầm hoa, đậu hoa, chất lượng và kể cà độ cứng của trái.

Lượng phân đề nghị bón cho cây dâu 1.000m2 (bìnhquân) trong năm thứ nhất (kiến thiết cơ bản và định hình). Như sau:

1. Chủng loại phân bón: Nếu có điều kiện nên sử dụng phân hữu cơ sinh học Better HG01 và các loại phân cao cấp Better NPK của công ty Hiếu Giang vì có đầy đủ các thành phần, nhu cầu cần thiết nêu trên.

2. Cách bón:

– Lần 1: Bón cơ bản. Khi đốn dâu, dùng cuốc, cày bới đất hai bên rạch sát gốc dâu, sâu khoảng 20 cm. Dùng 20 – 30kg vôi bột rải xuống rạch để vệ sinh đồng ruộng và phơi rạch khoảng 5 – 7 ngày, sau đó dùng 15 kg phân Better NPK 16-12-8-11+TRE rải đều hai rãnh rồi lấp đất lại.

Các lần tiếp theo:

Tùy theo tập quán địa phương, có thể bón theo rạch hoặc theo lỗ nếu tận dụng đất trồng xen cây khác khi dâu còn bé.

– Lần 2: Sau khi bón lần 1 được 2 – 2,5 tháng thì lấy cuốc chỉ bới một bên rạch sâu 10 – 15cm, rồi tuỳ theo ruộng lâu năm hay ít năm, đất tốt hoặc xấu bón 10kg phân Better NPK 16-12-8-11+TE rải đều theo rạch rồi lấp đất.

– Lần 3: Sau khi bón lần 2 được 2 – 2,5 tháng thì lấy cuốc chỉ bới một rạch bên kia sâu 10 – 15cm (bên bón lần 1 không bới) rồi bón 15kg phân Better NPK 16-12-8-11+TE rồi lấp đất lại.

– Lần 4: Sau khi bón lần 3 được 2 tháng thì bón lần 4, lấy cuốc chỉ bới một bên rạch sâu 10 – 15cm, rồi tuỳ theo ruộng lâu năm hay ít năm, đất tốt hoặc xấu bón 10kg phân Better NPK 12-12-17-9+TE rải đều theo rạch rồi lấp đất.

Ghi chú: (Có thể hoà phân với nước tưới cho cây)

Bón phân hữu cơ sinh học Better HG01 và vôi 2 đợt/năm:

1. Ngắt chùm hoa, cắt tỉa ngó:

– Để cây dâu sinh trưởng mạnh và ổn định trong giai đoạn đầu nên ngắt bỏ chùm hoa bói đầu tiên để tăng cường sinh trưởng và ức chế phát dục.

– Trong giai đoạn thu hoạch, để trái lớn đều nên cân đối giữa khả năng phát triển của khung tán và số lượng hoa trái trên cây nếu nụ, hoa, trái ra nhiều cần tỉa bout những nụ, hoa,, trái dị dạng và sâu bệnh.

– Nếu không tận dụng ngó để nhân giống thì nên cắt bỏ toàn bộ ngó.

– Trong giai đoạn đầu khi thân lá cây dâu chưa phủ luống có thể để ngó với khoảng cách 15 cm (5-6 ngó/cây). Để tăng cường sinh trưởng cây ban đầu. Hạn chế ngó đâm rễ phụ trên luống.

2. Tỉa thân lá:

Đảm bảo mật độ phân tán cây dâu cân đối nên để từ 3-4 thân/gốc. Do đặc điểm của giống, chế độ phân bón, thời tiết, chăm sóc khả năng phân tán, ra lá sẽ khác nhau. Cần tỉa bớt các lá già, sâu bệnh, lá bị che khuất tần dưới. Chú ý không nên tỉa quá nhiều sẽ mất khả năng quang hợp của cây. Các bộ phận của cây sau khi cắt tỉa cần phải tiêu huỷ ở xa ruộng.

3. Che phủ đất:

Dùng các chất liệu hóa học hay hữu cơ để che phủ mặt luống trồng dâu. Phương pháp này có các ưu điểm như sau:

– Giữ ẩm cho luống trồng.

– Gia tăng nhiệt độ cho luống trồng (phủ nhựa đen) phù hợp cho sinh trưởng cây dâu đồng thời hạn chế một số nấm bệnh.

– Cách ly trái tiếp xúc với đất hạn chế bệnh thối trái.

– Hạn chế cỏ dại và rửa trôi phân bón.

Hiện nay có nhiều phương pháp che phủ luống đang được áp dụng:

– Dùng nhựa PE (thích hợp cho trồng dâu trong nhà nilông).

– Dùng cỏ khô, tro trấu.

– Dùng cỏ khô kết hợp với lưới nilông trắng.

Tuy nhiên việc che phủ đất tại vùng đất thấp thường phát sinh sên nhớt.

4. Tưới nước:

– Đối với cây dâu nếu ẩm độ đất và không khí cao đều bất lợi đến sinh trưởng cũng như sâu bệnh phát triển, tối ưu nhất với cây dâu là thiết kế hệ thống tưới ngầm, nhỏ giọt.

– Khi tưới cho cây dâu nên cần tuyệt đối sử dụng nguồn nước sạch, không nên sử dụng nguồn nước mương suối vì dễ gay nguồn bệnh.

5. Dàn che:

Hiện nay có 2 phương pháp canh tác cây dâu tây: Canh tác trong nhà che nilông và canh tác ngoài đồng. Phương pháp sản xuất cây dâu trong dàn che có các ưu điểm như:

– Hạn chế bệnh cây trong vụ mưa, tuy nhiên nếu thiết kế dàn che không đảm bảo chiều cao, chế độ thông gió không tốt thì độ ẩm sẽ tăng và bệnh sẽ phát triển mạnh đồng thời nhiệt độ sẽ gia tăng đột ngột tại mot số thời điểm trong ngày ảnh hưởng đến sinh lý của cây.

– Hạn chế ngập úng đất, ẩm độ gia tăng và rửa trôi phân bón khi mưa kéo dài hay mưa lớn trong vụ hè thu.

6. Phòng ngừa dị dạng trái:

– Quy hoạch vùng trồng dâu tập trung, 1ha dâu nên nuôi 2 thùng ong mật để nâng cao tỷ lệ thụ phấn của hoa, đồng thời giảm bớt tỷ lệ trái dị dạng.

– Thời kỳ kết trái đầu tiên nếu phát hiện quả dị dạng lập tức hải bỏ và giảm bón lượng đạm.

– Giai đoạn hoa nở rộ tránh phun xịt thuốc sâu bệnh với nồng độ cao.

1. Bệnh hại:

a. Bệnh đốm lá: Thường do 2 loại nấm bệnh gây ra.

+ Bệnh đốm lá trắng (Mycosphaerella fragariae):

Đốm bệnh màu trắng ở phần trung tâm và viền đậm bao quanh. Bệnh gây tổn thong ở thân, lá, cuốn hoa, cuốn quả gây ra chết hoa và trái non, bệnh làm giảm năng suất và sức sống của cây.

+ Bệnh đốm lá đỏ (Phomopsis obsscuans): Đốm bệnh có hình quả trứng hay hình tam giác có màu nâu sáng chuyển sang màu đỏ ơ các mô bào giửa các gân lá.

+ Biện pháp phòng trị:

– Bón phân cân đối NPK.

– Tỉa các lá bệnh và tiêu hủy ở xa ruộng.

– Sử dụng các loại thuốc hóa học xịt định kỳ (Rovral 50 WP, Score 250 ND, Toppsin 70 WP, Kasuran 47 WP)

b. Bệnh mốc sương:

+ Xuất hiện trong điều kiện ẩm độ, nhiệt độ cao lây lan nhanh gây that thu lớn đến sản lượng và chất lượng trái. Bênh xuất hiện cả ở trên thân, lá, trái.

+ Biện pháp phòng trị:

– Thực hiện chế độ luân canh.

– Áp dụng chế độ vệ sinh đồng ruộng, ngắt tỉa thường xuyên lá bị bệnh và dem tiêu hủy ở xa nơi canh tác.

– Dàn che trồng dâu phải cao ráo, thông gió.

– Lên luống cao tránh úng vào mùa mưa.

– Không trồng mật độ dày.

– Tăng cường phân Kali cho cây.

– Sử dụng các loại hóa chất phun xịt định kỳ (Toppsin 70 WP, Dithane M45-80WP Antracol 70WP).

c. Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca macularis):

+ Xuất hiện trong điều kiện ẩm độ cao, chế độ lưu thông khí kém thường phát sinh ở cuốn lá, trái. Vết bệnh có màu mốc nâu xám hay xám.

+ Biện pháp phòng trị:

– Áp dụng tốt các biện pháp canh tác như trên.

– Sử dụng cac loại hóa chất phun xịt (Score 250ND. Anvil 5SC, Daconil 75WP, Derosal 50SC).

d. Bệnh thối trái:

+ Bệnh thối trái do nấm Botrtis Cinerea: Biểu hiện đầu tiên là những đốm nâu sáng sau đó lan rộng cả trái có phủ một lớp mốc xám, sau đó trái khô đi. Bệnh này xâm nhiễm từ giai đoạn quả xanh đến chin.

+ Bệnh thối trái do nấm Rhizoctonia: Vết bệnh ban đầu có màu nâu đậm, sau đó chuyển sang thối đen trái. Bệnh lây nhiễm khi trái chin tiếp xúc với đất trồng. Bệnh này xuất hiện chủ yếu ở giai đoạn quả chin.

+ Biện pháp phòng trị:

– Chọn đất trồng cao ráo, thoát nước tốt, lên luống cao.

– Sử dụng chất liệu phủ luống.

– Bón cân đối NPK, tăng cường phân có hàm lượng Kali cao trong vụ mưa.

– Luân canh và sử lý đất trước khi trồng.

– Xịt định kỳ các loại thuốc bệnh.

– Ngắt bỏ các trái bệnh đem tiêu hủy xa nơi canh tác.

2. Sâu hại:

a. Nhện đỏ:

+ Chích hút nhựa làm cây phát triển kém, giảm năng suất. Nhện thường ký sinh sau mặt lá.

+ Biện pháp phòng trị:

– Vệ sinh đồng ruộng (tàn dư cây trong và cỏ dại).

– Xịt các loại thuốc đặc hiệu (Nissorun 5EC, Comite 73EC).

b. Bọ trĩ, rệp:

+ Phá hoại búp lá, lá non, thân non, chích hút nhựa làm cây suy kiệt, giảm năng suất trong thu hoạch.

+ Biện pháp phòng trị:

– Vệ sinh môi trường.

– Kiểm tra sớm và phòng trị dức điểm khi có triệu chứng bị hại,

– Phun xịt các loại hóa chất trừ sâu (Trebon 10EC – 20WP, Applaud 10WP, Sherpa 25EC).

c. Sâu ăn tạp, sâu cuốn lá:

+ Sâu ăn tạp ký sinh trong phần gốc phá hoại chủ yếu vào ban đêm, ăn lá và phần thân non của cây.

+ Sâu cuốn lá làm tổ gay cuốn lá làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây.

+ Biện pháp phòng trị:

– Áp dụng tốt các biện pháp canh tác, vệ sinh đồng ruộng.

– Xử lý đất trồng.

– Xịt các loại thuốc sâu (Oncol, Mimic 20F, Sumicidin 10EC).

Chú ý: Khi phun xịt không nên sử dụng nồng độ cao và tránh các giai đoạn ra hoa rộ

【#3】Kỹ Thuật Nhân Giống Lan Mokara

Nhóm hoa lan Mokara là nhóm chủ lực trong việc phát triển diện tích và cung cấp sản phẩm hoa lan cắt cành tại một số địa phương nước ta.

Mokara là nhóm giống hoa được lai tạo từ các giống Arachnis + Vanda + Ascocentrum. Giống lan này có đặc điểm tương tự như nhóm Vanda là loài đơn thân, thân hình trụ dài tiếp tục mọc cao lên mãi, không có giả hành, lá dài hình lòng máng hay hình trụ mọc cách hai bên thân. Phát hoa mọc từ nách lá giữa thân, phát hoa dài mang nhiều hoa thường không phân nhánh. Hoa cỡ trung bình đến lớn, cánh đài của hoa rất lớn. Hoa có nhiều màu sắc phong phú từ trắng, tím, hồng đỏ, cam, vàng nâu, xanh. Trên cánh hoa thường có chấm, có đốm hoặc hình caro rất đẹp. Nhóm giống này rất thích hợp với việc trồng sản xuất hoa cắt cành do siêng ra hoa, có thể đạt 6 – 8 phát hoa/ năm.

1. Kỹ thuật nhân giống chiết tách lan mokara

– Hiện nay, phương pháp nhân giống chiết tách lan Mokara khá đơn giản và dễ làm hơn được tiến hành ngay tại vườn. Cách tiến hành như sau:

+ Cây lan mokara mẹ sau thời gian trồng từ 1,5 – 2 năm, có chiều cao đạt từ 1,2-1,5 m, bộ rễ phát triển khỏe, lá xanh, không bị sâu bệnh sẽ được chọn cắt nhân giống.

+ Phần hom giống sau khi cắt khỏi cây mẹ có chiều cao từ 30 – 50 cm, tùy theo tình trạng cây và ý thích của người muốn nhân giống. Hom giống phải có ít nhất 1 rễ.

– Sau khi cắt hom 1 tháng, cây mẹ sẽ nảy ra 4 – 6 chồi và sau 4 – 6 tháng chồi con đạt kích thước 20 – 30 cm, có 1 – 2 rễ, đủ tiêu chuẩn tiếp tục cắt nhân giống.

– Không nên để chồi con trên cây mẹ quá lâu, sẽ làm mất sức cây mẹ. Muốn khai thác hoa trên cây mẹ, nên để lại một chồi con trên cùng và tiếp tục chăm sóc bình thường.

2. Kỹ thuật nhân giống bằng nuôi cấp mô

– Đây là phương pháp nhân giống chung được áp dụng cho hoa lan rất hiệu quả. Từ một cây mẹ ban đầu có thể nhân ra hàng ngàn cây có kích thước và chất lượng đồng đều như nhau, giúp việc nhân giống được nhanh hơn. Nên chọn lựa cây mẹ ban đầu tốt, như có đặc tính ra hoa liên tục.

– Nhược điểm duy nhất của phương pháp nhân giống bằng cấy mô là từ cây cấy mô đến khi ra hoa thời gian kéo dài tối thiểu là 3 – 4 năm cây mới ra hoa nếu chăm sóc tốt. Trong khi đó cây trồng bằng hom cắt từ ngọn cây mẹ chỉ cần 3 – 6 tháng đã ra hoa. Như vậy thời gian chăm sóc kéo dài, mặc dù giá thành cây giống ban đầu thấp.

3. Kỹ thuật nhân giống bằng hom

– Đây là phương pháp nhân giống đơn giản bằng cách cây con được cắt thẳng từ đoạn ngọn của cây mẹ. Thông thường tùy theo yêu cầu quy cách hom giống tối thiểu phải bao gồm từ 2 – 3 rễ đâm ra từ thân cây mẹ. Kích cỡ thường để trồng là tối thiểu 25 – 30cm, có thể tới 50 – 60cm. Hom càng dài thì khả năng cây càng khỏe do có nhiều rễ, sau khi cắt trồng sang vườn mới thì khả năng phục hồi nhanh, mau ra hoa trở lại. Tùy theo đặc tính giống, sau 3 tháng cây con cắt từ ngọn đã có thể cho hoa nhưng thông thường để dưỡng cây người ta cắt bỏ các phát hoa ở giai đoạn này.

