【#1】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Bưởi Hoàng

Hướng dẫn kỹ thuật trồng bưởi Hoàng

Bưởi Hoàng là loại bưởi được trồng tại Thôn Hoàng Trạch xã Mễ Sở, Văn Giang Hưng Yên. Giống Bưởi Hoàng là giống bưởi ngọt, không the, được thu hoạch vào tháng 10 – 11, cây giống sau 18 tháng có thể thu hoạch.

I. GIỚI THIỆU CHUNG

Bưởi Hoàng là loại bưởi được trồng tại Thôn Hoàng Trạch xã Mễ Sở, Văn Giang Hưng Yên. Là giống bưởi ngọt có từ lâu đời rồi mà chỉ có làng Hoàng trồng mới ra trái ngon và ngọt nhất. Quả bưởi rất to (gấp 3 quả bưởi Diễn), vỏ mỏng, múi to mọng, ăn ngọt dịu đậm đà, nhiều nước. Rất thích hợp trong những bữa tráng miệng gia đình hoặc làm quà biếu.Giống Bưởi Hoàng là giống bưởi ngọt, không the, được thu hoạch vào tháng 10 – 11, cây giống sau 18 tháng có thể thu hoạch.

Cây Bưởi Hoàng đang là một trong những hướng phát triển cây ăn quả lớn tại các tỉnh miền Bắc như Bắc Giang, Phú Thọ, …Và đặc biệt có thể RẢI VỤ thu hoạch bưởi trên vườn. Nhằm phát triển kinh tế trang trại, nâng cao thu nhập cho người nông dân.

II. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Chọn giống:

– Cành chiết: Đối với cành chiết tốt nhất nên có độ tuổi từ 16 – 18 tháng tuổi, đường kính của cành 1,5 – 2,0 cm, các cành không bị sâu bệnh. Không nên chọn những cành dưới gốc, cành vượt và trên ngọn để chiết làm giống.

– Cây ghép: Mắt ghép phải được lấy đúng giống cây cần chọn, chồi ghép sinh trưởng khoẻ với chiều cao chồi (tính từ điểm ghép trở lên) là 30 – 40cm.

2. Thời vụ trồng bưởi hoàng:

– Vụ Xuân: bắt đầu trồng từ tháng 2 đến tháng 4

– Vụ Thu đông: bắt đầu trồng từ tháng 8 đến tháng 10

Do vụ xuân có điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi cho cây trồng phát triển nên vụ Xuân là thời vụ trồng cây bưởi hoàng tốt nhất.

3. Chọn và làm đất:

– Cây bưởi hoàng thích hợp với các loại đất phù sa được bồi đắp hàng năm, đất phải thoát nước tốt, có tầng canh tác dày trên 1m, mực nước ngầm dưới 1,5m, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất khá (hàm lượng mùn từ 1,5 – 2% trở lên), có đủ nguồn nước để tưới tiêu vào mùa khô hạn.

– Trước khi trồng khoảng 2 tháng phải tiến hành làm đất, cày bừa thật kỹ, làm sạch cỏ, gốc rễ cây (nếu đất khai hoang) và xử lý đất bằng vôi bột (500 kg/ha), Benlate (20 kg/ha), Basudin, Vibasu 10H (15 – 20 kg/ha).

4. Đào hố:

* Kích thước hố: Đối với vùng đất bằng 60cm x 60cm x 60cm, vùng đất đồi 80cm x 80cm x 80cm.

* Đào hố: Chú ý khi đào hố phải lấy lớp đất mặt đổ sang một bên và lớp đất phía dưới đổ sang bên khác.

5. Cách trồng bưởi hoàng:

– Cây giống là cành chiết: Đào 1 lỗ khoảng 30 x 30 cm xé bao nilong ngoài vỏ bầu rồi đặt nhẹ vào chính giữa tâm hố, gạt đất rồi nén chặt, tránh làm vỡ bầu đất. Dùng cọc và dây mềm cố định thân cây lại. Khi đặt cây cần chú ý tư thế của cây sao cho cây sau này tán phát triển thuận lợi, thân chính không bị nghiêng ngả. Trồng cây xong tưới nước đủ ẩm, ủ rơm rác xung quanh gốc cây đr giữu ẩm cho cây(tủ cách gốc 10 cm).

– Cây giống là cây ghép: Đặt cây để tư thế của cây sao cho cành ghép quay về hướng dưới gió để tránh gió to làm tách gãy cành ghép.

6. Chăm sóc, bón phân:

a, Bón phân

Đối với cây bưởi hoàng mới trồng, bón lót là 10kg phân chuồng, 0,5kg phân lân và 0,2kg vôi.

– Cây bưởi hoàng từ 1 – 3 năm tuổi, bón 1 – 3kg NPK, từ 0,5 – 1kg super lân.

– Cây bưởi hoàng từ 4 -6 năm tuổi, nên bón 4 -7kg NPK, từ 0,5 – 1kg super lân.

– Cây bưởi hoàng từ 7 -9 năm tuổi, bón 8 -15kg NPK và 0,5 – 1kg super lân.

b/ Làm cỏ:

Nên kết hợp các đợt bón phân để làm cỏ và vệ sinh vườn, cắt tỉa tạo tán, tạo hình cho tán cây để cây phát triển cân đối.

c/ Tưới tiêu:

– Chú ý tưới đủ ẩm cho cây vào những ngày nắng hạn, vì cây còn nhỏ, bộ rễ chưa ăn sâu, chống chịu kém.

– Cần có hệ thống tiêu thoát nước cho vườn cây vào mùa mưa.

7. Phòng trừ sâu bệnh cho Cây Bưởi Hoàng

* Sâu hại Bưởi

Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citriella):

– Đặc điểm gây hại:

Phá hoại ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3 – 4 năm đầu mới trồng. Trên cây tập trung phá hoại thời kỳ lộc non, nhất là lộc xuân. Trưởng thành đẻ trứng vào búp lá non, sâu non nở ra ăn lớp biều bì lá, tạo thành đường ngoằn ngèo, có phủ sáp trắng, lá xoăn lại, cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm (mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 10).

– Phòng trừ: Phun thuốc diệt sâu 1 – 2 lần cho mỗi đợt lộc non bằng: Decis 2,5EC 0,1 – 0,15%; Trebon 0,1 – 0,15%; Polytrin 50EC 0,1 – 0,2%.

Sâu đục thân (Chelidonium argentatum), đục cành (Nadezhdiella cantori):

– Đặc điểm gây hại:

Con trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên thân, cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra.

– Phòng trừ:

+ Bắt diệt trưởng thành (Xén tóc)

+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non

+ Sau thu hoạch (tháng 11 – 12) quét vôi vào gốc cây để diệt trứng

+ Phun các loại thuốc xông hơi như Ofatox 400 EC 0,1%; Supracide 40ND 0,2% sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.

Nhện hại:

– Đặc điểm gây hại:

+ Nhện đỏ (Panonychus citri): Phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ đông xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vùng tròn lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo.

+ Nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus): Phát sinh chủ yếu ở trong những thời kỳ khô hạn kéo dài và ít ánh sáng (trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu vàng sáng ở dưới mặt lá.

– Phòng trừ: Để chống nhện (nhện đỏ và nhện trắng) dùng thuốc Comite, Ortus 50EC, Pegasus 250 pha nồng độ 0,1 – 0,2% phun ướt cả mặt dưới lá và phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại phải phun kép 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày bằng những thuốc trên hoặc phố trộn 2 loại với nhau hoặc với dầu khoáng trừ sâu.

Rệp hại: Chủ yếu hại trên các lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen.

– Đặc điểm gây hại:

+ Rệp cam: Chủ yếu gây hại trên các cành non, lá non. Lá bị xoăn, rộp lên. Rệp tiết ra chất nhờn (gọi là sương mật) hấp dẫn kiến và nấm muội đen.

+ Rệp sáp (Planococcus citri): Trên mình phủ 1 lớp bông hoặc sáp màu trắng, hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu. Những vườn cam hoặc cây cam ở gần ruộng mía thường hay bị từ mía lan sang.

– Phòng trừ: Dùng Sherpa 25EC hoặc Trebon pha với nồng độ 0,1 – 0,2% phun 1 – 2 lần ở thời kì lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn trị có hiệu quả cần pha thêm vào thuốc 1 ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuốc dễ thấm.

* Bệnh hại bưởi

Bệnh loét (Xanthomonas campestris)

Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại ở thời kì vườn ươm và cây mới trồng 1 – 3 năm, ở thời kỳ cây cho thu hoạch bệnh gây hại cả trên lá bánh tẻ, cành, quả non. Trên lá thấy xuất hiện các vết bệnh không định hình, mới mầu xanh vàng, sau chuyển thành màu nâu xung quanh có quầng vàng. Gặp điều kiện ẩm ướt gây thối rụng lá, gặp điều kiện khô gây khô giòn vết bệnh làm giảm quang hợp. Gây hại nặng trong điều kiện nóng, ẩm (vụ xuân hè).

Bệnh sẹo (Ensinoe fawcetti Bit. et Jenk)

Triệu chứng gây hại: Vết bệnh thường có mầu nâu nhạt nhô lên khỏi bề mặt lá. Có thể lốm đốm hoặc dày đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành sẽ nhìn thấy các đám sần sùi giống như ghẻ lở, màu vàng hoặc nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ khô và chết. Bệnh đặc biệt gây hại nặng trong điều kiện nống và ẩm (vụ xuân hè).

– Phòng trừ:

+ Cắt bỏ lá bệnh, thu gom đem tiêu huỷ

+ Phun thuốc: Boocđo 1 – 2% hoặc thuốc Kasuran 0,2%.

– Cách pha thuốc boocđô (pha cho 1bình 10 lít):

+ Dùng 0,1 kg Sunfat đồng + 0,2 kg vôi đã tôi (nồng độ 1/100), nếu nồng độ 2% thì lượng sunfat đồng và vôi tăng gấp đôi.

+ Lấy 7 lít nước pha với đồng sunfat, 3 lít còn lại pha với vôi, lọc bỏ cặn bã, sau đó lấy dung dịch đồng loãng đổ vào nước vôi đặc vừa đổ vừa quấy cho tan đều sẽ được dung dịch boocđô.

Bệnh chảy gôm (Phytophthora citriphora):

– Đặc điểm gây hại:

Bệnh thường phát sinh ở phần sát gốc cây cách mặt đất khoảng 20 – 30 cm trở xuống cổ rễ và rễ.

Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị những vết nứt và chảy nhựa (gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ.

Bệnh nặng lớp vỏ bị hại thối rữa (giống như bị dội nước sôi) và tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong có màu đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại, cây có thể bị chết ngay, còn bị một phần thì cây bị vàng úa, sinh trưởng kém, bới sâu xuống đất có thể thấy nhiều rẽ cũng bị thối.

– Phòng trừ:

Đẽo sạch lớp vỏ và phần gỗ bị bệnh, dùng Boocđô 2% phun trên cây và quét trực tiếp vào chỗ bị hại, nếu bệnh đã lan xuống rễ phải đào chặt bỏ những rễ bị bệnh rồi xử lý bằng boocđô.

Có thể dùng các loại thuốc khác như Aliette 80NP, Benlat C nồng độ 0,2 – 0,3% để phun và xử lý vết bệnh.

Bệnh Greening:

– Đặc điểm gây hại: Cây có múi nói chung và bưởi nói riêng có thể nhiễm bệnh Greening vào bất kỳ giai đoạn nào từ thời kỳ vườn ươm tới khi cây 10 năm tuổi. Tuy nhiên, bưởi ít nhiễm bệnh Greening hơn các giống cam quýt khác. Triệu chứng cho thấy: trước khi những lá non trở thành mầu xanh thì trở nên vàng, cứng lại và mất mầu. Mô giữa các gân lá chuyển xanh vàng hoặc hơi vàng và có đường vân. Đầu tiên các đọt và lá non bị bệnh sâu đó có thể biểu hiện trên cả tán. Cùng thời gian đó lá xanh và lá già chuyển xang mầu vàng từ sống lá và gân lá. Các lá bị nhiễm bệnh có thể bị rụng sớm, trong một vài tháng hoặc và năm tất cả các cành cây bị khô đi và tàn lụi.

