Top 3 # Xem Nhiều Nhất Cay Lan Vu Nu Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Vitagrowthheight.com

Vu Lan Kiếm – Cây Lan Thắm Tình Đất Võ

Khi chậu lan kiếm Vu Lan đạt giải 3 trong hội thi lan kiếm năm 2019 tại Đà Nẵng, tôi đã tự hỏi “phải chăng mắm đang lên ngôi?”. Với tôi, hành trình tìm hiểu câu chuyện đằng sau giải thưởng từ đó bắt đầu…

Công bằng mà nói, Vu Lan Kiếm là một cây kiếm đẹp toàn diện, dù chưa phải thuộc loại xuất sắc. Thân củ to, lá dày, bản lá thuộc dạng khá (trên 5cm một chút). Cần hoa dài, to, ngả xanh, thẳng, dày bông, phân hoa đều chỉnh chu nuột nà. Khuôn hoa cân đối còn vương chút màu mắm, cánh bầu thủy tiên, giữ khuôn bầu từ bông đầu tiên đến bông cuối cùng. Đầu lưỡi hoa có vệt bán nguyệt đỏ, tạo điểm nhấn ở trung tâm khiến bông hoa càng thêm rực rỡ.

Ngắm nhìn chậu kiếm Vu Lan sau hội thi với 20 thân, 10 măng đang phát mạnh, bộ lá giương vút khỏe khoắn, 4-5 cần hoa rủ xuống mềm mại đang bung nở những cánh hoa bầu tuyệt đẹp và thoảng hương thơm, nhiều người cảm thấy tiếc. Nếu hội thi lan kiếm tổ chức sau tầm 5-7 hôm, chậu kiếm đúng độ tỏa sáng hết cỡ còn có thể đoạt giải cao hơn nữa. Vậy đấy, ở đời đã hay còn cần chút hên để vươn đến đỉnh cao…

Chậu kiếm Vu Lan đạt giải 3 trong hội thi lan kiếm năm 2019 tại Đà Nẵng

Nhưng câu chuyện đằng sau chậu kiếm dự thi mới đong đầy kỷ niệm. Cách đây hơn 30 năm, một cô sinh viên quê Bình Định đã mang về khóm kiếm nhỏ như một món quà của núi rừng sau những ngày thực tập vất vả tại một nông trường thuộc tỉnh Gia Lai. Khóm kiếm đó đã đi cùng năm tháng với cô chủ, sau mấy lần chuyển nhà, lập gia đình, cho đến tận bây giờ. Dù bao lần cả nhà đi vắng, có lần đến vài tháng trời không có điều kiện chăm bẵm, khóm kiếm vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt. Và thật tuyệt vời năm nào khóm kiếm cũng trổ bông hai lần, một lần trùng vào dịp Vu Lan (rằm tháng 7) và một lần vào tháng 10 âm lịch. Khóm kiếm ấy hàng năm đến hẹn lại lên, trổ bông khoe sắc, nhắc cô chủ nhớ về bao bạn bè đồng trang lứa, về những ký ức ngọt ngào của một thời gian khó đã qua.

Khóm kiếm gia bảo đó không phải để bán. Chỉ nhờ cơ duyên vào đúng mùa Vu Lan cách đây hai năm, chủ nhân của chậu kiếm dự thi được cô chủ tặng lại cho vài thân kiếm như một món quà tri âm. Quí vật tìm quí nhân, đó là thời điểm cây kiếm được mang tên Vu Lan, bắt đầu được luyện rèn để tỏa sáng vào đêm hội thi lan kiếm 2019 tại Đà Nẵng, và trở thành cây kiếm bản môn trấn phái của các kiếm thủ đất Bình Định.

Bình Định vốn được mệnh danh là miền đất Võ, với phong cảnh hữu tình, nơi hồn thiêng sông núi tụ hội, đã sản sinh ra những đấng hùng anh vang danh sử sách mà đỉnh cao là Tây Sơn Tam Kiệt (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ), cùng những thi sỹ nổi tiếng như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu. Trong kiếm có thơ, trong thơ có kiếm… Bình Định còn nổi tiếng với ẩm thực phong phú, những món quà quê thưởng thức một lần nhớ mãi của những người con đất Võ đầy hùng tâm tráng khí và cũng đầy tình thương mến thương.