– Nhược điểm của phương pháp này là giống đợt đầu nhân ra với số lượng hạn chế, cứ một cây mẹ thì cắt được một ngọn – tức 1 cây con. Tuy nhiên sau khi cắt ngọn, cây mẹ nếu chăm sóc tốt từ các nách lá, tập trung phần trên gần chỗ cắt sẽ ra tiếp tục các mầm cây con. Thông thường từ cây mẹ sẽ ra được 2 – 3 chồi, tối đa có thể 4 chồi, sau khoảng 6 tháng cây con sẽ phát triển hoàn chỉnh và có thể tách ra để trồng. Giá thành cây giống cũng cao như cây mẹ.

4. Kỹ thuật nhân giống từ hom có cải tiến

– Biện pháp cắt hom lấy phần ngọn làm cây giống, còn phần gốc sẽ phát triển các chồi con thành cây thành phẩm để trồng đang được nhà vườn trồng lan cắt cành Mokara áp dụng rộng rãi. Tuy nhiên, một điểm hạn chế của phương pháp này là hệ số nhân chồi không cao. Từ một cây mẹ ban đầu, sau khi cắt hom, lấy phần ngọn ta được một cây thành phẩm thì số lượng chồi con sinh ra không nhiều, từ 2 – 3 chồi, tối đa có thể 4 chồi.

– Cần sử dụng các loại phân bón lá có hàm lượng đạm cao như 31-11-11 kết hợp loại có chứa axit amin, rong biển được phun liên tục vào thời điểm trước khi cắt ngọn 1 tháng và sau khi cắt 6 tháng.

Kỹ thuật nhân giống lan mokara, Nguồn: Thegioilan.com.

【#4】Kỹ Thuật Trồng Lan Hồ Điệp Đúng Cách Ra Hoa To Và Đẹp

Lan hồ điệp (tên khoa học là Phalaenopsis) thuộc họ lớn nhất trong vương quốc các loài cây, họ lan Orchid Orchidaceae, có nguồn gốc từ Đông Nam Á, Philipp ines và Australia.

Hướng dẫn Kỹ thuật trồng hoa lan hồ điệp đúng cách :

Hiện nay tại thị trường Việt Nam, Lan hồ điệp được trồng chủ yếu ở Xứ sở sương mù Đà Lạt, có khí hậu ẩm và lanh, là điều kiện thích hợp để trồng hoa lan hồ điệp , để có được điều kiện phù hợp cho sinh trưởng, phát triển tốt, ra hoa đúng thời vụ cần rất nhiều điều kiện do đó cần phải có các thiết bị kèm theo như thiết bị tăng nhiệt, thiết bị giảm nhiệt, thiết bị điều chỉnh ánh sáng. Lan hồ điệp ra hoa thường có rất nhiều màu, các màu hoa lan chủ đạo hiện nay như tím, trắng, vàng, hồng phấn, cam, đỏ, xanh,.. mỗi cây hoa thường có từ 5-10 bông trên mỗi cành.

Trồng lan hồ điệp yêu cầu cao về kinh nghiệm của người chơi lan

Yêu cầu của chậu trồng lan hồ điệp phải là chậu không sâu, nhỏ, màu trắng và trong suốt thuận lợi cho bộ rễ phát triển và quang hợp. Khi cây còn nhỏ dùng chậu có đường kính 5cm, sau 4 – 6 tháng khi cây có khoảng cách giữa 2 lá lớn hơn 12cm thì chuyển sang chậu có đường kính 8,3cm. Sau giai đoạn trồng từ 9 đến 12 tháng khi khoảng cách giữa 2 lá lớn hơn 18cm thì tiếp tục chuyển sang chậu có đường kính 12cm.

Loài lan này cần nhiệt độ ban ngày là 18-29 độ C và nhiệt độ ban đêm là 13-18 độC. Trong suốt mùa thu, nhiệt độ nên duy trì dưới 16 độ C liên tục trong 3 tuần khi cụm hoa bắt đầu xuất hiện. Thông thường, sự thay đổi bất thường về nhiệt độ và độ ẩm có thể là nguyên nhân làm rụng nụ.

Khi trồng cây Lan hồ điệp cần độ ẩm từ 50-80% . Nếu độ ở môi trường có độ ẩm thấp hơn, người trồng có thể dùng màn che để hạn chế cây thoát hơi nước.

Vào mùa hè, cây cần được tưới khoảng 2-3 ngày một lần, ngược lại vào mùa đông, người chơi hoa chỉ cần tưới khoảng 10 ngày một lần Thời gian tốt nhất để tưới nước là buổi trưa vì lá sẽ khô cho tới tối. Nước dính lại có thể khiến cho lá bị thối, vì thế., cách tốt nhất là người trồng nên tưới nước cho cây phù hợp với từng mùa, đồng thời cũng xem xét nhu cầu nước và giá thể sử dụng (giá thể thường được sử dụng là vỏ cây, đá trân châu, vỏ cây dương xỉ, than củi).

Việc bón phân cho lan hồ điệp là một công đoạn hết sức cần thiết trong quá trình hình thành và phát triển của cây lan, nên tăng cường bón phân vào giai đoạn tăng trưởng, Lượng phân bón là đạm, lân, kali theo tỷ lệ 30-10-10 nồng độ 40mg/1lít nước. Ngoài ra có thể bổ sung thêm các loại phân hữu cơ khác như Komix. Và bên cạnh đó sử dụng các loại thuốc trừ sâu bệnh cho cây vào giai đoạn tăng trưởng mạnh.

Các yêu tố ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển của cây hoa .

Thay chậu lần thứ 1: Sau khi trồng được từ 4 – 6 tháng, lúc này khoảng cách giữa 2 lá khoảng 12cm thì chuyển sang chậu có đường kính 8,3cm. Lấy cây ra khỏi bầu, tách bỏ giá thể cũ và thay bằng giá thể mới rồi trồng lại vào chậu mới nhẹ nhàng tránh làm tổn thương đến rễ. Dưới đáy chậu nên lót 1-2 miếng xốp giúp chậu thoát nước tốt, tránh làm cây bị úng.

Thay chậu lần 2: Lần thay chậu thứ 2 cũng là lần thay chậu cuối cùng được xác định khi cây có khoảng cách 2 lá đạt khoảng 18cm. Lúc này cây được từ 16 – 20 tháng, đường kính chậu chuyển sang phải đạt 12cm. Cách thay chậu lần này tương tự như lần đầu nhưng chú ý dùng dao, kéo sắc cắt bớt các rễ già trước khi trồng lại.

Việc thay chậu có thể thực hiện một lần trong một năm hoặc hai năm, mùa thích hợp nhất để thay chậu là mùa xuân.

Xem nhiều mẫu hoa lan hồ điệp sau khi ra bông và được cắm kết hợp vào chậu : TẠI ĐÂY

Nguồn : Tổng hợp

【#5】Kỹ Thuật Trồng Tiêu Công Nghệ Cao

(Hiệp Hội Hồ Tiêu Việt Nam)

Tiêu có nguồn gốc từ rừng nhiệt đới Ấn Độ. Ngoài việc sử dụng làm gia vị, tiêu còn có giá trị trong y dược, trong hương liệu làm chất trừ côn trùng. Nhu cầu sử dụng tiêu ngày càng gia tăng nên tiêu trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng của 1 số nước trên thế giới.

Ở Việt Nam tiêu được đưa vào trồng trước năm 1943. Diện tích tiêu cả nước trên 27.000 ha, trong những năm gần đây giá cả tăng nhanh, kéo theo diện tích tiêu cả nước tăng lên đáng kể, trước năm 2003 Việt Nam là nước xuất khẩu tiêu đứng thứ 2 trên thế giới sau Ấn Độ, từ năm 2003 đến nay Việt Nam đứng đầu thế giới về xuất khẩu tiêu.

I. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC:

1. Rễ: Có 4 loại rễ chính.

1.1 Rễ cọc: Rễ cọc chỉ có khi trồng bằng hạt. Sau khi gieo, phôi hạt phát triển, rễ đâm sâu vào đất, có thể sâu 2-2,5 m, nhiệm vụ chính là giữ cây và hút nước chống hạn cho cây.

1.2 Rễ cái:Rễ cái phát triển từ hom tiêu (nếu trồng bằng hom). Mỗi hom có từ 3-6 rễ, nhiệm vụ chính là hút nước chống hạn cho cây trong mùa khô, sau trồng 1 năm, rễ cái có thể ăn sâu tới 2 m.

1.3 Rễ phụ: Rễ phụ mọc ra từ rễ cái thành từng chùm mang nhiều lông hút, tập trung nhiều ở độ sâu 15-40 cm. Nhiệm vụ chính là hút nước và dưỡng chất để nuôi cây. Đây là loại rễ quan trọng nhất của cây tiêu trong quá trình sinh trưởng và phát triển.

1.4 Rễ bám (rễ khí sinh, rễ thằn lằn):Rễ này mọc từ đốt thân chính hoặc cành của cây tiêu, bám vào nọc (nọc sống, nọc chết, nọc xây…) nhiệm vụ chính là giữ cây bám chắc vào nọc, hấp thụ (thẩm thấu) chỉ là thứ yếu.

Trong hệ rễ, phần ở dưới đất quan trọng hơn phần ở trên không khí. Hệ thống rễ ở tầng đất từ 0-30 cm rất quan trọng, nên tạo điều kiện tầng đất này thuận lợi cho rễ tiêu phát triển.

2. Thân: Tiêu thuộc loại thân bò, là loại thân tăng trưởng nhanh nhất có thể 5-7 cm/ngày.

Cấu tạo thân tiêu gồm nhiều bó mạch libe mộc có kích thước khá lớn, nên có khả năng vận chuyển nước, muối khoáng từ dưới đất lên thân rất mạnh. Do vậy, khi thiếu nước hoặc bị vấn đề gì khác thì cây tiêu héo rất nhanh.

Thân tiêu có màu đỏ nhạt (non) đến nâu xám, nâu xanh, xanh lá cây đậm (lúc cây sung, lá lớn). Khi cây già hóa mộc thì màu nâu sẫm. Nếu không bấm ngọn thì có thể mọc dài tới 10 m.

3- Cành: Có 3 loại cành:

3.1 Cành vượt (cành tược): Mọc ra từ các mầm nách lá ở những cây tiêu nhỏ hơn 1 tuổi, mọc thẳng hợp với thân chính một góc nhỏ hơn 450. Cành này phát triển rất mạnh, nếu dùng làm hom để giâm cành thì cây tiêu ra hoa chậm hơn cành mang trái nhưng tuổi thọ kéo dài hơn (25-30 năm).

3.2 Cành ác (cành mang trái): Là những cành mang trái mọc ra từ các mầm của nách lá ở gần ngọn của thân chính trên những cây tiêu lớn hơn 1 tuổi, góc độ phân cành lớn hơn 450.

Cành này ngắn hơn cành tược, lóng ngắn, khúc khuỷu và thường mọc cành cấp 2, nếu lấy cành này nhân giống thì mau cho trái (nhưng tuổi thọ thấp).

3.3 Dây lươn: Mọc ở gần mặt đất từ những mầm nách lá, mọc dài ra bò trên mặt đất, thân nhỏ, lóng dài làm tiêu hao dinh dưỡng của thân chính và nhánh ác. Trong sản xuất người ta thường cắt bỏ hoặc dùng làm hom giâm cành.

4. Lá: Lá cây tiêu thuộc lá đơn, hình trái tim, mọc cách. Cuống lá dài 2-3cm, phiến lá dài 10-25cm, rộng 5-10cm tùy giống.

Lá là một bộ phận dùng để nhận biết giống, trên phiến lá có 5 gân hình lông chim.

5. Hoa: Hoa mọc thành từng gié (chùm) treo lủng lẳng trên cành. Một gié dài khoảng 7-12cm, trung bình có từ 30-60 hoa trên gié sắp xếp theo hình xoắn ốc, mỗi hoa có một lá bắc nhỏ nhưng rụng rất sớm khó thấy. Hoa tiêu có thể lưỡng tính hoặc đơn tính và co thể đồng chu, dị chu hoặc tạp hoa.

Hoa tiêu không có bao, không có đài, có 3 cánh hoa, 2-4 nhị đực, bao phấn có 2 ngăn, hạt phấn tròn và rất nhỏ, đời sống rất ngắn khoảng 2-3 ngày. Bộ nhụy cái gồm: Bầu noãn có 1 ngăn và chứa 1 túi noãn (tiêu chỉ có 1 hạt).

Từ khi xuất hiện gié đến khi hoa nở đầy đủ khoảng 29-30 ngày. Sự thụ phấn của hoa không phụ thuộc vào gió, mưa hoăc côn trùng mà phấn của hoa trên thụ cho hoa dưới của một gié.

Sự thụ phấn của hoa phụ thuộc rất lớn bởi độ ẩm không khí, độ ẩm đất. Đây là điều cần lưu ý cho việc tưới nước cho vùng trồng tiêu ở miền Đông Nam Bộ.

(Chú ý: Ngoài việc tưới gốc còn phun lên lá để tăng độ ẩm không khí).

6. Trái: Trái tiêu chỉ mang 1 hạt có dạng hình cầu, đường kính 4-8mm (thay đổi tùy giống, điều kiện chăm sóc, sinh thái).

Từ khi hoa nở đến trái chín kéo dài 7-10 tháng, chia ra các giai đoạn:

– Hoa xuất hiện và thụ phấn: 1-1,5 tháng.

– Thụ phấn đến phát triển tối đa: 3-4,5 tháng, đây là giai đoạn cần nhiều nước nhất.

– Trái phát triển tối đa đến chín: 2-3 tháng.

Ở miền Nam trái chín tập trung vào khoảng tháng 1-2 trong năm, có thể kéo dài đến tháng 4-5.

II. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH THÁI

1. Thời tiết khí hậu

1.1 Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp bình quân cả năm từ 25oC – 30oC, nhiệt độ dưới 15oC và cao hơn 40oC tiêu không phát triển được.

1.2 Ẩm độ: Ẩm độ thích hợp bình quân 75 – 90%, ẩm độ cao làm cho hạt phấn dễ dính vào nuốm nhị cái và thời gian thụ phấn kéo dài do nuốm nhụy trương to khi có ẩm độ, tạo điều kiện cho sự hình thành quả tốt hơn.

1.3 Lượng mưa: Lượng mư yêu cầu cả năm từ 2.000 – 2.500mm, phân bố đều trong 7 – 8 tháng. Lượng mưa tối thiểu là 1.800mm. Cây tiêu cần có mùa khô rõ rệt khoảng 3 -4 tháng để quả chính tập trung. Tiêu không thích hợp với mưa lớn và đọng nước ở vùng rễ.

1.4 Gió: Tiêu không thích gió lớn, gió dễ làm đổ nọc tiêu gây ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của tiêu. Gío lạnh về mùa đông ảnh hưởng đến ra hoa, đậu quả.

1.5 Ánh sáng: Tiêu là cây ưa ánh sáng, nhất là trong thời kỳ cho quả. Tuy nhiên tiêu cần cây che bóng khi thơi tiết nắng gắt.

2. Đất đai:

Tiêu có thể trồng ở nhiều loại đất khác nhau: đất đỏ Bazan, đất sét pha cát, phù sa bồi, đất xám…

III. GIỐNG – KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG

1. Giống tiêu

1.1 Một số giống địa phương

1.1.1 Tiêu trâu: Có 2 loại lá tròn và lá dài, là giống chống chịu điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh tốt, ít phải chăm sóc, hạt lớn nhưng hạt đóng thưa, năng suất thấp.

