【#1】Hướng Dẫn Chi Tiết Nhất Cách Trồng Măng Tây Trong Thùng Xốp Ngay Tại Nhà

Trong măng tây có chứa rất nhiều lượng vitamin, axit amin, các loại khoáng chất, sắt giúp bổ máu, canxi giúp chắc xương, kẽm, chất xơ, chất đạm,… Bên cạnh đó, măng tây cũng có thể chữa rất nhiều bệnh như ung thư, tiểu đường, tim mạch, đường ruột,…

Măng tây có tác dụng chữa bệnh viêm bàng quang, ngừa sỏi thận, mật…có hợp chất chống oxy hóa, măng tím có chứa nhiều hợp chất chống oxy hóa hơn màu khác…

Ngăn ngừa lão hóa: Măng tây có chứa một chất chống oxy hóa gọi là glutathione, có tác dụng bảo vệ da trước tác hại gây ra từ ánh nắng mặt trời.

Ngăn ngừa loãng xương: Măng tây là nguồn dồi dào vitamin K, giúp cho quá trình đông máu nhanh hơn, đồng thời giúp tăng cường sức khỏe của xương.

Giảm cân: Măng tây là một loại thực phẩm thấp calories nên măng tây rất hữu dụng trong “công cuộc”giảm cân

Tốt cho thai nhi: Do có chứa nhiều folate nên măng tây rất có lợi cho thai phụ, vì folate là loại vitamin cần thiết cần thiết cho việc hình thành ống thần kinh thai nhi, ngăn ngừa dị tật ở thai nhi.

Đẹp da: Măng tây chứa rất nhiều vitamin C và vitamin A. Đây là 2 chất kháng oxy hóa hàng đầu bảo vệ da vững vàng trước sự xâm lăng của những gốc tự do. Vitamin C còn giúp cho sự tổng hợp collagen. Collagen là một loại protein có tác dụng nâng đỡ da và ngăn ngừa sự lão hóa da.

Vì là loại thực phẩm có giá trị kinh tế rất cao nên măng tây được rất nhiều người trồng tại nhà. Tuy nhiên muốn trồng măng tây cho hiệu quả cao cần hết sức kiên trì với thời gian thu hoạch tận 9 tháng. Măng tây là loại cây ưa khí hậu mát, ưa sáng và cần cung cấp nhiều nước. Ở nhiệt độ 25 – 30 độ C là điều kiện thích hợp nhất để trồng loại cây này.

Thường thì người ta gieo trồng măng tây vào 2 vụ thu đông từ tháng 8 – tháng 3 và vụ xuân hè từ tháng 2 – tháng 6 dương lịch.

2. Cách trồng măng tây trong thùng xốp ngay tại nhà

Chuẩn bị:

  • Trồng măng tây trong loại đất phù sa, đất thịt nhẹ hoặc đất cát. Để cây phát triển nhanh và cho chất lượng tốt cần bón lót trước khi trồng. Tỉ lệ bón phân 2 phần đất, 1 phần phân hữu cơ, 1 phần tro trấu hoặc rơm khô…
  • Chuẩn bị một thùng xốp to để tiến hành trồng cây.

Ươm hạt: Hạt giống măng tây lớn và có vỏ rất dày vì thế trước khi ươm cần phơi nắng to cho khô để tăng độ hút ẩm của hạt. Sau đó xả bằng nước lạnh, rửa sạch bụi bẩn ở hạt, loại bỏ những hạt lép, hỏng.

Khi ủ, ủ trong khăn tối màu ở nhiệt độ 30 – 40 độ C trong 1 tuần, để nơi kín gió và ánh sáng. Cứ khoảng 12 tiếng lại tưới nước ấm 1 lần cho hạt. Khi ủ trong vòng từ 9 đến 12 ngày thì hạt sẽ nút nanh và có thể đem trồng.

Khi trồng măng tây trong thùng xốp ta gieo hạt sâu từ 1 – 2,5 cm. Phủ lên hạt một lớp đất mỏng rồi tưới nước. Cây măng tây khá ưa ẩm nên cần tưới nước thường xuyên hàng ngày khi thấy đất khô.

Chăm sóc: Bón phân chuồng, phân lân, phân NPK theo cho kỳ 10 – 15 ngày để cây phát triển tốt, cho cây mập và giàu chất dinh dưỡng.

Thu hoạch: Khi thấy măng tây chồi lên cao khỏi mặt đất từ 20 – 30 cm thì tiến hành thu hoạch măng để sử dụng.

【#2】Kỹ Thuật Trồng Cà Rốt Bằng Thùng Xốp Tại Nhà

Cà rốt là loại củ quen thuộc để chế biến các món ăn ngon. Không những thế nó còn có thể phòng chữa được nhiều bệnh như tim mệnh, răng miệng, tiêu hóa, lại tốt cho gan….

Với bài viết này bạn sẽ biết được kỹ thuật trồng cà rốt mang lại năng suất cao ngay tại nhà đấy!

1. Hướng dẫn trồng cà rốt tại nhà

Tên tiếng Anh của cây cà rốt là Daucus carota subsp sativus. Đây là loại cây cho củ có màu vàng cam pha chút đỏ. Ngoài ra củ có thể có màu trắng hoặc tía nữa. Bộ phận ăn được của cây là củ. Thực ra đó chính là rễ của cây mà thôi. Loại củ này có nhiều tiền tố của vitamin A. Chính vì thế ăn cà rốt nhiều sẽ tốt cho mắt.

Giống cây này nên được trồng khi thời tiết mát. Bạn nên gieo hạt trước vụ đông. Cụ thể cách vụ đông 2 đến 3 tuần.

Bạn trồng cà rốt vào đâu cũng được. Miễn sao chậu trồng cao ít nhất 15 đến 20cm là được. Kích thường này có thể thay đổi 1 chút tùy vào từng giống.

Khi trồng cà rốt vào chậu thì chiều sâu chuẩn là 20cm còn rộng bao nhiêu thì tùy. Miễn sao càng rộng càng tốt.

Nếu không trồng vào chậu thì trồng vào túi đất, bồn hoa, chai nhựa, hay những vật dụng tận dụng được.

Miễn sao đất trồng cát phải nhiều hơn sét là được. Đất không lẫn đá sỏi. Vì như thế củ sẽ bị cong. Đất trồng nên có tính axit và hơi kiềm 1 chút. pH lý tưởng là từ 6-6,8. Còn không thì duy trì 5.5-7 là được.

Chọn giống

Hạt giống cà rốt rất dễ mua. Bạn mua ở siêu thị hay các cửa hàng cây giống đều có. Khi chọn nên chọn giống cao sản là tốt nhất.

Bên ngoài hạt cà rốt có 1 lớp lông khá cứng. Do đó trước khi trồng bạn vò kỹ hạt cho lông gãy hết. Đem hạt giống trộn với mùn theo tỉ lệ 1:1 là được. Sau đó tưới nước thường xuyên để đủ ẩm. 2-3 ngày sau thì mang hạt đi gieo được rồi.

Mỗi hốc đã đào bạn chỉ nên gieo từ 2 đến 3 hạt thôi. Mỗi hốc cách nhau khoảng 8cm là vừa.

Sau đó chỉ việc phủ đất vụn hoặc cỏ, rơm rạ thái nhỏ lên cho hốc cây là được. Thường xuyên tưới nước cho cây vào sáng sớm cho đủ ẩm.

2. Bí quyết chăm sóc cà rốt đúng cách

Điều tối quan trọng khi trồng cà rốt là phải tưới nước đầy đủ và đều đặn. Như vậy độ ẩm của đất mới ổn định được.

Khi củ cà rốt vào giai đoạn chuẩn bị thu hoạch. Nghĩa là kích thước củ bằng ¾ củ trưởng thành thì hạn chế tưới nước lại. Tưới nước nhiều cà rốt sẽ bị nứt.

Hạt giống cà rốt nảy mầm ở nhiệt độ từ 5,5 đến 32 độ C. Nhưng để hạt nảy mầm hết cỡ thì nên giữ nhiệt độ từ 12 đến 24 độ C.

Ở nhiệt độ thấp chúng nảy mầm chậm hơn. Còn nhìn chung sau 1-3 tuần là hạt nảy mầm rồi.

Bạn có thể điều chỉnh nhiệt độ bằng cách di chuyển thùng trồng đến những nơi có nhiều hay ít ánh nắng tùy vào thời tiết lúc đó. Đây là mẹo trồng cà rốt được nhiều người áp dụng đấy!

Mỗi cây cần duy trì khoảng cách từ 5 đến 7cm. KHi chúng cao cm thì tiến hành tỉa thưa cây con đi.

Cà rốt không cần bạn bón nhiều nito. Muốn cây phát triển tốt chỉ cần phốt pho và kali nhiều là được. Nito bạn để thấp cũng không sao.

Nếu trồng nhỏ lẻ thì cỏ dại hay sâu bệnh bạn có thể kiểm soát được. Nhưng trồng ở diện tích lớn cần chú ý 2 vấn đề này. Vì chúng ảnh hưởng đến sự phải triển của cây.

Thời gian thu hoạch cà rốt không cố định. Tùy vào khí hậu, sự phát triển của cây hay giống mà khác nhau. Nhưng thông thường sẽ từ 50 đến 100 ngày sau trồng.

Hầu hết các giống đều được thu hoạch sau 2 tháng đến 2 tháng rưỡi. Khi củ đạt kích thước như ý là bạn thu hoạch được rồi. Để kiểm tra bạn nhổ thử 1 vài cây lên là biết.

3. Cà rốt và những tác dụng tuyệt vời với sức khỏe

Giúp ngăn ngừa ung thư

Cà rốt có chứa caroten. Đây là hoạt chất tự nhiên giúp chống lại ung thư nội tiết, ung thư tuyến tiền liệt, ung thư dạ dày hay phổi. Đối với phụ nữ lược caroten cao còn giúp ngăn ngừa ung thư vú.

Giảm lượng Cholesterol

Muốn hạt lượng cholesterol xuống thấp nhất thì hãy dùng cà rốt hằng ngày. Bạn ăn sống, làm nước ép hay chế biến món ăn đều được. Vì thế chúng còn rất có ích với người bị tim mạch, huyết áp. Chỉ cần bạn chú ý chọn cà rốt tươi, sạch đảm bảo vệ sinh cho cả nhà là được.

Cà rốt có tác dụng giảm cân

Cà rốt giúp tăng cảm giác no và sẽ giúp bạn hạn chế nạp calo trong các bữa tiếp. Do đó, cà rốt luôn là thực phẩm được ưu tiên trong thực đơn ăn kiêng, giảm cân của chị em. Chúng sẽ giúp chị em có được vóc dáng thon thả.

Rất tốt cho mắt

Như đã nói trong cà rốt có nhiều tiền tố vitamin A. Vì thế rất tốt cho mắt. Vừa giúp cải thiện thị lực vừa giúp tránh thoái hóa điểm vàng. Chúng sẽ giúp bạn có một đôi mắt sáng khỏe.

Bạn có thể chọn cà rốt L1 Vineco. Loại này được tròng tự nhiên kết hợp cùng với dây chuyền hiện đại. Vì thế sẽ cung cấp dưỡng chất tối đa cho cơ thể bạn.

Rất tốt cho tóc và da

Do có lượng chất chống oxy hóa cao, đồng thời có nhiều vitamin A và C nên ăn cà rốt nhiều giúp da bạn sáng hơn. Bạn có thể dùng cà rốt chế biến thành nước ép, ăn sống hay làm món ăn đều được.

Khi làm sinh tố bạn có thể cho vào chút mật ong hoặc táo hay cà chua, cả cam nữa. Rất ngon đấy! Đây là công thức làm đẹp tự nhiên từ bên trong được nhiều người tin dùng đấy! Loại sinh tố này vừa giúp da sáng, lại hạn chế tình trạng da khô, mụn trứng cá, cũng như tác động tiêu cực của ánh nắng. Do trong cà rốt cho chất Beta-carotene mà.

Cà rốt còn có nhiều vitamin A nên giúp tóc bạn nhanh mọc, hạn chế rụng tóc hiệu quả. Đồng thời mái tóc của bạn cũng mềm mượt hơn nữa đấy! Bạn biết không chỉ cần dùng 100ml nước cà rốt em mỗi ngày thôi sẽ tăng lưu thông máu đến da đầu. Từ đó hạn chế quá trình lão hóa đối với cả nam và nữ.

4. Kết bài

Vậy là bạn nắm được kỹ thuật trồng cà rốt đơn giản tại nhà rồi đúng không? Từ giờ bạn sẽ có được nguồn thực phẩm sạch cho cả gia đình.

Cập nhật 02/07/2020

【#3】Kỹ Thuật Trồng Cây Quýt Hồng

Kỹ thuật trồng cây Quýt Hồng

Hoa thông thường có mùi thơm rất mạnh. Quả là loại quả có múi, một dạng quả mọng đặc biệt, hình cầu hay cầu thuôn dài, chiều dài 4-30 cm và đường kính 4-20 cm

Các loài thực vật Cam, chanh, quýt, bưởi phổ biến thuộc chi Cam chanh (Citrus) của họ Cửu lý hương (Rutaceae). Chúng đều là những loài cây nguyên sản vùng nhiệt đới, phổ biến ở các nước Đông Nam Á.

Các loại cây trong chi này là các cây bụi, cây gỗ nhỏ, cao 5-15 m tùy loại, với thân cây có gai và các lá thường xanh mọc so le có mép nhẵn. Hoa mọc đơn hoặc tự ngù nhỏ, mỗi hoa có đường kính 2-4 cm với 5 (ít khi 4) cánh hoa màu trắng và rất nhiều nhị hoa. Hoa thông thường có mùi thơm rất mạnh. Quả là loại quả có múi, một dạng quả mọng đặc biệt, hình cầu hay cầu thuôn dài, chiều dài 4-30 cm và đường kính 4-20 cm, bên trong quả khi bóc lớp vỏ và cùi sẽ thấy lớp vỏ mỏng, dai, màu trắng bao quanh các múi bên trong chứa nhiều tép mọng nước.

Các loại cây trong chi này ưa các điều kiện môi trường nhiều nắng, ẩm ướt với đất tốt và lượng mưa hay lượng nước tưới đủ lớn. Mặc dù có tán lá rộng, nhưng chúng là cây thường xanh và không rụng lá theo mùa, ngoại trừ khi bị ép. Chúng nở hoa vào mùa xuân và tạo quả chỉ một thời gian ngắn sau đó. Quả bắt đầu chín vào mùa thu hay đầu mùa đông, phụ thuộc vào các giống được trồng, cũng như gia tăng độ ngọt sau đó. Một vài giống quýt chín vào mùa đông. Một vài giống, chẳng hạn bưởi chùm, cần tới 18 tháng để quả có thể chín.

Quả của các loài cam quýt thường được ăn tươi. Nói chung vỏ của chúng dễ bóc bằng tay và dễ dàng tách các múi. Ở nhiều nơi, nước cam và bưởi là những đồ uống phổ biến khi ăn sáng. Những loại quả chua hơn như chanh nói chung ít được ăn trực tiếp. Nước chanh thường phải thêm đường vào để bớt chua trước khi uống. Chanh cũng được dùng làm gia vị trong nhiều món ăn. Người ta cũng làm mứt từ cam hay chanh. Quả Cam đường dùng để ăn có nhiều tác dụng; lại được dùng làm thuốc giải nhiệt, trị sốt, điều trị chứng xuất tiết và giúp ăn ngon miệng. Ở Ấn Độ, dịch quả cũng được dùng trong bệnh đau về mật và ỉa chảy ra mật. Vỏ quả cam có thể dùng thay vỏ quýt nhưng tác dụng kém hơn, làm thuốc kích thích tiêu hóa, chữa đau bụng, đầy bụng, ợ chua, đi ngoài. Ta còn dùng vỏ cam chữa bệnh sau khi đẻ bị phù. vỏ tươi dùng xát vào mặt làm thuốc điều trị mụn trứng cá. Lá cam dùng chữa tai chảy nước vàng hay máu mủ. Hoa Cam thường dùng cất tinh dầu và nước cất hoa cam dùng pha chế thuốc. Chỉ ăn toàn cam trong ba ngày liền có tác dụng như một liều thuốc tẩy độc rất tốt. Uống nước vỏ cam nấu chín có tác dụng kính thích nội tiết nước mật, làm tăng nhu động ruột, chống bệnh táo bón.

I.KỸ THUẬT TRỒNG:

1. Thời vụ trồng:

Trồng cam quýt vào cuối mùa mưa

2. Chuẩn bị đất trồng:

Trồng cam, quýt trên đất phù sa ven sông, đất bồi tụ, đất rừng mới khai phá, đất thung lũng, đất phù sa cổ có tầng dày từ 80 – 100 cm, có hàm lượng mùn cao, cao ráo, thoát nước, mực nước ngầm dưới 1m.

