Top 16 # Xem Nhiều Nhất Cách Trồng Hoa Lan Thanh Đạm / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Vitagrowthheight.com

Cách Trồng Lan Thanh Đạm / 2023

Cách trồng lan thanh đạm:

Lan thanh đạm indo là dòng có cần hoa dài.

Số lượng hoa trên mỗi cần nhiều. Hoa có hương thơm nên được ưa chuộng trồng nhiều trong các nhà vườn. Lan thanh đạm indo được bán theo giò. Để thuận tiện cho quá trình vận chuyển Nhà vườn thường sẽ dỡ chậu cây ra ra để gửi. Khi nhận cây về ta cần cách tỉa bỏ các rễ hư, rễ già và các lá già, lá hỏng nếu có rồi tiến hành trồng cây vào chậu với các giá thể đã chuẩn bị sẵn.

Các giá thể trồng lan thanh đạm như than, vỏ thông hoặc dớn vụn.

Giá thể than cần được ngâm nước 4-5 ngày, giá thể vỏ thông cần được phơi thật khô trước khi trồng.

Trường hợp bụi cây lớn ta có thể tách thành 2-3 khóm nhỏ hơn. Và trồng vào các chậu khác nhau. Do khi gửi cây nhà vườn sẽ giữ lại một chút giá thể và là đã là cây trồng thuần nên số lượng dễ hỏng không nhiều. Vì vậy khi trồng cây sẽ không bị chột nhiều.

Một số điều cần lưu ý khi trồng lan thành đạm indo (cách trồng lan thanh đạm)

Cách trồng lan thanh đạm

Phần gốc cây cách miệng chậu khoảng 1 – 1,5 cm. Để giá thể bằng với phần gốc của cây. Không để giá thể lấp vào phần gốc dễ ảnh hưởng đến các mầm non sau này. Trường hợp bụi cây không mọc đều xung quanh chậu. Thì ta cần đặt bụi cây ở một phần mép chậu sao cho hướng của các mầm non sau này mọc hướng vào phần vị trí trí giữa chậu. Khi trồng xong cần cố định cây sao cho không để phần gốc bị lung lay trước các tác động cơ học như tưới hoặc gió nhẹ sau khi trồng.

Ta sử dụng các loại thuốc kích thích ra rễ cho cây giúp cây ra rễ mới. (cách trồng lan thanh đạm)

Khi cây đã ra rễ mới thì có thể sử dụng các loại phân hữu cơ bón gốc kết hợp với phân tan chậm. Treo cây ở vị trí có độ che phủ ánh sáng khoảng 65-70% nơi thoáng và có gió nhẹ. Tùy vào giá thể và tiểu khí hậu nơi trồng mà có chế độ bộ tưới nước hợp lý cho cây. Lưu ý khi giá thể khô hoặc gần khô thì ta mới tiến hành tưới lần tiếp theo cho chậu lan thanh đạm. Tag: cách trồng lan thanh đạm. Thanh đạm là loài dễ cho hoa. Một năm cây có thể nở tới hai đến ba đợt nhưng thường cây sẽ nở rộ và cho hoa vào mùa Xuân. Mỗi cần hoa có chiều dài từ 60-80 cm. Gồm nhiều hoa đính trên mỗi cần hoa.

Khi trồng thanh đạm thành một bụi lớn hoa nở dài rủ xuống bóng thành chùm trông rất bắt mắt.

Hoa có hương thơm dịu tự nhiên. Độ bền của hoa chỉ được 5 đến 7 ngày. Trong giai đoạn bạn cần kích thích cây ra hoa hoặc dưỡng nụ thì sử dụng các loại phân có lượng Lân và Kali cao. Như 6-30-30 hoặc 10-20-20 để bón cho cây. Khi hoa gần tàn thì ta dùng kéo cắt gần đến cuống của ngồng hoa. Giúp cây không bị mất quá nhiều sức vào việc nuôi hoa. Khi hoa đã tàn thì sử dụng các loại phân có lượng Đạm Lân Kali cân bằng như 20-10-10 xen kẽ với các loại phân có lượng đạm cao như 30-10-10.