1.1.2 Tiêu sẻ:

– Sẻ đất đỏ: lá nhỏ dài 10-12 cm, rộng 4,5-5 cm, hơi thuôn màu xanh đậm, chùm quả ngắn, đóng hạt dày năng suất trung bình 2-3 kg tiêu đen/ nọc/năm.

– Sẻ mỡ, sẻ Phú Quốc: lá dạng bầu, chùm quả ngắn hạt lớn, hạt đóng dày chịu hạn tốt, ít nhiễm bệnh.

– Tiêu Vĩnh Linh: Lá dạng trung bình chùm quả dài hạt đóng dày, năng suất cao ổn định, chất lượng hạt tốt, thích nghi cao với điều kiện sinh thái của các tỉnh miền Đông Nam Bộ, dễ nhiễm bệnh chết chậm.

1.2 Một số giống tiêu nhập nội

1.2.1 Tiêu Indonexia (Lada Belangtoeng): được nhập từ Indonexia từ năm 1947, lá lớn, dễ trồng, năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu 1 số bệnh ở rễ đặc biệt là tuyến trùng, kháng bệnh chết nhanh và bệnh chết chậm khá, phải có thời gian hạn ngắn trong mùa khô mới cho năng suất cao. Nhược điểm cơ bản của giống tiêu này là trong điều kiện đất xấu, thâm canh kém cây chậm ra hoa, năng suất năm đầu không cao và kém ổn định.

1.2.2 Tiêu Ấn Độ (Pannijur-1): lá to, tròn hoặc dài, chùm quả dài, hạt đóng dày, phát triển mạnh, năng suất cao, cho qủa sớm, phẩm chất hạt tốt, kháng bệnh chết nhanh và chết chậm trung bình, trong điều kiện không thâm canh cho năng suất thấp.

1.2.3 Tiêu Campuchia (Sréchéa, Kam chay, Kép…): khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh tốt, hạt đẹp, ra hoa hơi muộn, năng suất ít ổn định, dễ nhiễm bệnh chết héo.

Trong điều kiện tự nhiên, sinh thái của Đồng Nai nhà vườn nên chọn trồng một số giống tiêu có năng suất cao, chất lượng tốt, ít nhiễm bệnh, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu như: Giống Tiêu Pannijur – 1, giống tiêu Lada Belangtoeng, giống tiêu Vĩnh Linh.

2. Kỹ thuật nhân giống

2.1 Chọn cây giống

– Chọn vườn tiêu tốt không có nguồn bệnh, cây tiêu không nhiễm bệnh, cho năng suất ổn định.

– Cây có tán phân bố đều, đốt ngắn, khả năng phân cành tốt có nhiều cành ác.

– Gié hoa dài, hạt to mang nhiều hạt, chín tương đối tập trung.

2.2 Nhân giống

2.2.1 Nhân giống bằng hạt:

– Cây mọc khỏe, hệ số nhân cao

– Cây con không đồng đều, chậm cho trái, cây đơn tính (thường sử dụng trong lai tạo).

Bóc sạch lớp vỏ ngoài hong khô trong mát, lên líp gieo hạt sau 2-2,5 tháng nhổ cây con cho vào bầu, khi cây 6-7 lá thật đem trồng.

2.2.2 Nhân giống bằng phương pháp chiết, ghép, nuôi cấy mô:

Ít được sử dụng.

2.2.3 Nhân giống bằng cách giâm cành:

– Dây lươn: là dây mọc sát gốc, bò dưới đất, lóng dài. Nhân giống từ dây này chậm cho trái, tỷ lệ sống thấp (

Chọn dây to khỏe cho dây leo lên nọc tạm thời khi dây dài 1-1,5 m, được 5 tháng cắt trồng, cắt bỏ phần ngọn non, bỏ lá, 1 hom 2-3 mắt.

– Dây ác: Là những cành cho trái, tỷ lệ sống cao, mau cho trái, năng suất thấp, tuổi thọ ngắn (5-7 năm).

Chọn những cành to, khỏe, cắt bỏ lá và cành cấp 2, 1 hom 3-4 đốt, đem trồng.

2.3 Ươm hom

Đất phải tơi xốp, nhiều mùn (3 phần phân hữu cơ hoai + 1 phần lân, vôi + 6 phần đất) lên líp hoặc cho vào bịch ươm có kích thước 8 x 15 cm cắt đáy (hoặc dùng giỏ tre). Hom cắt hơi xiên, vết cắt cách mắt 3-4 cm, mỗi hom cắt 3-4 mắt. Sau khi cắt hom xử lý bằng hóa chất cho mau ra rễ, sát trùng hom bằng dung dịch Benlat C 4 ‰ trong 5 phút. Cắm mỗi bịch 2-3 hom, lấp đất 2 mắt chừa 2 mắt. Chuyển vào vườn ươm che kín gió và điều chỉnh đạt 30% ánh sáng. Khi mầm cao 3-4 cm tưới SA pha loãng (5 ‰) tuần 1 lần, trước khi đem trồng 1 tháng cần dỡ bớt giàn che (70-80 % ánh sáng). Thời gian trong vườn ươm từ 4,5-6 tháng (4-6 cặp lá).

2.4 Tạo vườn lấy hom giống

Trồng với khoảng cách 1 x 1m, nọc cao 2,5m. Cắt hom sau khi trồng được 12-18 tháng, cắt vào mùa mưa, sau đó cứ 1,5-2 tháng cắt 1 lần.

IV. K Ỹ THUẬT TRỒNG V À CHĂM SÓC

1. Chuẩn bị đất

Đất phẳng dọn sạch tàn dư thực vật, độ dốc

Đào mương thoát nước và cắm cọc xác định vị trí.

2. Kỹ thuật trồng

2.1 Thời vụ trồng: Thời vụ trồng thích hợp từ tháng 5DL đến tháng 8 DL.

2.2 Mật độ và khoảng cách:

2 x 2m ® 2.500 cây/ha.

2 x 2,5m ® 2.000 cây/ha.

2,5 x 2,5m ® 1.600 cây/ha.

3 x 3m ® 1.100 cây/ha.

Mật độ, khoảng cách còn phụ thuộc vào đất trồng, đất tốt trồng thưa, đất xấu trồng dầy …

2.3 Cách trồng

2.3.1 Chuẩn bị cây nọc

2.3.1.1 Cây nọc sống: Phải trồng trước 1 năm.

Cây vông, lồng mứt, gạo, cóc rừng, mít, dừa, cau …

Ưu điểm: Rẻ tiền, dễ kiếm, che bóng giai đoạn đầu, giữ ẩm trong mùa khô.

Nhược điểm: Cạnh tranh ánh sáng, nước, dinh dưỡng với tiêu làm hạn chế năng suất. Tốn công tạo tỉa tán cho cây nọc, dễ phát sinh bệnh trong mùa mưa.

– Khó chủ động trong việc trồng và mở rộng qui mô canh tác.

– Đối với 1 số cây nọc to, phân cành ngang làm giảm mật độ tiêu.

2.3.1.2 Cây nọc chết

– Không cạnh tranh ánh sáng, dinh dưỡng, tăng mật độ, ít nhiễm bệnh.

– Vốn đầu tư cao, phải che nắng giai đoạn trồng mới và mùa khô.

* Nọc bằng cây chịu mưa, nắng, không bị mối ăn (cây anh đào, cà chắc, cà đuối…).

* Nọc xây bằng gạch hoặc bằng đá:

Có hình tròn hoặc hình trụ, xây tùy kích thước nhưng phổ biến có chiều cao 3-3,5 m, đường kính đáy 1-1,2m, đường kính ngọn 0,7-0,8m. Ngoài ra còn có nọc: trụ xi măng, nọc hàng rào.

2.3.2 Cách trồng

– Đào hố kính thước 50 x 50 x50cm hoặc xẻ rãnh quanh nọc xây 30-40cm, đào cách chân nọc 20-30cm.

– Bón lót 1 hố 10-20kg phân chuồng ủ hoai + 0,3-0,5kg super lân + 0,5kg vôi bột trộn đều với đất ủ thành mô đất hơi vun lên trong hố trước khi trồng 15-20 ngày.

Đầu mùa mưa khi hom đủ tuổi tiến hành trồng, đào 1 hố giữa mô đất, đặt hom nghiêng 450- 600, hướng ngọn tiêu về phía cây nọc lấp đất, ém chặt gốc tưới nước nhẹ đủ ẩm (chú ý không trồng sâu dưới mặt đất). Nên trồng theo hướng đông, với nọc chết đặt bầu gần hơn nọc sống. Với nọc xây nên đặt cây nọ cách cây kia 30cm. Sau khi trồng phải che nắng cho cây con 1 thời gian.

3. Bón phân và kỹ thuật bón phân

3.1 Phân bón:

3.1.1 Phân hữu cơ: Trong phân có đầy đủ khoáng đa, trung, vi lượng cần thiết cho cây sử dụng, nếu không có phân hữu cơ, cần phải bổ sung phân vi lượng. Có thể thay thế phân hữu cơ bằng phân hữu cơ vi sinh với lượng 2 tấn/ha/năm.

3.1.2 Phân vô cơ

– Đạm: giúp tiêu sinh trưởng phát triển tốt, nhiều chồi, ra nhiều hoa, kích thước trái to. Thiếu đạm lá vàng cây cằn cỗi. Dư đạm lá nhiều, dễ nhiễm bệnh, ít trái.

– Lân: giúp bộ rễ phát triển tốt, hút được nhiều chất dinh dưỡng, chịu hạn tốt. Thiếu lân cây cằn cỗi ít đậu trái. Lân cần trong giai đoạn cây con và đầu thời kỳ ra hoa.

– Kali: Giúp cây cứng chống chịu sâu bệnh và thời tiết bất thường, tăng phẩm chất hạt. Thiếu kali cây khó hấp thu đạm, rụng hoa, cây cần kali trong giai đoạn cây non, hạt vào chắc và chín.

– Magiê (Mg): Cây rất cần Mg do đó phải bổ sung thêm Mg bằng cách tưới Sunfat Mg 1% (1-2 lít/gốc) hoặc phun phân vi lượng qua lá.

– Vôi: Rất cần cho cây tiêu sử dụng, phòng chống bệnh… Hai năm bón thêm 0,5-1kg vôi cho 1 cây. Với trụ xây phải bón nhiều hơn. Định kỳ 2-3 tháng xịt phân bón lá 1 lần.

3.2 Lượng phân bón (kg/ha/năm): Tính mật độ: 2000 cây/1ha.

3.3 Thời kì bón

* Khi tiêu còn nhỏ pha nước tưới 1-2 tháng/1 lần.

* Khi tiêu lớn chia làm 5 lần bón:

– Sau thu hoạch bón toàn bộ phân hữu cơ + toàn bộ phân lân theo rãnh, hoặc hốc rồi lấp phân lại.

– Tháng 4: Hoà tan 100 kg Urê + 70 kg Lân + 40 kg Kali

– Tháng 6: Hoà tan 90 kg Urê + 80 kg Lân + 40 kg Kali

– Tháng 8: Hoà tan 80 kg urê + 100 kg Lân + 50 kg Kali

– Tháng 10-11: Hoà tan 70 kg Urê + 90 kg Lân + 80 kg Kali

– Khi đã tượng trái: Hoà tan 60 kg urê + 60 kg Lân + 40 kg Kali

3.4 Tưới nước kết hợp với bón phân vô cơ qua đường ống:

Mỗi lần bón hoà tan hoàn toàn lượng phân trong bồn, mở hệ thống tưới tiết kiệm nước, phân theo hệ thống đi đến từng gốc cây.

Các ưu điểm của phương pháp tưới nước tiết kiệm và bón phân qua đường ống:

+Tiết kiệm lượng nước tưới

+Tiết kiệm dầu tưới

+Tiết kiệm công tưới

+Tiết kiệm công làm bồn

+Tăng hiệu quả của việc bón phân

+Tăng năng suất và chất lượng trái

– Tuỳ vào điều kiện cụ thể của từng nông hộ có thể lấp đặt hệ thống tưới nước kết hợp bón phân qua đường ống theo một số mô hình

Chú thích:

Căn cứ vào hướng dẫn các đợt bón phân trong quy trình kỹ thuật, mỗi đợt lượng phân bón được hòa tan vào hệ thống tưới 3-4 lần mỗi lần cách nhau 7 ngày, chia nhỏ lượng phân ra các lần bón như thế sẽ góp phần giảm thất thoát phân bón, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón của cây trồng.

Pha phân: Khi bón phân cho cây, phân bón được ngâm trước 1 ngày, thường xuyên khuấy đều khi ngâm phân để hòa tan hoàn toàn lượng phân cần tưới vào bồn dung dịch phân (không nên sử dụng các lọai phân khó tan).

Nguyên tắc hoạt động:

– Khi vận hành máy bơm, dưới lực hút của máy nước từ giếng và dung dịch phân trong bồn chứa sẽ được hút vào máy bơm và được khuấy đều trong hệ thống và ra các vòi tưới cho cây. Chúng ta có thể thay đổi lượng phân bón trước khi đi vào trong máy bằng khoá điều chỉnh.

– Từ máy bơm, một lượng lớn nước chứa phân được đưa đến bộ lọc (tránh nghẹt bét) rồi đến ống cấp 1. Nếu nước trong bồn bị cạn hệ thống sẽ ngưng hoạt động.

– Từ ống cấp 1 nước chứa phân được đưa đến các ống cấp 2, rồi đến ống cấp 3 tưới vào từng gốc cây.

– Ống câp 2 được đặt dọc theo các hàng cây, trên các ống cấp 2 này chúng ta lắp đặt hệ thống van điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước vì nơi gần máy bơm áp lực và lưu lượng nước cao hơn những nơi cách xa máy bơm. Ngoài ra các van này cũng rất quan trọng để điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước cho những vùng có địa hình không đồng đều, đồi dốc …

* Chú ý:

Trước khi cho hệ thống ngừng cần phải khóa van điều chỉnh lượng dung dịch phân lại.

Nguyên tắc hoạt động:

– Khi vận hành máy bơm, dưới lực đẩy của máy nước từ giếng và dung dịch phân trong bồn chứa sẽ được hút vào máy bơm và được hòa đều trong hệ thống và ra các vòi tưới cho cây. Chúng ta có thể thay đổi lượng phân bón trước khi đi vào trong máy bằng khoá điều chỉnh.

– Từ máy bơm, một lượng lớn nước chứa phân được đưa đến bộ lọc (tránh nghẹt bét) sau đó đến ống cấp 1.

– Từ ống cấp 1 nước chứa phân được đưa đến các ống cấp 2, rồi đến ống cấp 3 tưới vào từng gốc cây.

– Ống câp 2 được đặt dọc theo các hàng cây, trên các ống cấp 2 này chúng ta lắp đặt hệ thống van điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước vì nơi gần máy bơm áp lực và lưu lượng nước cao hơn những nơi cách xa máy bơm. Ngoài ra các van này cũng rất quan trọng để điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước cho những vùng có địa hình không đồng đều, đồi dốc …

Nguyên tắc hoạt động:

– Nước và dung dịch phân từ các bồn chứa sẽ được hòa đều trong đường ống, đến bộ lọc (tránh nghẹt bét) sau đó đến ống cấp 1 và ra các vòi tưới cho cây. Chúng ta có thể thay đổi lượng phân bón trước khi đi vào trong hệ thống bằng khoá điều chỉnh

– Từ ống cấp 1 nước chứa phân được đưa đến các ống cấp 2, rồi đến ống cấp 3 tưới vào từng gốc cây.

