Top 13 # Xem Nhiều Nhất Hoa Dia Lan O Da Lat / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Vitagrowthheight.com

Welbome To Ysa Orcid, Hoa Lan Da Lat, Hoa Lan Viet Nam / 2023

Hoa Lan được phân lọai như thế nào?

HOA LAN ĐƯỢC PHÂN LOẠI NHƯ THẾ NÀO?

Lan được phân thành nhiều loại khác nhau theo cách thức mà chúng sinh trưởng, nghĩa là chúng sống bám vào các cây cối, tảng đá hoặc mọc dưới đất. Một số loài lan thúch ứng để tồn tại trong nhiều điều kiện khác nhau.

Loài lan tiến hóa để có thể sống trên một thân cây khác được gọi là lan công sinh. Chúng không phải la loài cây ký sinh, vốn sống từ cấht dinh dưỡng rát từ cây chủ. Lan cộng sinh không lấy gì từ cây chủ mà nó bám vào, mà chỉ lợi dụng vị trí sinh trưỡng trên cao, được gần với không khí và ánh sáng hơn thảm thực vật ở bên dưới. Lối sống trên không này không chỉ dành riêng cho loài lan, chúng còn chia sẻ với các loài dứa, dương xỉ, rêu và các loài thực vật khác, bò dọc theo cành cây để tạo môi trường khí hậu cho riêng chúng trên tán lá cao. Một lợi thế khác trong việc sống trên cao là ở đây có dồi dào côn trùng sinh hoạt, vốn là điều kiện cần thiết cho việc thụ phấn. Các loài lan đã tìm thấy nhiều cách thức khéo léo để hấp dẫn côn trùng thụ phấn.

Lan cộng sinh lấy chất dinh dưỡng từ không khí và từ bất cứ mảnh vụn nào tụ tập vào góc cành cành cây hay đám rêu phía dưới , nơi mà rễ cây lan xâm nhập vào. Những phần lá cây mục rữa và phân chim hay phân súc vật sẽ trở thành phần còn lại cho khẩu phần đạm bạc của chúng. Nhiều loại lan cộng sinh đã tận dụng tất cả càc bề mặt của cây chủ mà chúng yêu thích. Một số bám vào cành lớn gần thân cây chính hoặc ôm lấy thân cây và phát triển rất mạnh, đến nỗi chúng hoàn toàn bao quanh thân cây. Đôi khi chỉ cần trọng lượng 2 tấn của loài lan khổng lồ (giống Grammatophyllum speciosum) cũng đủ để làm cho cả cây đổ nhào xuống đất. Những loại lan khác, được gọi là lan cộng sinh trên nhánh, bám bấp bênh vào đầu ngoài cành cây, trong khi các loài lan khác, chẳng hạn như Psygmorchis Pusilla, nảy mầm và trưởng thành ngay trên lá của một số cây của vùng Trung Mỹ.

Sống dựa vào cây chủ, các loài lan thích ứng với lối sống giống như cây chủ. Khi cây chủ rụng lá ngay vào lúc cao điểm của mùa khô để giữ lại độ ẩm, nhiều loại lan cũng làm điều tương tự. Bộ rễ trên không của chúng ngừng phát triển và đầu rễ được bao phủ bởi một lớp vỏ lụa trắng, để bảo vệ chúng khỏi bị hư hại và thoát nước. Khi mùa sinh trưởng dừng lại, toàn bộ cây lan rơi vào trạng thái ngủ đợi đến những cơn mưa đầu tiên, vốn sẽ kích động một đợt phát triển mới khi cây lan hoạt động trở lại. Khi yên nghỉ, chúng duy trì sự sống dựa vào những túi nước. Qua thới gian khô hạn kéo dài, những túi nước đó sẽ bắt đầu khô quăn lại, đây là quá trình xảy ra hàng năm của nhiều loại lan.