Vùng đất trồng cam quít phải thoáng gió, cao ráo , thoát nước. Độ pH thích hợp trong đất từ 5,5- 6.

Trước khi trồng một tháng đất phải được dọn sạch cỏ, cày bừa kỹ, chia lô, hàng, đào hố bón phân lót.

3. Đào hố trồng cây:

Mật độ trồng đối với các cây ghép trên gốc ghép gieo hạt từ 300 – 500 cây/1 ha – khoảng cách cây và hàng từ 4 x 5m (cam, quýt) hoặc 6 x 7 m (bưởi).

Các cây cam, quýt, bưởi ghép trên gốc ghép nhân vô tính (chiết, ghép), có thể trồng với mật độ dày hơn: 800 – 1200 cây/ha, với các khoảng cách 4 x 2m; 3 x 3 m; 3 x 4m.

4. Trồng cây:

Kích thước hố đào 60 x 60 x 60 cm. ở chỗ cao cần đào hố sâu hơn, rộng hơn: 70 x 70 x 70 cm. Lớp đất đào lên được trộn đều với 30 kg phân chuồng hoai mục loại tốt; 0,2-0,5 kg phân lân (Termophotphat); 0,1-0,2 kg sunfat kali (K2SO4). Lấp hố trước khi trồng 10 – 15 ngày.

Khi trồng, đào lại ở giữa hố đã lấp 1 hố nhỏ sâu và rộng hơn bầu cây 1 chút, đặt cây thẳng và lấp đất cao hơn mặt bầu 3 – 5 cm, nén đất chặt và tưới nước. Sau đó cứ 1 ngày lại tưới đẫm nước 1 lần sao cho đất thường xuyên có độ ẩm 70% độ ẩm đất bão hòa trong 10 ngày liền. Sau đó tùy độ ẩm đất mà quyết định 3-5 ngày tưới một lần. Trong mùa khô hạn cần phủ gốc cam quýt bằng rơm rác, cỏ khô, lá xanh 1 lớp dày 5 – 10 cm để giữ ẩm và chống không cho cỏ dại mọc. Phủ cỏ và đất cách gốc 10 cm để phòng bệnh thối cổ rễ.

5. Xen canh:

Có thể xen canh các loài cây nông nghiệp ngắn ngày ở giữa khoảng các cây trong vườn quýt để chống cỏ dại.

II.CHĂM SÓC, BẢO VỆ:

1. Bón phân:

Cam quít cần được bón nhiều phân, cân đối các nguyên tố dinh dưỡng, đủ vi lượng cây mới sinh trưởng khỏe, sung sức, chống chịu tốt với sâu và bệnh hại, bền cây và cho thu hoạch cao.

1.1.Căn cứ tuổi cây để bón phân:

-Cây từ 1 – 4 tuổi: 1 năm bón 1 lần phân chuồng 30 kg cùng với 0,1- 0,2 kg phân lân nung chảy vào cuối mùa sinh trưởng (từ tháng 11 -1) Ngoài ra bón 200g urê và 100 g sunfat kali vào các tháng 1-2 (30% phân đạm) tháng 4-5 (40% đạm + phân kali) và tháng 8-9 (30% đạm còn lại)

-Cây từ 5 – 8 tuổi liều lượng bón như sau: Phân chuồng tốt 30-50 kg/năm. Đạm urê 1 – 2 kg (có thể thay 1 /2 bằng đạm sunfat để tránh tình trạng thiếu lưu huỳnh). Phân lân dạng nung chảy 3,5 kg. Phân kali dạng sunfat 1 – 1,2 kg. Phân chuồng và phân lân bón 1 lần vào sau vụ thu hoạch. Bón 60% phân đạm và 40% phân kali vào tháng 1-2; 60% phân kali và 40% phân đạm còn lại vào tháng 5-6. Cũng có thể chia đều phân đạm để bón làm 3 lần: Tháng 1-2: 40%; tháng 5-6: 30 %; tháng 8-9: 30 %.

(Chú ý: Các loại phân rắc cách gốc từ 30-50cm, phủ một lớp mỏng đất bột, rơm rác, tưới nước. Tránh phủ đất quá dày, sát gốc sẽ gây bệnh thối gốc cam quít).

1.2.Căn cứ tuổi cây và năng suất cam quít để bón phân:

-Cây từ 1-3 tuổi: Phân chuồng 25 – 30 kg/cây; phân lân nung chảy hoặc photphat nghiền 200-500g/cây; phân urê: 150 – 200 g/cây.

-Cây 4-5 tuổi: Phân chuồng 30 kg/cây; đạm urê 300g; lân nung chảy 500 g/cây; sunfat kali 300 g; vôi bột 500 g – 600 g/cây. Phân lân và phân chuồng bón 1 lần vào cuối mùa sinh trưởng cùng với vôi bột. Phân đạm và kali chia làm 3 lần: các tháng 1-2 (30% phân đạm) tháng 4-5 (40% đạm + phân kali) và tháng 8-9 (30% đạm còn lại).

-Cây từ 6-8 tuổi trở lên: có thể căn cứ vào sản lượng thu hoạch hàng năm để định lượng phân bón. Nếu thu hoạch 15 tấn quả/1 ha bón cho 1 cây: 30 kg phân chuồng/cây, đạm urê 400g/cây, phân lân nung chảy 1000g/cây; vôi bột 1000g/cây; sunfat kali 500g/cây. Đó là lượng phân bón cho 1 cây theo sản lượng 15 tấn quả/ha, mật độ trồng 600 cây. Nếu năng suất 30 tấn/ha và mật độ là 1200 cây/ha, thì lượng phân bón cho 1 cây không thay đổi. Nếu năng suất vẫn là 15 tấn/ha thì lượng phân bón cho 1 cây rút xuống còn 1/2. Trong trường hợp năng suất tăng gấp đôi: 60 tấn/ha thì lượng phân bón cho 1 cây cũng được tăng lên tương ứng..

2. Tưới nước:

Mùa khô độ ẩm trong đất giảm xuống tới 40% độ ẩm đất bão hòa, thời kỳ hạn nhẹ cũng tới 40 – 50%. Khi đó cần tưới nước cho cây để đạt tới 100% độ ẩm đất bão hòa ít nhất ở phần xung quanh gốc theo chu kỳ 3 – 5 ngày 1 lần tưới thấm hoặc tưới phun mưa, có tác dụng nâng cao năng suất rõ rệt.

3. Tỉa cành tạo tán:

Tạo tán đối với cây trồng bằng cách chiết phải tiến hành từ cuối năm thứ nhất sau trồng, cây trồng bằng ghép phải tiến hành ngay trong vườn ươm.

-Tạo cành cấp 1: Từ mặt đất phân cành cấp 1 từ 30-60 cm, cắt bỏ các cành dưới. Nếu cây ghép, từ mối ghép đến phân cànhtừ 25-30 cm, mỗi cây nên để 3-4 cành cấp 1, phân đều các hướng, góc cành cấp 1 so với thân khoảng 45-60 độ.

-Tạo cành cấp 2: Mỗi cành cấp 1 để 3 cành cấp 2 đầu tiên từ 40-60 cm, góc tạo cành cấp 1 và cấp 2 là 60-80 độ.

-Tỉa thường xuyên: Tỉa các cành già cỗi, sâu bệnh, cành tăm, cành vượt, cành khô, tạo điều kiện cho tán cây thông thoáng.

-Đốn phục hồi: Đối với cây già cỗi, có cành sâu bệnh và phát triển không đều có thể phục hồi bằng cách cắt bớt một số cành lớn, già cỗi, sâu bệnh, chỉ để lại các cành khoẻ, xanh tốt, để lại thân chính và cành cấp 1 dài 30-50 cm, khi cành mọc chồi mới, tỉa bớt tạo tán mới thoáng và ít cành, kết hợp việc đốn tỉa, bón phân, chăm sóc phục hồi cây có thể kéo dài một số năm cho thu hoạch.

(Chú ý: Tỉa hoa dị hình, hoa quả non ra muộn, ở những vị trí không thích hợp cho việc hình thành quả).

4. Phòng trừ sâu bệnh hại:

Các loài cam quýt thường mắc các loại sâu bệnh hại:

4.1.Rầy chổng cánh.

Tên khoa học: Diaphorina citri.

Là loại rầy nhỏ, trưởng thành dài 2,5-3mm, có cánh dài màu nâu đậm xen kẽ có vệt trắng chạy từ đầu đến cuối cánh, khi đậu, phần cuối cánh nhô cao hơn đầu, vì vậy có tên là rầy chổng cánh. Rầy cái trưởng thành đẻ trứng thành từng cụm trên các đọt non chưa có lá. Trứng nở thành ấu trùng, lúc đầu sống tập trung, tiết ra các sợi sáp màu trắng, di chuyển chậm chạp. Cả ấu trùng và trưởng thành đều chích hút nhựa cây, đặc biệt ưa chuộng các đọt non hoặc cành non, làm cho các` cành này bị ảnh hưởng. Đặc biệt quan trọng vì chúng là môi giới gây truyền bệnh vàng lá gân xanh (bệnh Greening) rất khó phòng trừ cho các loại cam quýt. Trong năm, rầy non có đỉnh cao số lượng trùng với thời điểm ra lộc.

Biện pháp phòng trừ:

Thường xuyên điều tra, theo dõi mật độ rầy chổng cánh trên vườn cam, đặc biệt là giai đoạn lộc Xuân là thời kỳ rầy có nhiều tiềm năng truyền bệnh vàng lá. Tiến hành phòng trừ rầy bằng thuốc hóa học, ngăn chặn khả năng truyền bệnh của rầy. Sử dụng một số loại thuốc như Trebon 0,15-0,2%, Sherpa 0,1-0,2%, Sherzol 0,1-0,2%, phun 600-800 lít nước thuốc đã pha/ha trừ rầy vào thời kỳ cây phát triển lộc rộ. Đối với cây mới trồng thường xuyên có lá non, nên cần theo dõi kỹ thuật trên vườn quả, tiến hành phòng trừ sớm, hạn chế lây nhiễm bệnh.

4.2.Sâu vẽ bùa:

Tên khoa học: Phyllocnistis citrella.

Sâu trưởng thành là một loại bướm rất nhỏ, dài khoảng 2mm, cánh có ánh bạc với màu vàng nhạt và nhiều đốm đen nhỏ. Bướm đẻ trứng rời rạc trên các đọt non vào ban đêm. Trứng nở thành sâu non, đục vào ăn thịt lá dưới lớp biểu bì của mặt phiến lá, tạo thành các đường hầm ngoằn nghoèo. Lá non bị hại kém phát triển, cong queo, giảm khả năng quang hợp, cây sinh trưởng chậm, đặc biệt vào thời kỳ trồng mới và thiết kế cơ bản.

Biện pháp phòng trừ:

Theo dõi chặt chẽ các đợt lộc xuất hiện rộ trên vườn quả, nhất là các đợt lộc sau khi mưa, sau khi bón phân và sau khi tưới nước. Sử dụng một số loại thuốc như Decis 0,2%, Sumicidin 0,2%, Polytrin 0,2%, lượng phun từ 600-800 lít nước đã pha/ha, tiến hành phòng trừ sớm khi độ dài của lộc đạt 1-2cm hoặc thấy triệu chứng gây hại đầu tiên của sâu.

4.3.Sâu bướm phượng:

Tên khoa học: Phổ biến 2 loài:

– Papilio polytes.

– Papilio demoleus.

Sâu trưởng thành là bướm phượng có màu sắc sặc sỡ, bướm hoạt động ban ngày, đẻ trứng rời rạc từng quả vào các đọt non. ấu trùng nở ra, ăn rải rác trên các lá non.

Biện pháp phòng trừ:

Thường xuyên kiểm tra vườn quả, nếu mật độ thấp có thể bắt bằng tay, mật độ cao phòng trừ sâu non bằng các thuốc trừ sâu thông thường.

4.4. Ngài chích hút:

Tên khoa học: Othreis fullonia, Othreis sp.

Trưởng thành là một loại bướm khá to, cánh trước có màu nâu, cánh sau màu vàng với một đốm đen hình chữ C ở giữa cánh. Đầu có vòi dài xếp lại như những vòng tròn. Bướm gây hại vào ban đêm ở giai đoạn quả to và bắt đầu chín có màu vàng. Bướm dùng vòi cứng, nhọn chích sâu vào trong thịt quả, hút dịch chất trong quả. Vết chích của bướm làm cho quả úa vàng, thối dần và rụng.

Biện pháp phòng trừ:

– Vào mùa quả chín, ban đêm có thể soi đèn dùng vợt bắt bướm.

– Sử dụng bẫy chua ngọt 15-20 bẫy/ha, thành phần bẫy gồm nước dứa ép + Dipterex 1% ban đêm đặt xung quanh vườn cây bẫy bướm gây hại.

– Vệ sinh vườn quả, hạn chế nơi trú ngụ của bướm gây hại.

5.5.Rệp cam:

Tên khoa học: Toxoptera citridus.

Là loài côn trùng nhỏ bé, trưởng thành dài khoảng 2mm, mình căng tròn, có màu nâu đen. Rệp có tốc độ sinh trưởng nhanh, sống tập trung thành quần thể trên các búp non, lá non. Trong thời gian ngắn, số lượng quần thể đã tăng rất cao. Cả trưởng thành và ấu trùng đều chích hút làm cho lá non, ngọn chồi biến dạng cong queo, sinh trưởng chậm, cây còi cọc. Đặc biệt thông qua quá trình chích hút, rệp cam là môi giới truyền bệnh virut, trong đó, có bệnh Tristeza rất nguy hiểm cho các vùng trồng cam.

Biện pháp phòng trừ:

Thường xuyên thăm đồng, khi thấy mật độ rệp cao, cần tiến hành phòng trừ bằng các loại thuốc hóa học như Sherpa 0,2%, Trebon 0,2%, Sherzol 0,2%. Lượng phun là 600-800 lít nước thuốc đã pha/ha.

5.6.Các loại rệp sáp:

Là những côn trùng nhỏ bé, kích thước từ 1-4mm. Có nhiều hình dạng khác nhau: có loại hình tròn, có loại hình bầu dục, bán cầu, hình vảy ốc… Màu sắc rất phong phú: màu xanh, xanh lục, xanh vàng, nâu, nâu đen, vàng hay vàng nâu. Một đặc trưng của loài rệp này là cơ thể thường có một lớp sáp hoặc lớp bột phấn bao phủ. Các loại rệp sáp sống thành tập đoàn, từng đám, bám dính chặt trên các cành non hoặc quả. Rệp cái trưởng thành có tốc độ sinh sản khá lớn. Cả ấu trùng và trưởng thành đều di chuyển chậm chạp. Chúng chích hút nhựa cây làm cây sinh trưởng kém. Rệp gây hại trên quả, làm giảm chất lượng sản phẩm. Ngoài ra rệp sáp cũng là môi giới truyền bệnh virut.

Biện pháp phòng trừ:

Sử dụng một số loại thuốc như Sumicidin 0,2%, Supracide 0,15-0,2%, Decis 0,2%. Tiến hành phòng trừ khi mật độ chưa cao.

4.7.Ruồi đục quả:

Tên khoa học: Bactrocera dorsalis.

Trưởng thành là một loại ruồi to hơn ruồi nhà, cơ thể có màu vàng, cánh trong, khi đậu 2 cánh giang ngang vuông góc với thân. Trưởng thành dùng ống đẻ trứng chích sâu vào trong thịt quả, đẻ trứng thành từng ổ ở những quả chín và bắt đầu chín. Sâu non nở ra phá hoại phần thịt quả, làm quả bị thối, ủng và rụng.

Biện pháp phòng trừ:

– Thu dọn hết quả rụng trên vườn, chôn sâu xuống dưới đất.

– Thu hoạch quả kịp thời.

– Phun phòng trừ trước khi thu hoạch một tháng bằng hỗn hợp 0,5% bả Protein + 1% Pyrinex 20EC, mỗi cây phun 50ml (tương đương 1m2, thời gian trong khoảng 5-6 giây) tập trung vào nơi có nhiều lá, tiến hành phun định kỳ tuần 1 lần đến thu hoạch xong.

4.8.Nhện đỏ:

Tên khoa học: Panonychus citri.

Là loại sâu hại rất nhỏ bé, khó nhìn được bằng mắt thường. Trưởng thành có hình ô van, dài từ 0,3-0,5mm, màu nâu đỏ. Nhện đỏ thường tập trung sống, chích hút mặt dưới của lá. Mật độ cao làm cho các lá cam quýt mất màu xanh bóng, chuyển sang màu trắng bạc, lá mất dần khả năng quang hợp, bị nặng lá sẽ bị rụng hàng loạt. Trên quả nhện gây ra các đám sần sùi, làm giảm năng suất và phẩm chất quả. Nhện đỏ thường phát triển mạnh vào mùa khô hạn và trời nắng ấm. ở điều kiện khí hậu miền Bắc nước ta, trong năm, nhện thường có 2 cao điểm: từ tháng 4-6 và tháng 9-11. Mùa mưa bão mật độ nhện giảm rõ rệt.