– Ống câp 2 được đặt dọc theo các hàng cây, trên các ồng cấp 2 này chúng ta lắp đặt hẽ thống van điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước vì nơi gần máy bơm áp lực và lưu lượng nước cao hơn những nơi cách xa máy bơm. Ngoài ra các van này cũng rất quan trọng để điều chỉnh lưu lượng và áp lực nước cho những vùng có địa hình không đồng đều, đồi dốc …

* Chú ý:

– Bồn chứa nước phải cao để đủ áp lực nước.

-Bồn chứa dung dịch phân cũng phải cao để nước tưới không bị đẩy ngược lại bòn chứa phân.

4 Buộc dây:

Tạo cho thân to khỏe, rễ bám chắc, chọn dây bền chắc không thấm nước, định kỳ 7-10 ngày buộc 1 lần, khi cây cao 60-80cm chưa phát cành tiến hành bấm ngọn, khi cây cao 80-100cm chưa phân cành ngang lại bấm tiếp. Để 3-4 dây chính trên 1 nọc tùy kích thước nọc, nên phân bố dây đều trên nọc không buộc đè lên nhau.

5. Trồng dặm: sau trồng 20 ngày kiểm tra, cây nào chết tiến hành trồng dặm và tăng cường chăm sóc cây dặm để cây phát triển kịp cây trước, phải che bóng trong giai đoạn cây con.

6. Xén tỉa, tạo hình:

6.1 Đối với dây lươn: Sau khi trồng 1 năm tiến hành đôn dây quanh gốc 2-3 vòng lấp đất đặt ngọn bám vào nọc. Sau 1 năm tiến hành tạo tỉa như thân chính.

6.2 Làm cỏ xới xáo vun gốc: Làm cỏ tạo thành các băng sạch cỏ vào mùa mưa 1-2 tháng/lần, mùa khô 2-3 tháng/lần. Đầu và cuối mùa mưa cày xới quanh gốc tránh làm tổn thương đến rễ.

6.3 Tỉa cành và hoa:

– Vào mùa mưa theo dõi tỉa bỏ các cành lươn, cành tược mọc ngoài bộ khung thân chính, tỉa 2-3 lần, chỉ nuôi cành tược bổ sung khi cần thiết.

– Từ năm thứ 10 sau khi trồng bắt đầu phát sinh cành ác nhỏ và yếu không mang trái cần theo dõi dể tỉa bỏ kịp thời.

Sau khi cây ra hoa và hình thành trái thường có những đợt hoa ra trễ (tháng 7-8) cần tỉa bỏ vì nếu không tỉa bỏ hoa bị rụng hạt lép, làm ảnh hưởng đến vụ sau.

VII. SÂU BỆNH HẠI CHÍNH VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

1. Sâu hại

1.1 Mối hại tiêu: Mối xông đất tạo thành đường di chuyển trên trụ, dây và rễ tiêu. Mối gây hại phần non của rễ, phần vỏ của thân và tạo vết thương trên các bộ phận này tạo điều kiện cho nấm, tuyến trùng xâm nhập và gây bệnh cho cây tiêu.

– Biện pháp phòng trừ:

Trên cây tiêu và thân cây trụ: cạo bỏ đường đất di chuyển của mối, phun kỹ một số loai thuốc hóa học như: Pyrinex 20EC, Basudin 40EC.

Dưới đất: xới đất xung quanh trụ tiêu, rải một trong số các loại thuốc trừ mối sau: Diaphos 10H, Padan 4H, Furadan 3H.

1.2 Rệp sáp giả (Pseudococidae):

Gây hại trên đọt non, lá non, chùm quả, dây tiêu trên mặt đất, hoặc gốc tiêu, rễ tiêu dưới mặt đất.

– Biện pháp phòng trừ:

Trên cây tiêu: Phun rửa bồ hóng, rệp sáp bằng nước sau đó phun thuốc trừ sâu kỹ trên cây, mặt đất bằng Penbis 10ND, Sherzol, Sevin 80WP nồng độ 1,5-2 ‰.

– Đối với rệp sáp ở dưới gốc: bới đất quanh nọc, xới đất khô cứng quanh nọc tiêu, rải thuốc hột lấp đất tưới nước. Sử dụng bằng thuốc Supracide hoặc Puradon 3H.

2. Bệnh hại:

2.1 Bệnh tuyến trùng

Hồ tiêu bị nhiều loại tuyến trùng gây hại, trong đó có hai loại tuyến trùng thường gặp là: Tuyến trùng gây nốt sần Meloidogyne và tuyến trùng đục hang Radopholus.

Tuyến trùng đục và rễ chích hút dịch cây, tao điều kiện cho các loại nấm xâm nhập và gây hại. Rễ tiêu bị sưng, thối, lá vàng sinh trưởng kém, không ăn phân, rễ có bướu hoặc thối từng điểm, thân khô héo, tạo vết thương làm nấm xâm nhập phát triển mạnh.

– Biện pháp phòng trừ:

– Bón phân cân đối, vệ sinh đồng ruộng

– Trồng cúc vạn thọ xung quanh gốc tiêu (rễ cây cúc vạn thọ tiết ra một chất làm hạn chế sinh sản của tuyến trùng).

– Sử dụng Mocap 10G, xới đất quanh gốc bệnh cách gốc 30-50cm, rộng 10cm, sâu 10-15cm, rải thuốc 20-30gr/gốc lấp đất tưới nước. Mocap 720 ND pha 1cc/1lít nước tưới đều 2 lít/gốc hoặc sử dụng Regent, Vibasu ..

2.2 Bệnh chết nhanh: Nguyên nhân do nấm Phytophthora sp.

Do tác động của côn trùng, tuyến trùng, chăm sóc xới xáo, ngập úng… làm tổn thương rễ, sau đó nấm xâm nhập và gây hại.

Các đọt mầm sinh trưởng không dài thêm, lá chuyển màu xanh nhạt, mềm yếu, cành mềm yếu.

Những ngày tiếp theo lá chyển sang màu vàng làm lá, hoa và cuối cùng là cành bị rụng.

Bệnh gây hại trên tất cả các bộ phân của cây.

– Biện pháp phòng trừ:

Chọn giống kháng bệnh và không bị bệnh.

Bón phân cân đối làm cho cây sinh trưởng và phát triển tốt, tạo sức đề kháng cho cây. Chú ý đến sử dụng nhiều phân hữu cơ hoặc phân vi sinh.

Tránh gây vết thương cho cây khi chăm sóc.

Thoát nước triệt để trong mùa mưa, sử dụng hệ thống tưới nước kết hợp bón phân qua đường ống.

Tăng cường bón vôi và tiêu diệt côn trùng, tuyến trùng, mối kiến gây hại rễ.

Phun một số loại thuốc trừ bệnh sau: Aliette 80WP, Rydomyl…

2.3 Bệnh chết chậm:

Bệnh do nhiều loại nấm gây hai: Fusarium sp, Rhizoctonia sp, Pythium sp các loại nấm này thường tồn tại trong đất, trên tàn dư của cây trồng trước, trên cây giống…

Cây bị bệnh sinh trưởng và phát triển chậm, lá nhạt, màu vàng hoặc biến dạng.

Hoa quả rụng dần từ gốc đến ngọn.

Các đốt cũng rụng dần từ trên xuống dưới, gốc thối, bó mạch thân cây hóa nâu.

– Biện pháp phòng trừ: (như bệnh chết nhanh)

2.4 Bệnh thán thư: bệnh do nấm Colletotrichum sp gây ra

Cây bị bệnh trên lá, đọt hoa và quả xuất hiện nhiều đốm vàng nhạt không đều có quần đen bao quanh. Hoa, quả khô đen sau đó lan sang dây nhánh làm khô cành, rụng đốt.

– Biện pháp phòng trừ:

Thu dọn cành, lá bị bệnh đem tiêu hủy.

Bón phân cân đối, hợp lý, đủ vi lượng.

Phun một số loại thuốc hóa học: Carbendazim 500FL, Fungugran OH 50WP…

2.5 Bệnh tiêu điên

Do virus gây nên, tác nhân truyền bệnh là rầy làm lá cong vẹo, cây lùn, lá nhỏ lại, cằn cỗi, năng suất giảm.

– Biện pháp phòng trừ:

Phòng bệnh bằng cách nhổ bỏ cây bị bệnh, phun thuốc trừ rầy Trebon hoặc Fenbis.

2.6 Bệnh sinh lý:

– Thiếu đạm: Thường xảy ra ở giai đoạn sau thu hoạch, lá vàng, vàng cam, ngọn lá cháy, lá rụng.

– Thiếu Kali: Đỉnh lá bị cháy kéo dọc theo rìa lá, lá dòn dễ gãy, phiến lá cong, dây không chết nhưng năng suất giảm.

– Thiếu lân: Cây tăng trưởng chậm lại, cằn cỗi, ít đậu trái.

– Thiếu Mg: Phổ biến ở giai đoạn ra hoa và lúc trái già, lá mất màu diệp lục, gân lá màu vàng, lá trưởng thành màu xanh nhạt, vàng dọc theo chiều dài gân lá, làm lá rụng.

– Thiếu Ca: Thiếu nặng cây cằn cỗi, các lóng ngắn lại, lá non màu xanh nhợt, mép lá cháy xém gần phiến lá màu xanh nhạt, xuất hiện các đốm nâu ở giữa gân lá mặt trên và mặt dưới lá.

IX. THU HOẠCH – BẢO QUẢN

Không nên thu hoạch khi quả tiêu chưa chín sinh lý, thời điểm tốt nhất để thu hoạch tiêu đen khi chùm quả có trên 5% quả chín và làm tiêu sọ khi chùm quả có trên 20% quả chín.

Thu hái xong có thể phơi ngay làm tiêu đen hoặc ủ 1-2 ngày trong mát cho tiêu tiếp tục chín để làm tiêu sọ. Trong quá trình ủ phải thường xuyên trộn đều để quả chín đạt độ đồng đều cao, tách hạt ra khỏi gié sau khi phơi 1-2 nắng.

Phơi tiêu trên sân xi măng, tấm bạt, nong tre… nếu nắng to chỉ cần phơi 3-4 nắng là đạt. Độ ẩm của hạt phải đảm bảo dưới 15%.

Có thể dùng máy sấy để sấy tiêu, nhiệt độ ổn định trong buồng sấy khoảng 50-60oC cho đến khi hạt tiêu khô.

Sau khi phơi, sấy hạt tiêu cần được làm sạch tạp chất, lá, cuốn gié bằng sàng, quạt.

Hạt tiêu được bảo quản vào bao có hai lớp, lớp trong là bao nilon (PE) để chống ẩm, lớp ngoài là bao PP hoặc bao bố. Cất giữ trong kho nơi thông thoáng, không quá nóng và không quá ẩm.

X. KỸ THUẬT SƠ CHẾ HẠT TIÊU

1. Sơ chế tiêu đen

Sản phẩm tiêu đen là tiêu sau khi thu hái đem về được phơi khô. Trong một chùm tiêu khi quả chín vàng hay đỏ, ta hái nguyên cả chùm đem về chất thành đống ủ trong khoảng 5 giờ đồng hồ, sau đó đem ra phơi nắng, sấy khô loại bỏ tạp chất, đóng bao cất giữ trong kho. Tiêu đen thương phẩm sau khi sơ chế còn lại bằng khoảng 1/3 tiêu xanh.

Để cho hạt tiêu đen bóng có màu đẹp, trước khi phơi nên nên nhúng các chùm quả vào nước nóng 80oC có pha ít muối trong 1-2 phút, lấy ra để trong mát cho ráo nước rồi đem phơi. Đây cũng là phương pháp chế biến tiêu đen phổ biến trong hộ gia đình trồng tiêu hiện nay.

2. Sơ chế tiêu trắng

Tiêu trắng hiện nay có giá trị cao hơn tiêu đen, tuy nhiên chế biến tiêu trắng khó hơn tiêu đen.

Tại đảo Bangka người ta thu hoạch tiêu chín, chùm quả được đưa vào túi, nén chặt, cột chặt và ngâm trong nước hồ có thể thay đổi nước được hoặc ngâm trong nước chảy. Sau 6-10 ngày ngâm. phần trung quả bì đã mềm ra, có thể tách ra một cách dễ dàng, vớt tiêu ra rửa sạch, lọc bỏ cộng gié, vỏ ngoài và các tạp chất khác, hạt tiêu còn lại đem phới nắng 2-3 ngày cho thật khô. Khi mới rửa hạt tiêu có màu xám khi khô sẽ có màu trắng sữa.

Tại Ấn Độ người ta ngâm tiêu đen trong 2-3 ngày rồi chà tiêu giữa 2 tấm thảm làm bằng sợi dừa để loại bỏ vỏ của tiêu, sau đó đem phới khô.

Tại Campuchia và ở các vùng trồng tiêu ở nước ta cũng chế biến tiêu trắng từ tiêu đen bằng cách như sau: lấy những quả lớn sau khi đã chọn lọc, đóng ¾ bao ngâm trong nước lợ từ 10-15 ngày, vỏ ngoài phồng lên, mục nát, sau đó vớt ra đưa vào ½ thúng, ngâm trong nước, lấy phần chân đạp cho vỏ tróc ra và cuối cùng là đãi bỏ vỏ, rửa sạch đem phơi, sấy khô.

【#6】Kỹ Thuật Trồng Dưa Hấu Ruột Vàng Cho Năng Suất Cao

Gần đây dưa hấu ruột vàng được chuyên chở từ các tỉnh phía Nam ra thị trường Bắc và được rất nhiều bà nội trợ ưa chuộng. Hôm nay Hạt giống ba miền sẽ giới thiệu Kỹ thuật trồng dưa hấu ruột vàng cho năng suất

Để kỹ thuật trồng cây dưa hấu ruột vàng đạt hiệu quả kinh tế cao nhất người trồng cần phải chuẩn bị kỹ từ giống, đất trồng, và cách chăm sóc sao cho cây luôn xanh tốt, hoa nở và đậu nhiều q uả.

THỜI VỤ TRỒNG DƯA HẤU RUỘT VÀNG

Dưa hấu ruột vàng là loại cây có thể chịu nhiệt tốt, kháng bệnh cực mạnh nên dù ở thời điểm nào thì cây cũng đều sinh trưởng và phát triển tốt nhất.

Trồng cây dưa hấu có đạt hiệu quả như mong muốn hay không thì chọn vị trí đất trồng cực kỳ quan trọng. Do đó, để muốn quả to, sai và không sâu bệnh nên trồng trên đất luân canh với lúa nước ít nhất 2 – 3 vụ hoặc những cây trồng khác họ bầu bí. Đất cũng luôn được giữ ẩm thoát nước tốt , giàu dinh dưỡng.

Kỹ thuật trồng cây dưa hấu ruột vàng bằng phương pháp gieo HẠT GIỐNG. Để hạt nảy mầm cao trước khi đem gieo cần phơi nắng nhẹ trong vòng vài tiếng sau đó ngâm vào nước ấm trong khoảng gần 1 ngày. Khi đã đủ thời gian ngâm bạn nên vớt hạt ra lau khô rồi lại ủ ở nhiệt độ ấm từ 28 đến 30 độ C. Sau khoảng một ngày bạn chọn những hạt đã nảy mầm rồi đem gieo.