“Muốn ăn bánh ít lá gai Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi” Thâu rầu tạm biệt, chia li Ngừ dìa, kẻ ở bờ mi lệ trào” (“Con người Bình Định” – Thơ Vạn Thành)

Một mùa Vu Lan nữa lại sắp đến, đây là dịp để mỗi người chúng ta hướng lòng thành kính về cha mẹ, ông bà, những bậc tiên liệt hiển hách của quê hương; cũng là dịp để sống chậm lại, yêu thương nhiều hơn giữa dòng đời hối hả, xô bồ. Và thời khắc đó có chậu kiếm Vu Lan thắm đượm tình người đất Võ đang khoe sắc tỏa hương bên thềm nhà – còn gì tuyệt vời hơn…

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Trinh Nữ Hoàng Cung, Ky Thuat Trong Cay Trinh Nu Hoang Cung

Kỹ thuật trồng cây

Cây Trinh nữ hoàng cung có nguồn gốc từ Ấn Độ, hiện được trồng rộng rãi ở nhiều nước trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philippin, Campuchia, Lào. Việt Nam, Ấn Độ và cả ở phía Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, cây được trồng chủ yếu ở các tỉnh từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào, sau được trồng ở các tỉnh phía Bắc. Trinh nữ hoàng cung là cây ưa ẩm, ưa sáng hoặc có thể chịu bóng một phần, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm của vùng nhiệt đới, với nhiệt độ trung bình từ 22 – 27oC, lượng mưa trên 1500 mm/năm.

1, Tiêu Chuẩn Chọn Giống:

Cây được tách ra khỏi cây mẹ và đã sinh trưởng độc lập gồm đầy đủ các bộ phận của một cây hoàn thiện đó là có rễ, thân, lá. Cây giống phải đạt chiều cao 20 cm trở lên, cây sạch bệnh (không có bệnh, sâu, mầm mống của sâu bệnh).

2, Thời Vụ và Mật Độ Trồng:

Cây Trinh nữ hoàng cung thuộc loại cây trồng dễ tính, có thể trồng bất kỳ thời gian nào trong năm, chỉ cần cung cấp đủ ẩm cho cây. Tuy nhiên, thời vụ thích hợp nhất cho cây là trồng vào vụ xuân (từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm). Khoảng cách trồng: 30 x 30 cm. Lượng cây giống: 75.000 cây/ha

3, Làm Đất Và Đào Hố Trồng:

Chọn nơi đất không bị úng ngập vào mùa mưa kể cả úng tiểu mãn. Vạc bờ cuốc góc và làm sạch cỏ dại trước khi cày bừa. Cày sâu 20 – 25cm bừa nhỏ (theo kỹ thuật làm đất thông thường). Cắt luống theo hướng Đông Tây kết hợp với chiều thoát nước của đất vào mùa mưa: Vun luống còn rộng mặt luống 80cm, rãnh 40cm, chiều cao luống 25 – 30cm. Bổ hốc so le hoặc nanh xấu cây cách cây và hàng cách hàng là 40 x 40 cm.

4, Phân Bón Lót:

Bón lót 15-20 tấn phân chuồng mục/ha, bón theo hốc 300-400 kg lân super, 150-170 kg Kali Sunpát.

5, Kỹ Thuật Trồng Cây Trinh Nữ Hoàng Cung:

Cây trồng theo hốc đã được bón phân chuồng, trồng 2 hàng lệch nhau hay theo kiểu nanh sấu. Đảo đều phân và đất theo từng hốc, đặt thẳng cây giống vào chính giữa hốc đã được đào sẵn, lấp đất đều xung quanh cho kín bề mặt của thân giả khoảng 1 cm, ém đất xung quanh củ cây giống để cây khỏi bị lay gốc và để đế củ tiếp giáp với đất sẽ chóng đâm rễ hơn. Trước khi trồng cần cắt bỏ hết phần rễ của cây giống để kích thích việc ra rễ mới và cần cắt bỏ hết phần lá của cây giống chỉ chừa lại 1-2 cm, nhằm tránh sự mất nước tạo cho cây nhanh ra lá mới.

6, Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Trinh Nữ Hoàng Cung:

6.1 Kỹ thuật chăm sóc định kỳ:

Tưới nước: cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô. Phòng trừ cỏ dại: Phủ gốc chè bằng cỏ, rác, cây phân xanh… để hạn chế cỏ dại; xới phá váng sau mỗi trận mưa to. Làm cỏ vụ xuân tháng 1-2 và vụ thu tháng 8-9, xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2-3 lần.  