– Phòng trừ:

+ Sử dụng cây giống sạch bệnh

+ Trồng sen ổi để xua đuổi rày chổng cánh.

+ Phun thuốc phòng trừ môi giới truyền bệnh (Rầy chổng cánh)

+ Cắt bỏ tất cả các cành bị bệnh đem đốt

+ Bón phân cân đối tăng sức đề kháng và chống chịu của cây

* Các bệnh do virus và viroid:Trên bưởi còn 2 loại bệnh khá nguy hiểm gây hại: bệnh vàng lá (do virus Tristeza gây hạ) và bệnh Exocortis (do viroids gây hại). Các bệnh này không chữa trị được bằng các loại thuốc hoá học như trên mà phải phòng trị bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, bắt đầu từ khâu nhân giống sạch bệnh tới các kỹ thuật canh tác, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ môi giới truyền bệnh vv…

Chúc bà con thành công

【#2】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Bưởi Quế Dương

Hướng dẫn kỹ thuật trồng bưởi Quế Dương

Cây giống phải được nhân từ cây mẹ đầu dòng tuyển chọn và phải đạt tiêu chuẩn ngành 10 TCN – 2001, cụ thể: cây giống sản xuất bằng phương pháp ghép phải được tạo hình cơ bản trong vườn ươm, có ít nhất 2 cành cấp 1 và không nhiều quá 3 cành.

I. Nguồn gốc giống

Bưới Quế Dương có nguồn gốc lâu đời ở Thôn Quế Dương, xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, Hà Nội. Quả hình tròn, hơi dẹt, khối lượng bình quân 1,2-1,5kg, có nhiều quả to tới 5kg/quả, cùi mỏng, khi chín vỏ có màu vàng đất đẹp, rất thơm; múi dày, tép nhiều nước, màu đỏ hồng, độ ngọt vừa phải (11-12% độ Brix) nên rất hấp dẫn người tiêu dùng. Năng suất rất cao, mỗi gốc bưởi cho từ 400-500 quả. Đây là giống bưởi chín sớm vào khoảng rằm tháng Tám âm lịch, vừa kịp phục vụ nhu cầu Tết Trung thu của các cháu, người trồng vừa có thời gian chăm sóc, phục hồi, dưỡng cây cho vụ quả tiếp theo nên giống bưởi này hầu như không có tính cách niên, mất mùa như các giống bưởi khác. Ngoài ra, Bưởi Quế Dương có khả năng kháng sâu bệnh và chịu úng rất tốt.

II. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

1. Tiêu chuẩn giống trồng

Cây giống phải được nhân từ cây mẹ đầu dòng tuyển chọn và phải đạt tiêu chuẩn ngành 10 TCN – 2001, cụ thể: cây giống sản xuất bằng phương pháp ghép phải được tạo hình cơ bản trong vườn ươm, có ít nhất 2 cành cấp 1 và không nhiều quá 3 cành. Đường kính cành ghép cách điểm ghép đạt từ 0,5 – 0,7 cm; dài từ 50 cm trở lên; có bộ lá xanh tốt, không sâu, bệnh.

2. Chọn đất trồng và chuẩn bị đất trồng

– Chọn đất: Bưởi Quế Dương thích nghi tốt với loại đất thịt pha cát hay đất phù sa ven sông nên rất bền cây, khỏe mạnh, ít bị sâu bệnh hại và khả năng chịu úng ngập rất cao.

– Chuẩn bị đất trồng

Bao gồm: phát quang, san mặt bằng; thiết kế vườn trồng; đào hố; bón phân lót và lấp hố; các công việc khác như làm đường, mương rãnh tưới tiêu nước,…

+ Phát quang và san ủi mặt bằng

Đối với những đồi rừng chuyển sang trồng cây ăn quả nói chung và trồng bưởi Quế Dương đều phải phát quang, thậm chí phải đánh bỏ toàn bộ rễ cây rừng và san ủi tạo mặt phẳng tương đối để cho việc thiết kế vườn được dễ dàng. Trừ những nơi đất quá dốc (từ khoảng 100 trở lên) sẽ áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, nghĩa là chỉ phát quang, dãy cỏ, san lấp những chỗ quá gồ ghề sau đó thiết kế và đào hố trồng cây, còn ở những nơi đất không quá dốc hoặc bằng, sau khi phát quang, san ủi sơ bộ có thể dùng cày máy hoặc cày trâu cày bừa một lượt để vừa sạch cỏ vừa tạo cho bề mặt vườn tơi xốp ngăn được sự bốc hơi nước của vườn sau khi bị phát quang.

Đối với các loại đất chuyển đổi khác sang trồng bưởi Quế Dương cũng cần phải dọn sạch và tạo lại mặt bằng trước khi thiết kế.

– Thiết kế vườn trồng

+Tuỳ theo quy mô diện tích và địa hình đất mà có thiết kế vườn trồng một cách phù hợp. Đối với đất bằng hoặc có độ dốc từ 3 – 50 nên bố trí cây theo kiểu hình vuông, hình chữ nhật hoặc hình tam giác (kiểu nanh sấu). Đất có độ dốc từ 5 – 100 phải trồng cây theo đường đồng mức, khoảng cách của hàng cây là khoảng cách của đường đồng mức. Ở độ dốc 8 – 100 nên thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang đơn giản, dưới 80 có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu, trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố.

+ Bố trí mật độ, khoảng cách 4 m (tương ứng với 500 cây/ha). Đối với những vùng đất tốt hoặc có điều kiện đầu tư thâm canh và áp dụng các biện pháp đốn tỉa hàng năm có thể bố trí mật độ dày hơn (600 cây/ha). Mật độ trồng phụ thuộc vào và khả năng đầu tư thâm canh. Thông thường đối với bưởi Quế Dương trồng với khoảng cách 5 m

Ở những vùng đất dốc, hàng cây được bố trí theo đường đồng mức và khoảng cách giữa 2 đường đồng mức là khoảng cách giữa 2 hình chiếu của cây. Khoảng cách cây được xác định như nhau trên cùng một đường đồng mức, đường đồng mức dài hơn thì có số cây nhiều hơn.

– Đào hố trồng và bón lót

+ Kích thước hố rộng 0,8 – 1 m sâu 0,8 – 1 m. Đất xấu cần đào rộng hơn.

+ Bón phân lót cho 1 hố:

Bót lót cho mỗi hố 30 – 50 kg phân chuồng hoai (hoặc 5 – 7 kg phân vi sinh) + 1 kg supelân + bón vôi đủ điều chỉnh pH đất về ngưỡng thích hợp (từ 6 – 6,5). Toàn bộ lượng phân lót trên được trộn đều với tầng đất mặt và lấp hố. Lượng đất lấp hố cao hơn bề mặt hố từ 7 – 10 cm, dùng cọc thiết kế vườn đánh dấu tâm hố. Hố cần phải chuẩn bị trước khi trồng ít nhất 1 tháng.

3. Thời vụ trồng và cách trồng

– Thời vụ trồng tốt nhất vào tháng 2, 3 (có thể trồng vào tháng 8, 9).

– Cách trồng: Đào 1 hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây vào hố lấp đất vừa bằng cổ rễ hoặc cao hơn 2- 3 cm. Không được lấp quá sâu, trồng xong phải tưới ngay và dùng cỏ mục ủ gốc (lưu ý phải cách gốc từ 10- 15 cm để tránh sâu bệnh xâm nhập).

4. Chăm sóc sau khi trồng

– Tưới nước

Thường xuyên giữ ẩm trong vòng 20 ngày đến 1 tháng để cây hoàn toàn bén rễ và phục hồi. Sau đó tuỳ thời tiết nắng mưa để chống hạn hoặc chống úng cho cây. Trước khi thu hoạch 1 tháng ngừng tưới nước.

Về lượng nước tưới và số lần tưới phải dựa vào khả năng giữ nước của đất, lượng bốc hơi và lượng mưa để quyết định, phương pháp tưới có thể là tưới bề mặt hoặc tưới nhỏ giọt,… mỗi lần bón phân cần phải tưới nước để phân có thể hoà tan tạo điều kiện cho cây hấp thụ tốt hơn.

– Cắt tỉa tạo hình

+ Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ chưa mang quả: Việc cắt tỉa được tiến hành ngay từ khi trồng. Để có được dạng hình hợp lý (hình bán cầu), cần thực hiện theo các bước sau:

Tạo cành cấp 1: Khi cây con đạt chiều cao 45 – 50 cm, cần bấm ngọn để tạo cành cấp 1. Chỉ để lại 3 – 4 cành cấp 1 phân bố tương đối đều về các hướng. Các cành cấp 1 này thường chọn cành khoẻ, ít cong queo, cách nhau 7 – 10 cm trên thân chính và tạo với thân chính một góc xấp xỉ 450 – 600 để khung tán đều và thoáng.

Tạo cành cấp 2: Khi cành cấp 1 dài 25 – 30 cm, ta bấm ngọn để tạo cành cấp 2. Thông thường trên cành cấp 1 chỉ giữ lại 3 cành cấp 2 phân bố hợp lý về góc độ và hướng.

Tạo cành cấp 3: Cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quả cho những năm sau. Các cành này phải khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp theo các hướng khác nhau giúp cây quang hợp được tốt.

+ Cắt tỉa cho cây trong thời kỳ mang quả

Cắt tỉa sau thu hoạch: Được tiến hành sau khi thu hoạch quả. Cắt tỉa tất cả các cành sâu bệnh, cành chết, cành vượt, những cành quá dày, cắt tỉa bớt cành cấp 1 (nếu số cành cấp 1/cây quá dày) sao cho cây có bộ khung tán cân đối. Đối với cành thu, cắt bỏ những cành yếu, mọc quá dày.

Cắt tỉa vụ xuân: Được tiến hành vào giữa tháng 1 đến giữa tháng 3 hàng năm: Cắt bỏ những cành xuân chất lượng kém, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán, những chùm hoa nhỏ, dầy, dị hình.

Cắt tỉa vụ hè: được tiến hành từ tháng 4 đến hết tháng 6: Cắt bỏ những cành hè mọc quá dày hoặc yếu, cành sâu bệnh, tỉa bỏ những quả nhỏ, dị hình.

– Bón phân

Bón phân cho bưởi Diễn tuỳ thuộc vào tuổi cây và sản lượng hàng năm, nền đất cụ thể. Cây từ 1- 3 năm sau khi trồng (cây chưa có quả – giai đoạn kiến thiết cơ bản). Mỗi năm bón 4 lần vào tháng 2, tháng 5 tháng 8 và tháng 11. Lượng phân bón ở mỗi lần như sau:

+ Đợt bón tháng 2: Bón 100% phân hữu cơ + 40% đạm + 40% kali

+ Đợt bón tháng 5: 30% đạm + 30% kali

+ Đợt bón tháng 8: 30% đạm + 30% kali

+ Đợt bón tháng 11: 100% lân + 100% vôi

Lượng bón mỗi cây:

Trong thời kỳ cho quả, lượng phân bón được thiết lập dựa trên năng suất của vụ trước. Có thể tham khảo bảng hướng dẫn sau:

Thời vụ bón: Toàn bộ lượng phân được chia làm 3 lần bón trong năm.

Lần 1: Bón thúc hoa: (tháng 2): 40% đạm urê + 30% kaliclorua

Lần 2: Bón thúc quả: (tháng 4 – 5): 20% đạm urê + 30% kaliclorua

Lần 3: Bón sau thu hoạch: (tháng 11 – 12): 100% phân hữu cơ + 100% phân lân + 40% đạm urê, 40% kaliclorua.

Cách bón:

Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 30 – 40 cm, sâu 20 – 25 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm. Hoặc có thể đào 3 rãnh theo hình vành khăn xung quanh tán để bón, năm sau bón tiếp phần còn lại.

Bón phân vô cơ: khi đất ẩm chỉ cần rải phân lên mặt đất theo hình chiếu của tán cách xa gốc 20 – 30 cm, sau đó tưới nước để hoà tan phân. Khi trời khô hạn cần hoà tan phân trong nước để tưới hoặc rải phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới nước.