Khi mùa mưa đến, cây lan bắt đẩu những mầm non và rễ mới cũng mọc ra thêm. Chúng hút ẩm để làm đầy những túi nước một lần nữa. Đợt phát triển mới dựa vào những túi nước cũ, già dặn để làm nguồn năng lượng cho đến khi những rễ mới có khả năng nuôi dưỡng chúng. Các túi nước già nua sẽ hổ trợ cho đợt phát triển mới đến khi chúng kiệt quệ và chết đi trong tình trạng khô héo hoàn toàn. Đến lúc này sẽ xuất hiện nhiều túi nước mới để thay thế chúng, về mặt lý thuyết theo cách này mà cây lan có thể tồn tại. Trên thực tế, chúng sẽ sống nhiều năm nếu cây chủ vẫn còn đứng vững.

Vì một lý do nào đó mà cho đến nay người ta vẫn chưa hiểu rõ hoàn toàn, nhiều loại lan cộng sinh chọn lựa một loại cây chủ cá biệt nào đó để sống bám vào. Điều này có thể do kết cấu lớp vỏ của cây chủ mà rễ lan bám vào hoặc có thể nó có chất dinh dưỡng phù hợp trong lớp vỏ cũ. Tương tự như vậy, một cố loài lan chỉ phát triền trên một mặt của thân cây, có thể để tránh gió lùa.

Trong khi lan cộng sinh phát triển trên những cây còn sống, một vài loại lan, chẳng hạn như giống Catasetum, là loại lan hoại sinh, nghĩa là sống trên những thân cây đã chết, nơi mà rễ của chúng có thể xâm nhập vào lớp vỏ mềm bên dưới lớp vỏ cứng. tuổi thọ của chúng ngắn hơn loại lan cộng sinh, vì ở vùng nhiệt đới thân cây chết chỉ tồn tại trong vài năm khi nấm mốc và mối làm mục rã chúng hoàn toàn. Vì vậy loài lan hoại sinh phải phát triển và tạo hạt thật nhanh để thế hệ kế tiếp có thể di chuyển đến ở nơi khác.

Loài lan này sinh sống trên mặt đất và dường như không có khu vực nào mà giống lan này không thích ứng để sinh trưởng. Chúng đa dạng đến mức người ta tìm thấy chúng ở vùng sa mạc khô nóng của châu Úc cho đến những vùng rừng cây, thảo nguyên có khí hậu ôn hòa và ít nắng hơn. Ở Bắc Mỹ, những loài lan xinh đẹp chẳng hạn như Cypripedium calceolus sinh trưởng trong khu rừng lạnh, người ta cũng tìm thấy các giống Cypripedium khác mọc trong những khu vực của nước Nga đến tận ranh giới của Bắc Cực.

Địa có thể đẹp lộng lẫy một cách đơn độc hoặc chỉ với một nhóm nhỏ trong khi số lượng vị trí chúng xuất hiện có thể lên đến hàng ngàn nơi. Lan sống dưới đất cũng có nhiều biến thể giống như lan cộng sinh, tuy nhiên chúng không hấp dẫn người sưu tầm như lan cộng sinh, chù yếu là vì chúng không dễ trồng và thân cây cùng hoa của chúng kém phần rực rỡ hơn.

Về mặt cơ bản, địa lan có một cọng lá mọc lên từ một hoặc hai thân chìm dưới đất hay từ một khối các rễ cây. Cuối cành lá là một đến nhiều nụ hoa. Trong khi một số loài lan mọc trên vùng đất cát trong những khu vực khô cằn, loài lan khác lại phát triển trong vùng đầm lầy, nơi mà bộ rễ chìm của chúng nằm sâu dưới nước trong hầu hết thời gian của năm. Trong suốt mùa đông, chỉ có phần chìm dưới đất của cây là còn tồn tại để sống trở lại vào mùa xuân. Những lòai lan sống dưới đất khác, chẳng hạn như loài Phaius hay giống lan Calanthe lúc nào cũng xanh tươi, thân bò có các túi nước. Hệ thống rễ xâm nhập sâu vào lòng đất để tìm nơi ẩm và chất dinh dưỡng.