Biện pháp phòng trừ:

Nhện đỏ có vòng đời ngắn, dễ có khả năng kháng thuốc. Vì vậy, trong công tác phòng trừ nên chú ý thường xuyên thay đổi thuốc.

Thường xuyên kiểm tra vườn quả. Cần tiến hành phòng trừ khi mật độ nhện còn thấp, tránh giết chết thiên địch của nhện. Một số loại thuốc có hiệu quả phòng trừ nhện như: Pegasus 500 ND 0,1%, Ortus 3 SC 0,1%, lượng phun 800 lít nước thuốc đã pha/ha, phun ướt đẫm lá, đặc biệt là mặt dưới. Dầu phun trừ sâu Caltex , DC -Tronplus 0,5%, lượng phun 800-1000l/ha.

4.9.Bệnh chảy nhựa:

Xuất hiện ở gốc, cổ rễ hoặc gần vết ghép, làm vỏ và tầng sinh gỗ bị thối chảy nhiều nhựa, sau đó vỏ nứt dọc, chính vỏ lộ ra những mảng gỗ màu nâu, trên lá có màu đen và chết. Trên quả đầu tiên xuất hiện những vết có màu nâu tối, sau đó lan rộng bên ngoài vỏ và bên trong trái làm trái bị rụng và quả có mùi đặc trưng. Trời ẩm xuất hiện một lớp màu trắng trên vết thối.

Biện pháp phòng trừ:

– Không trồng quá sâu, nhất là các giống ghép vì bị mưa hoặc nước tưới bắn lên mầm sẽ xâm nhập qua vết ghép.

– Đất phải thoát nước tốt, nhất là vào mùa mưa, tránh cây bị thừa nước.

– Tránh gây vết thương trên gốc rễ lúc làm cỏ, vệ sinh vườn cây, tiêu huỷ các cây, cành, lá bị bệnh.

4.10.Bệnh loét:

Vết bệnh lúc đầu nhỏ bằng đầu đinh, màu vàng nhạt, sau chuyển sang sần sùi và phát triển thành mụn nổi cả mặt trên và mặt dưới lá, xung quanh vết bệnh có quầng màu vàng nhạt, lá bị xoăn.

Biện pháp phòng trừ:

Mùa mưa tránh để đất bị đọng nước (lên liếp mô xung quanh gốc) hoặc thoát nước kịp thời khi mưa to.

– Dùng các giống kháng bệnh tốt, trồng cây chắn gió.

– Vệ sinh vườn, tiêu huỷ, gom, đốt các cành lá bị bệnh.

– Phun các loại thuốc gốc đồng như: Kasuran, Champion, Kocide, Bordeaux …

4.11.Bệnh sinh lý:

Do tính chất của đất, điều kiện khí hậu, tập quán và trình độ canh tác mà có sự rối loạn dinh dưỡng dẫn đến sự đói nguyên tố vi lượng như: Ca, Mg, Bo, Mn… Hiện tượng đói dinh dưỡng thường có những biểu hiện bệnh tật giống như khi bị bệnh do virus ký sinh.

Đối với thổ nhưỡng tại khu du lịch rừng Madagui, thường xảy ra hiện tượng thiếu các vi lượng Mg, Fe.

-Thiếu Mg (ma giê) cây sinh trưởng chậm. Khoảng phiến lá giữa các gân lá mất màu xanh, còn chính gân lá vẫn duy trì được màu xanh, sau đó phần phiến lá mất màu xanh chuyển dần từ màu xanh vàng sang màu trắng, cũng có thể xuất hiện những đốm hoặc đường vân màu nâu hoặc màu đỏ tím. Những biểu hiện này thường xuất hiện trước tiên ở những lá già, đặc biệt là phần đuôi lá.

-Thiếu Fe (sắt) cây sinh trưởng chậm, phần phiến lá giữa các gân của lá non bịmất màu xanh, chuyển sang màu vàng. Nếu thiếu sắt nghiêm trọng, toàn bộ lá non sẽ biến thành màu vàng trắng.

Biện pháp phòng trừ:

-Thiếu Mg: Dùng MgSO4 nồng độ sử dụng là 0,25-0,5% phun lên lá, phun 2-3 lần nếu thấy triệu chứng thiếu Mg xuất hiện hoặc bón 20-30 kg/ha/năm nếu đất thiếu. Ngoài ra cũng có thể dùng Nitrat Magiê 1 kg trong 100 lít nước để phun đến ướt lá.

-Thiếu Fe thì dùng FeSO4 (sunfat sắt (II)) nồng độ 0,2-1% phun lên lá.

5. Bảo vệ phá hoại của người, gia súc:

Quản lý, chống sự phá hoại của người và vật nuôi.

【#4】Kỹ Thuật Trồng Rau Cải Xanh Trong Thùng Xốp Tại Nhà

Rau cải xanh rất dễ trồng, dễ chăm sóc và cho thu hoạch cao nên thường được các chị em lựa chọn trồng tại nhà trong thùng xốp.

Cải xanh là loại rau chứa rất nhiều vitamin A, B, C, D, chất caroten, anbumin, a-xit nicotic… và là một trong những loại rau mà các nhà dinh dưỡng khuyên mọi người nên dùng thường xuyên để bảo vệ sức khỏe và phòng chống bệnh tật.

Đặc tính sinh học của rau cải

Cải là một loại cây thân thảo. Rau cải vốn tập trung trong vùng ôn đới, ưa khí hậu mát lạnh song cũng có những giống chịu nóng khá tốt.

Rau cải có bộ rễ ăn nông trên tầng đất mặt, bộ lá mọc so le, khá phát triển và chứa nhiều chất dinh dưỡng, to bản nhưng mỏng manh nên khả năng chịu hạn kém và dễ bị sâu bệnh phá hại.

Chuẩn bị dụng cụ trồng rau

  • Hộp xốp / Thùng xốp
  • Hạt giống: Bạn có thể mua ở chợ hoặc trong siêu thị.
  • Đất chất lượng cao: Đất bao hoặc Đất sạch nén viên
  • Phân hữu cơ
  • Giá thể xơ dừa nghiền, đã qua ngâm xử lý khử chát trong xơ dừa nguyên chất:
  • Xẻng, Dao, Gạch, Vải phủ.

Cách trồng rau cải sạch tại nhà

Thời gian gieo trồng

Vụ đông xuân: Gieo hạt vào tháng 8, tháng 9, tháng 10. Sau 25 – 30 ngày, cây có 3 – 4 lá thật thì đem trồng là tốt nhất.

Làm đất

  • Làm đất kỹ, tơi xốp, bón lót vôi nông nghiệp rồi phơi ải ít nhất từ 7-10 ngày trước khi trồng để diệt mầm bệnh: ấu trùng, nhộng, nấm…
  • Hoà nấm tricohderma vào nước rồi phun vào đất trước khi trồng để diệt trừ mầm mống bệnh.
  • Bổ sung phân bón cho 1 thùng xốp (khoảng 30-50 kg đất): mỗi thùng khoảng 2 kg phân trùn quế hoặc phân chuồng hoai mục: 3-5kg/thùng; phân cá ủ hoai. Nếu không có thì có thể thay bằng phân vi sinh, lượng dùng khoảng 2-5 kg/thùng.
  • Thùng xốp trồng cây phải thoát nước tốt.

Gieo hạt

Để hạt nẩy mầm tốt, cần làm theo các bước sau:

  • Hạt trước khi gieo cần được ngâm trong nước 2 sôi 3 lạnh (khoảng 40 độ C) trong 2-5h.
  • Vớt ra rửa sạch, để ráo nước.
  • Đem gieo vào bầu hoặc trực tiếp lên đất đã chuẩn bị sẵn. Sau vài ngày hạt sẽ nẩy mầm.

Cách trồng rau cải bằng cây

  • Đào các hố cách nhau 20 – 30 cm, mỗi hố sau từ 10 – 15 cm.
  • Cho vào mỗi hốc một nắm phân chuồng ủ hoai hoai hoặc phân trùn quế, phân vi sinh
  • Mỗi thùng xốp trồng từ 4 – 6 cây cải vào các hốc.

Chăm sóc

Tưới nước

Tưới nước ngày 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều tối.

Sau khi trồng phải tưới nước ngay; mỗi ngày một đến hai lần, nên tưới trực tiếp vào gốc, cho đến khi cây bén rễ hồi xanh. Sau đó chỉ tưới khi cảm thấy đất thiếu ẩm. Lưu ý: Tưới nhiều nước quá dễ dẫn đến nấm bệnh.

Bón phân

Sau khi cấy khoảng 10 ngày, cây đã hồi xanh và có nhu cầu phát triển thì bón thúc lần 1 bằng phân bò, phân gà, phân cá, phân dê, phân trùn quế hoặc phân hưu cơ. Cứ 7 ngày tiến hành bón đợt tiếp theo.

Sau khi trồng 12 – 15 ngày, cây đã hồi xanh và có nhu cầu phát triển thì bón thúc lần 1:

Cần bổ sung thêm lượng phân chuồng hoai mục để cây đủ chất phát triển, ngoài ra có thể bổ sung thêm lượng phân vô cơ theo hàm lượng sau, tỉ lệ 2 lân : 0,5 đạm : 0,5 kali. Lấy 2 thìa cà phê super lân, 0,5 thì cà phê đạm và 0,5 thìa cà phê kali trộn lẫn với nhau rồi pha với bình 20 lít nước. Mỗi ngày tưới cho 1 thùng xốp khoảng 300 – 500 ml/lần.

Nếu e ngại dùng phân vô cơ cho cây trồng, có thể dùng nước tiểu ngâm lân trong 1 tuần, đem pha loãng tưới cho cây cũng tốt.

Khi cây xoè lá thì bón thúc lần thứ hai. Trước khi bón thúc nên xới xáo mặt thùng kết hợp với vun cao gốc cho cải bẹ để chống đổ và nhặt cỏ dại.

Trong suốt quá trình sinh trưởng của cải bẹ cần bón thúc 5 – 7 lần tuỳ tốc độ sinh trưởng của cây, màu sắc của thân lá cây mà tăng hay giảm lượng phân bón cho phù hợp.

【#5】Kỹ Thuật Chăm Sóc Lan Kiều Tím, Lan Kiều Vàng

Lan kiều có nhiều loại màu hoa từ cam, trắng, vàng, mỡ gà tới tua. Về cơ bản thì cách trồng, chăm sóc các loại này là giống nhau. Lan kiều tím có tên khoa học dendrobium amabile, lan kiều vàng có tên khoa học Dendrobium thyrsiflorum…..

lan kiều vàng

Trước tiên là về giá thể trồng lan kiều nói chung và lan kiều tím, lan kiều vàng nói riêng.

Giá thể trồng lan kiều có nhiều loại giá thể như gỗ lũa, than đã ngâm no nước, xơ dừa đã qua xử lý chát. Dớn cọng, Dớn bảng, Rêu chile. rêu rừng, Vỏ thông…. Mỗi loại giá thể trên đều có những ưu và nhược điểm khác nhau:

1. Trồng lan kiều tím, lan kiều vàng trên gỗ lũa:

Xử lý gỗ lũa bằng cách dùng máy chà và bàn chà bằng sắt chà sạch các bụi bẩn còn bám trên khúc lũa. Ngoài bụi bẩn thì có những khúc lũa vẫn có những phần rác gỗ chưa mục hết ta cần chà sạch các phần đó đi để có một khúc lũa đẹp. Có giá trị về thẩm mỹ cao sau khi ghép lan kiều tím, lan kiều vàng lên.

Lan kiều ghép lũa nhìn thời gian đầu thì có vẻ đẹp do sự xanh tươi của cây thời gian đầu mới ghép kết hợp với vẻ đẹp của khúc lũa. Tuy nhiên theo tôi trồng lan kiều tím, lan kiều vàng vào gỗ lũa cây sẽ kém phát triển hơn so với các giá thể khác. Điều thứ hai lưu ý với các nhà vườn trồng kinh doanh đó là ghép lũa sẽ gặp khó khăn trong công tác giao hàng sau này.

2. Dùng vỏ thông và than để ghép lan kiều tím, lan kiều vàng.

Xử lý than thì đơn giản là ta cho than vào thùng sơn hoặc chậu to ngâm than khoảng 4-7 ngày. Cho than no nước, rồi có thể đem ra trồng lan. Vỏ thông cần đập nhỏ, nếu có điều kiện có thể mua vỏ thông nhập khẩu. Mình thấy vỏ thông của họ không có cạnh sắc như vỏ thông mình tự lấy về rồi tự đập. Vỏ thông cần rửa sạch để loại bỏ đất và các tạp chất bám ở ngoài.

Trồng lan kiều tím, lan kiều vàng lên vỏ thông hoặc than là một cách mình thấy cũng dễ thực hiện. Không quá phức tạp và cây phát triển cũng tốt,không đến nỗi tệ lắm.

3. Trồng lan kiều tím, lan kiều vàng vào thân cây dương xỉ.

Thân cây dương xỉ là cách nói chung chung. Còn chính xác ở đây là dớn cọng, dớn cục hoặc dớn bảng.. Tất cả đều là từ thân cây dương xỉ gỗ mà ra. Độ bền của giá thể này từ 3-4 năm. Mình thì hay xử lý bằng cách phơi ra nắng rồi ngâm giá thể vào nước vôi hoặc dung dịch có pha thuốc nấm.

Trồng lan kiều tím, lan kiều vàng trên giá thể này có kết quả nhỉnh hơn so với giá thể than và vỏ thông. Do dớn này thoát nước tốt và đối với dớn trụ, dớn bảng dày thì nó còn dữ ẩm cũng tương đối.

4. Trồng lan kiều tím, lan kiều vàng vào giá thể rêu chilê, rêu rừng.

Đối với rêu chile thì ta không cần xử lý gì nữa. Chỉ cần ngâm rêu vào chậu nước rồi bóp cho rêu căng nước là dùng được. Tuy nhiên đối với rêu rừng. Thì cần luộc rêu vào nước nóng mục đích là diệt các loại vi khuẩn, nấm đang sống trong đám rêu. Trồng lan kiều vào rêu cần lưu ý lót đáy chậu bằng than hoặc xốp để tránh úng cho cây. Về lâu dài giá thể này cây sẽ phát triển kém. Do vấn đề nấm bệnh và vấn đề bí của giá thể. Giá thể rêu về lâu dài sẽ bị lèn và rất bí khí nhất là khi thời tiết vào mùa mưa.

5. Trồng lan kiều bằng giá thể xơ dừa.

Vấn đề đầu tiên cần xử lý khi trồng bằng xơ dừa đó là xử lý chát. Cần ngâm nước trong 2-3 ngày rồi bóp đi bóp lại nhiều lần cho xơ dừa hết chát rồi có thể lấy ra trồng lan kiều vào.

Giá thể này có ưu điểm rẻ, dễ kiếm tuy nhiên có nhược điểm giống rêu là gây bí cho cây lan khi trồng được 1-2 năm và dễ gây úng rễ. Cần lót dưới đáy chậu một lớp than hoặc xốp để chậu cây thoát nước tốt. Trồng lan kiều tím, lan kiều vàng bằng xơ dừa theo mình là không nên và cách trồng này tương đối mạo hiểm. Tuy nhiên các bạn có thể thử và trải nghiệm theo sở thích của riêng mình.

6. Trồng lan kiều tím, lan kiều vàng bằng giá thể gỗ khô.

Gỗ khô ở đây có thể là gỗ nhãn, gỗ vú sữa, gỗ vải… nói chung là thân các cây không có tinh dầu, không chua, chát, có độ bền tương đối chút thì đều được. Trồng lan kiều vào các giá thể này cần bóc sạch vỏ của giá thể.

Tuy nhiên trồng lan kiều tím, lan kiều vàng vào giá thể này cũng gần tương tự như trồng vào giá thể gỗ lũa. Giá thể không giữ ẩm tốt nên lan kiều sẽ phát triển rất kém.

Về cách chọn mua lan kiều và xử lý sơ bộ lan khi mới mua về.

Khi chọn lan kiều tím, lan kiều vàng nên chọn giề to, lớn. Không nên chọn những giề có số lượng giả hành ít hơn 5 giả hành. Lá xanh tốt không có sâu bệnh, giập nát. Có nhiều giả hành có thân tơ vẫn còn lá thì càng tốt. Lưu ý không trồng vào mùa lan đang sinh trưởng ( khi giả hành non còn đang phát triển, sẽ gây trột cây).