6.2 Kỹ thuật Cắt tỉa, tạo hình:

Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để cung cấp đủ ẩm cho cây và phát hiện sâu bệnh sớm để kịp thời xử lý. Cần định kỳ làm cỏ sạch ruộng, kết hợp xới xáo và bón phân thúc cho cây sau mỗi lần thu hái. Sau 1 5 ngày kể từ khi trồng cây con, ẩm độ đất trồng phải luôn luôn đảm bảo từ 75 – 80%. Sau thời gian trên, độ ẩm đất có thể thấp hơn (khoảng 60 – 65%). Thường xuyên thăm kiểm tra ruộng trồng, nếu phát hiện có cây con bị chết cần giặm lại cây mới để đảm bảo mật độ, khoảng cách trồng. Cuối năm thứ hai nếu có nhu cầu lấy cây giống thì bới gốc cây mẹ ra để tách lấy cây con đem làm giống.

6.3 Kỹ thuật Bón phân Cho Cây Trinh Nữ Hoàng Cung:

Phân chuồng: 1500 – 3000 kg/sào (1000m2) (15 – 30 tấn/ ha) bón lót toàn bộ. Phân đạm và phân lân bón thúc sau khi trồng 45 ngày và bón kết hợp xới xáo sau mỗi lần thu hoạch dược liệu (4,5 lần /năm) 1 lần cách nhau 2 – 2,5 tháng. Tổng lượng phân là 160 kg đạm urê thị trường và 160 kg lân sunfat/ha/năm. Cuối năm bón quanh gốc cây lượng phân chuồng dùng cho năm sau để cây có điều kiện giữ ẩm, phủ ẩm gốc cây tạo điều kiện cho mùa xuân năm sau cây sinh trưởng phát triển tốt hơn.

7, Phòng Trừ Sâu Bệnh Cho Cây Trinh Nữ Hoàng Cung:

Thường xuyên kiểm tra ruộng trồng Trinh nữ hoàng cung, nếu thấy có sâu non xuất hiện, mật độ sâu cao do sâu có thể gối vụ ta phải tiến hành phun thuốc. Cây Trinh nữ hoàng cung có sâu phá hoại chính là loài sâu ăn tạp (Brythys crini) phá hại từ tháng 4 -10 hàng năm, cao điểm tập trung phá hại của sâu vào những tháng giữa mùa hè nắng nóng xen với mưa lớn. Diệt trừ sâu hại: Ta có thể dùng các loại thuốc nội hấp hoặc thấm sâu thuốc thảo mộc (Fastac 5 EC, Tập kỳ, Thần tốc) cho hiệu quả diệt trừ sâu Brithys crini Fabricius rất cao, có thể đạt hiệu quả trên 90%. Tuy nhiên, tránh hiện tượng sâu gối vụ, ta nên phun nhắc lại 10-15 ngày/lần. Phun ướt cả 2 mặt lá và bề mặt luống. Phun vào ngày nắng, buổi chiều, khi cây đã khô sương. Nồng độ phun theo chỉ dẫn trên nhãn thuốc. Nếu ít sâu, có thể dùng phương pháp bắt thủ công vào sáng sớm và chiều tối. Bệnh hại: Bệnh đốm đen, đốm cháy lá, mốc phấn trắng, vàng lá sinh lí nhưng mức độ gây hại không lớn. Có thể dùng thuốc phòng trừ là: TP – ZEP 18 EC có nguồn gốc từ thảo mộc phun theo hướng dẫn trên nhãn bao bì của nhà sản xuất. Dược liệu Trinh nữ hoàng cung là lá nên cần tuân thủ áp dụng đúng quy tắc về thời gian cách ly theo khuyến cáo của nhà sản xuất với từng loại thuốc bảo vệ thực vật mới được thu hoạch được liệu.