Không phải tất cả những loài địa lan có bộ thân chìm đều sống ở vùng lạnh. Nhiều loại lan nhiệt đới cũng có lối sống này, hoàn rụng lá và rơi vào trang thái ngủ dưới mặt đất suốt thời kì khô hạn. Chỉ khi nào có điều phù hợp, phần thân xanh của chúng mới xuất hiện. Những điều kiện sống khác nhau đó thường hòa nhập với nhau và những cây cộng sinh rớt ra từ thân cây chủ, nếu có điều kiện thích hợp, chúng cũng có thể sống ổn định trên mặt đất.Một số loài giỏi tận dụng cơ hội vì chúng có thể sống ở bất cứ điều kiện nào thích hợp với chúng. Giống Stanhopea và Acineta vốn là lòai cộng sinh tuy nhiên nếu chúng rơi xuống đất, thân cây vẫn sống nhưng không nở hoa, vì cành hoa sẽ đâm sâ xuống đất và chết.

Vài lòai lan sống dưới đất có những túi nước nhưng những túi đó vẫn nằm trên mặt đất hoặc bi rêu, địa y che phủ nhưng vẫn được xếp vào lòai sống dưới đất.

Trong khi các giống địa lan châu Âu có nhiều đặc tính giống nhau, ở Úc một số loài lan đã phát triển hoàn toàn không giống như bất cứ loài nào khác. Chúng rất đáng để được nghiên cứu một cách riêng biệt, nhưng chúng thường không được nuôi trồng phổ biến và ít có tài liệu nào của các chuyên gia bên ngoài nước Úc nhắc đến chúng.

Tuy mọi người ít nuôi trồng loài địa lan nhưng vẫn có những người hâm mộ đi tìm kiếm chúng và hàng năm họ đếu cho chúng ta biết các địa điểm để xem chúng, đó là những bãi lầy, trên sườn đồi hay bất cứ nơi nào chúng hiện diện. Một trong những khía cạnh hấp dẫn mọi người năm này qua năm khác là sự dao động về mặt số lượng của những cây có hoa. Địa lan nổi tiếng là nở hoa thất thường vào nhiều mùa, một vài giống lan thuộc họ Orchis có thể ngủ yên dưới đất trong nhiều năm trước khi chúng đột ngột xuất hiện trở lại.

Nhiều loại địa lan dùng phương pháp nguy trang để hấp dẫn côn trùng đến thụ phấn cho hoa. Ở giống lan Ophrys, thường được gọi là “lan ong” hay “lan nhện”, cánh môi của chúng trông rất giống hình dạng một con ong hay con nhện đủ để lừa con đực bám vào cánh hoa và nghĩ nó đang giao phối, nó sẽ đón nhận hay giao lại phấn hoa được chuyển từ hoa này sang hoa khác.

Nằm trung gian giữa lan cộng sinh sống trên cây và địa lan sống dưới đất là loại lan sống trên các tảng đá. Loài lan này sống trên những triền đá, đôi khi là những vách đá thẳng đứng, nơi mà điều kiện quá khắc nghiệt đối với hầu hết các loài thảo mộc khác. Chúng thường ở trên những vách đá vôi dọc bờ biển hoặc những đá phủ rêu, nơi có điều kiện bảo vệ cho rễ lan. Cây lan sẽ tìm kiếm bất cứ một rãnh nứt nào để cho rễ bám vào. Điều kiện sinh sống khắc nghiệt tạo điều kiện cho 1 số ít loại lan trở nên nổi tiếng, chẳng hạn như loài Phragmipedium Besseae, không bị phát hiện cho đến gần đây, vì người ta chỉ nhìn thấy chúng từ trên không.

Lan sống trên đá cũng đón nhận chất dinh dưỡng giống như lan cộng sinh, hút hơi ẩm từ sương mù và mưa, nhưng cũng chịu đựng được những đợt khô hạn kéo dài. Ngoài ra chúng cũng hút hơi ẩm và chất dinh dưỡng qua các rễ cây vốn ăn sâu và khe đá hay dưới lớp rêu. Lan sống theo cách này bao gồm các loài Plieone và một vài loài trong họ Paphiopedilum. Đôi khi vài giống lan gần với lan cộng sinh có phần thân trở thành lan sống trên đá, nếu có điều kiện thích hợp. Tượng tự như vậy, vài giống Paphiopedilum cũng sống bám vào các tảng đá, nơi có đủ lớp rêu hay đất mùn để rễ chúng ăn sâu vào.