Sử dụng các loại phân trên cần kết hợp đầy đủ các nguyên tố đa lượng, vi lượng và trung lượng giúp cây có sức sinh trưởng tốt nhất. Nếu sử dụng phân hữu cơ hoặc phân vô cơ có trộn lẫn vào trong giá thể thì lưu ý nếu sử dụng kết hợp phân bón lá cần giảm nồng độ và giãn thời gian phun cho cây. Giai đoạn tách chiết lan thanh đạm được tiến hành tốt nhất là sau sau đợt hoa tàn.

tag: cách trồng lan thanh đạm, cach trong lan thanh dam

Các bạn đặt hàng trực tuyến hoặc liên hệ: Hotline: 0963 090 463; Số zalo: 0944 252 463

Theo dõi chúng tôi trên facebook: https://www.facebook.com/hoalancaycanh1/

Trang facebook cá nhân: https://www.facebook.com/thanhtpvp/

Kênh youtube: Đường link kênh youtube

Lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc / 2023

Tên Việt: Thanh Đạm Tuyết Ngọc, Cam Đạm

Tên khoa học: Coelogyne mooreana, Rolfe, Sander 1907

Đồng danh: Coelogyne mooreana f. alba Roeth & O, Gruss 2001; Coelogyne psectrantha, Gagnep 1930

Lan sống phụ sinh, thân hành giả hình trụ, đầu mang 2 lá có phiến hình thuôn mác ngược, thót nhọn ở đầu, thót dài ở gốc, dài 12 – 16cm, rộng 2,5cm, mang 5 gân dọc. Cụm hoa có cuống dài 2cm, chỉ mang một hoa to màu trắng, với các vân vằn nâu. Các lá đài huình thuôn, dài 4,6 – 4,8cm, rộng 1,3cm, có 7 gân vườn hợp. 

Cánh hoa hình giải, dài 4,7cm, rộng 0,5cm, có 5 gân đầu nhọn. Cánh môi hình trứng thuôn, dài 4cm, rộng 2,5cm, chia 3 thùy, 2 thùy bên không xòe ra, hơi hình trứng, có đầu tròn, phần tự do dài 8mm, rộng 7mm, thùy giữa hình trứng có đầu tròn, hơi thót lại ở gốc, mặt trên cánh môi có nhiều nhú xếp thành 3 dải. Trụ dài 2cm. Bầu dài 2cm.

Sinh học: Mùa hoa và qủa chưa thấy rõ.

Nơi sống và sinh thái: Sống bám trên thân và cành thông hay một số cây gỗ khác trong rừng thường xanh mưa mùa ẩm, ở độ cao khoảng 1400 – 2000 m.

Tình trạng: Loài hiếm. Mức độ đe dọa: Bậc R.

Đề nghị biện pháp bảo vệ: Là đối tượng bảo vệ trong thiên nhiên của khu rừng cấm trên núi Langbian và quanh Đà Lạt. Cần gấp rút thu thập cây sống đem về trồng trong vườn thực vật để giữ và nhân giống.

Phân bổ

Thanh Đạm Tuyết Ngọc là một cây đặc hữu của Việt Nam, thường mọc ở Đà Lạt, Nha Trang và Quảng trị, trên cao độ khoảng 1300 thước. Wilhelm Micholitz đã tìm thấy ở ngọn núi Langbiang, gần Đà Lạt và gửi về cho Sander và người con tại St. Albans, Anh Quốc. Cây lan này nở hoa và đoạt giải nhất của Hòang gia (FCC/RHS) vào năm 1905.

Frederick Sander đặt tên Coelogyne moorena để vinh danh F.W. Moore, Giám đốc vườn thảo mộc Glasnevin tại Dublin. Robert Rolfe là người đã mô tả cây lan này trên thông tri của viện thảo mộc Kew, Anh Quốc vào năm 1907 với tên Coelogyne mooreana ‘Brockhurstʼ. Điều lạ lùng nhất là cây lan đẹp và dễ trồng như vậy mà mãi đến năm 1972 nguyệt san Orchid của Hội Hoa Lan Hoa Kỳ và tờ Orchid Digest mới có hình ảnh của cây lan này.

Loài đặc hữu rất hẹp của Việt Nam, mới chỉ gặp được ở điểm lấy mẫu chuẩn thuộc tỉnh Lâm Đồng (Đà Lạt, Lạc Dương: núi Langbian, Đơn Dương).

Chăm sóc

NHIỆT ĐỘ

Mùa hè, ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm vào khoảng 62°F hay 17°C với sự cách biệt giữa ngày và đêm từ 10-14°F hay 6-8°C

Mùa đông ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm 53-55°F hay 12-13°C với sự cách biệt từ 23-25°F hay 13-14°C.

