Top 3 # Xem Nhiều Nhất Địa Lan Kiếm Vàng Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Vitagrowthheight.com

Kiếm Vàng Thái Không Tên, Kiếm Vàng Thái Lan Cánh Bầu

Hoa Lan Kiếm Vàng Thái Không Tên thuộc dòng Kiếm Thiên Vũ là cây bán sơn địa là dòng lan hiện được rất nhiều người ưa chuộng vì đặc tính rất dễ trồng, dễ ra hoa, siêng hoa, hoa thơm và màu sắc rất bắt mắt. Hiện tại giá thành cây cũng rất hợp lí và cũng rất đáng để sưu tầm vào vườn hoa của nhà bạn.

Một số loài cùng dòng như kiếm Tiên Vũ, kiếm Huế, kiếm Hoàng Kiếm Minh Châu…

Hình dáng cây hoa lan Kiếm Vàng Thái Không Tên

Thân cây kiếm là loại lan dễ trồng và dễ chăm sóc được sống ở vùng độ ẩm cao nên thân cây sẽ phình ra và cao khoảng từ 5-7 cm(có thể cao hơn tùy thuộc vào vùng khí hậu trồng cây).Thân cây phình ra rộng khoảng3-5cm. Thân cây thường có màu xanh tuyền, xanh vàng và có thể có sọc trắng mờ dọc theo thân. Khi mới ra mầm cây chưa có thân thì thường mỏng và màu có thể khác 1 chút. Đến khi cây bắt đầu trưởng thành thân cây mới bắt đầu phình ra.

Lá cây kiếm tuy có thân nhỏ và bé nhưng bộ lá lại to và dài hơn nhiều.

Cây có đủ nắng lá sẽ to và ngắn hơn những cây nuôi trong vườn mát và thiếu ánh sáng.

Thường cây đến gần cuối năm sẽ ngừng phát triển và đợi đến mùa ra hoa.

Cây rất dễ nhận biết vì trong dòng kiếm loại này thân lá to nhất.

Rễ cây: Rễ cây thuộc loại rễ chùm, đầu rễ thường có màu trắng trong và màu trắng tím. Thân rễ

thường có màu trắng ngà và ít khi có màu khác. Với khí hậu nóng và không lạnh thì rễ mọc quanh năm, còn nếu có mùa đông rễ cây

sẽ ngừng phát triển hoăc phát triển rất chậm. Cây ra rễ ở gốc, rễ cây bắt đầu ra sẽ có rất nhiều đầu rễ sau đó theo

năm tháng sẽ dài ra và tiếp tục ra nhiều rễ phân nhánh con bám vào chất trồng để đi tìm hơi ẩm.

Đặc điểm sinh học cây lan Kiếm Vàng Thái Không Tên

Mùa nở hoa dải rác và thường vào từ tháng 3 đến tháng 9.

Cần hoa và bông hoa: Hoa dạng chùm và mọc ra và rủ luôn xuống đất rất mềm mại, cần hoa mọc ra ngay ở mắt thân cây và ở sát gốc có chiều dài khoảng 60-90 cm và to khoảng từ 0,3-0,5 cm. Cần hoa rất quan trọng vì cây to thì hoa sẽ dài và rất nhiều bông . Độ

dày hoa phụ thuộc vào cách trồng cây khác nhau, thường cần hoa ra ở thân tơ và trưởng thành trong năm. Hoa mọc rất đều trên cần, thường mỗi cần sẽ có từ 15-30 bông hoa. Mỗi bông hoa có đường kính từ 4-6cm(có thể to hơn do tình trạng cây ).

Những cây hoa cánh hoa bầu to nên được rất nhiều người lựa chọn.

Màu Sắc và Hương Thơm: Kiếm Vàng Thái Không Tên thường mới nở có xanh (cánh hoa mới nở màu xanh, lưỡi có màu vàng và 1 ít trắng (hoa đột biến var alba). Cây nuôi trong điều kiện ít ánh sang thì màu chủ yếu 70% là màu xanh

Hoa Lan Kiếm Vàng Thái Không Tên cánh hoa rất to, khiến cho người sưu tầm cũng phải lặn lội nhiều mới sưu tầm được. Độ

bền của hoa khoảng 5-7ngày nếu ở trong điều kiện nóng và khô, cũng có thể lên đến đến

khoảng 15 ngày nếu thời tiết mát mẻ .

Điều kiện cây lan Kiếm Vàng Thái Không Tên phát triển tốt

Hoa Lan Kiếm là loại hoa lan rất dễ trồng nhưng điều kiện tốt nhất là ưa ẩm và thoáng gió. Ánh sáng từ 20-50% và

độ ẩm trong không khí 70%-80% là cây phát triển tốt. Bạn chỉ cần có 1 khu vườn nhỏ với có ánh

náng khoảng 3h đồng hồ trở lên. Độ ẩm phù hợp để trồng và nuôi cây thì có thể tạo ra bằng cách

đặt những khay nước phía dưới dàn để tạo độ ẩm cho vườn. Nếu vườn không ít gió hoặc hoàn

toàn không có thì nên lắp một chiếc quạt thông gió vừa giúp thông gió vừa làm mát cho cả vườn.

Tuy nhiên vì cây rất dễ trồng nên cũng có thể chịu hạn và nắng rất tốt.