Về mặt nuôi trồng, người ta xem lanb sống trên đá cũng tượng tự như lan cộng sinh. Có nhiều mô hình lan lai tạo, đặc biệt là lai với loài Paphiopedilum và Phragmipedium hoặc các giốnng cộng sinh lai với giống địa lan trong cùng một họ.

:: D O N A / 2023

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC GIỐNG CÂY SẦU RIÊNG DONA

ĐẶC TÍNH CỦA GIỐNG SẦU RIÊNG DONA

Sầu riêng DONA có hương vị phù hợp với đa số người tiêu dùng nên có thị trường rộng nhất hiện nay, chủ yếu được xuất khẩu. Tỉ lệ ăn được lớn (lớn hơn 30%) nên giá cũng cao nhất. Mặt khác, năng suất của giống này rất cao, trung bình từ 30 – 40 tấn/ha. Đó là những yếu tố đem lại hiệu quả kinh tế thuộc hàng bậc nhất hiện nay.

Sầu riêng DONA thích hợp với khi hậu miền nam có 2 mùa mưa nắng rõ rệt.

Sầu riêng DONA không kén đất nên có khả năng phát triển rộng rãi thành vùng sản xuất lớn để thuận lợi cho chế biến, vận chuyển. Yêu cầu tầng canh tác thoát nước tốt trong mùa mưa và có nguồn nước tưới trong mùa khô.

PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH GIỐNG SẦU RIÊNG DONA 2 yếu tố quyết định cây giống phát huy tối đa hiệu quả kinh tế, đó là nguồn gen và phương pháp nhân giống.

Phương pháp ghép ngọn

Nguồn gen: là cây tác giả được đánh giá qua nhiều năm và tuyển chọn nhân giống thành cây đầu dòng. Cây đầu dòng được đánh dấu, công nhận bởi cơ quan chức năng và được chăm sóc đặc biệt, không sử dụng các loại phân và thuốc kích thích tăng trưởng để tránh hiện tượng thoái hóa giống.

Phương pháp ghép: cách ghép ngọn (ghép nêm) được nghiên cứu áp dụng để cây giống có sức sinh trưởng tốt nhất, cho quả sớm hơn, năng suất cao nhất và tuổi thọ dài nhất. Đây là phương pháp ưu việt hơn rất nhiều so với cách ghép cũ có gốc ghép già, tuổi thọ bị rút ngắn, sức sinh trưởng kém vì rễ bị khống chế trong một thời gian dài.

Cây giống sau khi ghép xong sẽ được nhổ ra khỏi giá thể để loại bỏ các gốc ghép bị dị tật, mất rễ cọc, rễ cọc mọc thành chùm… Cây hoàn chỉnh được cấy vào bầu đất và dưỡng trong vườn ươm. Tỉ lệ cây đạt chuẩn sau khi sàng lọc còn lại khoảng 30%.

Cây đạt chuẩn sẽ được xuất vườn đem trồng có các đặc điểm sau đây:

– Cây có sức sống tốt, từ 3 cặp lá trở lên, lá dày cứng, xanh bóng. Chiều cao của cây không phải là yếu tố quan trọng.

– Bộ rễ cây còn đang phát triển trong bầu, chưa bị quấn hoặc bó lại với nhau. Nếu bộ rễ bị quấn lại sẽ phải cắt bỏ phần rễ dư thừa, khi đó sẽ làm mất sức của cây khi trồng.

TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY CON Cần phải tạo điều kiện đất trồng đầy đủ dinh dưỡng, tơi xốp để cây con thích nghi khi đặt cây xuống trồng. Vì vậy, khâu làm đất là rất quan trọng.

1. Chuẩn bị hố trồng

Đất càng mềm thì hố trồng có kích thước càng nhỏ. Tuy nhiên, trung bình hố trồng có kích thước 60cm x 60cm x 60cm để lót phân hữu cơ và tạo độ tơi xốp.