Tùy theo điều kiện hay phương pháp áp dụng công nghệ trồng khác nhau mà lựa chọn trồng vào bầu hay gieo thẳng. Nếu gieo thẳng dù bỏ qua một giai đoạn nhất định nhưng tỷ lệ sống sót thấp hơn khi trồng vào bầu. Bầu làm bằng lá chuối, giấy hay bao nilong có lỗ thoát nước. Sau khi đã chuẩn bị hết bạn gieo một hạt dưa hấu đã nẩy mầm vào bầu đất, phủ một lớp tro trấu mỏng lên trên. Khi cây con mọc được 6-7 ngày thì đem trồng trên những hốc đã chuẩn bị sẵn.

Vì là cây sinh trưởng mạnh, sâu bệnh hại ít nên chăm sóc cây dưa hấu ruột vàng cũng không đòi hỏi quá cầu kỳ, mệt nhọc. Bạn chỉ cần tuân thủ tưới cho dưa hấu mỗi ngày 2 lần vào sáng và chiều tối. Để đảm bảo khoảng cách dưa hấu đều nhau và có khoảng trống để chúng sinh trưởng mạnh thì người trồng nên tỉa bớt ngọn hay lá ngay từ giai đoạn mới trồng.

Cách giúp hoa dưa hấu thụ phấn nhiều và hiệu quả

Ngoài ra, để giúp cây luôn phát triển thẳng đứng bạn phải luôn sửa, uốn nắn cho cây. Nhất là ở giai đoạn khi hoa dưa hấu nở rộ, để giúp chúng thụ phấn nhiều cần lấy hoa đực của dây này úp lên núm hoa cái mới nở của dây khác. Thời gian thụ phấn khoảng 8 – 10 giờ sáng, trong vòng 1-3 ngày. Bạn cũng cần phải bón phân theo định kỳ để tăng chất dinh dưỡng cho cây ra hoa đậu quả nhiều nhất có thể.

Tăng độ ngọt cho dưa bằng cách không tưới nước một tuần trước khi thu hoạch. Tuy nhiên, đừng làm vậy nếu thấy các dây leo bị héo. Một khi đã thu hoạch quả, hãy quay trở về lượng nước tưới ban đầu để có được mùa vụ thứ hai thuận lợi.

Vòng đời của dưa hấu ruột vàng cũng rất ngắn chỉ khoảng hơn tháng là cho thu hoạch. Quả dưa hấu ngoài việc giải nhiệt mùa hè nó còn mang giá trị kinh tế cao.

【#7】Kỹ Thuật Trồng Cây Hoa Hồng

Kỹ thuật trồng Cây Hoa Hồng

KỸ THUẬT TRỒNG CÂY HOA HỒNG

(Ban hành kèm theo quyết định số 1251/QĐ-SNN, ngày 13/12/2012 của Sở Nông nghiệp và PTNT Lâm Đồng V/v Ban hành tạm thời quy trình canh tác một số cây trồng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng)

ĐẶC TÍNH THỰC VẬT HỌC & YÊU CẦU VỀ ĐIỀU KIỆN NGOẠI CẢNH

Hoa hồng có nguồn gốc từ các nước Trung quốc, Hà Lan. Nhiều giống được trồng ở Đà lạt đã được nhập nội từ những năm 1958 – 1960 như Schweitzer, Charlers Mallerin, Caroline testout, Diamont. Nhưng hiện nay, có nhiều giống mới được nhập nội từ Hà lan, Ý, Pháp thay cho các giống cũ không còn thích hợp nữa như giống: Grand Galla, Red Velvet (màu đỏ), Pailine, Alsmeer Gold (Màu vàng), Sheer Bilss, Jacaranda, Troika….

1. Đặc tính thực vật học

– Rễ: thuộc loại rễ chùm, chiều ngang tương đối rộng, khi bộ rễ lớn phát sinh nhiều rễ phụ

– Thân: Hồng thuộc nhóm cây thân gỗ, cây bụi thấp, thẳng, có nhiều cành và gai

– Lá: Lá hoa hồng là lá kép lông chim mọc cách, ở cuống lá có lá kèm nhẵn, mỗi lá kép có 3-5 hay 7-9 lá chét, xung quanh lá chét có nhiều răng cưa nhỏ. Tùy giống mà lá có màu xanh đậm hay xanh nhạt, răng cưa nông hay sâu, hay có hình dạng lá khác.

– Hoa: Có nhiều màu sắc và kích thước khác nhau. Hoa hồng có mùi thơm nhẹ, cánh hoa mềm dễ bị dập nát và gãy. Cụm hoa chủ yếu có một hoa hay một tập hợp ít hoa trên cuống dài, cứng, có gai. Hoa lớn có cánh dài hợp thành chén ở gốc, xếp thành một hay nhiều vòng, sít chặt hay lỏng tùy theo giống. Hoa hồng thuộc loại hoa lưỡng tính, nhị đực và nhị cái trên cùng một hoa, các nhị đực dính vào nhau bao xung quanh vòi nhụy, khi phấn chín rơi trên đầu nhụy nên có thể tự thụ phấn. Đài hoa có màu xanh.

– Quả: Quả hình trái xoan có các cánh đài còn lưu lại, có màu xanh. Khi chín có màu nâu, nâu vàng hoặc đỏ tùy theo màu sắc hoa. Mỗi quả chứa nhiều hạt nhỏ.

– Hạt: Hạt hoa hồng nhỏ, có lớp lông trắng bao phủ. Khả năng nảy mầm của hạt rất kém do có lớp vỏ dày nên phải xử lý hạt trước khi gieo.

2. Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh

– Nhiệt độ: cây hoa hồng ưa khí hậu ôn hoà, nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt là 18-250 C. Nhiệt độ dưới 180C và trên 350C đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây.

– Ánh sáng: cây hoa hồng là cây ưa sáng, ánh sáng đầy đủ giúp cây sinh trưởng tốt. Hầu hết những giống hoa hồng có nguồn gốc từ Châu Âu yêu cầu cường độ chiếu sáng không cao có thể canh tác tốt trong nhà kính. Ngoại trừ một số giống như: Đỏ Ý, Song Hỷ cần cường độ chiếu sáng tương đối lớn thích hợp với trồng ngoài trời. Khi có điều kiện ánh sáng đầy đủ cây phát triển tốt, nếu thiếu sáng cây sẽ bị vóng, cành hoa không đạt chất lượng.

– Ẩm độ: Hoa hồng yêu cầu độ ẩm đất 60-70% và độ ẩm không khí 80-85% là thích hợp nhất cho sinh trưởng của cây hoa hồng.

– Đất: Hoa hồng thích hợp với đất feralit vàng đỏ, đất thịt hoặc đất thịt pha cát có cấu tượng chặt, pH 5,6 – 6,5, đất có độ thông thoáng, thoát nước tốt, độ dày tầng đất trên 50cm, độ sâu mực nước ngầm trên 40cm.

Với trình độ thâm canh hiện nay của nông dân được nâng lên cao, hoa hồng được trồng trong nhà lưới, nhà kính có mái che nên bông hoa có chất lượng cao và gia tăng tuổi thọ đáp ứng được yêu cầu của thị trường tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

II . GIỐNG VÀ KỸ THUẬT NHÂN GIỐNG

1. Giống: Một số giống Hoa hồng đang được trồng phổ biến hiện nay tại Đà lạt là giống hoa hồng Pháp, Ý, đỏ Hà Lan, Tỷ muội, Vàng titi, Trắng xanh, Song hỷ, Bê Bê, Vàng, Vàng ánh trăng, Đỏ, Xanh ngọc, ….

2. Kỹ thuật nhân giống: Hoa hồng được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp giâm cành hoặc ghép mắt

Với điều kiện thời tiết ở Đà lạt thì việc nhân giống hoa Hồng có thể thực hiện quanh năm.

* Chuẩn bị giá thể: trộn xơ dừa băm nhỏ hoặc tro trấu, đất thịt nhẹ giàu mùn trộn với phân chuồng hoai mục hoặc phân trùn quế, hữu cơ vi sinh theo tỷ lệ 3:1, phân lân 2%, trộn đều đóng vào bịch đen chuyên dùng để ươm cây con.

* Chuẩn bị gốc ghép: Sử dụng hom hồng dại (Tường vi, tầm xuân) cắt dài từ 20 – 25 cm, dùng dao hay kéo cắt cành bén cắt vát 300, không để cho hom bị xơ dập, nên chọn hom có gai màu tím, hom ở cành bánh tẻ, sạch sâu bệnh. Nhúng hom giống vào dung dịch kích thích ra rễ sau đó cắm vào bầu. Trong thời gian 10 ngày đầu cần che nắng để hom ra rễ, sau đó từ từ cho chiếu sáng và tiếp tục chăm sóc, giữ ẩm, tỉa bỏ những mầm yếu, kém phát triển chỉ chừa 3-4 mầm khoẻ mạnh, khoảng sau 3 tháng thì có thể ghép được.

* Tiến hành ghép: Chọn gốc ghép sinh trưởng tốt, cành mập, khỏe để ghép. Sử dụng mắt ghép đủ tiêu chuẩn từ vườn cây sạch bệnh, lấy mắt ghép có kích thước 1cm x 3cm, có một chồi nhú lên bằng hạt gạo, ghép theo cách ghép da hình chữ T ngược dùng nilon quấn quanh mắt ghép theo kiểu lợp ngói, chừa phần chồi lại. Trong thời gian này nên che nắng mắt ghép và không được tưới ướt mắt ghép, luôn giữ ẩm cho gốc ghép. Khoảng 15 ngày sau có thể mở dây nylon ra kiểm tra nếu mắt ghép còn tươi là đạt. Sau đó cắt bỏ hết tán và nhánh của gốc ghép để tập trung nuôi mắt ghép. Có thể giảm che nắng từ từ để mắt ghép làm quen với ánh sáng trực tiếp và tỷ lệ sống cao hơn.

* Chọn cành giâm:

– Vườn hoa hồng dùng để cắt hom nhân giống cần được chăm sóc kỹ để đảm bảo hom giống tốt, sạch sâu bệnh.

– Cành hồng dùng để nhân giống là cành bánh tẻ khoẻ, mập, thẳng và sạch sâu bệnh, đang mang hoa ở giai đoạn sử dụng.

* Chọn mắt giâm: là loại mắt ngủ bắt đầu nhú lên bằng hạt tấm thì khi giâm mắt bắt đầu nẩy lộc ngay, cành giâm phát triển tốt thì khi đem trồng cây có sức sinh trưởng phát triển tốt, cho hoa đẹp.

Trên cành đã chọn để cắt hom giống giâm chỉ nên lấy đoạn giữa của cành không nên lấy đoạn ngọn và gốc. Hom giống có chiều dài từ 8 – 10 cm trên đoạn cành có từ 1-3 mắt nhưng có 2 mắt là tốt nhất. Khi cắt cành nên dùng kéo cắt cành chuyên dùng, cắt vát 300, không để vết cắt bị dập nát. Trên đoạn cành cắt nên giữ lại từ 2-3 lá chét ở cuống lá mắt trên.

* Kỹ thuật pha, nhúng thuốc kích thích ra rễ: Hoa Hồng là loại cây thân gỗ tương đối khó ra rễ khi giâm, vì vậy muốn kích thích cành giâm ra rễ nhanh ta dùng thuốc kích thích ra rễ như IAA, NAA, axit giberelic với nồng độ từ 2000-2500 ppm. Hom giống sau khi cắt đem nhúng nhanh vào dung dịch pha sẵn trong khoảng thời gian 3-5 giây rồi cắm vào giá thể được chứa trong bầu ni lon hoặc khay nhựa. Khi cắm hom giống phải thẳng đứng, cắm sâu từ 1-1,5cm. Khoảng cách hom giâm từ 4 – 5 cm trong khay nhựa hoặc mỗi túi bầu là một hom.

III. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC:

1. Chuẩn bị đất:

Chọn đất nơi cao ráo không bị ngập úng, bằng phẳng, tơi xốp. Vệ sinh đồng ruộng sạch, xử lý cỏ dại, nhặt các gốc cây, rễ cây trên ruộng. Sau đó cày sâu 30 – 45cm, bừa kỹ 2 lần, bón vôi, xử lý đất kết hợp bón lót phân chuồng huoai mục hoặc phân hữu cơ vi sinh, phân trùn quế, lân khi làm đất lần cuối.

Đánh luống: Trồng hàng đôi thì đánh luống 1,3m (rãnh 30cm), còn trồng hàng đơn thì đánh luống 70cm. Luống hình chóp nón, cao 25-30 cm, thoát nước tốt, tránh bị ngập úng.

2. Tiêu chuẩn cây giống

Sử dụng cây giống ghép có các tiêu chuẩn không thấp hơn các tiêu chuẩn quy định tại quyết định số 07/2010/QĐ-UBND ngày 10/02/2010 của UBND tỉnh Lâm Đồng vv quy định tiêu chuẩn cây giống xuất vườn ươm của một số loại rau, hoa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

Cụ thể: Độ tuổi cây trong vườn ươm nếu trời ấm từ 90-120 ngày; chiều cao cây: 12-15cm; đường kính cổ rễ: 6-10mm; có 5-7 lá thật. Cây phải khỏe mạnh, không dị hình, vết ghép liền da, ngọn phát triển tốt, không có biểu hiện nhiễm sâu bệnh hại.

3. Phân bón và cách bón phân:

Hoa hồng có chu kỳ cho hoa quanh năm nhất là vụ nắng. Do đó đòi hỏi phải cung cấp phân bón đầy đủ, cân đối và đúng thời gian thì mới đảm bảo năng suất của hoa cắt cành.

Sử dụng bón lót: 70- 80m3/ha phân đã được ủ hoai mục. Sau đó định kỳ 1 – 2 năm/lần – bón bổ sung 40 – 60m3/ha. Sử dụng phân chuồng đầy đủ sẽ tăng năng suất, chất lượng hoa đồng thời kéo dài tuổi thọ của vườn hồng. Có thể sử dụng các phân hữu cơ vi sinh nhập nội chất lượng cao như suistance, Dynamic lifter, Sunray, để thay thế phân chuồng với liều lượng 1000-2000 kg/ha/4-5 tháng

Hoa hồng thích pH trung tính, đầu vụ nên bón lót 1500 – 2000 kg/ha và định kỳ 4 tháng/lần cần bón bổ sung 400 – 500kg vôi để điều hòa độ chua của đất. Bón vôi đầy đủ còn giúp cho cành hoa được cứng cáp và tăng khả năng hút dinh dưỡng của cây.

* Lượng phân bón vô cơ đề nghị bón cho 1ha/năm

– Giai đoạn kiến thiết cơ bản (trồng mới)

Lượng nguyên chất: N: 300kg – P2O5: 250kg – K2O: 200kg

Có thể sử dụng phân đơn chất hoặc phân phức hợp quy đổi tương đương theo lượng nguyên chất như trên

+ Nếu sử dụng phân đơn thì cần: 1560kg super lân, 652 kg Ure và 330kg kali

+ Nếu sử dụng phân phức hợp thì cần: 200kg NPK 16-16-8, 200kg DAP, 800kg supper lân, 500kg ure, 370kg K2SO4

– Giai đoạn kinh doanh thu hoạch cành:

Định kỳ 20 – 25 ngày bón thúc 1 lần với liều lượng 65kg N, 50kg P2O5, 60kg K2O, tương đương với:100kg Urê, 100kg DAP và 120kg K2SO4

hay 40kg Urê, 75kg K2SO4, 300kg NPK 16-16-8

– Để tăng năng suất và chất lượng bông, 1 tháng có thể phun xịt các loại phân bón lá để cung cấp thêm vi lượng, bán vi lượng cho cây (Ca,Mg,S, Bo, Mo, Zn, Cu…) như Canxium Nitrat, Growmore, Basfoliar combi stiff, Sum, power feed, Fetrilon Combi…

– Từ 2 năm tuổi trở lên sinh lý rễ của cây hồng đã kém nên tăng cường xịt thường xuyên các loại phân bón lá định kỳ ngắn hơn.