Cách trồng cây lan Kiếm Vàng Thái Không Tên

Khi mua cây Hoa Lan Kiếm về cần làm những bước sau:

1.Chuẩn bị giá thể trồng cây: Giá thể trồng cây có thể trồng bằng đất, chấu hun, vỏ thông, sỏi nhẹ…quan trọng nhất là giá thể cần phải sạch.

2.Cách tách cây ra khỏi chậu: khi nhổ cây ra khỏi chậu cần rửa sạch bộ rễ, sau đó để khoảng 5 phút thì tách cây ra và cắt hết những rễ bị khô hoặc bị sâu bệnh

sau đó bôi keo liền sẹo vào những vết dập và phun 1 lần thuốc chống nấm bệnh, sau đó trồng vào chậu.

3.Trồng cây vào chậu phải đặt thẳng để ngọn

cây hướng lên trên giúp cây quang hợp tốt, giữ cho gốc thật chắc phòng khi va chạm vào giá thể rễ không bị lung lay khiến bị thui rễ. Thường thì trồng vào chậu phải trồng nổi thân. Không nên trồng chìm củ vì sẽ rất dễ gây bị bệnh và bị thối. Giữ được độ ẩm tốt để cây ra rễ nhanh giữ chặt gốc. Loại này thường trồng bằng giá thể vỏ thông trộn lẫn sỏi nhẹ thì giá thể sẽ nhẹ và cây cũng phát triển tốt nhất.

Vì đặc tính cây rất dễ trồng nên việc lựa chọn giá thể để trồng cây cũng rất dễ ràng.

Chăm sóc cây lan Kiếm Vàng Thái Không Tên

Lượng sáng:

Vì lượng ánh sáng cần cho cây Hoa Lan Kiếm là khoảng 20%-50% nên để cây phát triển tốt nhất

chúng ta dùng lưới che nắng. Hiện nay có rất nhiều loại lưới dùng để che nắng cho hoa lan được

sản xuất tại Việt Nam hoặc nhập khẩu như của Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc…Khi mới trồng

cây(cây chưa thuần) ánh nắng hợp lí cho cây khoảng dark 700-800 light tức là khoảng 20% ánh

nắng khi nhiệt độ ở trên 30 0 c và 30% ánh nắng khi nhiệt độ ở dưới 30 0 c. Khi cây thuần tức là chúng đã

bám rễ và khỏe mạnh, bạn chỉ cần để cây dưới lượng ánh nắng trung bình là khoảng 20% là cây

có thể phát triển khỏe mạnh quanh năm.

Tưới nước:

Quan trọng nhất là tưới nước tưới thể nào để cây đủ ẩm vừa đủ độ sạch lá để cây quang

hợp tốt, giá thể thông thoáng để bộ rễ phát triển mạnh, ít nhất mỗi ngày phải tưới 1 lần trời nắng nhiệt độ ở dưới 30 0 c và tưới 2 lần

khi nắng nóng khi nhiệt độ ở trên 30 0 c.Đối với cây trong chậu thì nên trồng loại giá thể thoát nước tốt để cây ko bị úng dễ gây ra sâu bệnh. Nhưng cũng phải chọn loại giá thể vừa thoát nước nhưng vẫn giữ được độ ẩm để cây phát triển tốt

Chú ý không nên tưới mạnh quá khiến lá cây và thân cây bị dập hoặc tổn thương rất dễ

gây bệnh cho cây. Tốt nhất dùng vòi nhiều chế độ để thay đổi khi tưới xa hoặc gần và mua 1 chiếc

máy đo nhiệt độ,độ ẩm cho vườn.

Điều kiện để cây Hoa Lan Kiếm Vàng Thái Không Tên ra hoa:

Dù cây trồng đã thuần hay chưa thì chỉ cần đáp ứng đủ độ

ẩm, ánh sáng, lưu thông gió để rễ cây phát triển tốt. Và đặc biệt khi cây ra mầm phải chăm sóc tốt để cây phát triển hơn thì cuối năm cây trưởng thành mới có thể ra hoa được. Nên để cây ra chỗ thoáng gió giúp cây hấp thụ ánh nắng và phát triển

để cây ra hoa bình thường.

Bón phân và phun thuốc cho hoa lan kiếm

Thời điểm bón cho cây vào thời điểm cây đã và đang

phát triển bộ rễ, có thể dùng phân tan chậm hoặc dùng phân bón qua lá. Bón phân cho cây quanh

năm nhưng chủ yếu vào mùa phát triển mạnh về lá và thân giúp cho cây khỏe mạnh và nhanh lớn

vào dịp đầu năm chúng tích lũy đủ lực để phát triển. Những tháng mưa nhiều nên dừng bón vì

nước mưa đã có rất nhiều chất thúc đẩy cây phát triển tốt. Những tháng còn lại để giữ cho cây

phát triển đồng đều tăng sức đề kháng và chống lại bệnh tật.

Thời điểm phun thuốc phòng và trừ bệnh cho cây Hoa Lan Kiếm

Để cây hấp thụ thuốc tốt nhất

thì nên phun vào buổi chiều mát và không có mưa. Mỗi tháng nên phun một lần để phòng bệnh

cho lan. Vào những tháng mưa nhiều nên phun liên tục từ 10-15 ngày 1 lần. Khi thấy thời tiết sắp

mưa dài ngày là phải phun trước phòng để tránh trường hợp cây bị bệnh.