Rải đều 0,1 – 0,2kg vôi trong hố trồng. Trộn đều hỗn hợp gồm: 5 – 10 kg phân hữu cơ hoặc phân chuồng ủ hoai mục + 0,2 kg phân lân + 10g Vibasu phòng ngừa mối. Cho tất cả xuống hố trồng rồi nén chặt. Cào đất xung quanh lấp lên tạo thành mô cao hơn mặt đất từ 10 – 20cm. Sau đó tưới đẫm nước cho hỗn hợp được phân hủy nhanh.

Hố trồng cần được chuẩn bị trước khi trồng ít nhất là 15 ngày.

2. Trồng cây

a. Xử lý cây giống: Trong trường hợp chưa kịp trồng cây thì nên để cây tập trung và dùng lưới che nắng 50% cho cây. Tưới cây mỗi ngày để giữ ẩm và có thể phun thuốc Agri-fos 400 phối trộn với Mancozeb nồng độ 0,5% để phòng ngừa bệnh thối thân lá từ vết thương trong quá trình vận chuyển.

b. Đào lỗ: sau ít nhất 15 ngày khi chuẩn bị hố trồng, cần đảm bảo rằng mô đất vẫn còn cao hơn so với mặt đất khoảng 10 cm. Đào một lỗ giữa mô đất có độ sâu 20 cm.

c. Thao tác trồng: dùng dao cắt bỏ phần đáy của bầu đất. Dùng kéo cắt đứt phần rễ thừa quấn quanh đáy (nếu có) . Đặt cây xuống lỗ cho ngay ngắn rồi cắt 1 đường dọc túi nilon. Từ từ tháo túi ra sao cho đất trong bầu không bị vỡ.

Dùng tay lấp và nén nhẹ đất đến 2/3 chiều cao của bầu thì rải đều 5 – 10g phân lân nung chảy hoặc Super lân xung quanh. Sau đó, lấp đất cho đầy lỗ rồi nén nhẹ sao cho đất vừa ngang mặt bầu. Làm bồn xung quanh để giữ nước tưới khi cần thiết.

d. Đỡ cây: cắm 1 cọc thẳng dọc theo thân chính rồi cột dây giữ cho cây thẳng đứng.

3. Chăm sóc cây con

a. Tưới nước: Nên thiết kế hệ thống tưới phun, mỗi cây con có 1 béc tưới. Nếu thấy đất khô thì phải tưới nước giữ ẩm cho cây.

b. Bón phân:

+) Phân hữu cơ: Mỗi năm vào đầu mùa mưa, bón phân hữu cơ đã ủ hoai mục. Lượng bón khoảng 5 kg/gốc cho cây 1 năm tuổi. Sau một năm thì bón tăng lên 5 – 10 kg.

+) Phân đa lượng: Sau khi trồng xong, bón 10g phân NPK 16-16-8-13S cho mỗi cây. Bón những lần tiếp theo khi cây chuẩn bị ra đọt non. Nếu đường kính tán cây tăng gấp 2 lần thì lượng bón cũng tăng gấp 2 lần.

+) Phân trung vi lượng: cây hấp thụ chủ yếu ở dạng lỏng. Dưới rễ, dùng trung lượng KPMGC + vi lượng KP-COMBI tưới vào bộ rễ mỗi khi cây chuẩn bị ra đọt non. Trên lá, dùng trung lượng KP-BOOSTER + vi lượng KP-COMBI phun lên lá kèm với thuốc trừ sâu mỗi khi cây ra đọt non.

c. Tỉa cành tạo tán: Chỉ để 1 thân chính phát triển. Khi cây đạt chiều cao 3 – 4 mét thì tiến hành tỉa bỏ các cành mọc sát đất để cây được thông thoáng. Có trường hợp cây phân bố cành không đều (thiếu 1 bên), khi cây cao được khoảng 1 mét thì bấm ngọn để cây nảy ra 1 thân khác thay thế, khi đó cành sẽ phân bố đều hơn.

PHÒNG TRỪ SÂU RẦY

Rày phấn

Nhiện đỏ

Ấu trùng bọ xòe

1. Rầy phấn:

Xuất hiện khi cây ra đọt non làm lá quăn cháy, khi lá già để lại nhiều đốm vàng dị dạng. Cần chủ động phun hoạt chất Imidacloprid hoặc Abamectin khi đọt non chuẩn bị nở.