Khi bón phân không được xăm xới sâu gây đứt rễ cây sẽ giảm năng suất và bệnh cây xâm nhiễm.

Đối với vườn hoa hồng canh tác trong nhà ni lông nên áp dụng biện pháp cung cấp phân lỏng (sử dụng các loại phân chuyên dụng) qua hệ thống tưới nhỏ giọt thì sẽ rất đảm bảo về sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây hoa hồng.

3. Kỹ thuật trồng hoa hồng:

Đối với các giống sinh trưởng mạnh thì khoảng cách trồng 40 x 50cm, khoảng 50.000 cây/ha; các giống sinh trưởng yếu thì trồng với khoảng cách 35 x 40cm, khoảng 70.000 cây/ha. Trồng cây giống thẳng đứng, nên trồng theo kiểu nanh sấu. Trồng vào lúc chiều mát, lấp đất vừa sát mặt bầu, không nên trồng sâu quá cây sinh trưởng kém, trồng xong tưới nước ẩm.

4. Tỉa cành lá, tỉa nụ:

Sau khi mầm chính lên cao 20-25cm, thì tiến hành bấm ngọn, chỉ để 4-5 cành cấp 1 toả đều xung quanh tạo thành bộ khung chính của cây. Thường xuyên tỉa bỏ các cành tăm, cành hương để cây được thông thoáng. Ngoài ra cần thường xuyên tỉa nụ để ổn định số nụ trên cành cây, giúp cho bông hoa to, đủ dinh dưỡng, giảm sâu bệnh. Phương pháp tỉa cành, ngắt ngọn, ngắt nụ, tạo hình cho cây hoa hồng được tiến hành thường xuyên, liên tục.

IV. SÂU BỆNH HẠI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

1. Sâu hại chính và biện pháp phòng trừ

* Rệp (Macrosiphum rosae)

Trên đồng ruộng thường có rệp nhảy và rệp muội. Rệp phá hại trên thân, lá, ngọn

non cây hồng. Rệp trưởng thành dài 3-4mm, nhìn chung có màu xanh nhạt, có khi màu đỏ vàng xám.

Biện pháp phòng trừ:

Kết hợp với các đợt cắt tỉa, cắt bỏ cành và lá bị rệp hại để tiêu huỷ.

Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất: Abamectin, Emamectin-Benzoate, Cypermethrin chúng tôi theo liều lượng khuyến cáo

* Nhện đỏ (Tetranychus urticae Koch)

– Đặc điểm hình thái:

Nhện đỏ rất nhỏ, nhện non màu vàng cam. Trưởng thành, con cái mình tròn màu đỏ tươi ở phần bụng và đỏ xẫm ở phần hông. Hai bên lưng có nhiều đốm đen chạy dài từ ngực xuống cuối bụng. Có 4 cặp chân dài màu vàng nhạt, chiều dài của nhện cái là 0.2mm. Con đực nhỏ hơn, mình hình bầu dục, hơi nhọn lại ở đuôi, hai đốt cuối màu đỏ chói.

– Biện pháp phòng trừ:

Dùng các loại thuốc như: Azadirachtin( Agiaza 4.5EC); Dầu hạt bông 40% + dầu đinh hương 20% + dầu tỏi 10% (GC – Mite 70DD); Emamectin benzoate( Map Winer 5WG; Tasieu 1.0 EC, 3.6 EC); Emamectin benzoate + Matrine ( Rholam super 12 EC)); Fenpyroximate (Ortus 5 SC); Fenpropathrin(Vimite 10EC), Milbemectin (Benknock 1 EC) liều lượng, nồng độ theo khuyến cáo.

2. Bọ trĩ: (Frankliniella sp.)

* Họ bọ trĩ (Thripidae) – Bộ cánh tơ (Thysanoptera)

Bọ trưởng thành rất nhỏ, dài dưới 1mm, màu vàng nhạt, đuôi nhọn, cánh dài và mảnh, xung quanh cánh có nhiều lông tơ. Bọ non không cánh, hình dạng giống trưởng thành, màu xanh vàng nhạt.

– Biện pháp phòng trừ:

+ Khi thấy có triệu chứng trên lá non, phun thuốc liên tiếp 3 ngày, sau đó phun phòng ngừa 2-3 tuần 1 lần.

+ Sử dụng thuốc: Emamectin benzoate(Susupes 1.9 EC); Imidacloprid + Pyridaben (Hapmisu 20EC), Spinetoram (Radiant 60 EC)nồng độ, liều lượng theo khuyến cáo.

* Bọ phấn (Bemisia)

– Đặc điểm hình thái:

+ Trưởng thành: Con đực dài 0,75-1mm, sải cánh dài 1,1-1,5mm. Con cái dài 1,1-1,4mm, sải cánh dài 1,75-2mm. Hai đôi cánh trước và sau dài gần tương đương nhau, toàn thân phủ một lớp phấn trắng, dưới lớp phấn trắng thân màu vàng nhạt.

+ Trứng: Hình bầu dục có cuống, dài 0,18-0,2mm (trừ phần cuống). Vỏ mỏng, mới đẻ trong suốt, sau 24 giờ chuyển sang màu vàng sáp trong, sau 48 giờ chuyển thành màu nâu xám. Trứng được cắm vào lá và xếp dựng đứng trên lá.

+ Sâu non: Màu vàng nhạt, hình ovan. Mới nở có chân và bò dưới mặt lá, tuổi 2 không còn chân và ở cố định một chỗ mặt dưới lá. Sâu non có 3 tuổi, ở những tuổi đầu ấu trùng thường tập trung trên các lá non nhưng khi đẫy sức thường tập trung ở các lá già. Kích thước con non đẫy sức dài 0,7-0,9mm; rộng 0,5-0,6mm; chưa có phấn bao phủ.

+ Nhộng giả: Màu sáng, hình bầu dục.

– Biện pháp phòng trừ:

Trồng vành đai cây dẫn dụ và bảo vệ. Thường xuyên vệ sinh đồng ruộng, ngắt bỏ lá già, các bộ phận bị hại và tiêu hũy.

Dùng bẫy keo màu vàng để dẫn dụ bọ phấn.

Sử dụng thuốc: Diafenthiuron (Pegasus 500 SC); Dinotefuran (Oshin 100SL); nồng độ, liều lượng theo khuyến cáo.

* Sâu xanh: (Helicoverpa armigera Hb)

– Đặc điểm hình thái sinh học:

+ Trưởng thành: Thân dài 15-20mm, màu nâu vàng. Cánh trước màu nâu vàng có 3 vân ngang hình lượn sóng, mép ngoài có 7 điểm đen xếp thành hàng.

+ Trứng: Hình bán cầu, đường kính 0,5mm. Lúc mới đẻ có màu trắng sữa, về sau chuyển sang màu vàng tro, mặt trên có nhiều gân dọc.

+ Sâu non: Có 6 tuổi, màu xám nhạt hoặc màu vàng nhạt. Đẫy sức dài 40mm

+ Nhộng: Dài 18-20mm, màu nâu sáng, nhẵn bóng, phía cuối bụng có một đôi gai ngắn màu đen.

– Biện pháp phòng trừ:

+ Ngắt bỏ ổ trứng, cắt bỏ hoặc tiêu huỷ các bộ phận bị sâu xanh phá hại như lá, cành, nụ hoa… Luân canh với một số cây trồng khác họ.

+ Biện pháp hóa học: Sử dụng thuốc Abamectin ( Plutel 1.8, 3.6 EC; Reasgant 1.8EC, 3.6EC; Delfin WG; Thuricide HP) để phòng trừ.

2. Bệnh hại chính và biện pháp phòng trừ

* Bệnh đốm đen (Diplocarpon rosae)

– Đặc điểm triệu chứng:

Vết bệnh hình tròn hoặc hình bất định, ở giữa màu xám nhạt, xung quanh màu đen. Bệnh thường phá hại trên các lá bánh tẻ, vết bệnh xuất hiện ở cả 2 mặt lá. Bệnh nặng làm lá vàng, rụng hàng loạt.

– Biện pháp phòng trừ:

+ Để tránh bệnh vườn hồng phải thông thoáng, đất không bị ngập úng. Tỉa bỏ những cành lá bị nhiễm bệnh. Làm sạch cỏ và thu dọn những tàn dư gây bệnh.

+ Có thể dùng một trong các thuốc sau: Carbendazim (Carbenzim 500 FL) ; Cucuminoid (Stifano 5.5 SL), Hexaconazole (Anvil 5SC, Tungvil 5SC), Imibenconazole (Manage 5 WP) Mancozeb (Cadilac 75 WG), Triforine ( Saprol 190 DC) nồng độ, liều lượng theo khuyến cáo.

* Bệnh phấn trắng (Sphaerotheca pannosa)

– Đặc điểm triệu chứng:

Vết bệnh dạng bột màu trắng xám, hình thái không nhất định. Bệnh thường hại trên ngọn non, chồi non, lá non, hình thành ở cả 2 mặt lá. Bệnh nặng hại cả thân, cành, nụ và hoa, làm biến dạng lá, thân khô, nụ ít, hoa không nở, thậm chí chết cây.

– Biện pháp phòng trừ:

+ Cắt huỷ cành lá bệnh, tăng cường lượng phân Kali

+ Vệ sinh mái che thường xuyên để đảm bảo lượng ánh sáng trong trong nhà kinh

+ Có thể dùng một trong các thuốc : Azoxystrobin + Difenoconazole( Amistar top 325SC) Hexaconazole (Anvil 5SC); Chlorothalonil (Daconil 75WP); Tebuconazole + Trifloxystrobin (Nativo 750WG ), Triforine ( Saprol 190 DC) nồng độ, liều lượng theo khuyến cáo.

* Bệnh gỉ sắt (Phragmidium mucronatum )

Đặc điểm triệu chứng:

Vết bệnh dạng ổ nổi màu vàng da cam hoặc màu nâu sắt gỉ, thường hình thành ở mặt dưới lá. Mặt trên mô bệnh mất màu xanh bình thường, chuyển sang màu vàng nhạt.

Biện pháp phòng trừ:

-Loại bỏ tàn dư cây bệnh và cỏ dại.

-Có thể dùng một trong các thuốc: Hexaconazole (Anvil 5SC, Dibazole 10 SL) nồng độ, liều lượng theo khuyến cáo.

* Bệnh mốc xám (Botrytis cinerea )

Đặc điểm triệu chứng:

Bệnh hại chủ yếu trên hoa. Vết bệnh là nhiều đốm nhỏ màu xám trên nụ và hoa, thường làm hoa bị thối.

Biện pháp phòng trừ:

– Cắt bỏ và tiêu hũy các bộ phận bị bệnh, dọn vệ sinh và những lá bệnh rơi rụng trong vườn.

– Có thể sử dụng thuốc Lilacter 0.3 SL, Ngoài ra có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất: Carbendazim, Benomyl, Chlorothalonil, Propineb, Thiophanate-Methyl

* Bệnh thán thư (Sphaceloma rosarum)

Đặc điểm triệu chứng:

Vết bệnh thường có dạng hình tròn nhỏ, hình thành từ chót lá, mép lá hoặc ở giữa phiến lá. Ở giữa vết bệnh màu xám nhạc hơi lõm, xung quanh có viền màu nâu đỏ hoặc màu đen.

Trên thân cành bị bệnh cũng có vết nứt dọc màu hồng, sau chuyển qua màu nâu, cành bị bệnh suy yếu, dễ gãy. Trên hoa và đài cũng có thể bị bệnh nhưng ít gặp hơn. Bệnh gây hại nặng vào mùa xuân.

Biện pháp phòng trừ:

Có thể dùng một trong các thuốc: Eugenol (Lilacter 0.3 SL); Tebuconazole + Trifloxystrobin (Nativo 750WG ); Trichoderma + K-Humate + Fulvate + Chtosan + Vitamin B1(Fulhumaxin 5.65SC) nồng độ, liều lượng theo khuyến cáo.

* Bệnh sương mai (Peronospora sparsa)

Đặc điểm triệu chứng:

Trên lá, vết bệnh lan rộng từ màu đỏ tía đến nâu sẫm, dạng hình bất định. Lá non cong lại màu vàng và khác với bệnh phấn trắng là bào tử màu xám chỉ phát triển ở mặt dưới của bộ lá.

Biện pháp phòng trừ:

Tỉa bỏ và tiêu hủy những phần lá cây bị bệnh. Tạo mật độ thông thoáng, bảo đảm ánh sáng và không khí lưu thông tốt.

Có thể dùng một trong các thuốc: Cucuminoid ( Stifano 5.5 SL), Ethaboxam ( Danjiri 10 SC), Eugenol (Genol 0.3 SL, 1.2 SL), Iprovalicarb + Propineb (Melody duo 66.75WP), nồng độ, liều lượng theo khuyến cáo.

* Bệnh khô cành (Coniothyrium spp.)

Đặc điểm triệu chứng:

Bệnh chủ yếu hại cành non. Vết bệnh lúc đầu là các đốm màu đen, giữa có bột trắng, xung quanh viền đỏ, đốm bệnh lồi lên và nứt ra. Bệnh lan dần xuống phía dưới thành đốm lớn, trên đó có nhiều đốm đen, đó là các ổ nấm.

Nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh phát triển bệnh:

Do nấm Coniothyrium spp., thuộc lớp nấm nang Ascomycetes gây nên.

Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 25-300C, bệnh lan truyền xâm nhập vào cành cây qua vết xây xát.

Biện pháp phòng trừ:

Định kỳ tỉa cành, cắt bỏ các cành bị gãy hoặc bị bệnh.

5.2.8. Bệnh sùi cành, u rễ do vi khuẩn:

Đặc điểm triệu chứng:

Bệnh gây hại trên thân, cành và rễ hoa Hồng:

Trên thân, cành: Đốt thân co ngắn lại, có những u sưng sần sùi, vỏ nứt ra tạo thành những vết khía chằng chịt, bên trong gỗ cũng nổi u. Nhiều vết sần sùi có thể nối liền thành một đọan dài, có khi bao phủ quanh cả cành, có khi chỉ một phía, cành dễ gãy và khô chết.

Trên rễ: Xuất hiện nhiều vết u sần sùi nối liền nhau thành từng đọan dài làm cản trở khả năng hút dinh dưởng của rễ.

Nguyên nhân gây bệnh và điều kiện phát sinh phát triển bệnh:

Do vi khuẩn Agrobacterium sp. gây nên.

Biện pháp phòng trừ:

Trồng cây ở mật độ vừa phải, thường xuyên vệ sinh sạch sẽ vườn cây.

Dùng cây giống không bị bệnh. Hũy bỏ kịp thời những thân và cành bị bệnh.

Không trồng lại trên đất đã bị nhiễm bệnh, nếu phải trồng lại thì cần khử trùng đất thật kỹ, ruộng phải thoát nước tốt. Tốt nhất nên luân canh với cây trồng khác.

* Bệnh sưng rễ do tuyến trùng:

Đặc điểm triệu chứng:

Tuyến trùng xâm nhập vào rễ, tạo thành các nốt sưng nhỏ trên rễ (giống như các nốt sần trên rễ cây họ đậu), ngăn cản sự hấp thu, vận chuyển chất dinh dưỡng, cây còi cọc, lá vàng, giống triệu chứng thiếu dinh dưỡng, hoa ít, nhỏ và biến màu. Bị hại nặng rễ đen thối, cây có thể chết.