Cách bảo quản hoa của cây Hoa Lan Kiếm :

Hoa Lan Kiếm muốn nở nhanh thì để vào chỗ độ ẩm cao, tránh mưa, kín gió, thắp đèn để ánh

sáng suốt cả ngày và đêm để cây hoa phát triển nhanh hơn. Tưới nước và phun kèm phân để thúc

đẩy cây hoa phát triển. Còn muốn giữ hoa lâu tàn nên để vào chỗ độ ẩm lớn tránh mưa, làm giảm

ánh sáng, tưới nước ít hơn và không phun phân thuốc. Khi tưới nước tránh tưới vào hoa, nên tưới

vào xung quanh để cây dùng rễ và lá hấp thụ hơi nước.

Vì tính đặc thù của cây lan kiếm là nở rất nhanh và rất nhanh tàn nên mọi người chú ý khi cây bắt đầu nở cần tưới nhiều nước, che bớt ánh sang để cây giữ hoa được đẹp nhất.

Địa Lan Kiếm Lô Hội

Địa lan kiếm lô hội (Aloe-leafed Cymbidium hay Cymbidium aloifolium) là một loại địa lan sinh trưởng mạnh, kháng bệnh tốt, hoa đẹp, có giá trị làm cây cảnh cao. Ngoài ra, lá địa lan kiếm lô hội có thể được dùng làm nhiều vị thuốc, có tác dụng chữa ho nhiệt phổi, ho lao, viêm họng, quai bị…

Vùng phân bố

Địa lan kiếm lô hội thường được trồng ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam ở Trung Quốc, từ Sri Lanka ở phía bắc đến Nepal, Đông Nam Á và từ Indonesia đến Java ở phía đông.

Địa lan kiếm lô hội thường mọc trên vách núi, sườn dốc hoặc khe đá có khả năng thấm và giữ nước tốt; nơi có bóng râm, thời gian nắng ngắn hoặc nơi chỉ có ánh sáng khuếch tán; nơi không khí ẩm, thoáng gió…

Đặc điểm thực vật của địa lan kiếm lô hội

Địa lan kiếm lô hội là loài thực sinh. Các giả hành có hình trứng, dài 3 – 10 cm, rộng 2.5 – 4 cm, thường nằm trong các gốc lá. Chúng thường có 4-5 lá, hình dải, lá dày, chắc, hơi cong, dài 40-90 cm, rộng 1.5-4 cm, đỉnh 2 thùy hoặc 2 tù, nối cách gốc 8-16 cm.

Ngồng hoa địa lan kiếm lô hội mọc nhô ra khỏi gốc giả hành, mọc rũ, dài 20 – 60 cm; Chùm gồm 15-35 hoa. Bẹ hoa dài 2-5 mm. Cuống và noãn dài 1,2-2 cm.

Hoa của Địa lan kiếm lô hội hơi nhỏ và có mùi thơm nhẹ. Các đài hoa và cánh hoa có màu vàng nhạt đến vàng kem, ở trung tâm có dải màu nâu hạt dẻ và một số sọc màu trắng hoặc màu vàng kem, với các sọc dọc dày đặc màu nâu hạt dẻ. Đài hoa có hình thuôn hẹp đến hình elip hẹp, dài 1,5 – 2 cm, rộng 4 – 6 mm;

Các cánh hoa hơi ngắn hơn so với các lá đài hoa và có hình elip hẹp. Lá đài dưới hình quả trám, dài 1.3-2 cm, 3 thùy, có nang ở gốc, phía trên có nhú hoặc nhung. Các thùy bên ở trên nhị và quả nang, các thùy giữa cong. Đĩa đệm có 2 nếp dọc, hơi cong, hẹp lại hoặc đôi khi đứt gãy ở giữa, to ra ở cuối và gốc. Nhị của Địa lan kiếm lô hội dài 1-1.2 cm, hơi cong về phía trước.

Địa lan kiếm lô hội nở vào mùa xuân, đôi khi vào mùa thu.

Quả nang có hình elip thuôn dài, dài 3.5 – 6.5 cm và rộng 2 – 3 cm.

Cách trồng và chăm sóc địa lan kiếm lô hội

Địa lan kiếm lô hội tốt nhất nên được trồng trong môi trường thông thoáng. Chúng ưa bóng râm, tránh ánh nắng trực tiếp; ưa ẩm ướt, tránh khô ráo.

Nhiệt độ 15 ℃ đến 30 ℃ là thích hợp nhất cho sự phát triển. Sự phát triển sẽ kém khi nhiệt độ lên trên 35 ℃. Nhiệt độ lạnh dưới 5 ℃ cũng sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển, làm cho lan kiếm lô hội thường ở trạng thái ngủ đông.

Nếu nhiệt độ quá cao mà bị phơi nắng thì một hai ngày lá sẽ bị cháy, còn nếu nhiệt độ quá thấp mà không xử lý kịp thời thì sẽ xuất hiện hiện tượng chết cóng.

Địa lan kiếm lô hội là loại rễ biểu sinh, thích hợp với giá thể có khả năng thoát nước tốt, nên chọn đất thối lá hoặc đất núi chứa nhiều mùn. Đất hơi chua hoặc đất có chứa sắt, pH từ 5,5-6,5 là thích hợp.