8, Thu Hoạch và Bảo Quản: Thu hoạch đợt đầu tiên sau trồng 100 – 200 ngày (tùy theo tuổi của củ cây con trồng), thu hoạch đợt đầu có thể năng suất và chất lượng dược liệu chưa cao. Cây đủ tiêu chuẩn là trồng được 1 năm trở đi, thường khi cây có 6 -8 lá thật, kích thước lá dài 50 – 70 cm, rộng 10 – 12 cm, lá dày ta nên thu hoạch. Khi thu, để lại 2 – 3 lá ngọn. Khi cây đã được 1 năm tuổi trở đi, tùy thuộc điều kiện khí hậu thời tiết, chế độ chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh có thể thu hoạch lá 1,5 – 2 tháng/lần. Chọn ngày nắng ráo, thu hoạch lá vào buổi chiều hôm trước hoặc buổi sáng hôm sau. Lá Trinh nữ hoàng cung sau khi thu về rửa sạch và sơ chế bằng cách chần qua nước sôi rồi rải đều trên dàn phơi cách mặt đất 1m có bạt nilon che mưa ở trên, di chuyển bằng ròng rọc. Sau 2 nắng, có thể phơi tiếp trên sân gạch hoặc sấy ở nhiệt độ 35-40oC đến khô, độ ẩm cho phép 12% là được.

9, Kinh nghiệm và Thị Trường:

Yêu cầu bao đóng gói: Phải nhất thiết đóng gói dược liệu bằng túi polyetylen loại dày khó rách, sau đó buộc chặt đầu bao bì để tránh không khí xâm nhập làm ẩm, mất mùi thơm, ảnh hưởng đến chất lượng dược liệu. Yêu cầu của kho bảo quản: Kho phải được đặt ở nơi cao ráo, thoáng mát, có cửa thông thoáng, trang bị kệ sắt để đặt sản phẩm, kệ cách tường kho và cách sàn kho 20 – 30cm để tránh ẩm và mối mọt. Thời gian bảo quản dược liệu: Dược liệu khô đóng gói kỹ trong điều kiện kho bình thường, có thể bảo quản được 2 năm. Trong điều kiện bảo quản ở dược liệu ở kho lạnh thì thời gian bảo quản có thể kéo dài lâu hơn. Yêu cầu và điều kiện vận chuyển: Bao hàng đưa lên xe vận chuyển không được rách, tốt nhất ngoài đóng thêm 1 lớp bao tải để khi vận chuyển trên đường tránh rách nát, làm hỏng dược liệu. Xe vận chuyển là loại xe chuyên dụng, phải có bạt che mưa nắng an toàn cho dược liệu.

Trích nguồn Intenert

—————————————————————————————————

Kỹ Thuật Trồng Ớt (Cay)

 

Ớt là loại cây trồng đang được sản xuất và sử dụng rộng rãi hiện nay. Giống địa phương vẫn được sử dụng canh tác rộng rãi. Giống trồng phổ biến ở Đồng bằng Sông Cửu Long có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miền Trung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi. Khoa học ngày càng phát triển nhiều công trình nghiên cứu lai tạo ra các giống F1 cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao, nên bắt đầu được ưa chuộng và thay thế dần các giống địa phương.

1. Thời vụ trồng ớt (cay)

+ Vụ thu đông (vụ sớm): Gieo hạt T8 – T9 dương lịch, trồng vào T9 – T10, thu hoạch từ T12 -T1 đến T4 – T5 năm sau.

+ Vụ đông xuân (Vụ chính): Gieo hạt T10 – T11 dương lịch, trồng vào T11 – T12, thu hoạch từ T2 – T3 trở đi. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh.

+ Vụ xuân: Gieo hạt giữa T1 dương lịch, trồng vào cuối T2, thu hoạch từ T4 – T7.

+ Vụ hè thu: Gieo tháng 4 – 5, trồng T5 -  T6, thu hoạch từ T8 trở đi. Mùa này cần được trồng trên đất thoát nước tốt, để tránh ngập úng và chọn các giống kháng bệnh thán thư.

2. Kỹ thuật trồng ớt (cay)

2.1. Chuẩn bị đất trồng

+ Đất được luân canh với các cây trồng nước như lúa, các cây vụ đông như ngô, đậu, lạc…Vụ trước không nên trồng các vây thuộc họ cà: cà chua, cà tím… để hạn chế mầm bệnh tồn tại trong tàn dư.

+ Đất được cày bừa tơi xốp, sạch cỏ và thoát nước tốt.

+ Mùa mưa cần lên luống cao kích thước trung bình: rộng 1m, chiều cao luống 25 – 30 cm, và có mương thoát nước. Nên sử dụng màng phủ nông nghiệp để trồng hiệu quả cao hạn chế cỏ dại và mất nước.

2.2. Ngâm ủ hạt giống

Lượng hạt giống cần cho 1 ha tùy thuộc vào mùa vụ, giống, điều kiện thời tiết. Trung bình khoảng 150 – 200 g/ha.