2. Nhện đỏ – rầy lửa:

Xuất hiện trong mùa khô nóng gây bạc lá, rụng lá trưởng thành. Luân phiên phun các loại thuốc trừ nhện theo định kỳ mỗi tuần.

3. Sâu đục thân, cành:

xảy ra quanh năm. Cần thăm vườn thường xuyên, nếu thấy vỏ cây bị xì mủ có bã màu nâu đỏ thì nhanh chóng dùng dụng cụ đục bắt sâu bên trong. Định kỳ phun các loại thuốc diệt trứng vào vỏ cây để phòng ngừa.

PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI

Bệnh nguy hiểm nhất là xì mủ thân, vàng lá, thối cổ rễ, thối rễ, thối quả. Nên thăm vườn vào lúc sáng sớm, trên thân, cành có những vết nhựa chảy ra làm ướt đốm nâu đen hoặc vỏ cây bị nứt, chảy mủ. Dùng thuốc AGRIFOS 400 (phosphonate) đặc trị nấm Phytophthora trên sầu riêng để phòng trị:

Héo rũ – Thối rễ

Xì mủ thân

Thối quả

1. Phòng bệnh:

Phun ướt đều vào lá, quả (nồng độ 0,5%) định kỳ mỗi tháng. Bổ sung định kỳ 60-75 ngày, dùng 1 trong 2 phương pháp sau:

a. Tưới vào cổ rễ: nồng độ 1% (2 lít/200 lít), tưới 1-20 lít dung dịch/cây tùy theo độ rộng của tán cây. Nếu cổ rễ nằm sâu trong đất thì dùng tia nước xoi đất xung quanh gốc hoặc dùng cần sục chuyên dụng để đưa thuốc vào.

b. Tiêm thân: áp dụng với cây có đường kính thân từ 15 cm trở lên:

Bước 1: Pha thuốc với nước sạch theo tỉ lệ 1 thuốc : 1 nước. Mỗi cm đường kính thân tiêm 2 ml dung dịch thuốc đã pha.

Bước 2 – Chọn vị trí tiêm thuốc: là vùng vỏ trên thân cây có ít cành nhánh ở bên trên theo chiều thẳng đứng.

Bước 3 – Khoan lỗ tiêm thuốc: dùng mũi khoan số 6,5 mm. Lỗ khoan có hướng xiên 45o vào dát (tránh chạm vào lõi cây), chếch lên khoảng 5o, sâu từ 3 – 4 cm.

Bước 4 – Khoan lỗ tiêm thuốc: gắn ống tiêm chuyên dụng gắn thật khít với lỗ khoan và kéo dây nén thuốc vào.

Lưu ý: không khoan vào vùng có vết bệnh, nơi có cành hoặc lỗ tiêm cũ.

Giữ đất ẩm trong suốt giai đoạn xử lý thuốc.

2. Trị bệnh trên thân cây:

Phun ướt đều tán lá (nồng độ 0,5%). Kết hợp với tưới vào cổ rễ (nồng độ 1%) hoặc tiêm thân 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 15 ngày.

3. Trị bệnh thối quả:

Phun kỹ vào quả, cuống quả (nồng độ 1%). Phun 2 lần liên tiếp cách nhau 3 – 5 ngày.

Khi đã phòng trị bệnh như quy trình thì cũng phòng và trị được các loại bệnh khác như nấm hồng, thán thư, tảo xanh, tảo đỏ (rỉ sắt)…

Sop): K2O = 52%; S = 18% / 2023

1. Giới thiệu về sản phẩm Kali Sunphat (K2SO4 – SOP)

- Tên khác: Kali Sulfat, Sulfate of Potash (SOP), Potassium Sulphate

– Hàm lượng dinh dưỡng: K2O = 52%; S = 18%; Độ tinh khiết cao: Không chứa clo, natri và kim loại nặng.

– Ngoại quan: Bột tinh thể màu trắng

– Độ tan: Bột tinh thể mịn hòa tan nhanh trong nước mà không có bất kỳ dư lượng.

– Phù hợp để áp dụng cho tất các các hệ thống tưới: tưới nhỏ giọt, hệ thống vòi phun sương, phun lên lá.