Địa lan kiếm lô hội là cây Hoa trồng trong chậu ưa bóng râm, không nên đặt dưới ánh sáng trực tiếp. Nếu nhiệt độ cao vào mùa hè, lá của cây Địa lan kiếm lô hội sẽ rất dễ bị cháy lá hoặc cháy xém.

Nên bảo quản Địa lan kiếm lô hội ở nơi thoáng gió trong nhà và đưa ra ngoài ánh sáng vào buổi sáng.

Địa lan kiếm lô hội thích điều kiện ẩm ướt và được tưới đủ nước, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển. Tưới nước theo nguyên tắc là tưới kỹ và tưới đầy nước. Có thể tưới nước vào lúc tắt nắng hoặc chiều tối.

Cây địa lan kiếm lô hội cần đầy đủ chất dinh dưỡng trong suốt thời kỳ sinh trưởng, để có thể phát triển khỏe mạnh. Có thể bón phân hòa tan khoảng 10-15 ngày một lần.

Nên sử dụng phân dạng viên nén hữu cơ tự nhiên vì chứa dinh dưỡng toàn diện hơn, cũng như lâu tan và bổ sung dinh dưỡng từ từ cho cây. Thêm nữa, phân hữu cơ tự nhiên có tính ôn hòa, không có tác dụng phụ, trong khi bón phân hóa học dễ làm giá thể cứng lại. Thành phần của phân hóa học đa phần là axit, bón lâu ngày sẽ làm chua nền, gây ra các chứng bệnh cho địa lan.

Nhân giống địa lan kiếm lô hội

Cứ ba năm, vào mùa xuân hoặc mùa thu có thể tiến hành tách giả hành cho địa lan kiếm lô hội. Bất kỳ cây khỏe mạnh nào với mật độ giả hành dày đặc đều có thể được tách. Khi tách thì ít nhất 5 giả hành gần nhau nên được giữ thành một cụm.

Hạt giống của địa lan kiếm lô hội rất mỏng, trong hạt chỉ có một phôi chưa hoàn chỉnh nên khả năng nảy mầm rất thấp. Bên cạnh đó, vỏ hạt không dễ hút nước nên không thể nảy mầm bằng phương pháp gieo hạt thông thường. Vì vậy, cần cấy giá thể nhân tạo để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây nảy mầm.

Hạt giống tốt hơn hết nên chọn loại không nứt, khử trùng bề mặt bằng cồn 75%, ngâm với 10% natri hypoclorit trong 5-10 phút, vớt ra rửa lại ba lần bằng nước vô trùng là có thể dùng để cấy vào chậu chứa giá thể, giữ trong tối ở nhiệt độ 25 ℃ hoặc hơn. Từ khi gieo hạt đến khi cấy phải mất nửa năm đến một năm.

Giới Thiệu Về Địa Lan Kiếm

Về hình thái bên ngoài, địa lan kiếm Cymbidium là những loài thân thảo, đa niên, đẻ nhánh hàng năm tạo thành những bụi nhỏ.

Có loài rễ mọc bám trên vỏ cây, mặt đất (bì sinh hay phụ sinh); có loài rễ ăn sâu trong bọng cây, trong đất mùn (địa sinh hay thực sinh). Rễ mới thường chỉ mọc ở cây con, cây mẹ khó ra rễ mới mà chỉ thấy phân nhánh từ củ rễ.

Thân ngầm của chúng (căn hành) thường ngắn, nối những củ lan với nhau. Các củ lan thực chất là những cành ngắn của căn hành. Củ già, khi bị tách khỏi căn hành cũ, có thể mọc ra đoạn căn hành mới, từ đó mọc lên những cây con. Do đó người ta xếp Cymbidium vào nhóm lan đa thân (sympodial).

Củ lan (giả hành) thường có dạng con quay hay dạng hột xoài, đường kính từ 1 cm đến 15 cm, củ thường tươi và được bọc trong các bẹ lá.

Lá thường có hai dạng: dạng vảy đính theo một đoạn căn hành và dạng thực đính trên giả hành. Lá thực thường có cuống lá, giữa bẹ lá và cuống lá có một tầng phân cách. Khi phiến lá rụng, vẫn còn đoạn bẹ ôm lấy giả hành. Vài loài không có cuống lá.

Tùy theo từng loài mà phiến lá rất khác nhau, có gân dọc nổi rõ hay chìm trong thịt lá. Một số loài ít chịu rợp có phiến lá màu xanh vàng, còn lại thường là xanh đậm. Bản lá và độ dày của lá thay đổi tùy theo từng loài: các loài sống ở trảng trống có lá hẹp và dày hơn các loài ưa bóng rợp. Lá có dạng dải, dạng mũi mác, dạng phiến. Đầu lá nhọn hay chia thành 2 thùy. Kích thước của bản lá biến động từ 0,5 cm đến 6 cm. Chiều dài lá thay đổi từ 10 cm đến 150 cm.

Chồi hoa thường xuất hiện bên dưới giả hành, trong các nách lá, tách các bẹ già, đâm ra bên ngoài. Thông thường, mỗi giả hành chỉ cho hoa một lần. Chồi hoa thường xuất hiện đồng thời với chồi thân, những chồi hoa no tròn hơn, còn chồi thân hơi dẹp. Các lá đầu tiên ở chồi thân mọc đâm ra 2 phía hình đuôi cá, còn ở chồi hoa các lá bao hoa luôn ôm chặt quanh phát hoa.