Tuyến trùng sống trong đất, nội ký sinh, hại nhiều loại cây, triệu chứng chung điển hình là tạo thành các nốt sưng trên rễ cây. Phát triển thích hợp trong đất cát, nhiệt độ 25-300C, tồn tại trong đất tới 1-2 năm. Trong 1 năm có thể hòan thành 10-12 lứa gây hại cây.

Biện pháp phòng trừ:

-Đất có tuyến trùng gây bệnh cần luân canh với cây trồng khác.

– Có thể tham khảo sử dụng các loại thuốc có hoạt chất Carbosulfan, Ethoprophos , Diazinon để xử lý đất phòng trừ tuyến trùng

V. THU HOẠCH, BẢO QUẢN HOA SAU CẮT CÀNH

Thu hoạch hoa đúng kỹ thuật thì mới đảm bảo độ bền, đẹp và đảm bảo năng suất cho các lần thu sau. Thu sớm hoa còn non sẽ nhanh héo và hoa không nở được, thu muộn quá thì hoa chóng tàn. Thu hoạch khi hoa có cánh ngoài vừa hé nở, nên thu vào buổi chiều mát hoặc sáng sớm lúc cây còn sung nhựa, nhiều nước. Cắt cách gốc cành chừa lại 2-3 lá chính, phần cành hồng còn lại sẽ cho 3 chồi mới, ta chỉ chọn 1-2 chồi khỏe cho ra hoa tiếp tục.

Sau khi cắt hoa nhúng ngay vào thùng nước có chứa chất khử Etylen khoảng 30 phút, sau đó ngâm vào thùng chứa dung dịch dinh dưỡng cho hoa no khoảng 1 – 3 giờ.

Phân loại hoa dựa vào chiều dài cành, đường kính cành, độ lớn của hoa, sạch bệnh… để đóng gói. Sau khi phân loại thường bó 50 bông thành 1 bó và dùng giấy hoặc túi polymer bọc kín, chuyển vào bảo quản trong kho lạnh. Trường hợp không có kho lạnh thì phải để hoa ở nơi thoáng mát, sạch sẽ và đóng gói trước khi vận chuyển đi xa.

【#8】Kỹ Thuật Trồng Quýt Đường Năng Suất Cao

Mật độ: Khoảng cách và mật độ trồng: 6 x 5 m hoặc 5 x 4 m.Tỉa cành: Khi cây hồi phục sau trồng, cắt ngọn để cây chỉ cao 30 – 40 cm, để 6-8 mầm khoẻ cách nhau 7 – 10 cm từ mầm nẩy ra từ gốc ghép. Quýt ra hoa trên cành non mới sinh nên cần đốn bỏ cành già, cành bệnh để kích thích cây ra cành mới.

Đặc điểm của quýt đường: Quýt đường có dạng trái tròn,vỏ mỏng, màu xanh đến xanh vàng, dễ bóc vỏ, thịt trái màu cam ngọt đậm, số hạt trên trái nhiều. Trọng lượng trái trung bình 150-200g/trái. Quýt từ khi ra hoa đến thu hoạch khoảng 8-10 tháng,…thời gian thu hoạch phải có nắng khô ráo, không nên thu trái sau mưa hoặc có mù sương nhiều vì trái dễ bị ẩm thối. Quýt thu xong cần bảo quản kỹ để nơi thoáng mát, không nên tồn trữ quá 15 ngày sẽ giảm giá trị thương phẩm.

Đất trồng: Cày đất sâu 40 – 45 cm, đào hố rộng 60 – 80 cm, sâu 60 cm; phơi ải hố 20 – 25 ngày. Bón lót 30 – 50 kg phân chuồng hoai + 250 – 300g supe lân + 200 – 250 g kali sunfat + 1 kg vôi bột/ hố. Trộn đều phân với đất mặt để lấp hố. Dùng cuốc moi đất chính giữa hố vừa lớn hơn bầu cây con. Trồng xong tủ gốc, tưới 30 – 40 lít nước/gốc.

Tưới nước: Tưới nước 3 – 5 ngày một lần một lần trong tháng đầu tiên. Tưới nước là cần thiết, đặc biệt vào mùa khô. Luôn cần độ ẩm đất ổn định.

Trang chủ: http://nongnghiepvang.com/

Phòng trừ sâu bênh:

Sâu vẽ bùa: xuất hiện từ tháng 4 – tháng 10 sử dụng thuốc phun Wofatox 0,1 – 0,2% hoặc BI58 0,2% xen kẽ với sunfat nicôtin 0,2%.

Sâu nhớt: xuất hiện từ tháng 2 – 4 bạn nên Phun Wofatox 0,2% hoặc DDT sữa 25% trước và sau khi nở hoa.

Nhện đỏ có mặt vào mùa Đông và Xuân nên Phun Wofatox 0,1 – 0,2%; hoặc phun Kentan 0,1%.

Nhện trắng: phòng bằng cách Vệ sinh vườn mùa Đông, phun Wofatox 0,1 – 0,2%; BI 580,1%; Kentan 0,1%.

Sâu đục cành xuất hiệntừ tháng 5 – 6 phòng trừ bằng cách diệt sâu trưởng thành: Dùng vợt bắt, dùng Wolfatox 0,1% quấn chặt thân cây và cành to.

Chúc bà con có vụ mùa bội thu !

Bón phân: Cây quýt cần rất nhiều chất dinh dưỡng, nhất là thời kì cây ra đọt non, ra hoa kết trái. Muốn cây cho trái năng suất cao, phẩm chất ngon thì phải cung cấp đầy đủ và hợp lí dinh dưỡng cho cây, tuỳ theo đất tốt hay xấu, giống và tình trạng sinh trưởng của cây mà quyết định bón phân sao cho thích hợp, cân đối. Cần cung cấp đầy đủ phân đạm, lân, kali, bổ xung thêm phân hữu cơ và vi lượng cây để sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao.

【#9】Kỹ Thuật Trồng Cam Cara Cara

Cam Cara Cara là một giống cây có múi nhập nội, được nhiều nhà vườn quan tâm trong thời gian gần đây. Báo Khoa Học Phổ Thông đã tìm hiểu về việc đưa giống vào Việt Nam cũng như triển vọng phát triển của cam Cara Cara nhằm cung cấp cho các nhà vườn những thông tin cần thiết.

Theo Viện di truyền nông nghiệp (Bộ NN & PTNT), cam Navel là giống cam ngọt đã được trồng rộng rãi ở các vùng cận nhiệt đới, đặc biệt là Mỹ, Brasil, Bắc Phi, Địa Trung Hải từ nhiều thập niên qua. Gần đây Trung Quốc cũng chú trọng phát triển giống cam Navel. Cam Navel có cỡ trái to, dạng trái hình cầu hơi xổm, vỏ dày, khi chín có màu vỏ vàng cam đậm và bóng, mẫu mã rất đẹp. Cam Navel không hạt (0 – 2 hạt), tép đều và sắp xếp đẹp. Từ giống gốc cam Navel, bằng kỹ thuật đột biến các nhà chọn giống đã chọn tạo được một số cá thể có đặc tính ưu việt hơn nhưng vẫn giữ nguyên những đặc tính quý của giống gốc.

Một trong những giống được chọn có tên là giống Cara Cara Navel. Cara Cara Navel được chọn tạo từ một dòng đột biến của giống cam Navel thương mại có tên Washington Navel xuất xứ từ Venezuela. Ở Mỹ và các nước trong khu vực, Cara Cara Navel cho thu hoạch muộn so với cam Hamlin và Valencia – hai giống cam ngọt phổ biến. Giống Cara Cara Navel mang tất cả các đặc điểm chung của giống Navel nhưng khác với các giống Navel khác ở đặc điểm thịt và nước trái có màu đỏ do trong thành phần có chứa hàm lượng lycopen cao.

Năm 2001 Viện di truyền nông nghiệp phối hợp với Nông trường 3/2 Phủ Quỳ – Nghệ An, Nông trường Hòa Bình – Hòa Bình; một số địa phương như Thác Bà – Yên Bái, Văn Giang – Hưng Yên, Bảo Lộc – Lâm Đồng… tiến hành khảo nghiệm giống cam Cara Cara Navel nhập nội, từ Mỹ. Sau đó viện xác định giống cam Cara Cara Navel ruột đỏ không hạt (ký hiệu là N.02) là giống có triển vọng. Viện đang cho trồng thử nghiệm trên diện rộng, sau đó hoàn thiện hồ sơ báo cáo Hội đồng KHCN Bộ NN-PTNT đề nghị công nhận là giống tạm thời.

Trong khi đó, chủ trang trại Phương Mai thuộc Công ty TNHH Phương Mai tại thôn Định An, xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, Lâm Đồng, KS. Mai Viết Phương (Việt kiều Úc hồi hương, cựu giảng viên chuyên ngành nông học Trường đại học Western Sydney) cho biết: Cam Cara Cara không hạt giống gốc có xuất xứ từ vùng Valencia -Venezuela, du nhập qua Mỹ, sau đó đến Úc. Từ giống gốc đó, tiến sĩ thực vật học Graeme Richards, Đại học Hawkesbury, miền tây Sydney (Úc) cùng ông Phương và nhóm công tác gồm 30 nhà khoa học lai tạo bằng phương pháp gây đột biến, chọn và duy trì các cá thể biến dị để có được cá thể ruột đỏ thẫm và đặt tên Cara Cara Navel. Ông Mai Viết Phương đem giống cam Cara Cara về trồng thử trên một khu đồi thuộc Đức Trọng, Lâm Đồng. Hiện Công ty Phương Mai đã xuống 10 ngàn cây cam Cara Cara, 5 ngàn cây cam Navel trong nông trại tại Hiệp An, Đức Trọng. Ông Phương cho biết rất nhiều tỉnh, thành trong nước đã đến tham quan tại vườn thực nghiệm trồng cam Cara tại Đức Trọng, sau đó đặt mua giống và nhờ công ty chuyển giao kỹ thuật trồng, chăm sóc cây. Hiện công ty đang cung cấp giống và trợ giúp kỹ thuật cho tỉnh Thanh Hóa trồng 300 ha cam Cara Cara tại Bỉm Sơn; cung cấp giống và trợ giúp kỹ thuật cho tỉnh Kiên Giang lập một vườn cây ăn trái phục vụ du lịch sinh thái trên đảo Phú Quốc; trồng trên 100 ha cam Cara Cara và các giống cây ăn trái nhiệt đới khác tại Ba Vì – Hà Nội; tham gia chương trình cải tạo giống cây ăn trái cho tỉnh Hòa Bình. Ông Phương cho biết toàn bộ giống cam Cara Cara hiện đang nhập từ Úc theo giấy phép của cơ quan quản lý thuộc Bộ NN & PTNT.

Kết quả khảo nghiệm của Viện di truyền

Cây cam Cara Cara Navel trên các vùng trồng thử nghiệm sinh trưởng phát triển khá, phân cành đều. Cây 3 năm tuổi đạt chiều cao trung bình 2,2 m, tán lá trung bình đạt 2,3 m; lá cam Cara Cara Navel hình ô van cong đều và phồng ở bản lá. Cây cam Cara Cara Navel cho thu hoạch lứa trái đầu từ năm thứ ba sau trồng, trung bình 72 trái/cây (60 – 85 trái/cây). Trái cam Cara Cara Navel hình cầu dài hay ô van, rốn trái hơi lồi do có một trái phụ nhỏ bên trong đuôi trái. Vỏ trái dày 3,1 mm, trọng lượng trái trung bình 217 g/trái (180 – 235 g/trái). Vỏ trái khi chín có màu da cam đậm, nhẵn bóng. Cam Cara Cara Navel dễ bóc vỏ, dễ tách múi, hương thơm dễ chịu, vị ngọt có hàm lượng acid ít hơn các giống cam nội địa. Cam Cara Cara Navel không hạt do hoa cam Cara Cara Navel bất dục đực hoàn toàn, bao phấn hoa cam Cara Cara Navel hầu như không có phấn trái nên hoàn toàn không có hạt khi trồng cách ly hoặc trong nhà lưới. Ngay cả trong điều kiện trồng xen với các giống hữu thụ đực khác, cam Cara Cara Navel vẫn hầu như không hạt, chứng tỏ cam Cara Cara Navel còn có tính bất dục cái. Ở các địa điểm khảo nghiệm, cam Cara Cara Navel cho thu hoạch sớm (tháng 9 đến 11). Về năng suất, ở năm thứ tư sau trồng đạt 8 tấn/ha, thấp hơn giống cam Xã Đoài làm đối chứng. Do giống y như cam nhập nội, chất lượng tốt, mẫu mã trái đẹp, cho thu hoạch sớm hơn các giống cam khác nên cam Cara Cara Navel cùng thời điểm bán được giá cao hơn các giống cam nội địa. Nhược điểm của giống cam Cara Cara Navel là dễ bị rụng quả do độ ẩm cao, nhất là trong mùa mưa; khi bộ lá phát triển mạnh cây dễ bị bệnh loét.

MINH TUẤN – Khoa học PT, 04/09/2009

【#10】Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Đảng Sâm

Thứ hai – 05/06/2017 16:51

Giống cây đảng sâm

Cung cấp giống cây Đảng sâm và giống cây dược liệu các loại, liên hệ 0988 774 076

ĐẢNG SÂM

Tên khoa học: Codonopsis javanica (Blume) Hook. f. Thoms.

Họ: Hoa chuông ( Campanulaceae).

Tên khác: Ngân đằng, cây đùi gà, mần rày cáy (Tày), co nhả dòi (Thái), cang hô (H’Mông).

Tên vị thuốc: Đảng sâm.

I. Đặc điểm chung

1. Nguồn gốc, phân bố

Đảng sâm là cây của vùng cận nhiệt đới, được ghi nhận ở Trung Quốc, Myanma, Ấn Độ, Lào, Việt Nam và Nhật Bản. Cây mọc hoang ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, phân bố tập trung nhất ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng.

Đảng sâm thường mọc trên các nương, rẫy đã bỏ hoang lâu ngày có cỏ tranh, đất tương đối màu mỡ và ẩm.

2. Đặc điểm thực vật

Đảng sâm là cây thân thảo, leo bằng thân quấn. Thân leo dài 2 – 3 m, phân nhánh nhiều. Lá mọc đối, hình tim, mép nguyên, lượn sóng hoặc hơi khía răng cưa, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới có lông nhung trắng. Hoa mọc riêng rẽ ở kẽ lá, cuống dài 2 – 6 cm, đài gồm 5 phiến hẹp, tràng hình chuông màu trắng, chia 5 thuỳ, nhị 5. Quả nang hình cầu có 5 cạnh mờ, đầu trên có một núm nhỏ hình nón, khi chin màu tím hoặc đỏ.Hạt nhiều màu vàng nhạt. Rễ phình thành củ hình trụ dài, đường kính 1,5 – 2 cm, phía trên to, phía dưới có phân nhánh, màu vàng nhạt.

3. Điều kiện sinh thái

Đảng sâm sống ở đất màu mỡ, nhiều mùn, cao ráo, thoát nước.Nhiệt độ thích hợp 18 – 25 o C, có thể chịu được nhiệt độ trên 30 oC nhưng không kéo dài.Về mùa đông nhiệt độ thấp cây vẫn sống được.Lượng mưa trung bình 1500 mm.