ÁNH SÁNG

Từ 1500-2000 ánh nến (fc) tức là phải để ở chỗ rợp mát từ mùa xuân cho đến mùa thu. Tại môi trường thiên nhiên, mùa đông là mùa cây lan có nhiều ánh nắng hơn, bởi vì các cây cối chung quanh đã bị rụng lá.

ĐỘ ẨM

Mùa hè lan cần độ ẩm thật cao từ 70-80%, mùa đông có thể hạ xuống 40-50%

THOÁNG GIÓ

Lan cần phải thật thoáng gió nếu không sẽ dễ bị nhiễm bệnh.

TƯỚI NƯỚC

Tại Việt Nam, suốt mùa mưa từ tháng 4-6 cây lan lúc nào cũng ướt đẫm và lại rất khô vào mùa đông. Theo quy luật chung, tưới nhiều khi cây non mọc và bớt tưới vào mùa thu khi cây đã ngưng tăng trưởng. Mùa đông chỉ tưới sơ qua hoặc phun nước vào buổi sáng. Khi thấy củ bị nhăn nheo hay lá bị héo, đó là dấu hiệu của sự thiếu nước và thiếu độ ẩm. Trái lại nếu củ lúc nào cũng mập tròn sẽ không ra hoa.

Đừng bao giờ để lan bị khô rễ vào mùa hè và mùa xuân bắt đầu tưới trở lai khi thấy mọc rễ mới hay ra mầm non.

BÓN PHÂN

Bón phân 30-10-10 với dung lượng ¼-½ thìa cà phê cho 4 lít nước và đổi sang 10-30-20 khi bắt đầu mùa thu, hay có thể dùng phân 15-15-15 quanh năm với liều lượng như trên. Lan không ưa bị đọng muối trong chậu, cho nên mỗi tháng cần xả nước một lần cho sạch, tức là tưới như thường lệ và 1-2 giờ sau tưới thêm một lần nữa, rồi mới bón phân. Khi cây mọc mạnh bón mỗi tuần một lần, khi cây ngưng tăng trưởng bón mỗi tháng một lần.

VẬT LIỆU TRỒNG

Các nhà vườn, thường trồng lan Thanh Đạm và nhiều giống lan khác với rêu (sphagnum moss) để bớt phải tưới nước. Loai rêu này chóng mục nên phải thay chậu tối thiểu 2 năm một lần. Nên nhớ: Thanh Đạm không ưa bị đụng chạm đến bộ rễ và chỉ nên thay chậu khi rễ bắt đầu mọc. Nhiều người trồng rất thành công với vật liệu như sau:

70% rễ cây dương sỉ (tree fern), 10% than vụn, 10% đá bọt (perlite), 10% rêu vụn (sphagnum moss).

Bệnh

Bệnh hại trên lan

– Bệnh đen thân cây lan: Do nấm Fusarium sp. gây nên. Phòng trị: Nên tách những cây bị bệnh để riêng và dùng thuốc phòng trừ hay nhúng cả cây vào thuốc trị nấm. Nếu cây lớn hơn thì cắt bỏ phần thối rồi phun thuốc diệt nấm như Carbenzim, Zin,  Zineb 3/2000, Benlat 1/2000, Bendazol.

– Bệnh đốm lá: Do nấm Cercospora sp. gây nên. Bệnh thường phát sinh mạnh trên cây lan Dendrobium sp., gây hại trong mùa mưa ở những vườn lan có độ ẩm cao. Phun thuốc trừ nấm (như trên) Carbenzim + Dipamate: hỗn hợp thuốc hiệu quả cao hay Cadilac.

– Bệnh thán thư: Do nấm Colletotricum sp. gây ra. Bệnh phát triển mạnh vào mùa mưa nên phải phòng trừ trước. Thường cắt bỏ lá vàng rồi phun thuốc diệt nấm 5 – 7 ngày/phun 1 lần: Thio-M, Cabenzim, Bendazol.

– Bệnh thối mềm vi khuẩn: Do vi khuẩn Pseudomonas gladioli gây ra. Vết bệnh có hình dạng bất định, ủng nước, màu trắng đục, thường lan rộng theo chiều rộng của lá. Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bị thối úng, thời tiết khô hanh mô bệnh khô tóp có màu trắng xám.