5. Một số loại sâu bệnh hại chính

* Sâu hại Bưởi

Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citriella):

– Đặc điểm gây hại:

Phá hoại ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3 – 4 năm đầu mới trồng. Trên cây tập trung phá hoại thời kỳ lộc non, nhất là lộc xuân. Trưởng thành đẻ trứng vào búp lá non, sâu non nở ra ăn lớp biều bì lá, tạo thành đường ngoằn ngèo, có phủ sáp trắng, lá xoăn lại, cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm (mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 10).

– Phòng trừ: Phun thuốc diệt sâu 1 – 2 lần cho mỗi đợt lộc non bằng: Decis 2,5EC 0,1 – 0,15%; Trebon 0,1 – 0,15%; Polytrin 50EC 0,1 – 0,2%.

Sâu đục thân (Chelidonium argentatum), đục cành (Nadezhdiella cantori):

– Đặc điểm gây hại:

Con trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên thân, cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra.

– Phòng trừ:

+ Bắt diệt trưởng thành (Xén tóc)

+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non

+ Sau thu hoạch (tháng 11 – 12) quét vôi vào gốc cây để diệt trứng

+ Phun các loại thuốc xông hơi như Ofatox 400 EC 0,1%; Supracide 40ND 0,2% sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.

Nhện hại:

– Đặc điểm gây hại:

+ Nhện đỏ (Panonychus citri): Phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ đông xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vùng tròn lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo.

+ Nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus): Phát sinh chủ yếu ở trong những thời kỳ khô hạn kéo dài và ít ánh sáng (trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu vàng sáng ở dưới mặt lá.

– Phòng trừ: Để chống nhện (nhện đỏ và nhện trắng) dùng thuốc Comite, Ortus 50EC, Pegasus 250 pha nồng độ 0,1 – 0,2% phun ướt cả mặt dưới lá và phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại phải phun kép 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày bằng những thuốc trên hoặc phố trộn 2 loại với nhau hoặc với dầu khoáng trừ sâu.

Rệp hại: Chủ yếu hại trên các lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen.

– Đặc điểm gây hại:

+ Rệp cam: Chủ yếu gây hại trên các cành non, lá non. Lá bị xoăn, rộp lên. Rệp tiết ra chất nhờn (gọi là sương mật) hấp dẫn kiến và nấm muội đen.

+ Rệp sáp (Planococcus citri): Trên mình phủ 1 lớp bông hoặc sáp màu trắng, hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu. Những vườn cam hoặc cây cam ở gần ruộng mía thường hay bị từ mía lan sang.

– Phòng trừ: Dùng Sherpa 25EC hoặc Trebon pha với nồng độ 0,1 – 0,2% phun 1 – 2 lần ở thời kì lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn trị có hiệu quả cần pha thêm vào thuốc 1 ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuốc dễ thấm.

* Bệnh hại bưởi

Bệnh loét (Xanthomonas campestris)

Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại ở thời kì vườn ươm và cây mới trồng 1 – 3 năm, ở thời kỳ cây cho thu hoạch bệnh gây hại cả trên lá bánh tẻ, cành, quả non. Trên lá thấy xuất hiện các vết bệnh không định hình, mới mầu xanh vàng, sau chuyển thành màu nâu xung quanh có quầng vàng. Gặp điều kiện ẩm ướt gây thối rụng lá, gặp điều kiện khô gây khô giòn vết bệnh làm giảm quang hợp. Gây hại nặng trong điều kiện nóng, ẩm (vụ xuân hè).

Bệnh sẹo (Ensinoe fawcetti Bit. et Jenk)

Triệu chứng gây hại: Vết bệnh thường có mầu nâu nhạt nhô lên khỏi bề mặt lá. Có thể lốm đốm hoặc dày đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành sẽ nhìn thấy các đám sần sùi giống như ghẻ lở, màu vàng hoặc nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ khô và chết. Bệnh đặc biệt gây hại nặng trong điều kiện nống và ẩm (vụ xuân hè).

– Phòng trừ:

+ Cắt bỏ lá bệnh, thu gom đem tiêu huỷ

+ Phun thuốc: Boocđo 1 – 2% hoặc thuốc Kasuran 0,2%.

– Cách pha thuốc boocđô (pha cho 1bình 10 lít):

+ Dùng 0,1 kg Sunfat đồng + 0,2 kg vôi đã tôi (nồng độ 1/100), nếu nồng độ 2% thì lượng sunfat đồng và vôi tăng gấp đôi.

+ Lấy 7 lít nước pha với đồng sunfat, 3 lít còn lại pha với vôi, lọc bỏ cặn bã, sau đó lấy dung dịch đồng loãng đổ vào nước vôi đặc vừa đổ vừa quấy cho tan đều sẽ được dung dịch boocđô.

Bệnh chảy gôm (Phytophthora citriphora):

– Đặc điểm gây hại:

Bệnh thường phát sinh ở phần sát gốc cây cách mặt đất khoảng 20 – 30 cm trở xuống cổ rễ và rễ.

Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị những vết nứt và chảy nhựa (gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ.

Bệnh nặng lớp vỏ bị hại thối rữa (giống như bị dội nước sôi) và tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong có màu đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại, cây có thể bị chết ngay, còn bị một phần thì cây bị vàng úa, sinh trưởng kém, bới sâu xuống đất có thể thấy nhiều rẽ cũng bị thối.

– Phòng trừ:

Đẽo sạch lớp vỏ và phần gỗ bị bệnh, dùng Boocđô 2% phun trên cây và quét trực tiếp vào chỗ bị hại, nếu bệnh đã lan xuống rễ phải đào chặt bỏ những rễ bị bệnh rồi xử lý bằng boocđô.

Có thể dùng các loại thuốc khác như Aliette 80NP, Benlat C nồng độ 0,2 – 0,3% để phun và xử lý vết bệnh.

Bệnh Greening:

– Đặc điểm gây hại: Cây có múi nói chung và bưởi nói riêng có thể nhiễm bệnh Greening vào bất kỳ giai đoạn nào từ thời kỳ vườn ươm tới khi cây 10 năm tuổi. Tuy nhiên, bưởi ít nhiễm bệnh Greening hơn các giống cam quýt khác. Triệu chứng cho thấy: trước khi những lá non trở thành mầu xanh thì trở nên vàng, cứng lại và mất mầu. Mô giữa các gân lá chuyển xanh vàng hoặc hơi vàng và có đường vân. Đầu tiên các đọt và lá non bị bệnh sâu đó có thể biểu hiện trên cả tán. Cùng thời gian đó lá xanh và lá già chuyển xang mầu vàng từ sống lá và gân lá. Các lá bị nhiễm bệnh có thể bị rụng sớm, trong một vài tháng hoặc và năm tất cả các cành cây bị khô đi và tàn lụi.

– Phòng trừ:

+ Sử dụng cây giống sạch bệnh

+ Trồng sen ổi để xua đuổi rày chổng cánh.

+ Phun thuốc phòng trừ môi giới truyền bệnh (Rầy chổng cánh)

+ Cắt bỏ tất cả các cành bị bệnh đem đốt

+ Bón phân cân đối tăng sức đề kháng và chống chịu của cây

Các bệnh do virus và viroid:Trên bưởi còn 2 loại bệnh khá nguy hiểm gây hại: bệnh vàng lá (do virus Tristeza gây hạ) và bệnh Exocortis (do viroids gây hại). Các bệnh này không chữa trị được bằng các loại thuốc hoá học như trên mà phải phòng trị bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, bắt đầu từ khâu nhân giống sạch bệnh tới các kỹ thuật canh tác, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ môi giới truyền bệnh vv..

6. Thu hoạch và bảo quản:

– Thời điểm thu hoạch: Thu hoạch khi vỏ quả chuyển từ màu xanh chuyển xang mầu vàng (Trung tuần tháng 8)

– Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh khi thu hái: Thu hoạch quả vào những ngày trời tạnh ráo, thu hoạch vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát, tránh thu hoạch vào giữa trưa hoặc trời quá nóng.

– Kỹ thuật thu hái: Cần phải có thang chuyên sử dụng cho thu hoạch quả và sử dụng kéo để cắt chùm quả sau đó lau sạch, phân loại, cho vào thùng hoặc sọt tre có lót giấy hoặc xốp, để nơi thoáng mát và đem đi tiêu thụ./.

Kính chúc bà con một mùa bội thu!

【#3】Hướng Dẫn Kĩ Thuật Trồng Cây Dừa Xiêm Dứa

Cây trồng sau 3 năm cho trái. Bình quân cho 15 buồng, tương đương 220 trái/năm. Năng suất cao và ổn định ở cây từ 6 đến 25 năm tuổi.

Dừa được trồng ở nhiều địa phương, từ các tỉnh miền Trung đến Đồng bằng sông Cửu Long. Vùng ven biển đặc biệt thích hợp với dừa dứa. Loại cây này ưa đất tơi xốp, hàm lượng dinh dưỡng các chất dễ tiêu cao và đất không quá phèn hay quá mặn, độ pH từ 5 trở lên có thể trồng tốt. Trên vùng đất bạc màu cần cung cấp nhiều phân hữu cơ.

Dừa dứa thuộc nhóm dừa lùn, giống đồng hợp tử (homozygous). Nếu trồng chuyên canh dừa dứa cách ly với các vườn dừa khác giống thì không có khả năng lai tạp. Dạng cây, trái giống dừa xiêm xanh, chỉ khác là nước và cơm dừa có mùi thơm của dứa, mùa nắng hạn mùi thơm càng đậm. Bộ rễ và lá cũng có mùi thơm.

Dừa dứa có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao và lâu dài trên 20 năm. Nó có vị thế quan trọng trong chiến lược bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế nông thôn, du lịch sinh thái… Vì thế, việc chọn giống để trồng là rất quan trọng vì nếu lầm lẫn trong khâu chọn giống thì năng suất thấp, chất lượng kém.

Vườn cây đầu dòng phải được trồng thuần dừa dứa và hoàn toàn cách ly với các vườn dừa khác giống. Cây giống được nuôi trong túi nhựa kích thước trung bình 20x 28cm, chiều cao cây từ 50cm trở lên, có 4 – 5 tàu lá, không bị sâu bệnh, bộ rễ phát triển.

2. Hướng dẫn cách trồng

2.1 Chuẩn bị đất:

Khai hoang theo rãnh để tránh gây biến đổi sinh thái môi trường và gây bất lợi cho sự phát triển cây trồng.

2.2. Mô liếp trồng:

Vùng đất cao ráo hay đất cát không cần lên liếp mà chỉ cần cày sâu 20- 30cm và dọn sạch cỏ, rễ cây. Đất phù sa thấp cần lên liếp để chống ngập úng. Tùy độ sâu của tầng phèn mà thiết lập mương liếp cho phù hợp. Liếp đơn bề rộng khoảng 4-5m. Liếp đôi bề rộng khoảng 9-10m. Chiều sâu mương không được vượt quá tầng sinh phèn. Nếu đất thấp cần lên mô cao 0,3- 0,7m, sau đó bồi đất hàng năm.

2.3. Mô hay hốc trồng:

Bón 1kg vôi bột, sau 1 tuần bón 0,5 – 1kg lân, 5-10kg phân hữu cơ hoai mục.

2.4. Khoảng cách trồng:

Trung bình cây cách cây 5,5m-6m, hàng cách hàng 6m. Mỗi hecta trồng 280-300 cây.

2.5. Cách trồng:

Đặt cây con ở vị trí giữa mô hay hốc trồng; không lấp đất cao hơn cổ thân cây con; cố định cây để phòng chống đổ ngã và che gốc giữ ẩm.

3. Chăm sóc

3.1. Tưới nước:

Những ngày đầu sau khi trồng cần tưới cho cây, 1-2 ngày/lần. Cây bén rễ, mùa khô cần tưới 3 – 4 lần/tháng. Theo dõi độ ẩm của đất để điều chỉnh lượng nước tưới.