Chồi hoa và chồi thân phát triển đồng thời

a/ Chồi hoa

b/ Chồi thân

Cọng phát hoa không phân nhánh, dựng đứng hay buông thõng. Chiều dài của phát hoa từ 10 đến hơn 100 cm. Cành hoa mang từ vài đến vài chục búp hoa xếp luôn phiên theo đường xoắn ốc. Búp hoa khi đã đủ lớn, bắt đầu dang xa khỏi cọng hoa, xoay nửa vòng tròn để đưa cánh môi xuống dưới rồi bắt đầu nở. Thoạt nhìn, hoa Cymbidium có 5 cánhgần giống nhau, thực ra chỉ có 2 cánh hoa ở bên trong, còn lại là 3 lá đài ở bên ngoài, có cấu trúc và màu sắc giống cánh hoa. Cánh hoa thứ 3 chuyên hóa thành cánh môi, màu sắc rực rỡ hơn, xẻ thành 3 thùy tạo ra dạng nửa hình ống. 2 thùy bên ôm lấy trụ, thùy thứ 3 có dạng bầu hay nhọn tạo thành hình đáy thuyền, làm chỗ đậu cho côn trùng khi đến hút mật và thụ phấn cho hoa. Giữa cánh môi có 2 gờ dọc song song màu vàng. Tận cùng bên trong có dĩa mật và đôi khi có những tuyến tiết mùi hương.

Hình thái ngoài và cấu trúc hoa Cymbidium

Hoa Cymbidium lưỡng tính, nhị đực và nhụy cái cùng gắn chung trên một trụ nhị – nhụy (hay trục hợpnhụy) hình bán trụ hơi cong về phía trước. Nhị ở trên cùng, mang 2 khối phấn màu vàng, có gót dính như keo. Khối phấn được đậy bởi một nắp màu trắng ngà dễ mở rời. Hộc chứa phấn khối của trục hợp nhụy cách với nuốm nhụy bởi một cái gờ (mỏ) nổi lên. Cấu trúc này bắt buộc trong tự nhiên hoa Cymbidium chỉ thụ phấn được nhờ côn trùng.

Sau khi thụ phấn, hoa xoay dần về vị trí cũ, bầu noãn phình lên tạo thành quả. Quả lan là một nang có 3 góc, bên trong có chứa hàng trăm ngàn hạt. Khi chín, quả mở theo 3 đường góc và gieo vào không khí những hạt như bụi phấn màu vàng lụa. Khi rơi vào nơi có điều kiện ẩm độ, ánh sáng thích hợp và có nấm cộng sinh tham gia, hạt sẽ nẩy mầm phát triển thành cây mới…

LỊCH SỬ TẠO GIỐNG

Số lượng giống lai tự nhiên – đã được thu thập – rất phong phú. Con lai tự nhiên có thể là kết quả của 2 loài giao phấn với nhau hoặc của các dòng trong cùng một loài giao phấn nhờ côn trùng. Điều kiện để một phép lai có thể xảy ra trong tự nhiên là 2 cá thể phải giống nhau về mùa hoa, cùng khu phân bố và cùng kích thước hoa. Điển hình nhất là cây lai Hồng Hoàng, con lai tự nhiên giữa cây Hồng lan (Cym. insigne) và cây Hoàng lan (Cym. giganteum). Bản thân nhóm Hồng Hoàng có rất nhiều dạng khác nhau về màu sắc cánh hoa và sắc tố đỏ trên cánh môi. Tuy nhiên, phải nhờ đến bàn tay con người, những phép lai giữa các loài rất cách biệt nhau mới có thể thực hiện. Việc tạo giống Cymbidium phát triển theo tiến trình thu thập giống hoang dại, nhờ có sự hỗ trợ của những tiến bộ sinh học, đã đạt được những kết quả không ngờ.

Khoảng đầu thế kỷ này, một số lan rừng đã được thu thập từ các vùng rừng nhiệt đới đưa về trồng ở châu Âu. Từ những giống hoang dại đó, những phép lai đã được thực hiện. Mục tiêu của những phép lai này là tạo được những giống có đặc tính kinh tế và giá trị thẩm mỹ cao như hoa nhiều, lớn, bền, màu sắc sặc sỡ. Đó cũng chính là lý do tại sao Cymbidium không phải là cây nguyên sản ở châu Âu nhưng các giống lai được nuôi trồng để cắt cành ở đây lại có số lượng rất lớn so với các châu lục khác.

Cây Cymbidium lai đầu tiên xuất hiện năm 1889 là cây Cym. eburneolowianum (Cym. eburneum x Cym.lowianum). Trong 20 năm tiếp theo, chỉ xuất hiện thêm 14 con lai nữa nhưng chúng không có giá trị cao lắm. Trong những năm đầu của thế kỷ 20, người ta tìm thấy ở Miến Điện và Đông Dương nhiều loài giá trị, nhất làCym. Parishii, Cym. insigne, Cym. erythrostylum (Bạch hồng) có màu sắc từ trắng đến hồng, chúng đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các con lai đẹp sau này.