– Bệnh thối nâu vi khuẩn: Do vi khuẩn Erwnia carotovora gây ra. Ban đầu vết bệnh có màu nâu nhạt, hình tròn mọng nước về sau chuyển thành màu nâu đen. Bệnh hại cả thân, lá, mầm làm các bộ phận trên bị thối. Sử dụng Kasumin, dùng 1 trong những hỗn hợp: Saipan + Mexyl; Saipan + Alpine; Mexyl + Alpine để phun phòng trị.

– Bệnh đốm vòng (đốm mắt cua): Do nấm Cercospora resae gây ra.

+Triệu chứng: Vết bệnh là những đốm nhỏ, hình mắt cua, hình trong hơi lõm, ỡ giữa màu nâu nhạt, xung quanh có gờ nổi màu nâu đậm. Bệnh gây hại chủ yếu trên lá bánh tẻ, lá già tạo thành nhiều vết nhỏ li ti làm lá vàng, nhanh rụng.

+ Phòng trừ: Dùng thuốc Topsin M 70 WD hoặc Score 250 ND, Bendazol, Carbenzim, Thio-M.

– Bệnh đốm vòng: Do nấm Alternaria rasae gây ra.

+ Triệu chứng: Vết bệnh hình tròn hoặc hình bầu dục, trên vết bệnh có các vòng đồng tâm khá rõ. Khi gặp thời tiết ẩm ướt, ấm áp, trên vết bệnh thường hình thành một lớp nấm mốc màu đen gồm cành và bào tử phân sinh của nấm gây bệnh. Bệnh thường gây hại trên các lá già, lá bánh tẻ làm lá vàng dễ khô rụng. + Phòng trừ: Sử dụng Daconil 500 SC, Carbenzim + Dipomate, Cadilac.

Sâu hại lan

– Rệp vảy: rệp thường bám trên các thân giả hành còn non. Phòng trị bằng cách: Dùng bàn chải chà xát rồi nhúng cây lan vào dung dịch thuốc Malathion 50 pha loãng, Sagosuper 20EC.

– Bọ trĩ: gây hại chủ yếu trong mùa nắng. Dùng Malathion 5 mg/bình 4 lít nước, phun 1 tuần/lần, phun liên tiếp liên tục trong 3 tuần, Dragon (5cc) + SK99 (20cc)/bình 8 lít.

Tác dụng y học

Chưa có công bố hay nghiên cứu khoa học nào về tác dụng chữa bệnh của hoa lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc.

Giá trị kinh tế

Nguồn gen qúy, hiếm và độc đáo. Hoato khá đẹp. Có thể trồng làm cảnh.

Ý nghĩa

Đây là cây lan Thanh đạm, đặc hữu của Việt Nam, nổi tiếng nhất trên thế giới. Coelogyne mooreana được xem là ‘Hoàng hậu’ của nhóm Coelogynes. 

Phân loại

Theo American Orchid Society : C. mooreana có những ‘chủng trồng’ như ‘Brockhurst’ (hoa to, có thêm nhiều vết vàng); ‘Westonbirt’   và nhiều loài ‘lai tạo’ được’cầu chứng’ (registered). Coelogyne pandurata = Lan Thanh đạm Eberhardi (PH Hộ), Thanh đạm Langbian (Trần Hợp).

• Coelogyne assamica Linden & Rachb. f. • Coelogyne brachchyptera Rachb. f. • Coelogyne calcicola Kerr. • Coelogyne cristata Lindl. (Không mọc tại VN) • Coelogyne ecarinata C. Schweinf (Không mọc tại VN) • Coelogyne cumingii Lindl. • Coelogyne dichroantha Gagnep. • Coelogyne eberhardtii Gagnep. • Coelogyne flaccida Lindl. • Coelogyne filipeda Gagnep. • Coelogyne fimbriata Lindl. • Coelogyne fuescens var. brunnea Lindl. • Coelogyne griffithii Hook. f. (Mới) • Coelogyne huettneriana Rachb. f. (Mới) • Coelogyne lactea Rachb. f. (Đồng danh với Coelogyne flaccida) • Coelogyne lawrenceana Rolfe • Coelogyne lentiginosa Lindl. • Coelogyne lockii Avr. • Coelogyne malipoensis Z. H. Tsi • Coelogyne moorena Rolfe • Coelogyne nitida (Wall. Ex Don) Lindl. (Không mọc tại VN) • Coelogyne ovalis  • Coelogyne pallens Ridl. • Coelogyne quadratiloba Gagnep. (Mới) • Coelogyne prolifera Lindl. (Không mọc tại VN) • Coelogyne rigida Par & Rachb. f. • Coelogyne sanderae Krzl. • Coelogyne schultesii S. K. Jain & S. Das (Mới) • Coelogyne stricta (D. Don) Schltr. • Coelogyne tenasserimensis Seidenf. (Mới) • Coelogyne trinervis Lindl. • Coelogyne virescens Rolfe • Coelogyne viscosa Rchb. f. • Coelogyne verrucosa Rachb. f.