+ Ngâm hạt giống trong nước sạch 6-8 giờ, sau đó ngâm ướt với thuốc trừ nấm Funomyl (1g thuốc pha với 1 lít nước) trong 30 phút.

+ Vớt lên rửa sạch, để ráo nước, lấy 1 khăn ấm gọi lại và cho vào bao nylon cọt kín miệng để hạn chế bốc hơi nước.

+ đem gói giống ủ 27 – 28 độ trong khoảng 48 giờ.

2.3. Chuẩn bị gieo hạt

Gieo hạt vào bầu, bầu thường làm bằng túi nylon.

Thành phần đất vô bầu thông thường với tỷ lệ: Đất tơi xốp: 60%, phân chuồng hoai mục 29%, tro bếp 10%, lân 0,5-1%, vôi 0,2-0,3%.

Lưu ý: Trộn đều các thành phần trên và sàng kỹ loại bỏ rác và cục đất to trước khi vô bầu.

2.4. Trồng cây

Khi cây con có 4 lá thật, chọn cây phát triển tốt, mật tiến hành đem ra trồng.

2.5. Khoảng cách và mật độ trồng

+ Vào mùa khô: Mật độ trung bình: 1700 – 1900 cây/1000 m2.

+ Mùa mưa: Mật độ trung bình từ 1400 – 1500 cây/1000m2.

Khoảng cách: hàng đơn cây cách cây 40cm, hàng đôi cây cách cây 40, hàng cách hàng 50cm. (nên phủ bạt trước khi trồng).

2.6. Tưới nước

Tùy thuộc vào dạng đất, độ ẩm và thời vụ

Tưới thấm là tốt nhất vì nước cũng có thể chưa nhiều mầm bệnh, bệnh truyền qua lá, do đó cần tránh tiếp xúc trực tiếp vào thân lá. Thời gian ra hoa và kết trái cần cung cấp đầy đủ nước để ngăn ngừa rụng bông, quả.

Nguồn: giáo trình bệnh cây nông nghiệp

Kỹ Thuật Trồng Cây Ớt Cay

Kỹ thuật trồng cây ớt cay

Ớt cay là loại cây trồng phát triển tốt ở vùng khí hậu ấm áp thích ánh sáng, thời gian sinh trưởng và thu hoạch kéo dài nếu điều kiện chăm sóc tốt và phân bón đầy đủ. Cây ớt có rễ cạn và bất định vì vậy dễ dàng đổ ngã do gió mạnh, rất mẫn cảm với môi trường khi khí hậu quá khô hay quá ẩm.

Ớt cay là loại cây trồng phát triển tốt ở vùng khí hậu ấm áp thích ánh sáng, thời gian sinh trưởng và thu hoạch kéo dài nếu điều kiện chăm sóc tốt và phân bón đầy đủ. Cây ớt có rễ cạn và bất định vì vậy dễ dàng đổ ngã do gió mạnh, rất mẫn cảm với môi trường khi khí hậu quá khô hay quá ẩm. Đất cát, cát pha thịt, đất phù sa ven sông có nhiều mùn, thoát nước tốt với sự cung cấp đủ phân hữu cơ và độ pH đạt trung bình từ 6,0 – 6,5 là điều kiện để cây phát triển tốt. Thời vụ trồng: miền Nam: quanh năm, miền Trung: từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, miền Bắc: tháng 7, 8, 9, 10, 11, 12.

1. Chuẩn bị đất trồng

Đất chuẩn bị trồng phải được luân canh lúa, bắp, đậu… tối thiểu 3 năm, vụ trước không trồng cây thuộc họ cà như: ớt, cà chua, cà tím,… để phòng nấm bệnh trong đất truyền cho ớt. Đất phải được cày bừa tơi xốp, sạch cỏ và thoát nước tốt. Mùa mưa cần phải lên líp cao kích thước trung bình: mặt liếp rộng 1m, chiều cao 20 – 30cm và mương thoát rộng 40 cm. Nên sử dụng màng phủ nông nghiệp (Plastic) để trồng ớt rất tốt. Dùng màng phủ nông nghiệp chiều ngang 1,2m trồng hàng đôi, cách làm đất, bón lót, trải màng phủ giống như trải trồng dưa hấu.

2. Ngâm ủ hạt giống

Lượng hạt giống cần cho 1 ha tùy thuộc vào giống và tỷ lệ nảy mầm, trung bình khoảng 150 – 200g/ha.