Xử lý lan: cắt bỏ thân, lá giập nát. Cắt tỉa các rễ già, hỏng cắt ngắn rễ còn 1,5cm rồi ngâm phần gốc trong dung dịch gồm ridomill+ B1+atonik trong vòng 10p. Treo ngược cây 2-3 ngày ( trong thời gian này cần tưới ẩm cho cây) rồi trồng cây vào giá thể đã chuẩn bị sẵn.

Nguyên tắc cần lưu ý khi trồng lan kiều tím, lan kiều vàng.

1. Về kỹ thuật: cố định chắc gốc lan, không để gốc lung lay, xê dịch. Không được để giá thể trồng làm lấp gốc lan, ảnh hưởng đến mầm non về sau này.

2. Về thẩm mỹ: Hạn chế đóng đinh sắt ghép cho hướng của bụi lan hướng vào phía trong chậu trồng. Các cây có độ to ngang nhau thì ghép vào một chậu.

Chăm sóc sau khi ghép lan kiều.

Sau khi trồng để cây vào chỗ giâm mát, có ánh sáng yếu từ 40-50% nắng. Tưới ẩm ngày 1-2 lần tùy giá thể, từ 6-8 ngày tưới 1 lần B1(1ml)+ atonik(1ml)+1 lít nước. Khi cây ra rễ cỡ 2cm thì bón phân đầu châu 501 hoặc grow more 30-10-10 cho cây và đưa cây ra vùng ánh sáng 70%.

【#6】Kỹ Thuật Trồng Bắp Cải Tại Nhà Hiệu Quả

Ảnh: Ruộng bắp cải sắp thu hoạch (nguồn: thiennhien.net)

———————

1. Thời vụ trồng:

———————

  Cải bắp là cây ôn đới nên có thể trồng vào 3 vụ trong năm:

– Vụ sớm: gieo cuối tháng tháng 7 đến đầu tháng 8

– Vụ chính: gieo cuối tháng 9 đến đầu tháng 10

– Vụ muộn: gieo tháng 11 đến giữa tháng 12

——————————-

2. Gieo hạt, ươm cây con:

——————————-

– Làm đất kỹ, bón lót 3-5kg phân chuồng hoai mục + 1kg lân cho 1 thùng xốp 40 lít.

– Hạt giống nên ngâm vào nước 2 sôi 3 lạnh (khoảng 40 độ C) trong 3 giờ.

– Vớt hạt ra, rửa sạch, để ráo nước.

– Cho hạt vào miếng vải cotton nhúng nước, vắt kiệt rồi gói lại.

– Cho miếng vải bọc hạt vào túi nilon, buộc kín rồi cất vào tủ lạnh, ngăn mát (khoảng 15-23 độ C).

– Sau 2-7 ngày, hạt nẩy mầm, dem gieo.

– Gieo xong, phủ lên một lớp rạ dày 1-2cm, sau đó dùng ô doa tưới đẫm nước.

– Độ sâu gieo hạt thích hợp: 2 -3 cm.

– Trong 3-5 ngày sau gieo, tưới 1-2 lần/1 ngày, khi hạt nhô lên khỏi mặt đất, ngừng tưới 1-2 ngày, sau đó cứ 2 ngày tưới 1 lần.

– Nhổ tỉa cây bệnh, cây không đúng giống, để mật độ 3-4cm cây cứng cáp. Sau mỗi lần nhổ tỉa kết hợp tưới thúc bằng phân chuồng + nước tiểu ngâm ủ sẵn, pha loãng. Không tưới phân đạm ure.

– Tiêu chuẩn cây giống tốt: Phiến lá tròn, đốt sít, mập, lùn. Cây có từ 4-6 lá thật thì nhổ trồng là tốt nhất.

————–

3. Làm đất:

————–

– Cải là cây ưa đất thịt nhẹ, mùn, độ phì cao nên trước khi trồng nên chuẩn bị đất thịt nhẹ hoặc đất phù sa có độ pH ổn định, trong khoảng 5,6 – 6,5, hàm lượng hữu cơ khoảng 1,5%

– Làm đất kỹ: trộn vôi bột với đất, rồi phơi ải đất ít nhất từ 5 – 7 ngày trước khi trồng.

– Nếu trồng vào thùng xốp thì trộn khoảng 1 vốc tay vôi bột. Nếu trồng ở vườn, thì lên liếp rộng 1-1,2m cao 20-30 cm, vét đất ở rãnh cho lên liếp. Vào mùa mưa (vụ sớm) thì cần lên liếp dạng mai rùa, vụ chính và vụ muộn chỉ cần lên liếp bằng phẳng là được.

– Mật độ trồng:

+ Trồng 2 cây/thùng xốp 40 – 60lít.

+ Nếu trồng trong vườn, ruộng thì mật độ nên là: cây cách cây 30-40cm, hàng cách hàng 50cm (vụ sớm), vụ chính: cây cách cây 50 cm, hàng cách hàng 50 cm để đạt hiệu quả cao nhất.

– Nên sử dụng màng phủ nông nghiệp (polietylen) để phủ đất hạn chế tối đa cỏ dại. Dùng đất chèn mép luống và đục lỗ trồng.

—————-

4. Chăm sóc:

4.1. Bón phân:

——————

– Chỉ sử dụng phân chuồng ủ mục, tuyệt đối không dùng phân tươi. Lượng phân chuồng cho 1 thùng xốp là từ 3-6kg; 800 – 1000kg/sào Bắc Bộ, dùng bón lót.

– Sử dụng phân vô cơ để bón thúc theo liều lượng sau:1: ½ : ¼ (lân:kali:đạm).

+ Nếu trồng trong thùng xốp thì cứ 1 thùng xốp, sử dụng 1 chén uống nước lân trộn với ½ chén kali trộn tiếp với ¼ chén đạm (ure) thành hỗn hợp A. Pha hỗn hợp này với bình 10-15 lít, tưới cho cây vào buổi chiều mát.

+ Nếu trồng trong vườn, có thể sử dụng lượng phân bón cho 1 sào Bắc Bộ: 40-50 kgN; nếu sử dụng lân hữu cơ vi sinh thì lượng bón cần thiết là: 20 kg P2O5 (100 kg supe lân); lượng kali cần thiết là: 30-50 kg/sào Bắc Bộ.

———————————-

(*) Bón thúc làm 3 thời kỳ:

———————————-

– Thời kỳ cây hồi xanh: bón nốt lượng kali còn lại +1/3 lượng đạm còn lại.

Cách bón: bón gốc cây kết hợp xới vun

Số đạm còn lại chia đôi, hoà với nước tưới gốc vào 2 thời kỳ :

– Thời kỳ trải lá bàng : 30-35 ngày sau khi trồng

– Thời kỳ cuốn bắp : 45-50 ngày sau trồng.

– Ngoài biện pháp bón vào đất, có thể phun qua lá các dung dịch dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng theo hướng dẫn sử dụng của hãng sản xuất.

——————-

4.2. Tưới nước:

——————-

– Tuyệt đối không được dùng nguồn nước thải, nước ao tù chưa được xử lý để tưới. Có thể dùng nước giếng khoan, đã được xử lý, tốt nhất là dùng nước thuỷ cục (n

ước sạch nhà máy).

– Sau khi trồng phải tưới nước ngay, ngày tưới 2 lần vào sáng sớm và chiều mát cho đến khi cây hồi xanh, sau đó 2-3 ngày tưới 1 lần;

– Các đợt bón thúc đều phải kết hợp làm cỏ, xới xáo, vun gốc, tưới nước;

– Khi cây trải lá bàng có thể tưới ngập rãnh, sau đó phải tháo nước ngay tránh ngập úng.

—————————–

5. Phòng trừ sâu, bệnh:

—————————–

– Nếu trồng diện tích hạn hẹp, dùng cho gia đình thì không nên dùng thuốc bảo vệ thực vật hoặc nếu bắt buộc dùng do sâu quá nhiều thì chỉ nên dùng các thuốc có thành phần thảo mộc, thuốc sinh học như dầu khoáng đầu trâu Biohopper hoặc SK enspray 99 EC. Nếu các thuốc trên vẫnkhông có tác dụng thì buộc phải dùng thuốc hoá học nhưng nên lưu ý các hướng dẫn sử dụng ở vỏ bao bì, đặc biệt là nồng độ và thời gian cách ly. Áp dụng nguyên tắc 4 đúng trong việc sử dụng thuốc trừ sâu hoá học: đúng thuốc, đúng nồng độ và liều lượng, đúng cách và đúng lúc.

————–

5.1. Sâu hại:

————–

– Cải bắp thuộc họ rau thập tự nên tất cả các loại sâu hại có trên rau họ thập tự đều có ảnh hưởng đến cải bắp, trong đó có các loại sâu hại chính:

+ Sâu tơ (tên khoa học: Plutella xylostella) là sâu gây hại nguy hiểm nhất. Chúng phát sinh và gây hại liên tục từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, đặc biệt từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Sâu rất nhanh quen thuốc nên khả năng kháng thuốc cao.

+ Các loại sâu khác như: Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae), sâu khoang (Spodoptera liture), rệp (Aphis sp.) thường phòng trừ kết hợp với sâu tơ. Nếu chỉ riêng có rệp hại nặng, thì dùng thuốc Sherpa 20EC, Sumicidin 10EC, Trebon 10EC, Suprathion và Pegasus.

————————————————–

(*) Biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM):

————————————————–

– Phải xử lý cây giống trước khi trồng bằng cách nhúng từng cây con vào dung dịch thuốc Sherpa 20EC nồng độ 0,1% hoặc Regent 800 WG pha nồng độ 1g/10 lít nước, trong 5-10 giây rồi vớt ra để khô nước mới đem trồng;

– Khi cây lớn phải sử dụng luân phiên giữa các nhóm thuốc: Thuốc sinh học (BT, Delfin WP (32 BIU), Dipel 3,2WP, Aztron 700 DMBU, Xentary 35 WDG,…), thuốc hóa học (Sherpa 20EC, Atabron 5 EC, Regent 800WG, Pegasus 500 SC,…) và thảo mộc (HCĐ 95 BTN, Rotenone, Neembon A-EC Nimbecidin 0,03EC,…). Nồng độ và lượng nước phải pha theo hướng dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc.

– Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch ít nhất 10 ngày. Trong thời gian này, nếu sâu còn gây hại nặng, thì chỉ dùng nhóm thuốc sinh học hoặc thảo mộc.

– Trồng luân canh giữa rau cải bắp với các họ rau khác: đậu, cà. Trên cùng một chân đất, có thể trồng xen canh rau họ thập tự với cà chua để hạn chế gây hại của sâu tơ (Cà chua có mùi mà sâu không ưa). Cứ 2 luống cải bắp lại trồng 1 luống cà chua.

—————–

5.2. Bệnh hại: 

—————–

– Một số bệnh thường gặp:

+ Bệnh thối nhũn do vi khuẩn (Erwinia carotovora sp.)

+ Bệnh thối do nấm (Sclerotinia sclerotium)

+ Bệnh đốm lá (Cereospora sp.).

– Để phòng trừ, cần tránh ruộng quá ẩm, úng kéo dài, thường xuyên làm vệ sinh, làm cỏ, thu gom các lá già,… làm cho ruộng sạch, thông thoáng.

– Khi cần có thể dùng các thuốc:

+ Trừ bệnh thối nhũn: Zineb Bul 80WP, Macozeb 80WP, Ridomil MZ 72 WP, Anvil 5SC, Aliette 80WP, Curzate MB 72WP;

+ Trừ bệnh đốm lá, dùng thuốc: Score 250EC, Anvil 5SC, Rovral 50WP, Antracol 70WP.

+ Khi sử dụng phải theo đúng hướng dẫn bao bì của từng loại thuốc, thời gian cách ly không dưới 10 ngày.

—————–

6. Thu hoạch:

—————–

– Thu hoạch khi bắp cải cuộn chặt, loại bỏ lá gốc, lá bị bệnh, không ngâm nước, không làm giập nát.

————————————————————————————

(*) Đọc thêm về quy tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:

————————————————————————————

   Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để bảo vệ cây trồng, bảo vệ mùa màng là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong hệ thống các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp cho cây trồng. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất của người dân, hiện tượng lợi bất cập hại vẫn còn thường xuyên xẩy ra, gây ảnh hưởng xấu đến năng suất, sản lượng, thu nhập, bản thân, xã hội, môi trường…Vì vậy để nâng cao hiệu quả của công tác sử dụng thuốc BVTV để phòng và trị sâu bệnh cho cây trồng, chúng tôi xin giới thiệu cùng bà con về nguyên tắc 4 đúng như sau:

Trong hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV ngành BVTV thường hướng dẫn tuyên truyền nông dân phải áp dụng nguyên tắc 4 đúng gồm : Đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ liều lượng và đúng cách.

1. Nguyên tắc sử dụng đúng thuốc:

   Khi quyết định sử dụng thuốc BVTV cần phải biết rõ loài dịch hại cần tham khảo cán bộ chuyên môn BVTV hoặc ban nông nghiệp tại địa phương. Ưu tiên lựa chọn sử dụng các loại thuốc có tác động chọn lọc, có hiệu lực cao, thời gian cách ly ngắn và ít độc đối với sinh vật có ích, động vật máu nóng. Cần tìm hiểu kỹ xem loại thuốc định mua có an toàn với cây trồng sẽ được phun hay không đặc biệt chú ý khi mua và sử dụng thuốc trừ cỏ

   Thay đổi loại thuốc trong quá trình sử dụng, không nên sử dụng một loại thuốc trong thời gian dài hoặc từ năm này qua năm khác để ngăn ngừa hiện thượng quen thuốc, kháng thuốc của dịch hại .

2- Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng lúc

   Phun thuốc vào thời điểm dịch hại dễ bị tiêu diệt, phun ở giai đoạn tuổi nhỏ đối với sâu và ở giai đoạn đầu đối với bệnh . Phun vào lúc trời má, không có gió to để thuốc tiếp xúc bám dính tốt hơn trên bề mặt lá. Hạn chế phun lúc cây đang ra hoa, không phun thuốc khi trời nắng nóng sẽ làm giảm hiệu lực của thuốc hoặc trời sắp mưa có thể làm rửa trôi thuốc. Không phun thuốc vào thời điểm quá gần ngày thu hoạch (tuỳ thuộc vào thời gian cách ly của từng loại thuốc để xác định thời gian ngừng phun thuốc trước thu hoạch). Phun khi mật độ sâu, tỷ lệ bậnh đạt đến ngưỡng gây hại kinh tế (điều này cần có cán bộ kỹ thuật hướng dẫn xác định đối với từng loại sâu, bệnh ở từng thời kỳ và mức độ sinh trưởng phát triển của cây trồng).

3. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng nồng độ, liều lượng.

   Đúng nồng độ liều lượng ở đây bao gồm lượng thuốc và lượng nước trên đơn vị diện tích theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật. Không được tuỳ ý tăng nồng độ của thuốc cao sẽ gây hại cho người sử dụng, cây trồng, môi trường và làm tăng chi phí, hoặc phun ở nồng độ quá thấp sẽ làm cho dịch hại quen thuốc, kháng thuốc tạo nguy cơ bùng phát dịch.

4. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng cách .

   Về nguyên tắc này trước hết phải kể từ khâu pha thuốc. Khi quyết định sử dụng thuốc phải tính toán kỹ lượng thuốc và lượng nước cần sử dụng. Khi pha thuốc nên cho vào bình 1/3 – 1/2 lượng nước rồi cho nước vào rồi khuấy đều, sau đó tiếp tục cho đủ lượng nước còn lại vào khuấy kỹ để thuốc phân tán đều trong nước. Không tự ý hỗn hợp hay nhiều loại thuốc BVTV với nhau bởi khi hỗn hợp có trường hợp làm gia tăng hiệu lực thuốc song có nhiều trường hợp hỗn hợp sẽ giảm hiệu lực thuốc, hoặc dễ gây cháy nổ, độc hại cho cây trồng và cho người sử dụng. Do đó chỉ thực hiện hỗn hợp thuốc nếu có hướng dẫn trên nhãn thuốc hay hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và sau khi hỗn hợp phải sử dụng ngay.

(*) Lưu ý: 

    Thông thường chỉ nên phối trộn hai loại thuốc trong cùng một lần phun sẽ cho hiệu quả cao, đồng thời kiểm soát được tác hại ngược lại do quá trình phối trộn. Tuy nhiên, đa số bà con nông dân chưa hiểu rõ nguyên tắc phối trộn và tuỳ tiện phối trộn thuốc BVTV nên hiệu lực phòng trừ dịch hại thấp, ngoài ra còn gây ngộ độc cho cây trồng. Để giúp bà con sử dụng thuốc BVTV hiệu quả và an toàn đối với cây trồng chúng tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm như sau:

   Những nhóm thuốc bà con có thể pha trộn:

– Chỉ nên phối hợp các loại thuốc bảo vệ thực vật thuộc các nhóm gốc khác nhau thì hiệu quả mới cao như: thuốc nhóm lân phối hợp với nhóm các ba mát, lân + cúc, các ba mát + cúc, các ba mát + điều hòa sinh trưởng, thuốc vi sinh phối hợp với gốc lân

hoặc cúc.