3.2. Làm cỏ:

Chỉ làm cỏ xung quanh gốc khoảng 1 – 2m. Không nên làm sạch cỏ để tạo vùng tiểu khí hậu ổn định và giúp thiên địch có chỗ khu trú.

3.3. Trồng xen:

Là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng tốt cho cây sinh trưởng. Trong những năm đầu có thể trồng các loại cây họ Đậu và xen các loại cây cam, quýt, ổi…

3.4. Bón phân:

– Phân hữu cơ: Khoảng 20 – 30kg/cây/năm, bón đều khắp tán cây và cuốc xới chôn vùi phân xuống sâu 1 – 3 tấc. Đào 3 – 6 hốc xung quanh tán cây có kích thước 0,4 x 0,4 x 0,4m, bón phân và lấp đất lại. Cần lưu ý độ ẩm của đất, tránh quá ẩm hay khô hạn kéo dài.

– Phân hóa học:

+ Cây 1 – 2 năm tuổi: Bón cách gốc 15 – 50cm. Liều lượng: 200g urê, 300g lân, 150- 300g kali, chia ra 4 lần/năm.

+ Cây 3 năm tuổi trở lên: Bón đều cả tán cây. Liều lượng: 1kg urê, 1 – 2kg lân, 1,5 – 2kg kali. Chia ra 2 – 3 lần/năm. Bón 1 – 2kg vôi đầu mùa mưa.

4. Phòng trừ sâu – bệnh gây hại:

– Dùng Supracide, Bassan diệt rầy..; Basudin 50Ec, Fenbis… diệt sâu ăn lá.

– Dùng chế phẩm Mat Metarhizium anisopliae, liều 50g, pha 1 lít nước + 20ml dầu dừa hay dầu ăn, lắc đều, đổ vào nõn dừa có bọ gây hại (xử lý vào mùa mưa đạt hiệu quả cao hơn). Dùng 1g Actara 25WG pha 5 ml nước bơm vào thân cây. Hay dùng Diaphos 10H, Vicarp 95 BHN đặt vào đọt non cây dừa.

Nguồn: sưu tầm

Tìm bài này trên Google:

  • ky thuat trong dua xiem dua
  • dua xiem dua
  • cay dua xiem
  • kỹ thuật trồng dừa xiêm lùn
  • mô hình trồng dừa xiêm lùn
  • dừa xiêm lùn

【#4】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Chiết Cành Cây Cơ Bản

Chiết cành là một hình thức nhân giống cây ăn quả mà cây con vẫn giữ nguyên được các đặc tính di truyền của cây mẹ. Cây chiết sinh trưởng, phát triển nhanh, thân cây thấp, tán gọn dễ chăm sóc, ra quả sớm và nhanh cho thu hoạch.

Vì vậy chiết cành là phương pháp nhân giống vô tính đơn giản, dễ làm, tỷ lệ sống cao, thuận tiện cho việc chuyển giao giống tốt cho các hộ làm vườn quy mô nhỏ. Song chiết cành cũng có hạn chế nhất định như cây chiết nhanh cỗi, cây không vững vàng, hệ số nhân giống thấp và gây tổn thương cây mẹ. Nếu được chăm sóc cẩn thận cây chiết vẫn có thể cho thu hoạch quả tới 20 – 30 năm. Kỹ thuật chiết cành nhân giống cây ăn quả gồm:

1. Đối tượng chiết và dụng cụ chiết

– Hầu hết các loại cây ăn quả đều có thể nhân giống bằng chiết cành như nhãn, vải, cam, quýt… trừ một số cây khó ra rễ

– Dụng cụ chiết:

2. Chọn cây và cành chiết

Chọn cây: Nên chọn những cây đã ra quả từ 3-5 vụ, chọn những cây có năng suất cao, ổn định, chất lượng tốt, cây sinh trưởng khoẻ và không bị sâu bệnh.

Chọn cành: Trong chiết cành không nên chọn cành già, cành ở thấp, cành mọc trên ngọn, cành bị sâu bệnh, cành vượt. Tốt nhất nên chọn cành ở giữa tầng tán phơi ra ngoài ánh sáng, gióng ngắn, cành mập, đường kính từ 1,0-1,5 cm, màu vỏ cây không quá xanh và cũng không quá thẫm, nên chọn cành bánh tẻ để chiết. Chiều dài cành chiết từ 40-60 cm, có hai nhánh. Trong chiết cành thì cành nhỏ có khả năng ra rễ, sinh trưởng tốt hơn cành to, nhưng nếu chiết cành nhỏ quá, cành dễ bị gãy, không mang nổi bầu.

3. Thời vụ chiết

– Vụ xuân hè: chiết vào tháng 3 và 4

– Vụ thu đông: chiết vào tháng 9

Trước khi chiết cành cần chăm sóc cây mẹ từ 1 – 2 tháng để cây mẹ sinh trưởng khoẻ, nhựa trong cây lưu thông mạnh, cành chiết nhanh ra rễ.

4. Kỹ thuật chiết

Hoặc sử dụng kéo khoanh vỏ kép là dụng cụ chiết cành chuyên nghiệp cùng lúc có thể cắt hai đường vỏ cây rất dễ dàng

Cùng với việc chọn cành, cần chuẩn bị đất để bó bầu. Dùng đất vườn hoặc đất bùn ao phơi khô, đập nhỏ rồi trộn lẫn với phân chuồng hoai mục, trấu bổi hay rơm rác mục, rễ bèo tây…

Hỗn hợp theo tỷ lệ 2/3 đất còn 1/3 là những nguyên liệu kể trên và được làm ẩm đến 70% độ ẩm bão hoà (đất có thể vê thành “con giun”, nhưng nắm chặt nước không chảy ra tay).

Một bầu chiết đường kính từ 6-8 cm, trọng lượng 150 – 300 g, chiều cao bầu đất 10-12 cm. Không nên làm bầu quá to, cây không cung cấp đủ nước cho đất, đất phía ngoài bị khô cứng, chặt bí cây khó ra rễ.

Chọn ngày có thời tiết tốt (trời nắng), dùng dao sắc cắt khoanh vỏ không nên cắt vào phần gỗ, nên bố trí cắt vỏ buổi sáng, tuỳ theo từng giống cây khác nhau mà thời gian bó bầu cũng khác nhau.

Ví dụ, các loại cây có nhiều nhựa mủ như hồng xiêm, trứng gà thì nên phơi nắng tối thiểu 7 ngày sau đó mới bó bầu, còn các giống ít nhựa mủ hơn như các cây có múi, nhãn, vải… thì nên phơi nắng tối thiểu 2-3 ngày sau đó mới bó bầu.

Chuẩn bị đầy đủ nguyên liệu như đất bó bầu, giấy nilon, dây bó… Dùng nguyên liệu đất đã chuẩn bị, giàn đất mỏng đều đủ bó xung quanh cành, dùng giấy nilông quấn xung quanh bầu, lấy dây buộc chặt hai đầu túi bầu, buộc chặt không cho bầu chiết xoay tròn.

Sau khi chiết từ 45-60 ngày, tùy theo mùa vụ và giống cây ăn quả khác nhau, quan sát thấy rễ mọc ra. Khi rễ đã chuyển từ màu trắng nõn sang màu vàng ngà hoặc hơi xanh thì có thể cưa cành chiết giâm vào vườn ươm.

Trước khi hạ bầu chiết cần cắt bớt những lá già, lá bị sâu và một phần lá non. Mật độ giâm cành chiết 20×20 cm, hoặc 30 x 30 cm.

Không nên giâm cành chiết quá dầy, rễ và mầm cành phát triển kém, khi bứng đi trồng khó khăn. Trước khi hạ bầu, xé bỏ giấy nilon, dùng đất màu lấp cách cổ bầu 3-5 cm, tưới đẫm nước, nên che bớt 50% ánh sáng tự nhiên, hàng ngày tưới 2 lần như trên. Sau 5-10 ngày chuyển sang chế độ 1-2 ngày tưới 1 lần tùy theo độ ẩm đất. Có thể ra ngôi cành chiết trong túi nilon hay sọt tre và chăm sóc như với cây giâm cành.

Sau khi hạ bầu 15 – 20 ngày, bỏ bớt mái che để cây quen dần với ánh sáng tự nhiên. Đến ngày thứ 30 bắt đầu tưới nước phân đã ngâm kỹ và chăm sóc như cây con. Sau giâm cành chiết từ 45-60 ngày có thể đánh cây đi trồng.

【#5】Tổng Quan Về Cây Chanh. Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Cây Chanh Cho Năng Suất Cao.

Chanh là một loại cây được trồng phổ biến trên khắp cả nước Nguồn:http://suckhoedoisong.vn

I.Tổng quan về cây chanh

1. Đặc điểm chung

Cây chanh là một loại cây ăn quả có múi, rất quen thuộc với mọi người vì nó có nhiều công dụng, nhiều lợi ích trong cuộc sống thường ngày. Chanh là loài cây nhỏ, thuộc họ Cửu lý hương.

Cây cao từ 1 – 3 m, thường mọc xòe, tán rộng, thân có gai, lá hình trứng và có mép răng cưa. Hoa chanh màu trắng ngả vàng và có gân màu tím nhạt, nở theo từng chùm.

Quả chanh khi chín có màu xanh hoặc vàng, thịt quả có vị chua, được sử dụng làm thực phẩm trên khắp thế giới, từ vỏ quả cho đến nước ép đều có những công dụng để khai thác. Gần như tất cả các bộ phận của cây chanh đều mang một mùi thơm rất đặc trưng và khá đa dạng về chủng loại.

Một số loại chanh phổ biến ở nước ta là chanh giấy, chanh không hạt, chanh tứ quý, chanh đào,…

2. Một số công dụng từ chanh

Chanh tuy bé nhỏ với vị chua nhưng có rất nhiều công dụng bổ ích trong đời sống của chúng ta, chủ yếu là ép lấy nước chanh để sử dụng.

– Trong ẩm thực, nước chanh được dùng làm nước giải khát, làm gia vị, để trang trí thức ăn,… hay góp phần trong công nghiệp chế biến thực phẩm (kẹo, mứt,…), hoặc để giã rượu cho các phái mạnh nhanh chóng thoát khỏi cơn say.

– Nước cốt chanh có chứa nhiều axit, nên con người lợi dụng điều đó để pha trộn thêm muối dùng vào việc tẩy rửa những chất bẩn, vết ố trên quần áo, khử mùi trong tủ lạnh, trong những nơi cất giữ thức ăn,…

– Trong y học, nước chanh không chỉ giúp thỏa mãn cơn khát mà còn kích thích các chức năng gan, thận hoạt động để giải độc cho cơ thể, tăng cường hệ thống miễn dịch và làm giảm tác động của các gốc tự do, tác động với các chất gây ngộ độc có trong thức ăn, và hỗ trợ quá trình cai thuốc lá. Các nhà khoa học đã cho biết trong quả chanh có chứa tới 22 chất chống ung thư, và vỏ chanh chính là nơi chứa nhiều nhất limonoids – chất có đặc tính chống ung thư.

– Ngoài ra chanh còn được các chị em phụ nữ sử dụng để làm đẹp, vì trong quả chanh có chứa các hợp chất chống oxy hóa rất hữu ích. Là nguyên liệu làm đẹp dễ tìm mà lại rẻ tiền, có thể dùng nước chanh pha với nước lạnh để rửa mặt hay pha trộn với mật ong, hoặc chiết xuất nha đam,… để tẩy tế bào chết, làm mặt nạ,…

Rất nhiều công dụng bổ ích có được từ quả chanh, vừa phục vụ cho việc ăn uống, vừa làm đẹp mà lại tốt cho sức khỏe. Nếu có một cây chanh trong vườn thì thật tuyệt vời.

II.Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây chanh cho năng suất cao.

1. Chọn giống

Bước đầu tiên là chọn giống chanh có phẩm chất tốt, cây giống phải sạch bệnh, cây con đúng tuổi trồng, có khả năng cho năng suất cao và chất lượng tốt. Bên cạnh đó còn cần phải xem xét điều kiện canh tác vùng trồng của mình, nhằm để cây có thể thích nghi và sinh trưởng, phát triển tốt.