Ngâm hạt giống trong nước sạch không bị phèn mặn từ 6 – 8 giờ, sau đó ngâm ướt với thuốc trừ nấm Funomyl (1g thuốc pha với 1 lít nước) trong 30 phút, vớt lên rửa sạch để ráo nước, lấy khăn ẩm gói hạt lại và cho vào bao nylon cột kín miệng để hạn chế bốc thoát hơi nước. Sau cùng đem gói giống ủ ở nhiệt độ từ 27 – 280C. Hầu hết các giống ớt bắt đầu nảy mầm từ 48 giờ sau. Đem gieo những hạt đã nứt mầm, đừng để hạt ra rễ quá dài, cây mầm sẽ lên yếu và khi gieo dễ bị gãy mầm.

3. Chuẩn bị gieo hạt

Thường gieo hạt vô bầu đất, bầu thường làm bằng nylon hay lá chuối. Thành phần đất vô bầu thông thường theo tỷ lệ như sau:

– Đất mặt tơi xốp: 60% – Phân chuồng hoai mục: 29% – Tro trấu: 10% – Phân lân: 0,5 – 1% – Vôi: 0,2 – 0,3%

Trộn đều thành phần trên và sàng kỹ để loại bỏ rác và cục đất to trước khi vô bầu.

Sau khi gieo hạt vào bầu, rải một lớp mỏng phân chuồng hoai sàng kỹ để lấp kín hạt, rải một lượt thuốc Basudin hạt đề phòng kiến và đế, sâu đất phá hại. Tưới đẫm nước, giữ ẩm đẩ hạt dễ nảy mầm. Chăm sóc cây con phải phòng trừ sâu bệnh tốt, nếu cây thiếu phân có thể tưới NPK, DAP và Urê hoặc phân vi sinh ra rễ Bảo Đắc.

4. Trồng

Khi cây con đã được 4 lá thật (lá nhám), chọn những cây phát triển tốt, không bị nhiễm sâu bệnh, có thể tiến hành đem ra trồng. Mật độ khoảng cách trồng tùy thuộc vào giống, đất đai và khí hậu, mật độ cao cây sẽ có sự cạnh tranh áng sáng, phân bón, nhiều sâu bệnh ảnh hưởng đến năng suất.

Khoảng cách trồng – mật độ:

– Vào mùa nắng (mùa khô): hàng đôi cách hàng đôi 1,2 – 1,4m, hàng cách hàng của hàng đôi 0,6 mét, cây cách cây trên hàng 0,6m. Mật độ trung bình từ 1.700 – 1.900 cây/1.000m2.

– Vào mùa mưa: hàng cách hàng từ 1,2 – 1,4m, cây cách cây trên hàng 0,7m. Mật độ trung bình từ 1.400 – 1.500 cây/1.000m2.

Lưu ý:

– Phun thuốc phòng trừ sâu bệnh (như Thianmectin 0.5ME + Thane M 80WP ở liều nhẹ) 3 ngày trước khi đem trồng.

– Một ngày trước khi trồng phải cung cấp đủ nước để giúp cây con phát triển tốt ngoài đồng.

– Trồng cây con sao cho mặt bầu ngang bằng với mặt đất ngoài đồng. Sau khi trồng nên tưới phân vi sinh ra rễ Bảo Đắc để giúp cây ra rễ tốt và phòng bệnh chết cây con.

5. Tưới nước

Tùy thuộc vào dạng đất, độ ẩm của đất và thời vụ (mùa mưa hay mùa nắng).

Tưới thấm là tốt nhất vì nước cũng có thể mang nhiều mầm bệnh truyền qua thân lá, do đó cần tránh nước tiếp cúc vào thân lá. Trong thời gian cây ra hoa và kết trái cần cung cấp đủ nước để ngăn ngừa rụng bông rụng trái. Tưới quá ẩm hay để quá khô hạn dễ xảy ra các trường hợp sau:

+ Rụng hoa, rụng trái + Cây phát triển kém + Giảm số bông, giảm chất lượng trái, năng suất thấp

6. Bón phân

Trước khi quyết định sử dụng loại, lượng phân bón nào cần phải căn cứ vào dạng đất trồng, hoa màu trồng vụ trước, điều kiện khí hậu và những yếu tố khác. Bón phân cân đối đạm và Kali là điểm quan trọng nhất. Thí dụ sau đây là lượng, loại phân bón trung bình sử dụng trên đất xám miền Đông Nam bộ (đất xấu) có thể gồm có: 1.100kg NPK 20 – 20 – 15, 100kg KCl, 30m3 phân chuồng hoai và 500kg vôi cho 1ha.