– Chỉ nên phối hợp thuốc có các tác dụng khác nhau như (tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp, lưu dẫn.

– Chỉ nên phối hợp thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh, thuốc trừ sâu với thuốc trừ cỏ, trừ cỏ với phân bón.

– Không nên phối hợp thuốc trừ bệnh với phân bón qua lá hoặc chất điều hòa sinh trưởng,

– Không phối hợp thuốc trừ sâu vi sinh với thuốc trừ bệnh có nguồn gốc chất kháng sinh….

– Không phối hợp thuốc trừ sâu, trừ bệnh với các loại thuốc gốc đồng như Coc 85, Coper B. Vì thuốc gốc đồng thường có tính kiềm cao, trong khi đó thuốc trừ sâu, trừ bệnh lại có tính axit. Khi pha trộn với nhau chúng sẽ trung hòa làm giảm hiệu lực thuốc.

   Để biết chắc chắn hơn bà con nên lấy một ít thuốc nguyên chất pha với lượng tương đương thuốc loại kia trong một cốc sành, sứ, thủy tinh, nhựa, dùng que khuấy nhẹ cho hòa tan để trong 2 – 5 phút. Quan sát nếu thấy có hiện tượng kết tủa bên dưới, đóng váng trên bề mặt, bốc khói tỏa nhiệt, sủi bọt hoặc biến đổi màu bất thường thì không nên pha trộn các loại thuốc đó với nhau để phun cho cây trồng.

   Nếu đã khẳng định trộn được 2 loại thuốc với nhau thì trong quá trình pha chế, bà con nên lần lượt cho từng loại thuốc thứ nhất vào bình rồi cho nước vào khoảng nửa bình khuấy đều sau đó cho loại thuốc thứ 2 vào rồi tiếp tục thêm nước cho đầy bình đủ lượng nước mình cần. Lưu ý trước khi pha thuốc trong bình phải có một lượng nước vừa phải và không nên cho 2 loại thuốc vào cùng một lúc, nồng độ của mỗi loại phải giữ nguyên như khi dùng riêng rẽ. Sau khi pha phải phun ngay.

Để tránh hiện tượng quen thuộc đối với các loại dịch hại trên cây trồng, khi sử dụng bà con cần luân phiên các nhóm thuốc có gốc khác nhau.

   Khi phun thuốc tuỳ vào đặc điểm, vị trí gây hại của từng loại dịch hại để hướng vòi phun sao cho tia thuốc tập trung vào nơi định phun để thuốc tiếp xúc được nhiều nhất với dịch hại, không đi ngược chiều gió khi phun .

Như vậy để sử dụng thuốc BVTV, phòng trừ dịch hại đạt hiệu quả cao thì việc hiểu và tuân thủ các nguyên tắc trên là rất cần thiết. Kính mong mọi người lưu tâm và thực hiện tốt.

 Theo: Nhân Sang

Trạm KN Anh sơn

————————

Tài liệu tham khảo:

————————

– Báo nông nghiệp Việt Nam

– http://wikipedia.org

– http://khuyennong.gov.vn

– Cục trồng trọt: www.cuctrongtrot.gov.vn

– http://nghean.gov.vn

– Chi cục bảo vệ thực vật nghệ an

【#7】Tìm Hiểu Cây Ớt Và Kỹ Thuật Trồng An Toàn

Tìm hiểu CÂY ỚT CAY và kỹ thuật trồng an toàn cây ớt

Ảnh: Cây ớt

I. GIỚI THIỆU

    Ớt cay được xem là cây gia vị nên có mức tiêu thụ ít. Gần đây ớt trở thành một mặt hàng có giá trị kinh tế vì ớt không chỉ là gia vị tươi mà còn được sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu để bào chế các thuốc trị ngoại khoa như phong thấp, nhức mỏi, cảm lạnh hay nội khoa như thương hàn, cảm phổi, thiên thời… nhờ tính chất capsaicine chứa trong trái. Nhờ vậy nhu cầu và diện tích ớt ở nhiều nước có chiều hướng gia tăng.

    Ở Việt Nam việc canh tác ớt chưa được quan tâm, phần lớn canh tác lẻ tẻ, không đầu tư thâm canh cao nên năng suất thấp, thường chỉ đạt 800-1.000kg ớt tươi /1.000m2.

II. ĐẶC TÍNH SINH HỌC

– Rễ:

Ớt có rễ trụ, nhưng khi cấy rễ phân nhánh mạnh và cây phát triển thành rễ chùm, phân bố trong vùng đất cày là chính.

– Thân:

khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4-5 cạnh. Thân có lông hoặc không lông, cây cao 35-65 cm, có giống cao 125-135 cm. Ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đổi tùy theo điều kiện canh tác và giống.

– Lá:

Mọc đơn, đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông.

– Hoa:

Lưỡng phái, mọc đơn hoặc thành chùm 2-3 hoa. Hoa nhỏ, dài, hoa màu xanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn. Tràng hoa có 6-7 cánh màu trắng hoặc tím. Số nhị đực bằng số cánh hoa và mọc quanh nhụy cái. Phần trong cánh hoa có lỗ tiết mật.

   Hoa ớt có thể tự thụ phấn hay thụ phấn chéo do côn trùng vì ớt thuộc loại tiền thư, thụ phấn chéo có ý nghĩa lớn ở ớt cay, tỷ lệ thụ phấn chéo từ 10-40 % tùy giống, do đó cần chú ý trong công tác để giống và giữ giống thuần.

– Trái:

Trái có 2-4 thùy, dạng trái rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón, bề mặt trái có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẵn; trái khi chín có màu đỏ đen vàng; trái không cay hay rất cay.

Chiều dài và dạng trái đóng vai trò quan trọng trong việc chọn giống ớt xuất khẩu dưới dạng quả khô. Ớt quả khô nguyên trái phải dài hơn 9 cm và khi khô không rời cuống. Việc chế biến ớt bột không đòi hỏi tiêu chuẩn về kích thước và dạng trái nhưng yêu cầu về màu sắc, độ cay và tỷ lệ tươi/khô khi phơi; ớt trái to ở nước ta có tỷ lệ tươi/khô là 6,5:1 trong khi ớt trái nhỏ có tỷ lệ này là 8:1. Trái chưá nhiều hạt tròn dẹp, nhỏ có màu nâu sáng,

   Ớt là cây chịu nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng là 18-30oC. Nhiệt độ cao trên 32oC và thấp dưới 15oC. Cây tăng trưởng kém và hoa dễ rụng. Ớt là cây không quang cảm, tuy nhiên trong điều kiện ngày ngắn các giống ớt cay phát triển tốt và cho năng suất cao. Ớt chịu đựng được điều kiện che rợp đến 45%, nhưng che rợp nhiều hơn ớt chậm trổ hoa và rụng nụ.

III. GIỐNG

Hiện nay nhiều nơi vẫn canh tác giống địa phương là chính. Giống trồng phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miền Trung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi. Ngoài ra Viện Nghiên Cứu NN Hà Nội công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa (1987), điều này chứng minh nguồn giống ớt phong phú, đa dạng chưa được biết đến ở nước ta. Tuy nhiên giống địa phương bị lai tạp nên thoái hóa, quần thể không đồng đều và cho năng suất kém, trong khi các giống F1 có khả năng cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao nên bắt đầu được ưa chuộng và đang thay thế dần các giống địa phương.

1. Giống lai F1:

Giống Chili (công ty Trang Nông phân phối): Trái to, dài 12-13 cm, đường kính trái 1,2-1,4cm; trọng lượng trung bình trái 15-16 gram, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, cứng, cay trung bình, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Cây cao trung bình 75-85 cm, sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt v

à cho năng suất cao.

Giống số 20 (công ty Giống Miền Nam phân phối): sinh trưởng mạnh, phân tán lớn, ra nhiều hoa, dễ đậu trái, bắt đầu cho thu hoạch 85-90 ngày sau khi cấy, cho thu hoạch dài ngày và chống chịu tốt bệnh virus. Trái ớt chỉ địa dài 14-16 cm, thẳng, ít cay, trái cứng nên giữ được lâu sau thu hoạch, năng suất 2-3 tấn/1.000m2.

Giống TN 16 (công ty Trang Nông phân phối): Cho thu hoạch 70-75 ngày sau khi gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4-5 cm, đường kính 0,5-0,6cm, trọng lượng trung bình 3-4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh trưởng tốt quanh năm.

Giống Hiểm lai 207 (công ty Hai Mũi Tên Đỏ phân phối): Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-3 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/cây, chống chịu khá bệnh thán thư.

2. Giống địa phương:

Giống Sừng Trâu: Bắt đầu cho thu hoạch 60-80 ngày sau khi cấy. Trái màu đỏ khi chín, dài 12-15 cm, hơi cong ở đầu, hướng xuống. Năng suất 8-10 tấn/ha, dễ nhiễm bệnh virus và thán thư trên trái.

Giống Chỉ Thiên

Giống Chỉ Thiên: Bắt đầu cho trái 85-90 ngày sau khi cấy. Trái thẳng, bóng láng, dài 7-10 cm, hướng lên, năng suất tương đương với ớt Sừng nhưng trái cay hơn nên được ưa chuộng hơn.

Giống Ớt Hiểm: Cây cao, trổ hoa và cho trái chậm hơn 2 giống trên nhưng cho thu hoạch dài ngày hơn nhờ chống chịu bệnh tốt. Trái nhỏ 3-4 cm nên thu hoạch tốn công, trái rất cay và kháng bệnh đén trái tốt nên trồng được trong mùa mưa.

IV. KỸ THUẬT TRỒNG

1. Thời vụ

    Ở đồng bằng sông Cửu Long ớt có thể trồng quanh năm, tuy nhiên trong sản xuất thường canh tác ớt vào các thời vụ sau:

Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12-1 dl và kéo dài đến tháng 4-5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên đất bờ líp cao không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài, tuy nhiên diện tích canh tác vụ này không nhiều.

Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10-11, trồng tháng 11-12, bắt đầu thu hoạch tháng 2-3 dl. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh.

Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5 trồng tháng 5-6 thu hoạch 8-9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn giống kháng bệnh thán thư.

2. Chuẩn bị cây con

   Lượng hạt giống gieo đủ cấy cho 1.000m2 từ 15-25 gram (150-160 hột/g). Diện tích gieo ương cây con là 250 m2. Chọn đất cao ráo hay làm giàn cách mặt đất 0,5-1 m, lót phên tre hay lá chuối rồi đổ lên trên một lớp đất, phân, tro dày 5-10 cm rồi gieo hạt. Cách này dễ chăm sóc cây con và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc phá hại. Cũng có thể gieo hạt thẳng vào bầu hay gieo theo hàng trên líp ương. Hạt ớt thường nẩy mầm chậm, 8-10 ngày sau khi gieo mới mọc khỏi đất, cây con cấy vào lúc 30-35 ngày tuổi, có sử dụng màng phủ cây con nên cấy sớm lúc 20 ngày tuổi.

3. Cách trồng:

    Đất trồng ớt phải được luân canh triệt để với cà chua, thuốc lá và cà tím. Trồng mùa mưa cần lên líp cao vì ớt chịu úng kém. Khoảng cách trồng thay đổi tùy thời gian dự định thu hoạch trái, nếu ăn trái nhanh (4-5 tháng sau khi trồng) nên trồng dày, khoảng cách trồng 50 x (30-40) cm, mật độ 3.500-5.000 cây/1.000m2; nếu muốn thu hoạch lâu nên trồng thưa, 70 x (50-60) cm, mật độ 2.000-2.500 cây/1.000m2.

4. Sử dụng màng phủ nông nghiệp (bạt plastic)

4.1 Mục đích:

a. Hạn chế côn trùng và bệnh hại: Mặt màu bạc của màng phủ phản chiếu ánh sáng mặt trời nên giảm bù lạch, rầy mềm, giảm bệnh do nấm tấn công ở gốc thân và đốm trên lá chân

b. Ngăn ngừa cỏ dại: Mặt đen của màng phủ ngăn cản ánh sáng mặt trời, làm hạt cỏ bị chết trong màng phủ.

c. Điều hoà độ ẩm và giữ cấu trúc mặt đất: Màng phủ ngăn cản sự bốc hơi nước trong mùa nắng, hạn chế lượng nước mưa nên rễ cây không bị úng nước, giữ độ ẩm ổn định và mặt đất tơi xốp, thúc đẩy rễ phát triển, tăng sản lượng.

d. Giữ phân bón: Giảm rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặc mưa to, ít bay hơi nên tiết kiệm phân.

e. Tăng nhiệt độ đất: Giữ ấm mặt đất vào ban đêm (mùa lạnh) hoặc thời điểm mưa dầm thiếu nắng mặt đất bị lạnh.

f. Hạn chế độ phèn, mặn: Màng phủ làm giảm sự bốc hơi qua mặt đất nên phèn, mặn được giữ ở tầng đất sâu, giúp bộ rễ hoạt động tốt hơn.

4.2 Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp

– Vật liệu và qui cách: Dùng 2 cuồn màng phủ khổ rộng 0.9-1m trồng ớt hàng đơn, còn hàng đôi 1,5 cuồn màng khổ 1,2-1,4 m, diện tích vải phủ càng rộng thì hiệu quả phòng trừ sâu bệnh càng cao. Chiều dài mỗi cuồn màng phủ là 400 m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống.

– Lên liếp: Lên liếp cao 20-40 cm tùy mùa vụ, mặt liếp phải làm bằng phẳng không được lồi lõm vì rễ khó phát triển và màng phủ mau hư, ở giữa liếp hơi cao hai bên thấp để tiện việc tưới nước.

– Rãi phân lót: Liều lượng cụ thể hướng dẫn bên dưới, nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì màng phủ hạn chế mất phân và không bị cỏ dại canh tranh. Có thể giảm bớt 20% lượng phân so với không dùng màng phủ.

– Xử lý mầm bệnh: Phun thuốc trừ nấm bệnh như Oxyt đồng hoặc Copper B (20 g/10 lít) hoặc Validacin (20 cc/10lít) đều trên mặt liếp trước khi đậy màng phủ.

– Đậy màng phủ: Mùa khô nên tưới nước ngay hàng trồng cây trước khi đậy màng phủ. Khi phủ kéo căng vải bạt, hai bên mép ngoài được cố định bằng cách dùng dây chì bẻ hình chữ U mỗi cạnh khoảng 10 cm ghim sâu xuống đất (dây chì sử dụng được nhiều năm) hoặc dùng tre chẻ lạc ghim mé liếp.

5. Bón phân: (tương tự cà chua)

Tùy theo loại đất, mức phân bón trung bình toàn vụ cho 1.000m2 như sau:

20 kg Urea + 50 kg Super lân + 20 kg Clorua kali + 12 kg Calcium nitrat + (50-70) kg 16-16-8 + 1 tấn chuồng hoai + 100 kg vôi bột, tương đương với lượng phân nguyên chất (185-210N)-(150-180P2O5)-(160-180K2O) kg/ha.

* Bón lót: 50 kg super lân, 3 kg Clorua kali, 2 kg Calcium nitrat, 10-15 kg 16-16-8, 1 tấn phân chuồng và 100 kg vôi. Vôi rải đều trên mặt đất trước khi cuốc đất lên liếp, phân chuồng hoai, lân rãi trên toàn bộ mặt liếp xới trộn đều. Nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì phân nằm trong màng phủ ít bị bốc hơi do ánh nắng, hay rửa trôi do mưa.

* Bón phân thúc:

Lần 1: 20-25 ngày sau khi cấy (giống thấp cây) và 20 ngày sau khi cấy (giống cao cây). Số lượng 4 kg Urê, 3 kg Clorua kali, 10 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat. Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân một bên hàng cà hoặc đục lổ màng phủ giữa 2 gốc cà.

Lần 2: 55-60 ngày sau khi cấy, khi đã đậu trái đều.

Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại cà hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

Lần 3: Khi cây 80-85 ngày sau khi cấy, bắt đầu thu trái.

Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

Lần 4: Khi cây 100-110 ngày sau khi cấy, thúc thu hoạch rộ (đối với ớt sừng dài ngày).