Chanh có thể trồng hạt hoặc bằng phương pháp chiết cành, giâm cành. Trồng bằng hạt thì cây con sẽ đồng đều cùng tuổi và dễ làm nhưng thời gian cho trái của cây sẽ lâu hơn, tỷ lệ hạt giống bị lai tạp khá cao và mang những đặc tính không như mong muốn sẽ khó phát hiện ở giai đoạn cây con.

Với phương pháp chiết cành và giâm cành sẽ đảm bảo thời gian thu hoạch sớm hơn, và cây con giữ được trọn vẹn những đặc tính của cây mẹ mà mình đã chọn.

2. Thời vụ trồng

Cây chanh khá dễ trồng và trồng được quanh năm, nhưng để trồng với quy mô lớn, với mục đích kinh doanh thì bà con nên trồng tập trung vào mùa mưa để tận dụng nước mưa, tiết kiệm được chi phí và công tưới nước.

3. Mật độ trồng

Cây cách cây từ 2,5 đến 3 m, hàng cách hàng từ 2,5 đến 4 m. Nếu vườn chỉ trồng thuần cây chanh mà không xen canh với các loại cây khác thì nên trồng với mật độ 2,5 – 2,5 m để tận dụng được không gian một cách hiệu quả.

4. Đất trồng

Phải xử lý đất trước khi trồng, cày xới và phơi ải để giảm những tàn dư của sâu bệnh, giúp đất được tơi xốp. Đối với chanh thì phải đào hố trồng trước ít nhất 1 tháng, hố đào có đường kính rộng 60 – 80 cm, độ sâu thì tùy theo chất đất.

Nếu đất đồi thì sâu 60 – 80 cm, làm mô cao 0,3 – 0,8 m, rộng 0,8 – 1 m, nếu là đất bằng phẳng thì phải có đê bao khép kín, hố sâu 30 – 40 cm, đất thấp thì đắp mô cao 0,5 – 0,6 m, rộng 0,8 – 1 m.

Trước khi trồng cần tưới nước cho đất đủ ẩm, và có chuẩn bị các kênh rạch cũng như hệ thống thoát nước tốt, nếu vùng đất thấp thì phải có đê bao khép kín.

5. Cách trồng

Những cây con đạt chuẩn để trồng thì cao từ 50 – 70 cm. Rạch bầu và đặt cây nghiêng như thế nào phải tùy vào cây con có nhiều nhánh hay ít, các nhánh phân bố trên cây có đều hay không.

Chúng ta sẽ đặt cây nghiêng về phía nhiều nhánh hơn và cho bên có ít nhánh quay lên, để kích chồi bên và tạo tán cho cây, nếu cây đã có tán tương đối đều rồi thì đặt cây thẳng.

Sau khi đặt cây thì cắm cọc để buộc thân cây cho gió khỏi lay ngã cây. Lấp đất ngang cổ rễ hoặc cao hơn 1 – 2 cm, tránh làm vỡ bầu hay lấp đất quá sâu. Chú ý là không để cây quá nghiêng, và khi lấp đất phải nện đất cho thật chắc để đảm bảo cây đứng vững.

Ở năm đầu nên trồng xen với một số loại cây trồng khác như cây đậu, cây rau,… để tăng hiệu quả sử dụng đất trong thời kỳ kiến thiết.

6. Bón phân

So với cây cùng họ như cam, bưởi thì chanh là loại cây nhạy cảm nhất với phân bón và các chất hóa học. Bà con không nên bón quá thừa, cây sẽ dễ bị ngộ độc và nên bón theo hướng dẫn của nhà sản xuất phân bón mà bà con sử dụng.

Khi sử dụng phân bón hữu cơ sẽ giúp cho đất ít bị cằn cỗi, đồng thời cây trồng có tuổi thọ cao hơn, giúp tăng độ màu mỡ của đất, giảm ô nhiễm môi trường.

* Bón lót: Sử dụng các loại phân bón hữu cơ để bón vào hố trước khi trồng từ

20 – 30 ngày. Bón khoảng 1,5 – 2 kg/hố tùy vào loại đất và tình hình đất trồng, sau đó tưới nước và lấp ít đất lại. Thường xuyên tưới nước giữ ẩm trong thời gian từ khi bón lót đến khi trồng, vì thời gian này phân bón cần phải được phân giải cho đất tơi xốp, chuẩn bị dinh dưỡng để chúng ta trồng cây.

* Bón thúc: Kết hợp với việc bón thúc phân thì bà con phải làm sạch cỏ xung quanh và vun gốc. Do đặc điểm của cây chanh là thu rải rác trong năm, chứ không thu tập trung như cây cam và bưởi nên việc bón phân chia ra nhiều lần trong năm. Bón khoảng từ 4 – 5 lần/năm hoặc có thể chia thành nhiều lần hơn, trung bình 1 gốc bón khoảng 3 – 5 kg/năm, mỗi lần bón có thể là 0,5 – 1 kg/gốc.

Cứ mỗi năm bà con nên tăng lượng phân bón cho cây, nhưng không tăng một cách đột ngột sẽ dễ làm cây bị ngộ độc, mà nên tăng dần trong những lần bón. Tùy vào tình trạng năng suất mỗi vụ của cây mà bà con điều chỉnh lượng phân bón sao cho phù hợp, không gây lãng phí hay để thiếu phân.

Bón phân hữu cơ giúp cây chanh đạt năng suất cao, phòng chống sâu bệnh hại hiệu quả Nguồn:http://www.webtretho.com

7. Làm cỏ và tưới nước

* Làm cỏ: Vì cây chanh rất nhạy cảm với các chất hóa học, nên bà con cần sử dụng các biện pháp thủ công để làm cỏ như dùng liềm cắt, hay dùng tay nhổ cỏ, nếu cỏ cao thì có thể dùng máy cắt cỏ.

* Tưới nước: Cây chanh là loại cây mọng nước nên nước tưới rất quan trọng, cần phải tưới đẫm để giữ đất ẩm thường xuyên. Tuy nhiên nó cũng rất sợ ngập úng, bà con nên cần bố trí các hệ thống thoát nước tốt để đảm bảo cây không bị ngập vào mùa mưa.

8. Tỉa cành tạo tán

Đây là công việc cần được thực hiện thường xuyên trong quá trình trồng. Để cây được thông thoáng, quang hợp tốt sẽ cho năng suất chất lượng nông sản cao, đồng thời hạn chế tạo môi trường cho sâu bệnh hại tấn công.

Tỉa cành tạo tán cây sao cho cây có thể nhận được ánh sáng cả ở trong tán. Những cành khô, cành yếu hay mọc trong tán, làm cây quá um tùm, hoặc những chồi non phát triển quá nhiều, làm cây không thể tập trung nuôi những cành chủ yếu mang trái thì nên cắt bỏ.

Dùng kéo cắt cành hoặc cưa cắt cành sạch để tỉa cành, nên cắt sát vào thân chứ không chừa dư ra quá dài.

9. Phòng trừ sâu bệnh hại

Cùng thuộc họ cam, bưởi, quýt nên các đối tượng sâu bệnh hại cũng giống nhau. Nhưng chanh dễ bị nhiều bệnh như: Bệnh ghẻ, bệnh thán thư, rệp sáp, thối gốc chảy nhựa,…

Do cây chanh rất mẫn cảm với các chất hóa học nên bà con không nên sử dụng thuốc BVTV, mà nên phòng trừ bằng cách tạo môi trường thông thoáng, bón phân hữu cơ để cây tự có cơ chế đối kháng với các đối tượng gây hại.

10. Tạo quả trái vụ

Tuy chanh cho thu hoạch quanh năm và rải rác, nhưng bà con có thể “gom” lại cho cây thu hoạch tập trung thành nhiều đợt. Bằng cách xiết nước, xiết phân khoảng 3 – 4 tuần rồi tiếp tục tưới nước, bón phân trở lại sẽ kích thích cây ra hoa đồng loạt và tập trung hơn.

Cây chanh tuy cùng họ với cây cam, cây bưởi nhưng nó nhạy cảm và có những điểm đặc biệt, đòi hỏi người canh tác phải trồng và chăm sóc đúng kỹ thuật. Đảm bảo những nhu cầu thiết yếu và tuyệt đối không nên sử dụng các chất hóa học trên cây chanh.

Nên sử dụng phân bón hữu cơ để tăng tuổi thọ cho cây cũng như cho đất, lại vừa an toàn cho sức khỏe của người trồng, người tiêu dùng. Chúc vườn chanh của bà con sẽ luôn tươi tốt và luôn đạt năng suất cao.

【#6】Hướng Dẫn Trồng Và Chăm Sóc Cây Cam Đúng Kỹ Thuật

Ngoài việc được yêu thích nhờ hương vị thơm ngon thì quả cam còn có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, tăng cường thể lực, tăng cường thị lực, chống ung thư, kháng viêm, tốt cho da, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ngăn ngừa cảm cúm…

1. Chuẩn bị dụng cụ trồng và đất trồng

Bạn có thể tận dụng bao xi măng, bao tải, chậu, khay, thùng xốp có sẵn trong nhà hoặc mảnh đất trống trong vườn để trồng cây cam. Lưu ý: Dưới đáy khay đục lỗ để thoát nước. Dụng cụ trồng có kích thước trên 1m.

Cam là cây ưa sáng và thích hợp phát triển ở những vùng có nhiệt độ từ 23 – 29 độ C.

Cây cam có thể trồng ở nhiều loại đất từ đất thung lũng, đất phù sa cổ, đất đồi mới khai hoang, đất phù sa, đất bồi…Loại đất phù hợp nhất là đất thịt, nhiều mùn, thoát nước tốt, mực nước ngầm dưới 1m. Tầng đất canh tác dày khoảng 0,8 – 1m, độ pH từ 5 – 7.

Trước khi trồng nên bón lót phân chuồng hoai mục, vôi rồi phơi ải từ 15 – 20 ngày trước trồng để xử lý các mầm bệnh có trong đất.

2. Chọn giống và trồng cam

Hiện nay trên thị trường có những giống cam như cam sành, cam Cao Phong, canh Vinh, cam Xoàn… Bạn có thể lựa chọn giống tùy điều kiện và sở thích.

Cam thường được nhân giống bằng hạt, chiết cành hoặc ghép cành. Loại chiết cành cây sẽ mau ra trái nhưng tuổi thọ kém, bộ rễ yếu. Cây ghép khỏe mạnh hơn, tuổi thọ lâu, bộ rễ phát triển khỏe mạnh hơn. Trồng bằng hạt cây sẽ lâu ra trái và năng suất thường kém hơn.

Cây giống bạn có thể tìm mua sẵn ở các vựa giống để tiết kiệm thời gian và công sức.

Thời điểm trồng cam sành thích hợp nhất là vào cuối mùa khô đầu mùa mưa (tháng 4 – 5 Dương lịch) hoặc trồng vào cuối mùa mưa nếu có điều kiện tưới nước (Tháng 9 – 10 Dương lịch).

Khi trồng cam đào hố kích thước 40 x 40 x 40cm hoặc 60 x 60 x 60cm, vùng đồi núi cao cần đào hố có kích thước lớn hơn 70 x 70 x 70cm. Khoảng cách trồng cam 4 x 5m, cam chiết trồng với khoảng cách 3 x 3m.

Khi trồng dùng cuốc đào một lỗ lớn hơn bầu một chút ở giữa hố, đặt bầu cây vào, dùng chân nén nhẹ đất xung quanh gốc, cắm cọc để cố định cây, tránh gió lay động rễ, cây dễ chết. Nếu trồng mùa khô, sau khi trồng cần phủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô để giữ ẩm.

Sau khi trồng tưới nước ngay, sau đó 3 – 5 ngày tiếp tục tưới nước, giữ ẩm cho cây trong thời gian 1 tháng đầu tiên để cây mau chóng đâm rễ mới.

Cần cung cấp đủ nước cho cây trong mùa khô, lúc trái đang lớn và lúc trái sắp chín.