Cym. hookerianum và Cym. lowianum đã được dùng để tạo ra những giống hoa màu xanh. Cym. eburneum (Bạch lan) và Cym. insigne (Hồng lan) đã cho ra các giống màu trắng và màu hồng. Cym. traceyanum cho ra các giống màu vàng. Cym. ansonii cho ra những giống màu đỏ và màu hồng. Cym. Parishiiđược dùng để tạo ra những giống có cánh môi đỏ thắm như Cymbidium Miretta.

Những công trình lai tạo, chọn giống Cymbidium vào đầu thế kỷ này đáng kể nhất là của H. G. Alexander, đã cho ra đời cây lai Cym. Alexanderi Westonbirt (Cym. eburneolowianum x Cym. insigne). Cây này cho đến nay vẫn giữ một vị trí quan trọng trong việc tạo ra các giống mới màu trắng, hồng, vàng, xanh, nhất là những giống ra hoa vào mùa thu và mùa đông. Cùng thời gian này, còn có cây lai Cym. pauwelsii (Cym. insigne x Cym. lowianum), là cây đầu dòng để tạo ra những giống có phát hoa lớn và sức phát triển mạnh như Cym. Babylon (Cym. Olympus x Cym. Pauwelsii). Đến lượt mình, Cym. Babylon lại là cây đầu dòng thông dụng để tạo ra những giống mới có màu sắc rực rỡ.

Những năm gần đây có khuynh hướng tạo ra những giống Cymbidium có màu sắc tinh khiết, không có sắc tố đỏ cả trên cánh môi. Do đó, sẽ có những giống chỉ có màu vàng, xanh hay trắng. Phương pháp để đạt kết quả này là hồi giao nhiều lần với Cym. lowianum var. Concolor (Thanh ngọc). Một hướng lai tạo khác không kém lý thú là tạo ra những giống với nhiều màu sắc rực rỡ phối hợp với nhau: màu 2 cánh hoa và cánh môi khác với màu của 3 lá đài, hoặc cánh hoa có nhiều màu tạo thành các đốm khảm. Về hình dạng hoa thì ngày càng có những giống lai mới có cánh hoa và lá đài tròn , hoa kín và tròn. Hoa nhiều trên một cành và độ bền của hoa cắt cành cũng là những đặc điểm được quan tâm khi chọn tạo giống.

Một nhóm Cymbidium khác có kích thước thân, lá, hoa nhỏ hơn, gọi chung là Cymbidium miniature, cũng được lai tạo ra và chiếm một vị trí đáng kể cạnh nhóm hoa lớn, do chúng thích hợp với điều kiện nhà ở ngày càng chật hẹp hiện nay. Những cây đầu dòng để tạo giống trong nhóm này có thể kể Cym. Devonianum (Gấm ngũ hồ); Cym. ensifolium (Mặc lan); Cym. Pumilum và Cym. tigrinum. Cym. Devonianum cho ra những giống có cành hoa buông thõng, màu xanh, vàng và nâu, cánh môi có bệt đỏ đậm; Cym. ensifolium được khai thác ở 2 đặc tính di truyền là mùa hoa (cuối hè và thu) và hương thơm. Cym. tigrinum cho ra những con lai nở hoa mùa xuân, cây thấp lùn, lá ngắn, giả hành nhỏ, hoa màu xanh đến vàng. Nhưng đáng kể nhất vẫn là Cym. Pumilumđã cho ra nhiều giống miniature màu sắc phong phú. Ưư điểm của nhóm hoa nhỏ này là yêu cầu không khắt khe lắm về nhiệt độ thấp để phân hóa hoa nên có thể nuôi trồng rộng rãi hơn ở nước ta.

Giữa những nhóm hoa lớn và hoa nhỏ cũng đã có những phép lai, tạo ra những giống Cymbidium kết hợp được đặc điểm của cả 2 nhóm: hoa lớn trung bình, số lượng hoa trên một cánh nhiều, dễ trồng trọt và năng suất hoa cao.

Việc lai tạo giống không ngừng lại ở việc thụ phấn, gieo hạt đơn giản mà còn dùng đến những kỹ thuật sinh học hiện đại để tạo ra nhiều giống đa bội… Cymbidium cũng là chi đầu tiên của hoa lan được áp dụng thành công phương pháp cấy đỉnh sinh trưởng và nhân giống vô tính hàng loạt trong ống nghiệm để có số lượng cây giống lớn, đồng nhất và sạch bệnh trong một thời gian tương đối ngắn.

Do đó, muốn phát triển việc nuôi trồng Cymbidium ở quy mô lớn hoặc để tạo ra những giống mới, cần thiết phải có một phòng thí nghiệm với đầy đủ hóa chất, thiết bị nhân cấy cây trong ống nghiệm. Đây là một bộ phận không thể thiếu được của bất kỳ cơ sở trồng lan nào trên thế giới.

CYMBIDIUM TỰ NHIÊN

Theo những kết quả điều tra định loại trước đây chi Cymbidium trong cả nước ta có khoảng 12 loài. Về mặt hình thái, có thể nói tất cả những loài này đã và đang được nuôi trồng tại Đà Lạt. Qua việc khảo sát trong tự nhiên, các loài này đều có khu phân bố với những qui luật chi phối đặc trưng, có số lượng cá thể khá lớn. Từng loài có các yếu tố cách ly rõ rệt với loài khác. Từ những khác biệt về cách sống, mùa hoa, màu sắc… cho đến những khác biệt về cơ quan sinh sản… đã giúp cho việc hình thành và ổn định các loài Cymbidium tự nhiên trên các vùng rừng núi Lâm Đồng – Đà Lạt.