Kali tồn tại trong khoáng vật ở dạng ion dương K+. Kali sunfat – K2SO4 ít tồn tại ở dạng nguyên chất trong tự nhiên, thay vào đó, nó thường hỗn hợp với các muối chứa Mg, Na và Cl. Các khoáng vật này cần chu trình để tách được thành phần K2SO4. Trong lịch sử, kali sulphat được tạo ra từ phản ứng KCl với axit sulfuric hoặc phản ứng tổng hợp phân hủy KCl với Natri sunphat. Tuy nhiên, sau đó người ta tìm thấy rất nhiều khoáng vật có thể khai thác để sản xuất K2SO4.  Khoáng vật chứa K như Kainite hoặc Schoenite được khai thác và được sục rửa cần thẩn bằng nước và dung dịch muối để loại bỏ phụ phẩm và sản xuất K2SO4. Ở New Mexico (Mỹ), K2SO4 được tách từ quặng langbeinite nhờ phản ứng với KCl.

2. Tác dụng của Kali Sunphat (K2SO4 – SOP) đối với cây trồng

– Kali Sunphat (K2SO4) là loại là loại phân bón cao cấp vừa chứa hàm lượng Kali (K2O = 52%) vừa giúp cung cấp lưu huỳnh (S = 18%) cho cây trồng, rất phù hợp với cây có nhu cầu lưu huỳnh cao hoặc cây kỵ gốc Clo như: Sầu riêng, cà phê, mía, ngô, đậu phộng, các loại rau màu…

– Kali Sunphat (K2SO4​) giúp cây ra hoa sớm, chín sớm, làm cho trái cây ngon ngọt hơn, màu sắc đẹp hơn và tăng năng suất.

– Kali Sunphat (K2SO4​) giúp chống đổ ngã, giảm tỉ lệ lép, làm vàng, sáng và hắc hạt lúa.

– Kali Sunphat (K2SO4​) làm lớn củ, rau màu xanh tươi lâu hơn, bảo quản tốt trong vận chuyển.

Quy cách đóng gói và lượng bán tối thiểu

– Quy cách đóng gói chuẩn của Kali Sunphat (K2SO4​): bao dứa 25kg

Liên hệ Hotline: 0362.180036 để có giá bán sỉ tốt nhất.

Tổng Hợp Lan Dendrobium Amabile Thủy Tiên Tím (Lour.) O’ Brien / 2023

Trong cuốn Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ cây lan này tên Việt là Thủy tiên hường, còn sách Phong Lan Việt Nam của Trần Hợp gọi là Hoàng thảo duyên dáng, nhưng nhiều người gọi là Thủy tiên tím. Cùng một cây lan mà tên gọi khác nhau, khi nói chuyện cũng mất khá nhiều thì giờ mới hiểu.

Tổng hợp lan Dendrobium amabile Thủy tiên tím (Lour.) O’ Brien

Đó là trong nhà, còn bên ngoài có nguồn khác lại nói là cây này có mọc tại đảo Hải Nam. Trung quốc. Theo cuốn The Orchids of Indochina do Gunnar Seidenfaden ấn hành vào năm 1992 và cuốn Phong Lan của Trần Hợp năm 1998, cây này là đặc hữu của Việt Nam. Gunnar Seidenfaden cho rằng cây mọc ở Hải Nam là một nghi vấn. Tra cứu trong danh mục hoa lan đã được quốc tế công nhận trong bản CITES Orchid Checklist Online Version Volumes 1, 2 & 3, do viện Thảo Mộc Kew, Anh quốc soạn thảo vào năm 2002, không thấy có tên cây Dendrobium amabiletrong danh sách của Trung Hoa.

Trong cuốn Dendrobium and its relatives do Bill Lavarack, Wayne Harris và Geoff Stocker xuất bản tại Úc lại nói rằng cây Dendrobium amabile Schltr. lại là đồng danh với cây Den. furcatum Reinw. ex Lindl. mọc ở Sulawesi, Nam Dương. Nhưng cây Den. furcatum cây thấp hơn (45 cm) lá nhỏ hơn nhiều (ngang 2 cm, dài 5 cm) hoa mầu trắng hồng và nở hoa từ tháng 5 đến tháng 10.