Để hạn chế cỏ dại, nên phủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô, rác mùn, cây phân xanh… xới phá váng sau những cơn mưa lớn. Làm cỏ vụ xuân tháng 1 – 2 và vụ thu tháng 8 – 9, xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2 – 3 lần.

Sau khi trồng theo dõi cắt bỏ các cành vượt, chồi mọc ra từ gốc ghép. Khoảng 1 – 2 tháng khi cây đã bắt đầu bắt rễ đâm chồi, tiến hành hãm ngọn ở chiều ca 70cm. Giữ lại 7 – 10 chồi khỏe mạnh, phân bổ đều kiểu ngôi sao quanh gốc, tránh hiện tượng che khuất ánh sáng lẫn nhau. Ở giai đoạn cây trưởng thành, thường xuyên cắt bỏ các cành già cỗi, sâu bệnh, cành bị gẫy đổ.

Năm đầu tiên: Sau một tháng cây hồi thì tiến hành bón thúc bằng phân đạm pha loãng (1%), cứ 15 – 20 ngày tưới 1 lần.

Giai đoạn năm thứ 2 – 3: Mỗi năm bón 10kg phân chuồng (phân hữu cơ vi sinh) + 100g urê + 300g supe lân + 100g kali chia thành 4 lần bón.

+ Lần 1 (tháng 9 – 11): 100% phân hữu cơ + 100% supe lân.

+ Lần 2 (tháng 1 – 3): 40% urê + 40% kali.

+ Lần 3 (tháng 5): 30% urê + 30% kali.

+ Lần 4 (tháng 7 – 8): 30% urê + 30% kali.

Giai đoạn kinh doanh (năm thứ 3 trở đi) tiếp tục giữ tỷ lệ bón và số lần bón như trên, nhưng tăng lượng phân cả năm cho mỗi cây lên như sau: 30kg phân hữu cơ + 500g supe lân + 500g urê + 500g kali.

Thu hoạch khi vỏ quả chuyển từ màu xanh sang màu vàng (khoảng 20 – 30 diện tích vỏ quả). Cần thu hoạch đúng thời vụ để tạo cho cây phân hóa mầm hoa tốt, thu hái quả vào những ngày râm mát.

Dùng kéo chuyên dụng cắt cuống quả, thu hái quả nhẹ nhàng tránh tổn thương cơ học.

【#7】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Ớt Sừng Vàng Châu Phi

Ngày đăng: 2021-01-23 07:39:46

Ớt là một loại quả gia vị cũng như loại quả làm rau (ớt Đà Lạt) phổ biến trên thế giới. Cây ớt trồng trong chậu có thể làm một loại cây cảnh vì quả ớt có nhiều màu sắc: trắng, đỏ, vàng, cam, xanh, tím… tùy theo giống cây. Quả ớt dùng làm gia vị, thực phẩm vì chứa nhiều vitamin A, vitamin C gấp 5 – 10 lần hai loại sinh tố này có trong cà chua và cà rốt.

Nhờ vậy, nhu cầu và diện tích trồng ớt có chiều hướng gia tăng. Trồng ớt thường cho thu nhập cao, đặc biệt là ớt sừng vàng có năng suất cao, ít nhiễm bệnh, được thị trường ưa chuộng nên bán được giá. Tuy nhiên, cần có vốn và lao động đầu tư cao, trên chân đất lúa cần đầu tư lớn về phân bón. Thời gian sinh truởng kéo dài có nhiều nguy cơ về sâu bệnh hại, đòi hỏi phải có trình độ thâm canh cao.

Có thể trồng quanh năm.

2. Kỹ thuật làm đất trồng Ớt Sừng Vàng Châu Phi:

Đất trồng ớt phải chọn nơi quang đãng, có nhiều ánh sáng, trước đó 2 – 3 vụ không trồng các cây họ Cà như: cà chua, cà tím, ớt… Sau khi dọn đất sạch, cuốc lên một lớp sâu khoảng 2 – 3 tấc (càng sâu càng tốt vì rễ ớt ăn sâu 70 – 80 cm), xáo đất nhỏ lại, nhặt sạch cỏ dại và lên liếp để trồng. Mỗi liếp rộng khoảng 1 – 1,2m, dài tùy ý, cao 15 – 20cm (về mùa mưa hoặc ở những vùng đất thấp có thể làm liếp cao 50 – 60 cm để tránh úng). Giữa hai liếp có rãnh rộng 30cm. Khoảng cách trồng 50 – 80cm (25.000 cây/ha)

3. Kỹ thuật gieo cây con:

Do hạt giống của giống cây nầy rất nhỏ nên nhất thiết phải qua giai đoạn vườn ươm để sản xuất cây con. Sức khỏe của cây con đóng vai trò quan trọng cho sự sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất. Nếu có thể gieo ươm tập trung, với tay nghề cao sẽ tạo cây con khỏe, đồng đều, ít sâu bệnh và giảm giá thành (lượng giống sử dụng: 150 – 200 gr / ha).

Cần chọn đất cao ráo, thoáng, không bị che rợp. Liếp gieo rộng tới 0,8 – 1m, cao 20 – 30cm (tùy mùa vụ và chân đất). Đặt vỉ gieo hoặc bầu gieo lên liếp. Mặt liếp cần bằng phẳng để liếp không đọng nước, cây hưởng ánh nắng, nước tưới và dinh dưỡng đồng đều.

Trộn 1 đất + 1 phân chuồng hoai mục + 0,5 tro trấu (nếu có). Cho đất vào bầu hoặc vỉ gieo. Hạt giống được áo bởi thuốc trừ bệnh như Coc 85, Hạt vàng, Metyl MZ, Ridomyl, Benlate hoặc Rovral, trộn 1gr hạt trong 1ml dung dịch thuốc (1gr thuốc + 400ml nước). Sau đó, gieo hạt vào bầu hoặc vỉ gieo. Hạt gieo sâu khoảng 0,5 – 0,7cm. Sau khi gieo, phủ lưới hoặc rơm. Rải Basudin, Diaphos 10 H, Sagosuper 3 G để trừ kiến và tưới ngay sau khi gieo, sau đó tưới nước giữ ẩm mỗi ngày. Khi hạt nẩy mầm, cần gỡ bỏ lưới hoặc rơm ngay để cây cứng cáp.

Cần tiến hành 2 – 3 lần trong suốt giai đoạn vườn ươm, tỉa những bầu có 2 cây, dặm sang chỗ khác.

Các lần sau: Tỉa bỏ cây yếu, cây dị hình, dời bầu gieo xa hơn cho cây cứng cáp, kết hợp nhổ cỏ, bón thúc thêm nếu cây xấu.

Trước khi cấy 5 – 7 ngày, giảm nước từ từ, trước khi cấy 2 – 3 ngày ngưng tưới (tưới lại khi cây có biểu hiện héo) để rễ phát triển, cây cứng lại thì khi cấy cây ít chết. Trước khi cấy 2 – 3 giờ, cần tưới thật đẫm cho cây hút no nước, chờ ráo nước thì chuyển cây ra ruộng để cấy. Nên cấy cây lúc chiều mát, tránh làm vỡ bầu, ấn chặt gốc và tưới ngay sau khi cấy cho cây không mất sức. Cây con đạt 5 – 6 lá thật (25 – 30 ngày) có thể đem cấy.

4. Kỹ thuật chăm sóc Ớt Sừng Vàng Châu Phi:

Trồng dặm Ớt Sừng Vàng Châu Phi:

Sau khi cấy 7 ngày, kiểm tra đồng ruộng và dặm những cây chết vào buổi chiều mát, trồng xong tuới ngay để tránh cây bị héo.

Cách tưới nước cho Ớt Sừng Vàng Châu Phi:

Đảm bảo đầy đủ nước cho cây sinh trưởng, giữ ẩm thường xuyên, tránh quá khô hoặc quá ướt.

Hướng dẫn cách bón phân cho Ớt Sừng Vàng Châu Phi:

– Bón lót khi làm đất (ha) 30 tấn phân chuồng hoai + 1.500kg vôi (để ớt có nhiều quả)+ 200 kg 20-20-15, nếu có màng phủ nông nghiệp.

– Bón thúc: Chia đều số lượng phân NPK còn lại (800kg) làm 4 – 6 lần, giữa các lần bón thúc hoặc thu hoạch có thể phun thêm phân bón lá như Miracle – Gro, Yogen… Khi trái bắt đầu lớn, phun định kỳ CaCl2 0,4% trên trái, ½ tháng/lần.

Khi trồng được 20 – 25 ngày, tiến hành tỉa bỏ những nhánh gốc dưới cháng ba của cây, giúp cho cây ra hoa tập trung, dễ chăm sóc, tạo sự thông thoáng cho ruộng, ít bệnh.

Cây ớt mang nhiều trái, gặp gió mạnh dễ đổ ngã, cần cắm cây chống đỡ, tốt nhất là 1 cây chà/1 cây ớt, có thể 3 – 4 cây ớt cắm 1 cây chà. Sau đó, dùng dây nilon đen căng thật thẳng theo hàng cây chà đã cắm, căng nhiều tầng, tầng dưới cùng ngay bên dưới điểm phân cành, buộc dây vào thân ớt để cây có thể đứng vững.

– Đối với côn trùng: Phun định kỳ 5 – 7 ngày/lần để phòng sâu xanh, rầy, rệp, ruồi đục trái… có thể dùng Bassa, Oncol, Lannate, Fastac, Sherpa, Confidor,Supracide…

Phổ biến là loài Pythium sp. Phát sinh khi nhiệt độ không khí cao, ẩm độ đất cao. Không để đất bị úng hoặc mưa lớn rơi trực tiếp xuống vườn ươm. Nên xử lý đất trước khi đặt bầu hoặc vỉ bằng Benlate C, Sun-phát đồng 1%. Trước khi đưa cây con ra ruộng trồng, phải phun thuốc trừ bệnh bằng Ridomil, Rovral, Daconil…

* Bệnh thán thư hay đén trái:

Đây là một trong những bệnh gây hại rất nghiêm trọng, gây thối quả hàng loạt thường gây hại khi ớt già đến chín, bị nặng cũng có thể bị thất thu hoàn toàn. Nấm bệnh tồn tại rất lâu trong đất, trên cây và trong hạt cây bệnh, nông dân thường gọi nôm na là bệnh “đén trái”. Bệnh rất khó phòng trị trong mùa mưa, vì bệnh chỉ xuất hiện rất trễ khi trái chín.

Tác nhân: do nấm Colletotrichum spp.

Đầu tiên có vết ướt trên quả, sau đó lan rộng, biến thành màu tối thường có vết vòng, ở trung tâm vết bệnh có màu đen. Trong thời tiết ẩm, thấy có lớp bào tử nấm màu hồng cam trên bề mặt vết bệnh.

Điều kiện lây lan và phát triển:

Bệnh thường gây hại nặng trong mùa mưa, có nhiều sương mù, bệnh lan truyền do nấm tồn tại trên tàn dư cây của vụ trước, ở những đất trồng ớt quanh năm, bón phân không cân đối.

Biện pháp phòng trị cho cây Ớt Sừng Vàng Châu Phi:

– Khi bệnh xuất hiện thì không tưới nước lên cây để phòng tránh lây lan nhanh

– Hái và tiêu hủy trái bị hư

– Có thể phun ngừa bằng một số thuốc: Score 250 EC, Antracol 70 WP, Folan 50 SC, Super Mastercrop 21 AS, Penncozeb 80 WP, Cocman 69 WP, Dithane M-45 80 WP, Topsin M 70 WP… 1-2 tuần phun 1 lần khi trái còn nhỏ.

* Bệnh thối đít trái do thiếu Canxi:

Phun định kỳ 7 – 10 ngày/ lần khi cây bắt đầu cho trái bằng CaCl2, hoặc nitrat canxi nồng độ 20 – 25gr/16 lít.

Chú ý: Canxi trong cây không chuyển vị, nên cần phun lên trái chứ không qua lá.

6. Thu hoạch Ớt Sừng Vàng Châu Phi:

Bắt đầu thu hoạch 105 ngày sau khi gieo.