Theo danh sách này chúng ta không có 4 cây:

Coelogyne cristata Lindl. Vì cây này mọc ở Bhutan, China, India, Nepal, Thailand Coelogyne ecarinata C. Schweinf, chỉ mọc tại Miến điện Coelogyne nitida (Wall. Ex Don) Lindl. mọc tại Bangladesh, Bhutan, China, India, Laos, Myanmar, Nepal, Thailand

Nhưng lại có thêm 5 cây đó là:

Coelogyne griffithii Hook. f. Coelogyne huettenriana Rchb. f. Coelogyne quadratiloba Gagnep Coelogyne schultesii S. K. Jain & S. Das và Coelogyne tenasserimensis Seidenf.

Quy luật về tên gọi đã ấn định rằng sẽ theo tên nào đươc công bố trước, nhưng hiện nay nhiều người vẫn còn gọi bằng tên đặt sau chỉ được coi là đồng danh (synonym)

Tìm Hiểu Lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc Hình Ảnh Hoa &Amp; Cách Trồng / 2023

Thanh Đạm Tuyết Ngọc, Cam Đạm

Coelogyne moorena, Rolfe, Sander 1907

Đồng danh: Coelogyne mooreana f. alba Roeth & O, Gruss 2001; Coelogyne psectrantha, Gagnep 1930

Mô tả lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc

Thanh Đạm Tuyết Ngọc là một cây đặc hữu của Việt Nam, thường mọc ở Đà Lạt, Nha Trang và Quảng Trị, trên cao độ khoảng 1300 m. Wilhelm Micholitz đã tìm thấy ở ngọn núi Langbian, gần Đà Lạt và gửi về cho Sander và người con tại St. Albans, Anh quốc. Cây lan này nở hoa và đoạt giải nhất của Hòang gia (FCC/RHS) vào năm 1905. Frederick Sander đặt tên Coelogyne moorena để vinh danh F. W. Moore, Giám đốc vườn thảo mộc Glasnevin tại Dublin. Robert Rolfe là người đã mô tả cây lan này trên thông tri của viện thảo mộc Kew, Anh quốc vào năm 1907 với tên Coelogyne mooreana ‘Brockhurst’. Điều lạ lùng nhất là cây lan đẹp và dễ trồng như vậy mà mãi đến năm 1972 nguyệt san Orchid của Hội Hoa Lan Hoa Kỳ và tờ Orchid Digest mới có hình ảnh của cây lan này.

mọc từng cụm. Củ cao 5-7 cm có 2 chiếc lá mềm, xanh bóng dài từ 30- 40 cm, rộng 2.5- 3.5 cm. Dò hoa mọc từ giữa mầm non, lên thẳng cao 25-40 cm mang theo 4-8 hoa ngang từ 6-10 cm. Hoa trắng nhị vàng cam có hương thơm, nở vào mùa xuân.

Điều kiện sinh sống lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc

Mùa hè, ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm vào khoảng 62°F hay 17°C với sự cách biệt giữa ngày và đêm từ 10-14°F hay 6-8°C

Mùa đông ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm 53-55°F hay 12-13°C với sự cách biệt từ 23-25°F hay 13-14°C.

Từ 1500-2000 ánh nến (fc) tức là phải để ở chỗ rợp mát từ mùa xuân cho đến mùa thu. Tại môi trường thiên nhiên, mùa đông là mùa cây lan có nhiều ánh nắng hơn, bởi vì các cây cối chung quanh đã bị rụng lá.

Mùa hè lan cần độ ẩm thật cao từ 70-80%, mùa đông có thể hạ xuống 40-50%

Lan cần phải thật thoáng gió nếu không sẽ dễ bị nhiễm bệnh.