Dendrobium amabilecòn có đồng danh (synonym) Callista amabilisLour. 1790,Dendrobium bronckartiiDe Wild 1906. Lan mọc từ Khánh Hòa tới Quảng Trị, thân cao tới 90 cm các đốt có rãnh, lá mọc đối cách, dài chừng 12 cm rộng 5-7 cm, xanh tốt quanh năm. Dò hoa mọc từng chùm dài 30 cm ở gần ngọn, hoa thưa mầu hồng tím nhạt to 4-5 cm, lưỡi mầu vàng cam. Hoa nở vào cuối Xuân đầu Hạ hơi thơm.

Tại Hoa Kỳ, lần đầu tiên chúng tôi thấy cây này trong cuộc triển lãm của Hội hoa lan San Diego tại Del Mar vào năm 1998-1999 gì đó. Gian hàng của Ontaria Orchids do mấy cô thiếu nữ người Hoa đứng bán, trong số các cây Dendrobium bầy bán chỉ có một cây duy nhất có hoa.

Biết rằng việc: “Treo đầu heo bán thịt chó” là lẽ thường tình trong việc bán hoa lan dù rằng ở tại Hoa Kỳ. Hỏi mua cây có hoa, họ không bán dù là trả gấp 3 lần giá thường: $35/một cây trơ rễ, nên đành phải mua 2 cây với hy vọng sẽ có một cây có hoa. Nhưng 2 năm sau một cây là Dendrobium thyrsiflorum vàDendrobium densiflorumvà phải tới năm 2004 tôi mới mua được 2 cây với giá 40-50$ một cây.

Ngày nay cây lan Dendrobium amabilebán đầy rẫy tại miền Nam California, tùy theo cây to hay nhỏ, tốt hay xấu, giá từ 15$ đến 100$ và gần như người Việt nào cũng có. Hỏi ra, được biết Taida Orchids Inc. tại Đài Loan (có chi nhánh tại New Jersey) nhân giống quy mô và hàng năm bán ra cả trăm ngàn cây. Không biết có phải những cây này là con cháu cây lan Việt được vơ vét sau những đợt thu mua rồi sinh sôi nẩy nở trong các phòng thí nghiệm Đài Loan hay không?

Hai cây lan của tôi, tuy rằng nuôi cùng một chỗ, nhưng một cây cao, một cây thấp. Năm nào củng vậy, cây cao hoa nở trước, cây thấp nở sau. Cây cao chừng 80 cm dò hoa dài tới 45 cm và hoa ngang tới 6 cm có thể đoạt giải của hội Hoa Lan Hoa Kỳ. Nhưng đường xa, ngại chầu chực và Ban Giám khảo họp vào ban đêm, vả lại đã không màng Danh & Lợi nên để ở nhà ngắm chơi cho đỡ nhớ quê hương.

Cây lan này rất dễ trồng, ánh sáng vừa phải để cùng một chỗ với các cây Dendrobium và Cattleya nơi có chút nắng vào buổi sáng đến 11 giờ trưa hay vào buổi chiều.

Nơi chúng tôi ở nhiệt độ trung bình khoảng 80°F (26.7°C) ban ngày cao nhất có khị trên 100°F (37.8°C) và lạnh nhất khoảng 38°F (3.3°C)

Độ ẩm trung bình 40%, mùa hè tưới 2 lần một tuần, mùa Xuân và Thu mỗi tuần một lần, mùa Đông từ 15 -20 ngày.

Phân bón 20-20-20 mỗi tuần một lần vào Xuân, Hạ và mỗi tháng 1 lần vào mùa Thu. và ngưng hẳn vào mùa đông.

Biết rằng cây này ưa chậu chật hẹp và không ưa thay chậu cho nên trồng trong châu đất với vỏ thông cỡ trung bình và đá.

Hy vọng rằng trong tương lai sẽ có câu giải đáp chính thức là cây này có phải là đặc hữu của Việt Nam hay không? Nhưng dù rằng đặc hữu hay không, ngày nay cây lan này và khá nhiều cây lan Việt cũng như người Việt đã có mặt trên khắp 5 châu.