Lượng bón: 4 kg Urê, 4 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

Chú ý:

Ớt thường bị thối đuôi trái do thiếu canxi, do đó mặc dù đất được bón vôi đầy đủ trước khi trồng hoặc bón đủ Calcium nitrat nhưng cũng nên chú ý phun bổ sung phân Clorua canxi (CaCl2) định kỳ 7-10 ngày/lần vào lúc trái đang phát triển để ngừa bệnh thối đuôi trái..

Nếu không dùng màng phủ, nên chia nhỏ lượng phân hơn và bón nhiều lần để hạn chế mất phân.

Nhằm góp phần tăng năng suất và phẩm chất trái, nhất là trong mùa mưa có thể dùng phân bón lá vi lượng như MasterGrow, Risopla II và IV, Miracle,… Bayfolan, Miracle… phun định kỳ 7-10 ngày/lần từ khi cấy đến 10 ngày trước khi thu hoạch.

6. Chăm sóc:

6.1 Tưới nước:

Ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và phát triển trái mạnh. Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít. Nếu khô hạn kéo dài thì tưới rảnh (tưới thấm) là phương pháp tốt nhất, khoảng 3-5 ngày tưới/lần. Tưới thấm vào rãnh tiết kiệm nước, không văng đất lên lá, giữ ẩm lâu, tăng hiệu quả sử dụng phân bón. Mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để nước ứ đọng lâu.

Tưới thấm và tưới nhỏ giọt

6.2 Tỉa nhánh:

   Thông thường các cành nhánh dưới điểm phân cành đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng. Các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng

6.3 Làm giàn:

Giàn giữ cho cây đứng vững, để cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu trái. Giàn được làm bằng cách cắm trụ cứng xung quanh hàng ớt dùng dây chì giăng xung quanh và giăng lưới bên trong hoặc cột dây nilong lúc cây chuẩn bị trổ hoa.

7. Phòng trị sâu bệnh

7.1 Sâu hại

::

– Rầy lửa, bọ trỉ, bù lạch (Thrips sp.)

– Thành trùng và ấu trùng rất nhỏ có màu trắng hơi vàng, sống tập trung trong đọt non hay mặt dưới lá non, chích hút nhựa cây làm cho đọt non bị xoăn lại. Thiệt hại do bọ trĩ, bọ dưa có liên quan đến bệnh siêu trùng.

– Bù lạch có tính kháng thuốc rất cao, nên định kỳ 7-10 ngày/lần phun dầu khoáng DC-Tron plus (Caltex) sẽ giảm đáng kể sự tấn công của bù lạch; khi thấy mật số vài ba con trên một đọt non cần phun một trong các loại như Confidor 100SL, Admire 50EC, Danitol 10EC, Vertimec…0.5-1%o, cần thay đổi thuốc thường xuyên.

– Sâu xanh đục trái (Heliothis armigera): Thành trùng là bướm đêm, kích thước to, thân mập nhiều lông, cánh màu vàng sáng, giửa cánh có một chấm đen to và một chấm trắng nằm cạnh nhau. Trứng đẻ thành ổ có phủ lông vàng; một bướm cái đẻ 200-2000 trứng. Âu trùng là sâu có nhiều lông, màu sắc thay đổi từ màu hồng, xanh, xanh vàng đến nâu đen theo môi trường sống. Sâu ở phía ngòai thò đầu vào bên trong phá hại búp non, nụ hoa, cắn điểm sinh trưởng, đụt thủng quả từ khi còn xanh cho đến lúc gần chín làm thối trái. Nhộng màu nâu đỏ nằm trong lá khô hoặc trong đất.

– Bọ phấn trắng (Bemisia tabaci): Thành trùng màu trắng bóng, dài 3-4 mm, bay chậm, hình dáng giống như bướm. Âu trùng rất giống rệp dính, màu trắng trong, được phủ một lớp sáp, ít bò, thường cố định một chổ chích hút mô cây. Trứng, ấu trùng và thành trùng luôn luôn hiện diện ở mặt dưới lá trên các loại cây ăn trái, bầu bí, dưa, cà, ớt, bông vãi, thuốc lá. Ấu trùng và thành trùng đều chích hút làm lá biến vàng, cây mau suy yếu, giảm năng suất và truyền bệnh siêu trùng như rầy mềm. Bọ phấn trắng phát triển nhanh trong điều kiện nóng và khô, rất dễ quen thuốc khi phun ở nồng độ cao, hoặc phun thường xuyên định kỳ.

   Trong tự nhiên có nhiều loài ong ký sinh trên ấu trùng bọ phấn trắng. Thuốc hiệu quả là Admire, Confidor, phun ở mặt dưới lá.

– Rầy nhớt, rầy mềm (Aphis spp.)

Còn được gọi là rầy mật, cả ấu trùng lẫn thành trùng đều rất nhỏ, dài độ 1-2mm, có màu vàng, sống thành đám đông ở mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa làm cho ngọn dây dưa chùn đọt và lá bị vàng. Rầy truyền các loại bệnh siêu vi khuẩn như khảm vàng. Chúng có rất nhiều thiên địch như bọ rùa, dòi, kiến, nhện nấm.. nên chỉ phun thuốc khi nào mật số quá cao ảnh hưởng đến năng suất. Phun các loại thuốc phổ biến rầy mềm như Trebon, Bassa.

d- Sâu ăn tạp, sâu ổ, sâu đàn (Spodoptera litura)

– Sâu non lúc nhỏ sống tập trung ở mặt dưới phiến lá nên gọi là sâu ổ, khi lớn lên phân tán dần, mình có màu xám với khoan đen lớn ở trên phía lưng sau đầu, ăn lủng lá có hình dạng bất định, hoặc cắn đứt ngang thân cây con. Sau đó sâu thường chui vào sống trong đất, ẩn dưới các kẻ nứt hay rơm rạ phủ trên mặt đất, nhộng ở trong đất.

– Nên làm đất kỹ trước khi trồng vụ sau để diệt sâu và nhộng còn sống trong đất, xử lý đất bằng thuốc hạt. Có thể ngắt bỏ ổ trứng hay bắt sâu non đang sống tập trung.

Nên thay đổi loại thuốc thường xuyên, phun vào giai đoạn trứng sắp nở sẽ cho hiệu quả cao: Sumicidin 10EC, Cymbus 5EC, Karate 2.5EC, Decis 2.5 EC… 1-2%o có thể pha trộn với Atabron 5EC từ 2-3 cc/bình xịt 8 lít.

7.2 Bệnh hại:

– Bệnh héo cây con: Do nấm Rhizoctonia solani, Phythophthora sp., Pythium sp. Bệnh thường gây hại cây con trong líp ương hoặc sau khi trồng khoảng một tháng tuổi. Vết bệnh thường xuất hiện ở phần thân ngay trên mặt đất, nấm tấn công vào gốc làm gốc cây bị thối nhũn và cây bị gãy gục, phần cây bên trên vết bệnh vẫn còn tươi xanh, sau đó cây mới bắt đầu héo. Bệnh phát triển mạnh khi ẩm độ cao, nấm lưu tồn trên thân luá, rơm rạ, cỏ dại, lục bình, hạch nấm tồn tại trong đất sau mùa gặt lúa.

– Phun, Validacin 5L, Anvil 5SC, Rovral 50WP, Ridomil 25 WP 1-2%o; Copper -B 2-3%o, Tilt super 250 ND, Bonanza 100 (các loại thuốc trị bệnh đốm vằn trên luá đều trị được bệnh này)

– Bệnh héo chết cây do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum, nấm Fusarium oxysporum, F. lycopersici, Sclerotium sp.: Bệnh thường gây hại khi cây đã trưởng thành, hoặc khi cây bắt đầu mang trái. Đầu tiên các lá ngọn bị héo vào buổi trưa, và tươi lại vào buổi chiều mát, sau vài ngày cây bệnh chết hẳn, không còn khả năng hồi phục, bộ rễ không phát triển.

Đối với bệnh do vi khuẩn cần nhổ và tiêu hủy cây bệnh; dùng vôi bột rãi vào đất, hoặc Starner, New Kasuran, Copper Zin C tưới nơi gốc cây hay phun ngừa bằng Kasumin. Đối với nấm cần phát hiện sớm, phun ngừa hoặc trị bằng thuốc Copper B, Derosal, Appencarb super, Ridomil, Score.

– Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum sp. Bốn loài Colletotrichum được tìm thấy trên ớt là: C. gloesporiodes, C. capsici (2 loài quan trọng nhất), C. acertatumC. coccodes. Bệnh thường gây hại trên trái đang hay đã chín trong điều kiện có mưa nhiều, hoặc ẩm độ không khí cao. Vết bệnh lúc đầu hình tròn, úng nước, hơi lõm xuống, sau đó lan

dần ra, tâm vết bệnh có màu nâu đen, viền màu nâu xám, bên trong có nhiều vòng đồng tâm và có những chấm nhỏ li ti màu đen nhô lên cao. Bệnh gây hại chủ yếu trên trái làm trái mất thương phẩm. Ở đồng bằng sông Cửu Long bệnh phát triển và lây lan mạnh vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 7, 8, 9 dl. Nấm bệnh tồn tại rất lâu trong đất, trên cây và trong hạt cây bệnh.

     Các thuốc Copper B, Manzate, Mancozeb, Antracol, Ridomil được sử dụng rộng rãi để trừ bệnh này. Tuy nhiên, bệnh khó phòng trị trong mùa mưa và vì bịnh chỉ xuất hiện rất trễ khi trái chín. Hiện nay biện pháp trồng giống kháng bệnh như ớt hiểm trong mùa mưa là kinh tế nhất.

– Bệnh héo muộn do nấm Phytophthora infestan: Bệnh gây hại trên thân, lá và trái. Vết bệnh lúc đầu có màu xanh úng nước, sau đó chuyển sang màu nâu đen. Nếu trời ẩm bên dưới vết bệnh có tơ màu trắng bao phủ; nếu thời tiết khô thì vết bệnh khô dòn, dễ vở. Bệnh thường xuất hiện ở cuống trái, bệnh nặng làm trái dễ rụng.

Không trồng ớt liên tục nhiều năm trên cùng một ruộng. Phun trị khi bệnh xuất hiện với các loại thuốc Aliette, Manzate, Mancozeb, Curzate.

V. THU HOẠCH VÀ ĐỂ GIỐNG

    Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh. Ơt cay cho thu hoạch 35-40 ngày sau khi trổ hoa, ở các lứa rộ thu hoạch ớt mỗi ngày, bình thường cách 1-2 ngày thu 1 lần, nếu chăm sóc tốt năng suất trái đạt 20-30 tấn/ha.

    Làm giống nên chọn cây tốt, cách ly để tránh lai tạp làm giảm giá trị giống sau này. Chọn trái ở lứa thu hoạch rộ, để chín chín hoàn toàn trên cây, hái về để chín thêm vài ngày rồi mổ lấy hạt, phơi thật khô, để vào chai lọ kín và để nơi khô ráo. Hạt ớt chứa nhiều chất béo, do đó hạt khô thường hút nước lại và gia tăng ẩm độ, vì vậy trữ hạt ở điếu kiện nóng ẩm (ẩm độ trữ hơn 70% và nhiệt độ 20oC) hạt mất khả năng nẩy mầm 50% trong thời gian 3 tháng và mất khả năng nẩy mầm hoàn toàn trong thời gian 6 tháng. Trữ hạt trong điều kiện khô, kín (ẩm độ 20%, nhiệt độ là 25oC), hạt khô (ẩm độ 5%) có thể giữ độ nẩy mầm 80% trong 5 năm.

    Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thuận lợi cho việc canh tác ớt và khả năng xuất khẩu ớt thu ngoại tệ cũng không nhỏ. Tuy nhiên để thực hiện được điều đó cần chú ý những điểm như sau:

– Các giống ớt địa phương hiện trồng có năng suất còn thấp và tỷ lệ ớt tươi/khô cũng thấp.

– Ớt xuất khẩu thường ở dạng khô. Phương pháp làm ớt khô bắng cách phơi ớt tươi trực tiếp ngoài nắng thường làm ớt mất màu, không phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu. Ngoài ra việc phơi nắng kéo dài trong 10-20 ngày tạo điều kiện cho bệnh đén trái tiếp tục phát triển trong thời gian phơi và làm mất phẩm chất ớt.

    Ớt xuất khẩu và dùng trong chế biến thực phẩm còn đòi hỏi các tiêu chuẩn như độ cay, mùi hương mà các giống trồng hiện chưa đáp ứng được. Do đó cần chú ý công tác chọn tạo giống và kỹ thuật chế biến ớt, bảo đảm tiêu chuẩn xuất khẩu thì cây ớt mới có giá trị kinh tế cao.

【#8】Kỹ Thuật Trồng Hẹ Thùng Xốp Hiệu Quả Cao

Cây hẹ là một loại rau ăn lá phổ biến, được nhà nông trồng nhiều vì vốn đầu tư thấp nhưng hiệu qủa kinh tế cao hơn các loại rau ăn lá khác.

Kỹ thuật trồng hẹ thùng xốp hiệu quả cao

– Cây hẹ dễ trồng và ít phải chăm sóc, gieo một lần có thể thu hoạch nhiều lần, cây phát triển xanh tốt quanh năm, vừa cho lá để ăn vừa có thể dùng làm thuốc những khi cần thiết. Lá hẹ có thể thay thế cho lá hành, thường dùng để muối chua với giá đậu, ăn sống.

– Cây hẹ là cây thân thảo, cây giống một loại cỏ, thường có chiều cao khoảng 20-50 cm tùy đất và mùa vụ. Cây hẹ có mùi đặc biệt, giò hẹ nhỏ hơn giò hành, dài, mọc thành túm và có rất nhiều rễ con.

– Lá hình dẹp, dài, bản lá hẹp, nhưng dày. Cây hẹ thường có 4-5 lá, dài 10-30 cm, rộng 1,5-10 mm, đầu lá nhọn. Hoa hẹ mọc trên 1 cọng hoa kéo dài hơn. Các hoa tụ lại thành hình xim nhưng co ngắn lại thành một tán giả. Cọng hoa có hình gần giống 3 cạnh. Hoa màu trắng, cuống hoa dài trên 10 mm. Trái hẹ khi khô dài 4-5 mm có đường kính trái khoảng 3-4 mm. Hạt nhỏ, màu đen, cây hẹ thường ra hoa vào tháng 6-8, cho trái từ tháng 8-10.

– Cây hẹ cũng thuộc họ hành tỏi (Liliaceae), có các đặc tính sinh học giống như hành và tỏi. Ưa nhiệt độ mát (20-25 độ C), ánh sáng mạnh. Bộ rễ ăn nông, khả năng chịu hạn và chịu úng kém. Bộ phận sử dụng gồm cả củ, lá và hoa.

1/ Giống:

– Hẹ có thể trồng bằng hạt hoặc bằng thân, tuy nhiên đa số nhà nông trồng bằng thân.

– Có 2 giống chính:

+ Giống lá lớn: là giống được trồng nhiều với diện tích lớn vì năng suất cao nhưng phẩm chất kém.

+ Giống lá nhỏ: chất lượng cao nhưng năng suất thấp, diện tích trồng ít.

– Trồng tại nhà: hay chọn giống lá nhỏ để trồng.

2/ Thời Vụ:

– Trồng được quanh năm. Tuy nhiên, nó hay được trồng vào tháng 10, 11 để thu hoạch vào dịp tết, đạt hiệu quả cao.

3/ Đất:

– Chọn đất: đất tơi xốp, thoáng khí, màu mỡ, tốt nhất là đất thịt, thịt pha cát, đất phải chủ động được hệ thống tưới và tiêu nước tốt. Sau khi trồng được 12 tháng thì phá bỏ gốc, lật đất lên, lấy tầng lớp dưới lên trên làm đất trồng lứa mới.

– Làm đất: đất sau khi cày xới, lượm sạch cỏ, xử lý vôi 0,3-0,5 kg/thùng xốp, đất được phơi ải ít nhất 5-7 ngày để hạn chế sâu bệnh, nấm hại.

4, Cách trồng:

– Thùng xốp hoặc chậu trồng dùng để trồng hẹ phải đục lỗ thoát nước bên sườn, tốt nhất nên làm loại thùng @ cải tiến, có nhiều ưu điểm dùng để trồng cây tại nhà, hiệu quả cao.

– Hẹ được tách ra từng tép, trồng mỗi bụi từ 3-4 tép tuỳ theo diện tích trồng, khoảng cách tối thiểu 10 x 10cm, trước khi trồng phủ lên một lớp rơm mỏng để giúp cây cứng cáp, khó đổ khi gặp gió.

– Nếu trồng bằng hạt thì phải làm đất thật mịn, tơi xốp, đất phải có độ phì cao, tốt nhất nên dùng đất phù sa, có hàm lượng chất hữu cơ khoảng 1,5%. Để đảm bảo hạt nẩy mầm đều, cần ngâm hạt trong nước ấm 2 sôi 3 lạnh (khoảng 40 độ C) trong 2h, để ráo nước đem reo. Tưới ẩm phun sương cho hạt, giữ ẩm đều sau khoảng 3 – 7 ngày hạt nẩy mầm.