Cách trồng lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc

Tại Việt Nam, suốt mùa mưa từ tháng 4-6 cây lan lúc nào cũng ướt đẫm và lại rất khô vào mùa đông. Theo quy luật chung, tưới nhiều khi cây non mọc và bớt tưới vào mùa thu khi cây đã ngưng tăng trưởng. Mùa đông chỉ tưới sơ qua hoặc phun nước vào buổi sáng. Khi thấy củ bị nhăn nheo hay lá bị héo, đó là dấu hiệu của sự thiếu nước và thiếu độ ẩm. Trái lại nếu củ lúc nào cũng mập tròn sẽ không ra hoa.

Đừng bao giờ để lan bị khô rễ vào mùa hè và mùa xuân bắt đầu tưới trở lai khi thấy mọc rễ mới hay ra mầm non.

Bón phân 30-10-10 với dung lượng ¼-½ thìa cà phê cho 4 lít nước và đổi sang 10-30-20 khi bắt đầu mùa thu, hay có thể dùng phân 15-15-15 quanh năm với liều lượng như trên. Lan không ưa bị đọng muối trong chậu, cho nên mỗi tháng cần xả nước một lần cho sạch, tức là tưới như thường lệ và 1-2 giờ sau tưới thêm một lần nữa, rồi mới bón phân. Khi cây mọc mạnh bón mỗi tuần một lần, khi cây ngưng tăng trưởng bón mỗi tháng một lần.

VẬT LIỆU TRỒNG

Các nhà vườn, thường trồng lan Thanh Đạm và nhiều giống lan khác với rêu (sphagnum moss) để bớt phải tưới nước. Loai rêu này chóng mục nên phải thay chậu tối thiểu 2 năm một lần. Nên nhớ: Thanh Đạm không ưa bị đụng chạm đến bộ rễ và chỉ nên thay chậu khi rễ bắt đầu mọc. Nhiều người trồng rất thành công với vật liệu như sau:

70% rễ cây dương sỉ (tree fern), 10% than vụn, 10% đá bọt (perlite), 10% rêu vụn (sphagnum moss).

Kể từ khi mượn được cuốn Orchids of Indochina do nhà ngoại giao và chuyên gia về hoa lan Gunnar Seidenfaden viết, tôi say mê tìm hiểu về những cây hoa lan của Việt nam.

Vào khoảng năm 1992-1993 sách vở về hoa lan Việt Nam quá hiếm, Internet chưa mấy phổ thông, muốn có cuốn sách kể trên phải mua với gần 500 US$ tại Anh Quốc. Hỏi mượn, thư viện thành phố Yorba Linda không có. Người quản thủ nói nếu muốn, họ có thể mượn ở nơi khác, nhưng phải trả trước 18$ cước phí. Hơn một tuần sau điện thoại cho biết sách đã về và phải trả lại trong vòng một tháng. Muốn có cuốn sách quý trong tay, tôi không ngần ngại mang ngay ra tiệm chuyên sao chép lai các văn bản (photo copy). Nhân viên họ không nhận làm việc này, nhưng chỉ cho tôi cách xử dụng máy để có thể in 2 trang vào một tờ giấy lớn khổ 11×17″. Tôi phải đứng hơn 2 giờ và phải trả mất gần 60$ mới sao được 502 trang sách. Mang tập giấy dầy cộm về tôi mất thêm gần 2 giờ để gấp giấy và đục lỗ sau đó bỏ vào 2 tập bìa cứng.

Khi mở sách ra, tình cờ tôi mở đúng trang 113 và 114 với hình vẽ cây lan Coelogyne moorena với giòng chữ phía dưới Distribution: Endemic (Đặc hữu). Tìm hiểu về cây lan này chỉ thấy những giòng chữ viết tắt cho biết là theo tài liệu của Kew 1907-1910, Ridley 1921, Gagnepain 1934, Guillamin 1958, Seidenfaden 1975, Ban & Huyen 1983, Averyanov 1988-1990. Cây lan này có đồng danh là Coelogyne psectrantha và Coelogyne sandriana. và những địa danh đã tìm thấy cây lan như: Langbian, Đà Lạt, Nha Trang, Quảng Trị.

Căn cứ vào những điều ghi trong cuốn sách, tôi lập một danh sách các cây lan Việt Nam và bắt đầu sưu tập những cây lan này. Cây lan Việt đầu tiên mua được là cây Dendrobium chrysotoxum, nhưng cây này các nước ở Á Châu đều có cả.