Trái non màu trắng, xanh hơi vàng nhạt, khi trái chuyển qua màu vàng (trái già) và một phần trái hơi cam là có thể thu hoạch. Thịt trái dày, rất cay, thơm. Trái dài 10 – 12cm. Nếu chăm sóc tốt, năng suất có thể đạt 25 – 40 tấn/ha.

Sở khoa học công nghệ Đồng Nai

TIN TỨC KHÁC :

【#8】Top 9 Loài Lan Vũ Nữ Được Ưa Chuộng Nhất Hiện Nay

Lan vũ nữ là loài lan rất đa dạng và phong phú và được mệnh danh là loài hoa lan đẹp nhất thế giới với màu sắc cực kỳ đa dạng và hình dáng hoa uyển chuyển, mềm mại. Lan vũ nữ biểu trưng cho tình yêu thầm kín, sự cầu mong người mình yêu được hạnh phúc. Trong công việc: Hoa màu vàng tượng trưng cho sự sinh sôi nảy nở, ăn nên làm ra nên thường được dùng để tặng vào các dịp khai trương. Trong tâm linh: Khi bạn ngủ mơ thấy lan vũ nữ đó là điềm may. Bạn sẽ nhanh chóng vượt qua những khó khăn và gặp nhiều may mắn trong cuộc sống. Hãy cùng điểm mặt Top 9 loài lan vũ nữ được ưa chuộng nhất hiện nay trong bài viết dưới đây nhé!

Top 9 loài lan vũ nữ được ưa chuộng nhất hiện nay

Đây là một trong những loài lan vũ nữ có màu sắc và cách phối hoa cực kỳ độc đáo, Vì nó có rất nhiều màu và có thể phối hợp đa dạng nên người ta đã đặc cho nó cái tên là lan vũ nữ bút chì

Đây là loài hoa có hình dáng khá đặc biệt vì khi kết hợp giữa màu sắc và cánh hoa thì cho ra hình dạng giống một cô phù thủy hơn là một mụ phù thủy. Bạn có muốn sở hữu một cô phù thủy đáng yêu và hiền lành này không nào?

Đây là một trong những loại lan vũ nữ được nhiều người ưa chuộng và sưu tầm vì có sắc tím mộng mơ và lan tỏa cả một khu vườn.

Là loại cây giống gốc lan rừng Nam Mỹ. Cây phát triển đa thân, một thân thì khá giống loại Vanda. Cây phát triển tốt khoẻ mạnh, dễ ra hoa. Vòi hoa dài, phân chi rất đẹp. Cánh hoa màu hồng, uốn lượn như đàn bướm.

Chăm sóc: cây thích ghép gỗ, dớn miếng, trồng giá thể nhuyễn như than, vỏ thông nhỏ (vì rễ nhỏ), cố định cây chắc. Ngày tưới nước 2 lần (và không được để khô), ánh sáng như các loại lan khác. Không tưới phân hóa học cho cây.

Dòng vũ nữ hoa tuyệt đẹp, bộ lá to tròn rất khỏe, vòi hoa phân nhánh nhiều hoa. Cây rất siêng hoa, chỉ cần ra vài lá là có vòi hoa, trồng lâu, vòi hoa dài rất hoành tráng. Hoa rất thơm.

Được biết, hoa Lan Vũ nữ mật ngọt là một loại lan gồm khoảng chừng 600 giống mọc tại các miền thuộc Nam Mỹ, các nước nhiệt đới Brazin, Pêru, Mêhicô và phân bố ở giải quần đảo Tây Ấn Độ. Tên thường gọi: Lan Vũ nữ. Tên khoa học: Oncidium lexuosum. Họ thực vật: Orchidaceae (Phong lan).

Lan Vũ Nữ mật ngọt là một trong 3 loài hoa được thế giới công nhận đẹp nhất, trở thành loài hoa quan trọng để cắm nghệ thuật và trồng làm chậu treo trang trí. Mỗi cành hoa phải có 1/3 số bông hoa nở mới được hái và thường có hơn 100 hoa trên 1 cành rất phổ biến ở Việt Nam nước ta.

Đây là một loại lan vũ nữ độc đáo tiếp theo vì hình dạng giống một con nhện đang bò nhanh, và loài hoa này cũng có rất nhiều kiểu dáng khiến người ta phải trầm trồ

Mô tả: Den Hibiki được lai từ 2 cây Bracteosum x Laevifolium, là dòng Dendro mini khá đặc biệt khi vòi hoa mọc từ dưới gốc, một số mọc mọc ở thân. Thân cũng có màu sắc lạ mắt khác với màu xanh thông thường của những loại khác. Cây có thể chơi thân, là vì điểm đặc biệt này của nó.

Cây thích hợp khí hậu ấm ấp, siêng hoa, ra hoa trên cả giả hành nhỏ, hoa lâu tàn, nếu trồng nhiều nắng thân lá sẽ có màu tím rất đẹp

Là một lan vũ nữ phát triển lớn hơn với lá dài đến khoảng 12 inch (30 cm), nó cho thấy ảnh hưởng nhiều từ một trong những cha mẹ của loài hoa này là Oncidium lanceanum, với tán lá tai la và phẳng của nó, có mùi thơm mật ong, hoa lâu tàn của sự tương phản màu nâu và màu vàng với một môi vàng.

Lan vũ Nữ Sharry baby có màu trắng và nâu đỏ, màu sắc tuy không được rực rỡ nhưng thật đẹp và quý phái. Lá Vũ Nữ Sharry baby thường có nhiều đốm nâu, tuy không lây bệnh sang các loài Vũ Nữ khác, nhưng nó không thể nào diệt trừ được bệnh này dù đã dùng nhiều loại thuốc trừ nấm bệnh khác nhau. Trước đây, khi để giả hành phát triển tự nhiên chen kín trong chậu, cây ra hoa rất nhiều và rất mạnh. Sau này, khi sang thành 2 chậu thì cây yếu đi và ít hoa hơn.

Một loại lan vũ nữ khá hấp dẫn với hoa màu đỏ rỉ kích thước hoa đạt 3-inch (8-cm) và môi với những mảng màu vàng và màu da cam trên môi. Những hoa chịu trên một cành dài và lá của nó có thể dài khoảng 6 đến 8 inches (15-20 cm). Tuy nhiên, hoa có mùi mốc.

【#9】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Lan Ngọc Thạch 3 Màu Đơn Giản Tại Nhà

Ngọc Thạch 3 màu là loại hoa lan đặc biệt, với màu sắc bắt mắt dung hòa với nhau tạo nên một loại lan đẹp và được nhiều người ưa thích và được xếp vào top những loài lan đẹp được ưa chuộng tại Việt Nam. Lan nở một lúc nhiều bông đua sắc, với vẻ đẹp choáng ngợp cùng hương thơm ngọt ngào, loài lan này đã khiến bao nhiêu người bị đắm say. Để nhận biết và chăm sóc loài lan này đúng cách, chúng ta hãy cùng tham khảo bài viết dưới đây nhé.

Tên gọi và nguồn gốc của lan ngọc thạch ba màu

Tên gọi: Ngọc Thạch Ba Màu có tên khoa học là Dendrobium crystallinum, ở Việt Nam được gọi bằng nhiều tên khác nhau như lan ngọc thạch ba màu, lan ngọc vạn pha lê, hoàng thảo hoa sen, hoàng thảo ngọc thạch, lan phi điệp đơn hay thạch hộc kim.

Nguồn gốc: Lan ngọc thạch 3 màu là giống cây phụ sinh thuộc họ phong lan Orchidaceae trong bộ phong lan Orchidales. Ngọc thạch ba màu là loại lan dễ sống phân bố nhiều ở các vùng Quảng Trị, Gia Lai (Pleiku), Đắk Lắk, Lâm Đồng (Đà Lạt, Langbiang, Bảo Lộc). Trên thế giới thì tập trung nhiều ở Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia.

Cách nhận biết Hoàng Thảo Ngọc Thạch

Thân: Hoàng thảo ngọc thạch là giống lan phụ sinh, thân dài khoảng 40 – 50 cm, hình trụ, dày khoảng 0,5 cm, lóng dài 2 – 3 cm, thân to mập gần như đều nhau từ gốc đến gần ngọn, chỉ thuôn tròn lại một chút tại đỉnh, thân vàng ươm, bóng, các đốt không nổi to rõ ràng. Khi chuẩn bị ra hoa, lá lan sẽ rụng hết chỉ để lại thân trơ trụi màu xanh bạc.

Lá: Lá lan Ngọc Thạch hình mác, đỉnh chia làm hai thùy nhọn lệch nhau, dài khoảng 8-10cm, rộng 2cm, lá mỏng và dẻo dai. Khi đến mùa nở hoa, lá sẽ bắt đầu chuyển vàng và rụng dần để những nụ hoa nhú lên.

Rễ: Rễ lan Ngọc Thạch là loại rễ chùm, mọc từng chùm ở dưới gốc, rễ màu trắng, nhỏ bám vào giá thể khi trồng sẽ kết lại thành tảng rễ một.

Hoa: sau khi lá rụng các cụm hoa gồm 2 – 3 nụ sẽ nhú lên từ các đốt. Hoa thường nở vào mùa xuân hay mùa hè, hoa to, đường kính khoảng 5cm, cuống hoa dài khoảng 2,5 cm, có cằm dài, đỉnh tròn. Cánh có hoa hình mác nhọn, dài khoảng 2,5 – 3cm, rộng 1 – 1,5 cm. Môi hình trứng, dài chừng 2,5 – 2,8cm, rộng cỡ 2,5cm, có màu trắng ở mép, giữa môi có 1 đốm lớn màu vàng lục, mép xẻ răng nhỏ. Cột cao 0,4 – 0,5cm; răng cột tù. Nắp hình mũ cao, bề mặt phủ lông thô có màu trông giống như thủy tinh pha lê. Hoa nở rất bền thường tàn sau 15 -20 ngày.

Cách trồng lan ngọc thạch 3 màu

Giá thể: Giá thể trồng lan ngọc thạch là xơ dừa, rêu, và than củi đã vệ sinh sạch sẽ. Là giống cây thân dài nên giá thể thích hợp để trồng ngọc thạch nhất là ghép vào gỗ hoặc có thể trồng lên chậu.

Cây giống: cây khi mua về nên lựa chọn những giống cây cứng cáp, khỏe mạnh, không bị dập nát, héo úa, thân cây thường có màu hơi xanh vàng, mua về xử lý như bình thường.

Hoàng thảo ngọc thạch thường được trồng vào chậu hoặc ghép vào thân gỗ đều được. Với tôi thì dòng này ghép vào khúc gỗ là ok hơn cả, tất nhiên là phải đáp ứng đủ độ ẩm cho cây thì mới nên áp dụng kiểu trồng này, nếu không cây sẽ bị còi cọc.

Cách trồng vào chậu: Trước hết, bạn cần cho lớp lớp xốp lớn dưới đáy chậu để đảm bảo vừa thoáng khí, vừa thoát nước tốt cho cây. Tiếp theo cho thêm than củi và vỏ thông cỡ to đến khoảng ⅔ chậu thì trồng lan vào giữa chậu, sau đó dùng vỏ thông cỡ nhỏ trộn với dớn vụn hoặc xơ dừa xếp xung quanh rễ. Bạn cần cố định sao cho cây không đổ, nên đặt 1 que gỗ ở giữa giúp lan đứng thẳng và cố định cây cho chắc chắn. Cuối cùng thì treo lên giàn tạm thời tránh mưa nắng trực tiếp, hôm sau mới tưới và cứ như vậy 1 ngày 1 lần tưới nước, thường xuyên theo dõi sự phát triển của cây.

Cách ghép lan vào thân gỗ: chuẩn bị gỗ, xếp lan hoàng thảo sao cho ngọn lan quay xuống đất, áp rễ vào thân gỗ, rễ và thân tơ hướng ra ngoài và dùng dây buộc chặt để cố định cây lan, sau đó dùng súng bắn ghim, ghim vào sợi dây vừa buộc, không nên đóng đinh hay buộc dây thép, khi đinh gỉ sẽ làm hại đến cây. Sau đó tưới nước cho thân gỗ và theo dõi sự phát triển của cây như bình thường.