Ghi chú:

– Kết hợp làm cỏ, lấp phân, vun gốc mỗi lần bón thúc phân. Rễ cây ớt rất mẫn cảm (dễ bị tổn thương) với phân bón do đó khi bón phân hóa học phải xa gốc, tưới phân và phun phân bón lá phải đúng liều lượng.

– Các lần bón thúc kế tiếp cứ cách 20 ngày bón 1 lần với loại, lượng phân như bón thúc lần 2 (trừ phân chuồng) (có thể ngâm phân, pha loãng với nước tưới gốc theo hàng).

– Lần bón thúc thứ 3 rải phân giữa 2 hàng đôi lấp phân.

– Lần bón thúc thứ 4, 5, 6… lặp lại thứ tự như lần bón thứ 2, 3 …

– Khi cây con còn nhỏ hoặc giữa 2 lần bón thúc, tưới NPK hoặc DAP với lượng pha loãng 2 – 3% với nước vào gần gốc nếu cần, kết hợp phun phân vi sinh phun lá Bảo đắc 15 ngày/lần.

– Khi trái ớt bắt đầu lớn, phun định kỳ CaCl2 khoảng 0,4% nửa tháng một lần để phòng bệnh thối đuôi trái.

7. Cắm le (đỡ cây tránh đổ ngã)

Cây ớt mang nhiều trái gặp gió mạnh dễ đổ ngã, nên cắm le (cây le dài khoảng 1m) chống đỡ, mỗi cây ớt cắm một cây le, cắm xiên buộc vào thân chính, có thể dùng dây nylon giăng dọc theo hàng để đỡ cành mang trái, hạn chế cành bị gãy khi mang trái nặng.

Tỉa bỏ những cành nhỏ bên dưới và những nụ hoa gần gốc để tạo thông thoáng – hạn chế sâu bệnh phát triển – cho năng suất cao.

8. Phòng trừ sâu bệnh

A. Sâu hại

1. Bọ trĩ, rầy mềm, rầy đen: Tập trung chích hút nhựa cây phá hại ở phần lá non, bông và trái non làm cho lá bị quăn queo, đọt non không phát triển được và cây bị truyền bệnh virus Phòng trừ bằng thuốc: Thianmectin 0.5ME (10cc/bình 16 lít), Nockthrin… Riêng bọ phấn trắng khhi xịt thuốc nó di chuyển nhanh không dính thuốc nên mức độ gây hại cho cây rất nặng (truyền bệnh virus). Đề nghị sử dụng dầu khoáng cho cây cộng với Thianmectin 0.5ME và phun vào trời càng càng tối càng tốt.

2. Sâu xanh, sâu ăn tạp: Sâu cắn phá bông, trái, lá non. Phòng trừ bằng thuốc: Thianmectin 0.5ME, Lannate, Ammate…

B. Bệnh hại

1

Bệnh héo rũ cây con do nấm: -Rhizoctonia solani -Fusarium spp -Pythium spp

Nấm tấn công làm cây con chết rũ ngang gốc thân hay phần tiếp giáp giữa thân với mặt đất làm cây con chết nhanh và chết hàng loạt

Không để đất vườn ươm quá ẩm. Phun No Mildew 25WP,Marthian Tưới vi sinh tưới rễ Bảo Đắc

Nền đất vườn ươm phải cao, thoát nước tốt, che mưa nếu có mưa nhiều…

2

Bệnh héo xanh do vi khuẩn: -Pseudomonassolanacearum

Bệnh thường xuất hiện trên cây trưởng thành và nặng nhất khi cây mang nhiều trái non. Ban đầu lá bên dươi bị héo, sau vài ngày toàn bộ cây đột nhiên có triệu chứng héo xảy ra. Khi cây chết mà lá, thân vẫn còn xanh

Trồng luân canh lúa, bắp, đậu… ít nhất 3 năm không trồng cây họ cà Marthian 90SP hoặc No Mildew 25WP + For Wanil . Kasai, New Kasuran, Kasugamycine

Đất phải thoát nước tốt. Nhổ những cây có triệu chứng nhiễm bệnh đem ra xa ruộng tiêu hủy. rải vôi nơi cây bị bệnh. Trồng giống lai F1 kháng bệnh