Ở vùng núi có độ cao 400 – 1600 m so với mặt biển cây mọc hoang dại, chu kỳ sinh trưởng kéo dài 1 năm. ở đồng bằng cây vẫn sinh trưởng được nhưng thời gian bị rút ngắn còn 8 – 9 tháng, cây không sống qua mùa hè.

4. Giá trị làm thuốc

a) Bộ phận sử dụng:

Bộ phận sử dụng là rễ củ.

b) Công dụng:

Rễ củ đảng sâm được dùng làm thuốc chữa tỳ vị kém, phế khí hư nhược, kém ăn, đại tiện lỏng, mệt mỏi, ốm lâu ngày, cơ thể suy nhược… Ngoài ra còn được dung làm thuốc bổ dạ dày, lợi tiểu tiện, chữa ho tiêu đờm.

II. Kỹ thuật trồng trọt

1. Chọn vùng trồng

Cây Đảng sâm chủ yếu sinh trưởng tốt ở vùng trung du và miền núi, có độ cao từ 400m trở lên so với mặt nước biển.Chọn đất nơi cao ráo, nhiều mùn, tơi xốp, thoát nước, có nhiều chất dinh dưỡng.Các triền đồi thoải, ruộng bậc thang hay chấn ruộng cao là thích hợp nhất. Các loại đất khác có thể trồng được nhưng năng suất thấp, pH thích hợp 5,5 – 6,5.

2. Giống và kỹ thuật nhân giống

Đảng sâm trồng ở Việt Nam hiện nay có 2 loại:

– Lộ đảng sâm Comdonopsis pillosula Nanny do Viện Dược Liệu di thực từ Trung Quốc vào những năm 60, hiện nạy còn rất ít

– Đảng sâm Comdonopsis javanica là giống mọc hoang có sẵn ở Việt Nam, Viện Dược liệu đã tiến hành di thực thuần hoá trồng thành công tại Trạm nghiên cứu Dược Sapa – Lào Cai.

Quy trình này chỉ áp dụng cho loài đảng sâm Codonopsis javanica.

Đảng sâm có thể nhân giống hữu tính bằng hạt. Ngoài ra có thể nhân giống vô tính bằng mầm của đầu rễ (khi cần thiết).

Lượng hạt dùng để gieo cho 1ha là 3 – 3,5 kg. Sử dụng hạt của cây 2 – 3 năm tuổi để làm giống. Không dùng hạt của cây trồng 1 năm tuổi vì chất lượng thấp. Nên dùng hạt mới thu hoạch, chọn hạt già, chắc, có tỷ lệ mọc cao từ 75% trở lên.

Diên tích vườn ươm để trồng 1ha là 300 – 400m².

Kỹ thuật làm giống:

Làm đất vườn ươm: Cần chọn đất tơi xốp, bằng phẳng, ít sỏi đá, thuận tiện tưới tiêu, nhặt sạch cỏ dại, cày hoặc cuốc sâu 30 cm. Phơi ải, bừa kỹ.

Lên luống: lên luống cao 30 cm, rộng 80 – 90 cm, dài tuỳ ruộng.

– Phân bón: Bón lót gồm phân chuồng hoai mục bón 10 tấn + 150 kg phân lân + 100 kg phân KCl cho 1 ha vườn ươm. Trộn đều các loại phân, rải trên mặt luống, xáo nhẹ và san phẳng mặt luống để lấp phân. Khi cây cao 7 – 10 cm, có 5 – 6 lá, bón thúc 50 – 60 kg Ure/ha pha loãng tưới đều cho cây.

Gieo hạt: Hạt được đãi sạch, trộn đều đất bột khô, chia đều cho các luống, gieo làm 3 lần, xong lấp đất dày 1 – 2 cm, cuối cùng phủ một lớp rơm rạ hoặc trấu mỏng lên trên mặt luống.

Chăm sóc vườn ươm: Luôn tưới đủ ẩm bằng ô doa, nếu không mưa hàng ngày tưới 1 lần vào buổi chiều mát.

Tiêu chuẩn cây giống:

Cây được 5 – 6 lá thật, tỉa bớt cây để khoảng cách cây 3 – 5 cm. Cây được 9 – 10 lá (khoảng 3 tháng tuổi) chọn cây khoẻ mạnh, không sâu bệnh đánh trồng ra ruộng sản xuất. Khi đánh cây tránh làm xây sát và đứt rễ củ.

3. Thời vụ gieo trồng

Mỗi năm có thể gieo trồng 2 thời vụ:

– Thời vụ 1: Gieo hạt vào mùa xuân (tháng 2 – đầu tháng 3) và đánh cây con trồng vào tháng 5 – 6.

– Thời vụ 2: Gieo hạt vào mùa thu (tháng 9 – 10) và đánh cây con trồng vào tháng 2 – 3.

4. Kỹ thuật làm đất

Đất sau khi được chọn cày sâu 30 cm, phơi ải, bừa kỹ, dọn sạch cỏ dại.

Lên luống cao 30 cm, rộng 60 – 70 cm, chiều dài tùy ruộng. Đất ở vùng đồi có độ dốc vừ phải thì có thể trồng theo từng vạt nhỏ, đất có độ dốc lớn cần trồng theo đường đồng mức. Bổ hốc với khoảng cách 20 x 40 cm.

5. Mật độ khoảng cách và kỹ thuật trồng

Tùy loại đất đai để bố trí mật độ khoảng cách trồng thích hợp:

– Đất tốt trồng mật độ 83.000 cây/ha với khoảng cách 30 x 40 cm.

– Đất xấu trồng mật độ 125.000/ha với khoảng cách 20 x 40 cm.

6. Phân bón và kỹ thuật bón phân

Lượng phân bón:

Thời kỳ bón:

– Bón lót: ½ lượng phân hữu cơ + ½ lượng phân lân + ¼ lượng phân kali, trộn đều bón theo hốc sau đó lấp đất lại.

– Sau khi thu hạt năm thứ nhất, cây bắt đầu lụi. Vào tháng 1 năm sau bón phân năm thứ 2 gồm ½ lượng phân chuồng + ½ lượng phân lân + ¼ lượng phân kali.

– Phân đạm được chia đều cho 2 năm, định kỳ mỗi năm bón 3 – 4 lần vào các tháng thứ nhất, 3, 6, và tháng 9, kết hợp với các lần làm cỏ xới xáo, mỗi lần 50 – 60 kg/ha (1,85 – 2,22 kg/sào Bắc bộ). Tháng thứ 7, 8 năm thứ 2 tiếp tục bón lượng kali còn lại.

7. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

Kỹ thuật trồng:

Khi cây con đạt tiêu chuẩn, đánh cây trồng theo hốc, mỗi hốc 1 cây. Đặt rễ cây thẳng đứng, lấy tay lấp đất và ấn chặt gốc. Trồng xong cần tưới ngay. Nên trồng vào chiều mát, sau 5 – 7 cây bắt đầu bén rễ hồi xanh.

Chăm sóc:

– Năm thứ nhất: Định kỳ 30 ngày chăm sóc 1 lần, làm sạch cỏ, kết hợp với bón đạm, lượng đạm mỗi năm 200 – 250 kg urê được chia làm 3 lần bón thúc, mỗi lần cách nhau 3 tháng.

Tháng 7, 8 khi cây chuẩn bị ra hoa, bón bổ sung ¼ lượng kali (100kg KCl) /ha. Cuối mùa đông cây lụi, cắt bỏ phần thân leo, vệ sinh đồng ruộng.

– Năm thứ hai: Sang mùa xuân năm thứ 2 khi cây bắt đầu mọc trở lại bón lót 10 tấn phân chuồng + ½ lượng phân lân và ¼ lượng kali. Trộn đều vùi quanh gốc kết hợp vớí làm cỏ vun gốc.

Lượng đạm còn lại chia làm 3 lần bón thúc, mỗi lần cách nhau 3 tháng kết hợp với làm cỏ. Tháng 7,8 năm thứ 2 tiếp tục bón ¼ lượng kali còn lại.

– Kỹ thuật tưới tiêu nước: Cây Đảng sâm thường trồng ở trung du và miền núi, cần đảm bảo nước tưới khi ở vườn ươm và lúc mới trồng đến bén rễ hồi xanh. Còn trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây chủ yếu là nhờ nước tự nhiên. Ở những nơi chủ động tưới tiêu có thể tưới khi cây gặp khô hạn.

Làm giàn cho cây leo: Cây Đẳng sâm dài 15 – 20 cm bắt đầu cần làm giàn leo, dùng cây sặt, hoặc tre làm giàn cắm chéo hình chữ A để 2 hàng đảng sâm leo chung.

8. Phòng trừ sâu bệnh

Đảng sâm thường bị các loại sâu bệnh hại sau:

a) Sâu xám(Agrotis ipsilon):

Đặc điểm gây hại: Thường gây hại ở thời kỳ cây con. Loài sâu này thường gây hại vào ban đêm, ăn lá non hoặc cắn đứt ngang các thân và cành non. Sâu non màu xám đen hoặc màu nâu xám dọc theo hai bên thân có những chấm đen mờ.

Biện pháp phòng trừ:

– Cày, phơi ải đất trước khi trồng 2 tuần để tiêu diệt trứng và nhộng. Làm đất kỹ, sạch cỏ trước khi trồng, làm sạch cỏ quanh bờ để hạn chế nguồn ký chủ phụ của sâu.

– Đối với những ruộng có diện tích nhỏ có thể bắt sâu bằng tay vào buổi sáng sớm hay chiều tối bằng cách bới đất xung quanh gốc cây bị sâu cắn để bắt sâu.

– Dùng bẫy chua ngọt để bẫy bướm. Cách làm bẫy: Cho 4 phần đường + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước vào trong bình đậy kín, sau 3 – 4 ngày khi thấy mùi chua ngọt thì thêm vào 1% thuốc trừ sâu. Quấn giẻ hay buifnhuig rơm rạ vào đầu gậy nhúng vào bả cắm trên bờ ruộng. Sau 2 – 3 ngày nhúng lại 1 lần . Bướm trưởng thành sẽ bay vào ăn bả chua ngọt và chết.

– Ruộng bị sâu hại nặng có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu như: Thiamethoxam (ví dụ Actara 25 WG, 350FS), Abamectin (ví dụ Shertin 3,6 EC, 5,0 EC). Hòa thuốc với nước theo tỷ lệ khuyến cáo ở bao bì, phun vào chiều tối. Nếu mật độ sâu cao nên phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày.

b)Rệp mềm (Aphis gossipii):

Đặc điểm gây hại: Ban đầu, rệp chỉ tập trung gây hại ở những búp non, lá non. Về sau do tích lũy nhiều, mật độ tăng nhanh, chúng xuất hiện trên cả những lá già và thường tập trung ở mặt dưới của lá. Rệp chích hút nhựa cây làm búp non, lá non bị quăn queo, biến dạng, lá chuyển dần sang màu vàng, cây còi cọc, sinh trưởng kém. Rệp mềm có kích thước nhỏ, có hình quả lê và thân mềm. Chúng thường tập trung lại thành từng đám, đặc biệt ở dọc các gân lá.

Biện pháp phòng trừ:

Kiểm tra ruộng thường xuyên và diệt bỏ ngay lập tức những lá bị rệp nặng. Nhổ cỏ dại mọc xung quanh cây vì nhiều loại cỏ dại vốn là đối tượng gây hại của dệp. Rệp có thể bị gió thổi bay do đó tránh trồng đảng sâm ở cuối hướng gió của những ruộng đã bị nhiễm rệp.

– Sau mỗi vụ thu hoạch cần thu gom sạch sẽ những tàn dư của cây (thân, lá) ở vụ trước đem ra khỏi ruộng tiêu hủy hoặc ủ làm phân bón để tiêu diệt những con rệp còn sống sót trên đó, hạn chế rệp lây lan sang cho vụ sau.

– Hạn chế sử dụng hóa chất vì chúng có thể tiêu diệt cả những thiên địch. Nếu thấy mật độ rệp cao và liên tục gia tăng thì phải dùng thuốc bảo vệ thực vật để diệt trừ rệp. Có thể sử dụng các loại thuốc như: Dầu khoáng (ví dụ Citrole 96.3EC, DK-Annong Super 909EC, Vicol 80 EC); Abamectin (ví dụ Aremec 18EC, 36EC, 45EC); Chlorpyrifos Ethyl + Permethrin (ví dụ Tasodant 6G, 12G, 600EC, 600WP). Cần xem kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc về liều lượng và cách sử dụng.

c) Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia sp.)

Đặc điểm gây hại: Bệnh lở cổ rễ thường xuất hiện ở giai đoạn cây con, đặc biệt trong giai đoạn vườn ươm. Triệu chứng bắt đầu với vết đốm màu nâu nhỏ ở gốc thân và lan rộng đến rễ. Vùng rễ nhiễm bệnh bị thối, cây con héo rễ và chết.

Biện pháp phòng trừ:

– Thường xuyên kiểm tra vườn ươm, loại bỏ và tiêu hủy những cây con bị nhiễm bệnh để giảm thiểu sự lây lan của bệnh.

– Nếu bệnh gây hại nặng có thể dùng một số loại thuốc trừ nấm như: Pencycuron (ví dụ Monceren 250SC, Vicuron 25WP, 250SC); Validamyxin + Polyoxin B (ví dụ Ukino 60SC, 95WP); Validamycin (ví dụ Validacin 3L, 5L, 5SP; Tung vali 3SL, 5SL, 5WP, 10WP). Tưới hoặc phun trực tiếp dung dịch thuốc trừ nấm vào gốc cây

9. Thu hoạch, sơ chế và bảo quản

a) Thu hoạch:

Tiến hành thu hoạch vào cuối mùa đông năm thứ 2, khi cây vàng lụi. Trước khi thu hoạch cần phá bỏ giàn leo, cắt toàn bộ phần thân lá mặt đất, dùng cuốc thuổng đào sâu, tránh sây sát, đứt rễ củ.

b) Sơ chế:

Rễ thu về được rửa sạch, phơi hoặc sấy khô, độ ẩm < 12%.

c) Bảo quản:

Khi đảng sâm khô, đạt tiêu chuẩn, bảo quản trong bao nilon, bên ngoài bọc bao tải dứa hoặc các loại bao tải chống ẩm khác, để nơi khô ráo không được ẩm ướt. Khi bảo quản trong kho để trên giá hoặc kệ cao cách mặt đất ít nhất 5 cm. Đảng sâm ít bị mối mọt.

10. Tiêu chuẩn dược liệu

Mô tả: Phiến đảng sâm có màu đen, dễ bẻ, vết bẻ không phẳng, mùi thơm, vị ngọt.

Dược liệu có độ ẩm không quá 12%, tạp chất vô cơ không quá 0,5%, bộ phận khác của cây không quá 1%, tro toàn phần không quá 6%, tro không tan trong acid không quá 2%, kim loại nặng không quá: 1 phần triệu Pb, 0,2 phần triệu Cd, 0,1 phần triệu Hg, 1,5 phần triệu As. Hàm lượng saponin toàn phần trong dược liệu không được ít hơn 3% tính theo dược liệu khô kiệt.

Quý khách hàng có nhu cầu về hạt giống vui lòng liên hệ Công Ty CP Dược Liệu Xuyên Việt ( Tìm đối tác làm nhà phân phối, đại lí giống cây dược liệu )

Địa chỉ: 287 Minh Khai – Phố Mới – Lào Cai

Mobile: 0988 774 076

Email:[email protected]

http://duoclieuxuyenviet.com