5/ Phân bón:

– Sử dụng phân chuồng hoai mục hoặc phân cá ủ hoai, lượng bón cho mỗi thùng xốp 40 lít khoảng 3-5 kg. Nếu không có phân chuồng có thể thay thế bằng phân trùn quế hoặc phân hữu cơ vi sinh, bón mỗi thùng ít nhất 3 kg.

– Ngoài ra để đạt hiệu quả cao nên bón thêm đạm, lân và kali cho cây theo liều lượng: 1:0,5:0,25

Chuẩn bị 1 hỗn hợp gồm: 1 thìa cà phê lân trộn đều với 1/2 thìa cà phê đạm trộn tiếp với 1/4 thìa cà phê kali: pha với 20 lít nước, tưới đều. Tuần tưới 1 lần.

– Nếu không muốn sử dụng phân hoá học có thể sử dụng nước tiểu (NH3) ngâm ủ 1 tuần trở lên, pha loãng để bổ sung đạm cho cây phát triển.

– Cách bón:

+ Bón lót: toàn bộ phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh vào giai đoạn đầu.

+ Bón thúc:

Lần 1: 7-10 ngày sau khi trồng, bón hỗn hợp phân đạm, lân, kali ở trên.

Lần 2: 30 ngày sau khi trồng, bón hỗn hợp trên với nồng độ đậm hơn 1:0,5:0,25 đạm, lân, kali pha với 10 lít nước.

6/ Chăm sóc:

– Công việc chăm sóc cho hẹ là bón phân, vun gốc, nhổ tỉa và trồng dặm.

– Nên dùng màng phủ nông nghiệp (polyetylen) để hạn chế tối đa cỏ dại.

7/ Phòng trừ sâu bệnh:

– Sâu ăn lá, ruồi đục lá, sử dụng thuốc Karate, Padan.

– Bệnh thối nhũn, tiêm lửa: nhổ bỏ cây bệnh.

8/ Thu hoạch:

– Đợt 1: 55-60 ngày sau khi trồng

– Đợt 2: 30-35 ngày sau khi thu hoạch đợt 1

– Đợt 3,4,5,6: cách nhau 30-35 ngày.

9/ Để giống:

– Để giống bằng thân:

Luống hẹ được nhổ tỉa cây để ăn, chừa lại cây khỏe mọc đều theo khoảng cách cây cách cây 12 đến 15 cm, sau đó bón thêm phân lân, tro bếp, bánh dầu, vun nhẹ gốc, tưới nước, chăm sóc để hẹ có củ to, mập. Khi cần trồng hẹ gấp có thể nhổ cây, vặt bớt lá đem trồng như đã nói ở trên.

Hoặc chờ hẹ có củ chắc, lá tàn bớt, nhổ cả cây buộc túm, treo trên dây, phơi trong bóng râm, sau phơi ngoài nắng, rồi đem bảo quản để trồng vụ sau. Cần kiểm tra củ thường xuyên vì hẹ có thể bị thối củ trong quá trình bảo quản. Trường hợp phát hiện có thối củ, cần loại bỏ, đem hẹ phơi ngoài nắng 5 đến 6 giờ lại đem vào bảo quản, chú ý không để thành đống to, nhiệt độ cao dễ thối.

– Để giống bằng hạt:

Cũng để cây hẹ tốt trên liếp, chăm sóc cho hẹ ra hoa, kết trái, thu trái về, chà lấy hạt (chỉ chà nhẹ bỏ bớt vỏ ngoài) phơi khô ở nhiệt độ 35-40oC, để nguội, cho vào chai lọ, đậy kín để gieo vụ sau.

Công dụng chữa bệnh của hẹ:

– Cây hẹ – tên khoa học: Allium tuberosum Rotller ex Spng, thuộc họ Hành – Alliaceae.

– Mô tả: Cây thảo nhỏ sống nhiều năm, cao 20-50cm, có thân mọc đứng, hình trụ hoặc có góc ở đầu. Lá ở gốc thân, hình dải phẳng hẹp, có rãnh, dài 15-30cm, rộng 1,5-7mm. Hoa trắng mọc thành tán ở đầu một cán hoa dài 20-30cm hay hơn. Tán gồm 20-40 hoa có mo bao bọc, 3-4 lẩn ngắn hơn tán hoa; bao hoa màu trắng, gồm nhiều phiến thuôn mũi mác. Quả nang, hình trái xoan ngược chia ra 3 mảnh; 6 hạt nhỏ, màu đen.

– Hoa nở vào tháng 7-8, quả đậu vào tháng 8-9.

– Bộ phận dùng: Hạt – Semen Alli Tuberosi, thường gọi là Cửu thái tử. Toàn cây cũng được dùng.

– Nơi sống và thu hái: Cây của vùng Đông Á ôn đới, được trồng rộng rãi làm rau ăn ở miền núi, trung du và đồng bằng. Thường trồng bằng củ tách ở cây đã tàn lụi. Có thể trồng vào mùa xuân, hoặc thu đông là tốt nhất. Ta thường thu hái rau hẹ quanh năm, thường dùng tươi. Còn quả chín, phải chờ mùa thu đông, lấy về phơi khô, đập lấy hạt.

– Thành phần hóa học: Trong cây hẹ có hợp chất sulfur, saponin, chất đắng và hoạt chất adorin có tác dụng kháng khuẩn và vitamin C.

– Tính vị, tác dụng: Hạt có vị cay, ngọt, tính ấm, có tác dụng ôn trung, trợ vị khí, điều hoà tạng phủ, hạ nghịch khí, cố thận tinh, tán ứ huyết. Rau Hẹ có vị cay đắng chua mà sít, lại mạnh cho khí và thêm cho dương sự, lại cầm máu, vít tinh.

– Công dụng, chỉ định và phối hợp: Hạt Hẹ dùng chữa chứng mộng tinh, Di tinh, đái ra huyết, lưng gối mỏi, tả và chứng đàn bà bạch đới và ỉa chảy. Còn dùng chữa viêm tiền liệt tuyến. Liều dùng 6-12g. Cây Hẹ dùng trị cơn hen suyễn nặng, đờm chặn khó thở, chứng ra mồ hôi trộm, sưng cổ họng khó nuốt, đổ máu cam, lỵ ra máu, viêm mũi, viêm tiền liệt tuyến. Ngày dùng 20-30g giã nát, thêm nước, gạn uống. Dùng ngoài, lấy nước Hẹ nhỏ tai trị viêm tai giữa. Rễ Hẹ là vị thuốc tẩy giun kim rất nhẹ nhàng và hiệu nghiệm.

Đơn thuốc:

1. Cổ họng khó nuốt: Dùng 12-24g lá Hẹ giã tươi lấy nước uống.

2. Yết hầu sưng đau: Hẹ toàn cây một nắm, muối một cục đâm vắt nước nuốt lần lần.

3. Viêm tai giữa: Giã Hẹ tươi lấy nước nhỏ tai.

4. Côn trùng bò vào tai: Lá Hẹ đâm vắt lấy nước nhỏ vào tai ít giọt, côn trùng sẽ bò ra.

5. Hen suyễn nguy cấp: Lá Hẹ, một nắm, sắc uống.

6. Đổ máu cam, lỵ ra máu: Củ hoặc lá Hẹ giã tươi lấy nước uống.

7. Ho trẻ em: Lá Hẹ hấp với đường đặt trong nồi cơm hoặc đun cách thuỷ lấy nước cho uống.

8. Giun kim: Sắc lá Hẹ hoặc rễ Hẹ lấy nước uống.

9. Di tinh: Hẹ và Gạo nếp, hai thứ đều nhau, hiệp chung nấu cháo nhừ, phơi sương một đêm, ăn lúc sáng sớm, ăn luôn một lúc. Hoặc dùng hạt Hẹ ăn mỗi ngày 20 hạt lúc đói với nước muối mặn mặn, hoặc chưng chín ăn.

10. Sản hậu chóng mặt bất tỉnh: Củ Hẹ, Hành tăm, đều 12g, đâm nát hoà ít giấm, để lên cục gạch nướng đỏ, xông hơi.

Các món ăn từ hẹ:

1. Bánh nhân hẹ

– Lá hẹ 200 g, đậu phụ 100 g, bột mì 500 g, miến 50 g ngâm cắt vụn, rau hẹ thái nhỏ, đậu thái quân cờ.

– Xào khô già với nước tương, muối, bột ngọt, hành, gừng, dầu vừng trộn đều viên làm nhân. Bột mì nhồi làm viên rồi cán mỏng, bọc nhân chưng chín.

2. Chế biến làm các món xào

– Hẹ 200 g cắt đoạn dài, xào với giá đậu xanh.

– Hẹ xào tôm nõn tươi: Lá hẹ 200 g, tôm nõn 200 g, xào ăn.

– Hẹ xào gan dê: Lá hẹ 150 g, gan dê 150 g. Có tác dụng làm sáng mắt.

– Hẹ xào lươn: Lươn 500 g lọc bỏ xương, cắt đoạn xào qua, thêm gia vị, gừng, tỏi và nước, vừa cạn cho thêm 300 g lá hẹ cắt đoạn, xào thêm 5 phút. Ăn nóng.

– Hẹ xào: Hẹ 240 g, hồ đào nhục (quả óc chó) 60 g. Xào với dầu vừng và ít muối. Ăn ngày 1 lần lúc đói hoặc vào bữa cơm trong 2 tuần đến 1 tháng. Còn dùng chữa táo bón, đau lưng, gối, tiểu tiện luôn, nữ giới bị khí hư, lãnh cảm.

3. Chế biến làm các món cháo

– Cháo hẹ: Hẹ 20 g, gạo 90 g. Nấu cháo ăn nóng ngày 2 lần. Còn dùng chữa đau lưng, gối mỏi, ăn uống kém, phân sống nát, chân tay lạnh; nữ giới bị đới hạ, lãnh cảm.

– Cháo hạt hẹ: Hạt hẹ (xào chín) 15 g, gạo tẻ 50 g, ăn hàng ngày

Tất cả các bài thuốc, đơn thuốc nêu trong bài viết đều là sưu tầm, chỉ có tác dụng tham khảo. Tác giả không chịu trách nhiệm nếu người đọc áp dụng theo. Quý vị có thể liên hệ với các tiệm thuốc, bệnh viên Đông Y hoặc tham khảo thêm sách chuyên ngành để biết thêm chi tiết.

Chúc các bạn đọc vui vẻ.

【#9】Trồng Rau Thủy Canh Công Nghệ Nhật Bản

Trồng rau thủy canh công nghệ Nhật Bản: Thủy canh là kỹ thuật trồng cây không cần đất, mà trồng trực tiếp vào dung dịch dinh dưỡng và các giá thể khác không phải là đất . Các giá thể này có thể là cát, trấu hun, vỏ xơ dừa, bột dừa, than bùn, sỏi nhẹ,….

A. GIỚI THIỆU TRỒNG RAU THỦY CANH

Dinh dưỡng thủy canh đã được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế không ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng. Đây là phương pháp đơn giản giúp người dân thành phố có thể tự trồng rau sạch để ăn, là một thú tiêu khiển như chăm sóc hoa cây kiểng, là cách thư giãn của người có cường độ làm việc cao như hiện nay, đặc biệt với người lowcs tuổi, người về hưu và trẻ emƯu điểm của trồng thủy canh

Có khả năng thích nghi dễ dàng với các điều kiện trồng khác nhau.

Do đặc tính không cần đất, chỉ cần không gian để đặt hệ thống trồng (ví dụ như các hộp xốp đựng trái cây). Do đó ta có thể tiến hành trồng ở nhiều vị trí, địa hình khác nhau như hải đảo, vùng núi xa xôi, hay trên tầng thượng, balcon, sau nhà, dưới hầm,…

Giải phóng một lượng lớn sức lao động. Ưu điểm này có được do không phải làm đất, cày bừa, nhổ cỏ, tưới nước,…; việc chuẩn bị cho hệ thống trồng thủy canh không đòi hỏi lao động nặng nhọc; người già, trẻ em, người khuyết tật đều có thể tham gia hiệu quả.

Năng suất cao.

Vì có thể trồng nhiều vụ trong năm, ít bị ảnh hưởng bởi hiện tượng trái mùa như phương pháp trồng thông thừơng. Ngòai ra thủy canh còn cho phép trồng liên tục, trồng gối đầu (có thể chuẩn bị cây giống cho vụ trồng tiếp theo ngay từ khi đang trồng vụ hiện tại), nên năng suất tổng cộng trong năm cao gấp nhiều lần so với trồng ngoài đất. Hệ thống nhà lưới giúp hạn chế gần như tối đa sâu bệnh gây hại thông thường trong mùa trái vụ.

Sản phẩm hoàn toàn sạch, phẩm chất cao.

Do chủ động hoàn toàn về chất dinh dưỡng cung cấp cho cây nên chất lượng rau đạt mức gần như tối ưu, cho phẩm chất rau tươi ngon, nhiều dinh dưỡng. Ngòai ra phương pháp thủy canh đựơc trồng chủ yếu trong hệ thống nhà lưới, nhà kính nên tránh đựơc các tác nhân sâu bệnh gây ra bởi côn trùng sâu bọ.

Vì vậy, ở đây hầu như rất ít sử dụng thuốc trừ sâu và hóa chất độc hại khác, không tích lũy chất độc, không gây ô nhiễm môi trường. Một khuynh hướng khác đang được các nhà vườn chuyên trồng thủy canh rau ưu ái lựa chọn, là việc sử dụng các loại thuốc trừ bệnh cây có nguồn gốc thảo mộc, sinh học, vi sinh,… Đây là các loại thuốc có tính thân thiện với môi trường, ít gây độc với con người, đặc biệt là khả năng phân hủy khá nhanh, nên ít để lại dư lượng trong sản phẩm.

Hạn chế của kỹ thuật thủy canh:

Hiện nay thủy canh chỉ mới có thể áp dụng hiệu quả cho các loại cây rau quả, hoa ngắn ngày.

Do công nghệ thủy canh cây trồng chưa được nghiên cứu, chuyển đổi phù hợp với điều kiện Việt Nam, nên hiện nay giá thành sản xuất còn khá cao. Tuy nhiên có một thực tế là rau trồng theo phương pháp truyền thống đang ngày càng đội giá lên, và tiến gần đến giá của rau được sản xuất theo công nghệ thủy canh!

Phân loại

Hiện nay các chuyên gia Việt Nam tạm chia Thủy canh ra làm 3 dạng chính sau:

Thủy canh không hồi lưu

Thủy canh hồi lưu

Khí canh

Các mô hình cải tiến khác.

B. HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT TRỒNG RAU THỦY CANH

1. Chuẩn bị vật liệu

Thùng kỹ thuật cách nhiệt kích thước (50x35x25cm).

Rọ nhựa.

2. Thao tác

3. Theo dõi và chăm sóc

4. Thu hoạch và trồng mới

Giá thể

Dung dịch dinh dưỡng và nước để pha

vật liệu trồng rau thủy canh

5. Thao tác cụ thể

a. Mặt bằng và giá đỡ

Có thể đặt thùng thủy canh trực tiếp trên nền xi măng, ban công, sân nhà…hoặc làm giá bằng thép, tre, gỗ, nhựa và cũng có thể bằng xốp.

Chọn địa điểm để trồng nên chọn nơi có ánh nắng mặt trời càng nhiều càng tốt.

b. Lưới

Nếu có điều kiện và tốt nhất là nên mua lưới để che chắn côn trùng. Có thể làm khung và dùng dây thép mắc như mắc màn, có để lối ra bằng cách may khóa áo để tránh côn trùng lọt vào.

trồng rau thủy canh

Thùng kỹ thuật khi mua về sắp xếp tại địa điểm trồng

Sau khi khoét lỗ, tiến hành đóng giá thể vào rọ nhựa:

Nếu dùng trấu hun hoặc Scoria lẫn sơ dừa thì phải lót lưới vào trong giọ nhựa trước khi đóng giá thể.

Nhúng cả rọ

và giá thể vào nước sạch để những vụn nhỏ bị cuốn ra khỏi rọ. Tránh trường hợp khi tưới chúng rơi xuống vào dung dịch dưới thùng gây căn bẩn.

Lắp vào lắp thùng mỗi lỗ 1 rọ rồi đậy lắp vào thùng.

c.Dung dịch

Có rất nhiều công thưc để pha dung dịch thủy canh, ngày nay bạn có thể tìm thấy những công thức tương tự ở bất kỳ một trang web làm vườn thủy canh nào đó.