Kỹ thuật chăm sóc lan hoàng thảo ngọc thạch 3 màu

Ánh sáng: ngọc thạch 3 màu thuộc loại phong lan ưa ánh sáng. Nếu như cây thiếu ánh sáng thì cây sẽ không ra hoa được dù bạn có chăm sóc tốt cỡ nào. Vì vậy độ sáng cho hoa khoảng 70% là đủ, không nên để ở nơi nắng gắt sẽ làm cây bị khô hạn.

Độ ẩm: Lan ngọc thạch cần độ ẩm khoảng 80% mùa hè và khoảng 60% mùa đông. Nhưng bộ rễ của cây lan lại không chịu được sự ẩm ướt liên tục nên chúng thích khô ráo. Lưu ý khi tưới nước không nên tưới trực tiếp vào rễ mà nên tưới xung quanh gốc.

Chế độ phân bón cho lan ngọc thạch: Nên bón phân cho lan hàng tuần khi cây non phát triển mạnh. Bạn có thể tưới thêm K và P, phân chuồng, nước chuối cho cây hàng tuần để cây phát triển khỏe mạnh.

Phòng ngừa sâu bệnh hại cây: Chúng ta nên thường xuyên thăm nom và chăm sóc cây để phát hiện kịp thời những loại lá vàng, lá bị bệnh để tiến hành loại bỏ ngay tránh lây lan rộng và lây cho các cây khác tại vườn. Phòng chống bệnh cháy lá và thối rễ cho lan bằng cách phun khoảng 30g thuốc Ridomil 75WP vào bình 10 lít nước sạch khoảng 2 -3 lần 1 tháng.

Hy vọng với những kiến thức, kinh nghiệm thực tế trên đây đã giúp các bạn sở hữu cho mình những chậu lan ngọc thạch khỏe mạnh xanh tốt và hoa to, đẹp. Trồng lan ngọc thạch không quá khó mà chỉ cần làm đúng kỹ thuật và chăm chỉ bạn sẽ có thể thưởng thức được trọn vẹn vẻ đẹp và hương thơm của chúng.

【#10】Kỹ Thuật Trồng Địa Lan Sato Ra Hoa Cực Đẹp Ít Ai Biết

Trong những năm gần đây, cứ đến mỗi dịp tết là thị trường hoa lan lại sôi nổi với rất nhiều loài lan vô cùng xinh xắn và lộng lẫy. Một trong số đó có thể kể tới Địa lan Sato, đây loài hoa tuyệt đẹp, được rất nhiều người yêu lan và chơi lan lựa chọn.

Loài lan này hiện nãy đã được trồng công nghiệp nên rất phổ biến trên thị trường. Tuy nhiên, sẽ tuyệt vời hơn rất nhiều nếu ta bỏ chút thời gian trồng và chăm sóc chậu địa lan sato của mình ra hoa đấy. Hôm nay, hãy cùng Fao tìm hiểu cách trồng địa la sato cho hoa đẹp ngày tết nhé!

Đặc điểm của Địa lan Sato

Địa lan Sato là cây thân thảo có kích thước từ 0,3 đến 1,5m, dáng hoa có hình khum khum, tròn tròn giống như quả trứng, sau một khoảng thời gian ngắn sẽ xòe ra. Địa lan sato có lá mọc thành lùm hình dải và hình sừng. Cuống hoa to bản có từ 7 đến 15 bông.

Cánh hoa của Địa lan Sato có màu vàng rất đặc trưng, không những thế trên hoa còn có họa tiết vân kẻ sọc hoặc các lốm đốm màu cam, nâu, đồng, đỏ, trắng xen kẽ màu vàng chủ đạo của hoa…

Các bông hoa của địa lan Sato mọc thành từng những cụm khá dài, có độ rủ uốn nhất định. Vẻ đẹp của hoa cho chúng ta vô cùng hứng thú và ấn tượng. Nhưng màu của hoa có đẹp hay không còn dựa vào cách trồng địa lan Sato và cách chăm sóc địa lan Sato của từng người.

Hoa thường nở kéo dài từ 2 đến 3 tháng liên tục. Trong một năm lan chỉ nở duy nhất một lần, chủ yếu là vào thời điểm từ tháng 1 đến tháng 2, lúc này là tiết trời mùa xuân nên khí hậu mát mẻ rất thuận lợi cho quá trình ra hoa của cây.

Cũng bởi loài hoa này có đặc điểm là sống cộng sinh với các loài khác để hấp thu các chất dinh dưỡng, nên cách trồng địa lan Sato cũng rất đơn giản.

Địa lan Sato cũng là loài cây ưa khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao và mưa nhiều, nên trồng địa lan Sato ở nước ta là rất thích hợp.

Cách trồng Địa lan Sato

1, Lựa chọn chậu

Để trồng Địa lan Sato, bạn cần chọn loại chậu sao cho phù hợp với điều kiện và cây trồng. Cũng bởi đây là loại lan có lá dài, rủ nên bạn nên chọn những loại chậu cao. Bên cạnh đó, bạn cũng nên chọn những loại chậu có đường kính lớn vì khóm lan có rất nhiều thân.

Khi mang chậu về bạn cũng nên chú ý cần vệ sinh sạch sẽ. Chậu mới thì bạn chỉ cần rửa qua, còn chậu đã qua sử dụng thì bạn cần lau kỹ bằng nước xà phòng loãng sau đó rửa lại bằng nước thật sạch.

2, Giá thể trồng Địa lan Sato

Giá thể để trồng địa lan Sato gồm các vật liệu như vỏ cà phê nung, vỏ trấu nung, vỏ đậu phộng, dớn xơ, dớn mềm, vỏ thông, xơ dừa được sử dụng dạng đơn hoặc phối trộn. Việc chọn giá thể cần đáp ứng các yêu cầu sau:

  • Giữ ẩm tốt: độ ẩm giá thể từ 40 đến 60% trong mùa khô.
  • Thoát nước tốt: không tích nước trong mùa mưa, sau khi tưới 15 đến 20 phút thì không còn nước đọng trong chậu.
  • Chậm phân hủy: giữ được cấu trúc giá thể, lưu ý giá thể trồng địa lan Sato không được quá mục nát gây tích nước và kém thoáng khí.

Cách trồng địa lan Sato bao gồm 6 bước sau:

  • Bước 1: Rửa các khóm lan bằng vòi nước sạch (phải rửa thật nhẹ nhàng) sau đó xếp lần lượt vào rổ, nên đánh dấu từng loại lan tránh nhầm (lưu ý trong khi thao tác không làm hỏng dễ non).
  • Bước 2: Cho phần lót vào đáy chậu khoảng 5 đến 7 cm tuỳ chiều cao chậu và độ to của dễ cây.
  • Bước 3: Cho chất trồng chính (giá thể) vào chậu.
  • Bước 4: Dùng rêu hay vụn xỉ than để phủ lên bề mặt chậu lan 1 lớp mỏng sao cho thân cây lan vẫn phải hở 1 phần trên lớp phủ để tạo độ thông thoáng.
  • Bước 5: Dùng nước tưới đẫm toàn bộ chất trồng nếu trồng bằng bùn ao và dùng bình xịt để xịt rửa toàn bộ lá của cây lan. Nếu trồng bằng xỉ và cát thì chỉ dùng bình xịt để xịt rửa toàn bộ lá của lan.
  • Bước 6: Xếp các chậu lan vừa mới trồng vào nơi râm mát, tránh các nơi quá nắng và mưa dầm.

Để có những chậu hoa lan Sato đẹp và cuốn hút thì còn phụ thuộc vào cách trồng địa lan Sato và cách chăm sóc địa lan Sato của mỗi người.

Cách chăm sóc Địa lan Sato

Địa lan Sato là một loài hoa sinh trưởng và phát triển rất tốt khi có đầy đủ các yếu tố như nước, ánh sáng và phân bón.

Buổi sáng là thời điểm tốt nhất để chúng ta tưới nước cho cây. Trung bình mỗi tuần nên tưới từ 1 đến 2 lần, nếu như vào mùa mưa và mùa có độ ẩm cao thì nên tưới ít hơn.

Chú ý, tuyệt đối không nên để cho tầng đất khô, vì sẽ khiến cây khó phát triển vì thiếu nước.

Hoa địa lan sato phù hợp với cường độ ánh sáng ở mức trung bình. Nếu trong trường hợp quá ít ánh sáng sáng thì lá cây sẽ có màu xanh đậm, còn nếu quá nhiều ánh sáng thì lá cây sẽ có thể chuyển sang màu vàng nhạt. Nếu ánh sáng không có sự ổn định thì cây có thể khó ra hoa.

Một số nơi có vị trí thích hợp để trồng địa lan trong nhà như ở cạnh cửa sổ, trong phòng khách hay phòng ngủ.

Lưu ý, cần đảm bảo cây được nhận ánh sáng Mặt trời gián tiếp, không được để cây trong phòng tối hoặc bóng dâm vì như thế cây có thể không ra hoa và rất khó phát triển.

Địa lan Sato phát triển tốt trong môi trường có giới hạn nhiệt độ từ 20 đến 30 độ C vào buổi sáng, 10 đến 15 độ C vào buổi tối.

Địa lan Sato cũng giống như nhiều loài hoa khác rất thích ẩm, độ ẩm tối thiểu khoảng 50 đến 60%. Tuy nhiên không vì vậy mà lạm dụng vì độ ẩm quá cao có thể gây tình trạng sâu bệnh, nấm mốc cho cây.

Thay chậu cho địa lan Sato vô cùng rất quan trọng, việc thay chậu đúng thời gian quy định sẽ giúp cây thoáng khí, tránh bị úng nước và thuận lợi cho quá trình trao đổi chất.

Sau khi mua cây bạn có thể trồng trong những chậu có chứa than và đá thì không cần thay chậu thường xuyên, vì than và đá vừa giữ được ẩm, không bị vụn nên không bị úng nước. Khoảng thời gian quy định thay chậu nếu dùng than và đá lên đến 4 đến 5 năm.

Nếu chọn chậu có sử dụng vỏ dừa hoặc vỏ cây, bạn nên tiến hành thay chậu mới 2 năm/lần vì các loại vỏ này được một thời gian sẽ bị vụn ra. Sau khi tiến hành trồng địa lan Sato vào chậu thì khoảng 1 đến 2 tuần sau tưới nước trở lại để cây có thể thích nghi dần với môi trường sống.

6, Nơi đặt lan phù hợp

Địa lan Sato phát triển phụ thuộc vào môi trường sống nên nơi đặt địa lan Sato cũng vô cùng quan trọng. Cây địa lan sato nói riêng và các dòng lan nói chung rất cần sự thông thoáng không khí và sự rung chuyển để cho cây được tươi tốt hơn.

Kinh nghiệm của những người có kinh nghiệm về cách trồng địa lan Sato thì nên trồng ở ngoài vườn hoặc những nơi có ánh sáng mặt trời trực tiếp hơn là trồng trong nhà. Nhưng lưu ý, nếu trồng địa lan Sato ở ngoài thì nên có những mái rủ che tránh ánh nắng khắc nghiệt và mưa dầm.

Những lưu ý khi chăm sóc địa lan Sato

Bạn cũng nên biết những điều cơ bản khi chăm sóc địa lan sato như sau:

  • Không đổ bã chè, bã café vào chậu cây, luôn giữ mặt chậu cây thoáng, nếu trồng trong nhà thì mỗi tháng một lần nên mang chậu cây ra ngoài trời một tuần.
  • Không đặt chậu cây trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời vì lan rất sợ nóng và khô.
  • Khi cây lan xuất hiện các lá vàng, lá úa hoặc lá héo thì phải cắt bỏ đi ngay.

Như vậy là chúng ta đã tìm hiểu xong về cách trồng và chăm sóc địa lan sato rồi. Hy vọng với những kiến thức bổ ích mà Fao mang lại, bạn sẽ có cho mình được những chậu địa lan thật đẹp nhé. Chúc bạn thành công!