3

Bệnh thán thư, đốm quả do nấm: -Collectotrichum spp

Vết bệnh trên trái có các đường viền xếp đồng tâm, lõm sâu, có màu vàng hay nâu đậm. Vết bệnh lan rộng nhanh chóng, nhất là ẩm độ không khí cao. Bệnh nặng các vết bệnh nối kết nhau hóa khô gây rụng trái có thể thiệt hại làm giảm năng suất 70 – 80%

10g Forwanil + 10g No Mildew25WP + 8 lít nước. Thane M 80WP Bavisan 50WP Benlat C Marthian 90SP

Mùa mưa trồng mật độ thưa, tạo thông thoáng, làm giảm ẩm độ không khí. Phun thuốc định kỳ 5 – 7 ngày/lần. Trồng giống lai F1 kháng bệnh

4

Bệnh sương mai do nấm: -Phythopthora capsici

Lá có những đốm tròn, xanh đen, thân màu xám đen và trái có màu nâu nhạt, mềm, bị thối

Bavisan 50WP Marthian 90SP No Mildew 25WP + Forwanil

Bón phân cân đối N, P2O5 K2O

5

Bệnh chết nhánh do nấm: -Choanephoracucurbitarum

Nấm bệnh xâm nhập trên các đoạn phân cành dần dần lan ra phần trên cây gây ra chết từng nhánh

10g Forwanil + 10g No Mildew 25WP + 8 lít nước. Thane-M 80WP

6

Bệnh héo vàng: – Fusavium Oxys pomm,F.Licopersiei

Thường gây hại lúc cây con và lúc ra hoa trái, thời gian bệnh kéo dài 10 – 15 ngày, lá xanh héo, mất nước, lâu dần chuyển vàng đều từ gốc lên, bó mạch trong thân và rễ thối nâu.

Xử lý hạt giống, xử lý đất bằng thuốc Mocap với Alpine hoặc Aliette, nâng lượng vôi nhằm tăng pH đất, tăng cường bón Lân, ngừa bằng thuốc hóa học khi thời tiết ấm và ẩm: No Mildew 25WP, Marthian 90SP, thuốc phòng trị gồm: Luster, Aliette, Dipmat với Alpine.

7

Bệnh thối hạch: – Se Leotium rolfsi

Triệu chứng lúc đầu có những sơi nấm trắng xuất hiện quanh gốc thân và phần thịt đen cuống trái, sau đó bện thành bông gòn rồi tạo thành hạch trắng làm quanh gốc thân rễ, trái thối khô đen.

Bằng cách cày sâu, xử lý đất sau đó xử lý hạt giống bằng thuốc, trồng cạn, tỉa lá gốc làm sạch cỏ dại, phủ màng phủ nông nghiệp tránh đất văng lên trái, phun thuốc phòng trị như Bavisan 50WP, Fusin M, Bendarol…

8

Bệnh sinh lý hiếu vôi:

Thể hiện lá to dầy cong vênh nhẹ, trưa nắng có hiện tượng héo (như thiếu nước), trái ớt có phần đít trái bị đốm nâu vàng, từ từ lan rộng và chuyển sang màu nâu sậm, hơi lõm vào và rất cứng, nên nấm mốc đen, gặp điều kiện ăn sâu và thối trái. Bệnh thường phát triển mạnh vào mùa mưa, thời tiết nóng lạnh thất thường làm cho vôi bị đẩy ra, kết hợp với phèn gây hiện tượng thiếu vôi cục bộ.

Dùng màng phủ nông nghiệp, tưới nước đầy đủ cho nhu cầu cây, cày ải thoát phèn trước khi trồng, làm rãnh thoát nước mùa mưa. Bón vôi 30 – 100 kg/1.000m2, tránh bón dư phân: đạm, Kali, Mg, Bo làm rối loạn sinh lý cây; phun trực tiếp lên cây Ca(Cl)2, Aron…

Thu hoạch trái trước khi chín, thu trái già chuyển màu có vết đỏ (bắt đầu chín) làm cho kích thích ra hoa nhiều tạo năng suất cao hơn cho đợt sau. Thông thường từ 35 – 40 ngày sau khi đậu trái có thể bắt đầu chín và thu hoạch được. Nếu chăm sóc tốt, bón phân đầy đủ, ớt có thể cho nhiều đợt trái, năng suất có khả năng đạt trung bình từ 25 – 35 tấn/ha hoặc cao hơn.