VD:

Pha cho 1000l:

KNO3

Ca(NO3)2.5H2O

MgSO4

KH2PO4

K2SO4

KOH

Fe

Vi lượng khác

Một người làm vườn có thể mua tất cả những nguyên tố này riêng rẽ và trộn chúng thành phân bón thủy canh của riêng mình. Nhưng thật không may, những phân bón để tạo ra dung dịch thủy canh trong những công thức này thường không có bán trên thị trường,nó không phải là loại phân mà bạn vẫn dùng cho trông trọt truyền thống.

Vì cây trồng thủy canh hút trực tiếp các chất dinh dưỡng dưới dạng ion, trong trồng trọt truyền thống nhờ có các vi sinh vật và đất các chất dinh dưỡng bón vào được chuyển từ dạng khó tiêu sang dễ tiêu để cây có thể hấp thụ. Vì vậy việc tự pha dinh dưỡng trở nên phức tạp hơn.

Hiện đã có sẵn những công thức thủy canh đáng tin cậy được pha trộn từ trước. Nói chung nó hiệu quả và khá kinh tế so với việc sử dụng một công thức đã được chứng minh bao gồm tất cả các nguyên tố kể trên với một lượng chính xác cho sự phát triển của cây. Đơn giản, bạn chỉ cần thêm chúng vào nước và sử dụng.

Còn nếu bạn thực sự có điều kiện tự pha dung dịch thì nên chú ý các nguyên tắc sau:

Chọn nước phù hợp: nước mềm, tránh dùng nước cứng.

Nhìn vào công thức ta thấy: Canxi nitrat và Magie sunphat hiện diện với liều lượng cao trong dung dịch vì thế dễ gây ra kết tủa, nên pha riêng hai chấtnày.

Lần lượt hòa tan các dung dịch đa lượng, vi lượng và chất sắt vào thùng chứa khoảng 30 lít nước đã đong sẵn.

Nếu bạn dùng dung dịch pha sẵn thì có thể bỏ qua bước này.

d. Chuẩn bị gieo hạt

Trước khi tiến hành gieo hạt cần làm ẩm giá thể để đảm bảo sự duy trì độ ẩm cho hạt. Hạt trước khi đem gieo có thể ngâm trong nước ấm khoảng 90 phút để quá trình nảy mầm diễn ra tốt hơn.

Gieo 1-2 hạt vào trong giá thể sâu khoảng 0,5-1cm hoặc phủ 1 lớp trấu hun ướt để cung cấp độ ẩm cho hạt giống.

e. Theo dõi và chăm sóc

Từ khi gieo đến khi rễ cây có khả năng hút dung dịch cần chú ý phun tưới thường xuyên để giữ đủ ẩm cho hạt nảy mầm. Nếu trời quá lạnh, có xương muối hoặc quá nắng nóng đều phải che phủ cho cây.

Khi cây bắt đầu bén rễ có khả năng hút dinh dưỡng thì có thể tiến hành đổ dinh dưỡng vào thùng, khuấy cho dinh dưỡng phân tán đều trong thùng.

Nếu có điều kiện mỗi tuần một lần tiến hành sục khí làm thoáng dung dịch khi cây còn nhỏ và 4-5 ngày khi cây lớn, cây sẽ phát triển tốt hơn. Cần chú ý không để bong bóng khí quá lớn có thể gây tổn tương rễ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây.(mua cái bơm bóng bay đạp chân 10.000 đ/cái mà dùng)

Trong suốt quá trình phát triển của cây cần thường xuyên thăm lom quan sát tình hình sâu bệnh hại để phát hiện và có biện pháp phòng trừ sớm. Nói chung chỉ bắt bằng tay là hết vì trồng thủy canh rất ít sâu bệnh.

rau thủy canh

Trồng rau ăn lá, rau ăn quả tại nhà thật đơn giản , đem lại nguồn rau sạch cho bữa ăn gia đình bạn.

Sau đây Vecgroup xin giới thiệu qui trình trồng rau xà lách và rau muống thủy canh:

ƯU ĐIỂM

Không phải làm đất không có cỏ dại.

Trồng được nhiều vụ, có thể trái vụ, không cần tưới.

Không phải sử dụng thuốc trừ sâu bệnh, trừ cỏ dại.

Năng suất cao hơn từ 25% đến 50%.

Sản phẩm hoàn toàn sạch đồng nhất.

Người gìa yếu trẻ em có thể tham gia có hiệu quả.

Không tích lũy chất độc, không gây ô nhiễm môi trường.

ĐIỀU KIỆN TRỒNG Trồng rau thủy canh công nghệ Nhật Bản

Tận dụng mặt bằng sân thượng, ban công hay khoảng sân trước nhà:

Ánh sáng cho cây quang hợp ít nhất 5-6 giờ trong một ngày.

Cần tránh nước mưa để dung dịch dinh dưỡng không bị pha loãng, có thể làm mái che bằng ni lông trắng.

Cần phun nước 2-3 lần vào buổi trưa nắng gắt đối với rau ăn lá.

Cần tránh cho cây khỏi bị nghẹt thở: Không bao giờ cho dung dịch ngập hoàn toàn bộ rễ, chừa phân nửa bộ rễ nằm trên mặt dung dịch.

VẬT LIỆU

Hộp xốp (45 x 60 x 15 cm)

Chất dinh dưỡng

Rọ nhựa gieo hột

Hạt rau (xà lách, rau muống, cải xanh, cải ngọt, húng quế…)

Xơ dừa, tro trấu

Bình phun nước

Khoan lổ: Dùng ống nước bằng nhựa (có đường kính tương đương miệng rọ) đục lổ trên nắp hộp, số lổ phụ thuộc vào từng loại cây trồng: Rau muống, xà lách, cải xanh, … có thể 24 lổ.

Chuẩn bị rọ gieo hạt: Dùng xơ dừa nhồi dưới đáy rọ, nhồi tro trấu bên trên, đặt rọ vào các lổ đã đục trên nắp hộp.

vật liệu trồng rauvật liệu trồng rauvật liệu trồng rau

Chuẩn bị hộp xốp, sơn đen; Khoang lỗ trên nắp hạt; Chuẩn bị ro để gieo hạt

Gieo hạt: 2-3 hột vào mỗi rọ ở độ sâu khoảng 1cm

Pha dung dịch: Dinh dưỡng cô đặc đựng trong chai, lắc thật đều đổ vào thùng xốp, thêm đủ lượng nước theo hướng dẫn, sau đó khuấy đều. Mực nước cách miệng thùng ít nhất 2 cm.

Kết thúc: Đặt nắp hộp có sẳn rọ nhựa đã gieo hạt lên trên hộp xốp chứa dụng dịch dinh dưỡng, sao cho đáy rọ nhựa ngập trong dung dịch từ 1-2 cm.

vật liệu trồng rauvật liệu trồng rauvật liệu trồng rau

Gieo 2 – 3 hạt vào mỗi rọ; Pha dung dịch dinh dưỡng; Đặt nấp hộp lên thùng

Lưu ý:

Theo dõi mực nước trong hộp xốp, cần pha dinh dưỡng thêm vào khi mực nước thấp hơn bộ rễ.

【#10】Kỹ Thuật Trồng Cà (Cà Pháo, Cà Tím…)

Cây cà là cây rau ăn quả được trồng phổ biến nhiều nơi trong nước. Cà dễ trồng, cho thu hoạch quả với thời gian dài, dùng làm thực phẩm cho con người với các món ăn như luộc, xào, nấu canh và cà muối…

Kỹ thuật trồng cà (cà pháo, cà tím…)

1. Thời vụ

Cà pháo, cà bát gieo trồng từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau.

Cà tím gieo trồng từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.

2. Làm đất

Cây cà phát triển tốt trên các loại đất cát pha, thịt nhẹ, phù sa, các loại đất dễ thoát nước, độ pH thích hợp 5,5 – 6.

Cây cà có bộ rễ phát triển, vì vậy đất trồng cà cần được cuốc sâu. Nên cuốc đất làm hai lần, lần thứ nhất cuốc lật phơi ải để đất tơi xốp, ánh nắng mặt trời sẽ tiêu diệt phần lớn sâu bệnh trong đất. Mặt khác, đất được phơi ải có những chuyển hoá sinh học và hoá học trong đất có lợi cho cây trồng.

Lần thứ hai cuốc xong tiến hành làm nhỏ đất, làm phẳng mặt để trồng cây. Trong quá trình trồng và chăm sóc cần đảm bảo chế độ thoát nước tốt, thường xuyên giữ cho đất trồng khô ráo, tránh ngập úng.

Tiến hành bón vôi bột để xử lý đất và tiêu diệt mầm bệnh tồn tại trong đất.

Lên luống: luống rộng 1 – 1,4 m, bón lót trước khi trồng

3. Chuẩn bị cây giống

Hạt cà có vỏ cứng tương đối dày, vì vậy để hạt có thể nảy mầm được tốt trước khi gieo hạt cần ngâm hạt trong nước 23 – 30 giờ. Vớt ra để cho se hạt rồi đem gieo. Khi cây con mọc đất phải luôn giữ ẩm, nếu cây con mọc quá dày cần tỉa bớt, chỉ để lại khoảng cách giữa các cây con là 5 – 6 cm.

Trước khi nhổ cây con đem trồng không nên tưới nước cho cây 5 – 7 ngày, chỉ tưới ẩm 4-5 giờ trước lúc nhổ cho cây không bị đứt rễ và chóng bén.

4. Trồng cây ra ruộng

Trên luống trồng 2 hàng theo kiểu nanh sấu với khoảng cách cây cách cây 50 x 60cm cho cà bát; 60 x 80cm cho cà tím và cà pháo.

Nếu trồng trong thùng xốp tại gia đình thì 1 cây / thùng khoảng 20 lít; 2 cây / thùng khoảng 40 – 60 lít.

5. Chăm sóc, bón phân

Cà sinh trưởng tương đối dài ngày nên cần bón nhiều phân, bón đủ phân ngăn ngừa được rụng hoa, rụng quả.

– Lượng phân bón tính cho

1.000m2

Phân chuồng: 0,8 – 1 tấn

Phân supe lân: 35 kg

Phân đạm: 15 – 20 kg

Phân kaly: 20 kg

Vôi bột: 50 kg

– Cách bón:

Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân trộn đều phân bón theo hốc. Bổ hốc sâu 15-18cm, cho phân vào đảo với đất rồi mới trồng cây.

Cần bón thúc kịp thời, có thể chia thành 4 thời kỳ bón thúc cho cà như sau:

– Lần 1: Bón sau khi trồng 7 ngày, bón 20% lượng đạm và 20% số kali, hoà vào nước để tưới, kết hợp xới xáo, vun gốc cho cây.

– Lần 2: Bón vào lúc cây có nụ đến khi có quả, bón 20% lượng đạm và 20% kali, bón cách xa gốc, sau đó tưới rãnh hoặc tưới gốc. Đợt này không nên bón nhiều để hạn chế cây mọc vống, rụng hoa, rụng quả. Nếu đất xấu, cây phát triển kém, có thể chia làm 2 lần bón.

– Lần 3: sau lần 2 từ 7 – 10 ngày, thời kỳ này cần bón nhiều phân, bón 40% lượng đạm và 40% số kali có thể bổ sung thêm phân chuồng đã ủ mục hoà vào nước để tưới.

– Lần 4: bón vào lúc thu hoạch rộ trở đi, bón nốt số phân đạm và kaly còn lại.

Sau mỗi lần thu hoạch nên dùng phân chuồng đã ủ mục hòa vào nước tưới để giữ cho cây có hoa liên tục đảm bảo năng suất và kéo dài thời gian cho quả.

Từ lúc trồng đến lúc ra hoa cần giữ độ ẩm trong đất. Nếu trời nắng mỗi ngày tưới một lần, trời râm mát 3 – 4 ngày tưới một lần. Lúc cà có quả non thì tưới nhiều hơn.

Thời kỳ đầu khi cây con mới trồng cần thường xuyên xới đất để đất không đóng váng, tăng độ ẩm cho đất, giúp cho bộ rễ phát triển và cây lớn nhanh. Nhất là sau khi trồng cây con 1 tháng thì vun gốc để thúc cho bộ rễ phát triển, tăng cường sức giữ nước, giữ màu của đất, chống đổ ngã cho cây.

Cây cà sau khi mọc được 7 – 9 lá là bắt đầu có quả, lúc đó những nhánh dưới chùm hoa thứ nhất cần tỉa bỏ bởi những nhánh này phát triển yếu, hoa quả hình thành chậm, các nhánh này thường mọc thẳng đứng làm cho bên trong tán cây rậm rạp, thiếu ánh sáng, tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển, chỉ để lại một nhánh gần chùm quả thứ nhất.

Từ thời kỳ giữa đến cuối thời gian sinh trưởng của cây cà mọc thêm nhiều lá ở phía dưới làm cho cây không thông gió và thiếu ánh sáng, vì vậy cần tỉa lá kịp thời để bón phân thúc giúp cây ra hoa, đậu thêm nhiều quả.

Phòng trừ sâu bệnh cà pháo, cà tím…

– Bệnh lở cổ rễ: do nấm gây ra. Nấm này gây bệnh cho cây con lúc ươm và cây nhỏ khi mới trồng.

Triệu chứng của bệnh là đoạn thân gần gốc teo thắt lại, có màu đen. Toàn bộ hệ thống mạch dẫn, mô vi sinh, vỏ cây bị thối và cây bị gãy đổ ngay thân rồi chết.

Cách phòng trừ: Luân canh cà với các cây trồng khác. Vệ sinh đất, không để đất ươm cây con quá ẩm. Khi bệnh xuất hiện nhiều, dùng thuốc Validacin hoặc thuốc Anvil để phun.

– Bệnh héo xanh: Do vi khuẩn gây ra. Vi khuẩn này làm cho cây hoặc bộ phận cây bị chết nhưng vẫn giữ màu xanh.

Vi khuẩn gây bệnh làm huỷ hoại, tắc nghẽn các mạch dẫn trong cây. Cũng có trường hợp vi khuẩn làm bộ rễ cây bị thối không hút được nước, cây bị héo và chết. Kịp thời phát hiện, loại bỏ những cây bị bệnh và rắc vôi bột váo gốc cây bệnh để tiêu diệt mầm bệnh tránh lây lan ra diện rộng.

– Bệnh đốm nâu: Do nấm gây ra. Vết bệnh xuất hiện trên lá, ban đầu có màu nâu, cuối cùng chuyển sang màu đen. Bệnh lan dần ra toàn mặt lá làm cho lá khô và rụng.

Bệnh ban đầu xuất hiện ở các lá thấp, sau lan dần lên các lá trên. Bệnh phát triển mạnh khi cây ra hoa, hình thành quả và cao nhất lúc quả chín. Cây bị bệnh này có thể chết.

Bệnh phát triển nhiều trong điều kiện ẩm. Nguồn lây lan bệnh chủ yếu là tàn dư cây bị bệnh.

Phòng trừ: thu dọn kỹ dư cây sau mỗi vụ thu hoạch. Luân canh cà với các loại cây khác. Kịp tời tỉa cành, tỉa lá, bấm ngọn. Dùng các loại thuốc Boocđô, zineb, benlat để phun khi bệnh xuất hiện nhiều.

Lưu ý: Khi sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật phải tuân thủ theo kỹ thuật “4 đúng”, đảm bảo thời gian cách ly để an toàn cho người sử dụng và bảo vệ môi trường sinh thái.

Thu hoạch và để giống cho vụ sau

Không nên để cà quá già làm cho quả bị giảm phẩm chất làm cây chóng già cỗi ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng các đợt quả sau. Riêng cà tím nên thu hoạch khi quả từ màu tím chuyển sang tím nhạt. Cách 2 – 3 ngày thu một lần.

Khi để quả cà làm giống, chọn cây có nhánh to bằng thân chính, cành lá không rậm quá, trên cành có nhiều quả và quả tốt.

Chọn lấy những quả mọc ở tầng thứ nhất và tầng thứ hai, những quả đã chín sớm nhiều hạt. Những cây lấy giống chỉ để mỗi cây 1-2 quả.

Khi vỏ quả chuyển sang màu vàng, có vết rạn nứt, tai quả hơi cong lên, thu hoạch lúc này là tốt nhất. Thu về để vài ngày, sau đó bổ quả, lấy hạt phơi khô trong râm, cất giữ làm giống cho vụ sau.

Cũng có thể để hạt giống theo cách cổ truyền sau đây: để cho quả cà nhũn ra, bóp hạt vào tro, cho thêm nước trộn thành hỗn hợp tro và hạt cà, sau đó nặn thành nắm và gắn chặt vào tường gần bếp để khô tự nhiên, đến vụ đem bóp vụn và mang gieo. Cách để giống này rất thích hợp với quy mô trồng trọt nhỏ ở gia đình, tự túc cây giống./.