Có những cá thể hay dòng vô tính của một hay một số biến chủng nào đó trong tự nhiên đã được sưu tập nuôi giữ, nhưng chưa có thể xem xét chúng nằm ở bậc phân loại nào trong hệ thống phân loại học thực vật. Cũng còn có những biến chủng giống nhau hay khác nhau về nhiều mặt, chịu tác động của những cơ chế cách ly độc đáo, nhưng hiện nay chưa thể tìm gặp được khu phân bố vì thảm rừng đã bị tàn phá nặng nề. Đó cũng là một trong những khó khăn, cần có điều kiện, thời gian và sự kiên trì của những người quan tâm, yêu thích mới có thể giải quyết được.

Giới thiệu về những loài Cymbidium tự nhiên, chúng tôi có hoài bão giúp ích phần nào cho những ai ham thích sưu tập lan rừng. Chúng tôi cố gắng mô tả các đặc điểm phân loại và môi sinh của chúng một cách chính xác nhất trong chừng mực những tài liệu thu thập được cũng như những quan sát thực tế cho phép. Qua đó, chúng tôi hy vọng người trồng lan có thể có thêm tài liệu về phả hệ của các giống lan mình đang trồng, từ đó có những biện pháp kỹ thuật đáp ứng chính xác hơn yêu cầu sinh lý, sinh thái của từng giống nhằm đạt được năng suất hoa cao nhất.

Địa Lan Kiếm Trần Mộng Sapa

Người Á Đông có truyền thống văn hoá hàng ngàn năm, nuôi trồng và thưởng ngoạn Địa Lan Kiếm (Terrestrial Cymdibium).Hiện nay, ngành nuôi trồng mang tính công nghiệp các loài lan lai, có cần hoa cao, bông hoa to, mầu sắc rực rỡ, mang lại nguồn thu nhập chủ yếu trong ngành nông nghiệp ở nhiều nước như: Thái Lan, Đài Loan, Singapore v.v…

ĐỊA LAN KIẾM TRẦN MỘNG SAPA

Nhưng nuôi trồng và thưởng ngoạn Địa lan Kiếm vẫn giữ vị trí độc tôn ở Trung Quốc. Các văn nhân, mặc khách phương Bắc đã coi Địa lan Kiếm như có “Tiên lực” thu hút tâm hồn con người. Rất dân dã, nhưng cũng rất cao sang… “Ai đã xem hoa lan nở, trên trái đất này sẽ không có cái gì đẹp nữa”…Nhiều sách vở viết về lan ở Trung Quốc, chủ yếu giới thiệu về các loài Địa lan Kiếm.

Có sách không có một dòng chữ nói về các loại lan khác, kể cả các Phong Lan Kiếm (Epyphytic cymdibium).Người Hà Nội và các tỉnh Bắc Ninh, Nam Định, Hà Tây, Hưng Yên, Thái Bình v.v… cũng đã gìn giữ được nhiều loài Địa lan Kiếm quý giá như Thanh Ngọc, Hoàng Vũ, Cẩm Tố, Thanh Trường, Đại Mặc, Trần Mộng, Bạch Ngọc, Tứ Thời v.v…Cách thưởng ngoạn Địa lan Kiếm của các Sĩ phu Bắc Hà xưa và nay cũng khá giống nhau: Thư Thái! Ung dung! Để thấm dần dần: Hương dịu! Dáng thanh! Sắc nhã!Nhà thơ trẻ Trần Anh thuận đã thốt lên:

“Yêu mình một, quý lan mười Chỉ một lần ngắm, trọn đời ngẩn ngơ”.

Người ta sẽ cười những ai kê sát mũi vào bông lan và hít thật sâu! Thật mạnh! Thưởng thức hương lan thế vậy sao!

Cứ bình tĩnh, hương lan thường toả hương từng đợt. Nhà thơ Đinh Hạnh đã viết:

“Hương lan, người Ngọc hay lờ lững! Chợt có rồi không! đến ngỡ ngàng”

Địa Lan Kiếm Trần Mộng được nhiều người ưa chuộng. Cánh đài, cánh hoa của loài lan này có màu hồng pha mầu cánh gián, khi hoa nở lại hơi uốn cong về phía sau, thật là duyên dáng! Hương thơm rất kỳ diệu. Ai có dịp thưởng thức hương thơm của loài lan này sẽ nhớ mãi mãi, khó quên lắm! Ngoài hai đặc tính đáng quý: hoa đẹp, hương thơm quyến rũ, Địa lan Kiếm Trần Mộng còn có các ưu thế sau: bông hoa khá to, chùm hoa có nhiều bông và cao tới 80cm, 90cm, vươn khỏi đám lá lục biếc. Mỗi năm lan có thể ra hoa được 2 vụ: Thu và cuối Đông.

Nhiều người trồng lan, thường muốn vụ lan nở đón xuân được tốt, nên đã huỷ những mầm hoa lan tháng 9.

Địa lan Kiếm Trần Mộng phân nhánh nhanh và dễ nuôi, nhưng có nhược điểm lá to, dài và giòn nên dễ gãy. Người ta không xếp các chậu lan Trần Mộng ở đầu hàng các chậu lan để tránh các luồng gió mạnh.

Tên loài Địa lan này cũng là một kỳ tích ly kỳ. Vua Trần Anh Tông (thế kỷ XIII) trong một đêm ngủ, mộng thấy được xem một loài Địa lan rất lạ, hoa màu đỏ hồng, rất đẹp và rất thơm. Khi Người tỉnh giấc, thấy tiếc quá, nhà vua ngẩn ngơ, bần thần. Kỳ lạ thay, trong ngày hôm đó, có người mang tiến vua một chậu lan như trong giấc mộng của nhà vua… thế là loài lan quý đó đã được mang tên giấc mộng của vua Trần.

Tuy vậy có nhiều người chơi lan lại gọi đây là lan Tần Mộng, cây lan trong giấc mộng của Tần Thuỷ Hoàng. Trung Quốc là nước đã phát hiện ra các loài Địa lan sớm nhất thế giới, từ thế kỷ V trước Công nguye6n, Tần Thuỷ Hoàng nổi danh trong thế kỷ III trước Công nguyên – Vậy tên đó có thể là hợp lý?

Nhưng nếu xét kỹ, tuy Trung Quốc đã ca ngợi lan từ thế kỷ V trước Công nguyên: dù trong núi thẳm rừng sâu mà vẫn cứ toả hương khoe sắc. Thời gian đó chưa thể nuôi trồng, thuần dưỡng lan được, vì lan có những tập tính riêng khác với muôn loài thực vật. Cho nên mãi các thế kỷ sau Công nguyên, nhất là đến thời kỳ nhà Đường, thế kỷ VII, VIII, ở Trung Quốc mới phát triển các vườn lan. Nổi tiếng nhất là Vương Hy Chi (tác giả của Thiếp Lan Đình) hay Đỗ Phủ (nhà thơ lừng danh của Trung Quốc) được coi là các bậc lan Vương.

Do vậy vua Tần chưa thể có giấc mộng về lan được. Chúng ta cũng nên nhìn nhận về tính cách của hai vị vua này. Tần Thuỷ Hoàng có tài năng phi thường, đã đánh tan được hết các nước chư hầu, thống nhất Trung Nguyên, góp phần quyết định xây dựng một công trình rất to lớn của nhân loại – Vạn lý Trường Thanh. Nhưng vị vua này cũng nổi tiếng về số cung nữ (3.000 người), đã chôn sống, giết nhiều danh nho, đốt cháy nhiều pho sách quý.

Vua Trần Anh Tông, thế kỷ XIII, là một trong các vị vua đầu tiên của nhà Trần – Các vị minh quân đầu đời của nhà Trần đã tổ chức hai hội nghị lịch sử: Hội nghị Bình Than của các tướng lĩnh; Hội nghị Diên Hồng của các đại diện trăm họ, nên đã đánh tan được ba cuộc xâm lược của quân Nguyên Mông. Chính các vị minh quân này đã hội tụ được nhiều nhân tài kiệt xuất như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Lê Văn Hưu, Lê Phụ Trần,… và đã mở lại các khoa thi tuyển dụng nhân tài. Vua Trần Anh Tông kế tục các vị tiền bối chăm sóc vườn thượng uyển, hình thành “Ngũ Bách Lan Viên” (vườn 500 chậu lan) trên đồi Long Đỗ, Công viên Bách Thảo – Hà Nội.

Có điều kỳ lạ – Các giống Địa lan của rừng Việt Nam rất ít loài hoa Địa lan có mầu đỏ, mầu hồng.

Trong khi đó, trong các khu rừng ở Trung Quốc lại rất phong phú. Trong cuốn “Sắc Hoa Giám Thưởng” của Lưu Thanh Dũng, Lưu Dật Bình (NXB Kỹ thuật Phúc Kiến, in vào tháng 7/2003) có giới thiệu 74 loài Địa lan Kiếm có hoa mầu đỏ, màu hồng, nhưng lại không có hoa nào mang tên Tần Mộng.

Như vậy ta tin rằng, vua Trần Anh Tông, con người anh minh, giàu lòng nhân nghĩa, coi trọng văn hoá – luôn thấy vườn lan 500 chậu Địa lan Kiếm chỉ có mầu tím (Mặc lan), mầu lục (Thanh lan), mầu vàng (Hoàng lan), mầu trắng (Bạch lan) nên đã có mơ ước đêm ngày được có hoa lan màu hồng. Vậy loài hoa lan đó có tên là Trần Mộng có thể là đúng.

Nhà thơ Đinh Hạnh làm nhiều bài thơ về hoa lan, có bài về lan Tần Mộng, sau thấy việc thay đổi tên này này đúng hơn, nên đã nói lời: Tạ từ Tần Mộng

Vua Tần mê mải chiến tranh Giấc mơ trận mạc, đâu giành cho lan Nhà Trần xây Bách Lan Viên Tôn vinh Trần Mộng, sang tên cho nàng

Hà Nội vào thu! Cây bàng lá đỏ

Chúng ta khó thấy con nai vàng ngơ ngác! Nhưng tại các vườn lan, những chùm hoa đỏ hồng của Địa lan Kiếm Trần Mộng đang vươn lên cao, đón nhận những tia nắng vàng hổ phách và toả hương từng đợt, từng đợt, man mác.