Khoảng năm 1999 tại hội lan quốc tế Fascination of Orchid International, tại South Coast Plaza một gian hàng của người Việt: anh chị Tấn, có bán một cây lan hoa trắng, trồng trong một chậu nhỏ 4″ (10 cm). Thấy cây lan lạ, tôi vội cầm lên xem, bảng tên ghi: Coel. mooreana “Westonbirt” FCC/RHS. Đúng là cây lan của quê hương rồi. Thấy giá tiền đề 40$, không ngần ngừ tôi móc tiền ra trả, nhưng chị Tấn nói:

Nếu là cây lan Việt nam, cháu xin tặng bác.

Tôi thể không nhận như vậy được và sau một hồi đưa đi, đẩy lại chị Tấn đành nhận số tiền nhưng có vẻ không vui:

Có bao nhiêu đâu mà bác phải quan tâm như vậy.

Theo McAllen Orchid Society (MIOS Journal) HG Alexander một người trồng lan cho công tước George Holford, Westonbirt, Gloucestershire, Anh Quốc đã mang cây lan với tên Coelogyne mooreana “Westonbirst” dự thí và đoạt giải CCC/RHS vào năm 1908. Nhưng cũng có tin trên net năm 1908, cây lan Coelogyne moerana “Westonbirst” lại thắng giải FCC/ RHS. Không biết tin này có phải là một sự nhầm lẫn hay không?

Cây lan tôi mua được, chỉ nở hoa vào năm đó và chẳng bao giờ ra nụ, đơm bông, cũng không hề tăng truởng dù rằng đã 10 năm qua bởi vì Placentia, nơi tôi cư ngụ mùa hè quá nóng trung bình là 90-95°F (32-35°C). Củ già teo dần, củ mới càng ngày càng nhỏ, tuy vậy tôi vẫn còn cố giữ dù sao cũng là kỷ vật của cố hương.

Năm 2008 tại Hội Hoa Lan quốc tế Fascination of International Orchid Show, Costa Mesa có một gian hàng có bầy bán một số chậu lan Thanh Đạm Tuyết Ngoc Coelogyne mooreana “Brockhurst” FCC/RHS tuyệt đẹp với giá 80-90$ một chậu 6″ (12.5 cm) và 120-140$ một chậu 8″ (20 cm). Những chùm hoa trắng tinh như tuyết, nhị vàng cam tươi sáng, hương thơm phảng phất quen thuộc như mùi hoa dành dành (gardenia) thực là quyến rũ. Khi biết đó là cây lan đặc hữu của quê hương, các hội viên Hội hoa lan người Việt đua nhau mua cho bằng hết.

Có một điều đáng chú ý là các sách vở tài liệu đều nói là cây lan này chỉ nở hoa vào mùa Xuân và đầu mùa Hạ, nhưng tại quận Cam Hoa Kỳ những cây lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc liên tiếp nở hoa từ tháng 2 dương lịch cho đến tháng 12 cuối năm nên luôn luôn có mặt trên bàn triển lãm hàng tháng và thường thắng giải Lan Việt Đẹp Nhất trong tháng.

Năm 2008 tôi cũng mua một cây Coelogyne “Brockhurst” FCC/RHS, bạn hàng để cho với giá đặc biệt 100$ một chậu 8″ (20 cm) với 7 cành hoa vừa mãn khai và 5 chùm hoa còn đương phong nhuỵ. Nhưng số phận cây lan này cũng như số phận hẩm hiu của cây Coelogyne mooreana “Westonbirst”. Sau khi hoa tàn nhị rữa, lá cây đốm vàng, đầu lá cháy nâu, củ teo lại, mầm mới vừa nẩy ra đã bị những trận cuồng phong Santa Ana đem theo hơi nóng từ sa mac Mojave đổ về, sau đó mùa hè đổ xuống vùng Placentia những cơn nóng như lửa đốt cho nên cây lan của tôi tuy không chết nhưng chẳng ra hoa.

Nhưng tôi chắc chắn rằng cây lan này sẽ tồn tại trên đất Hoa Kỳ, bởi vì ngoài những vườn lan thương mại còn có khá nhiều hội viên Hội Hoa Lan Việt Nam đã biết cách nuôi trồng. Những người này hiện cư ngụ tại các thành phố chung quanh vùng Tiểu Saigon, nơi này gần biển cho nên vào mùa hè khí hậu mát mẻ ít khi lên tới 90°F (32°F) rất khá thích hợp với loài lan như Coelogyne, Cymbidium vốn xuất xứ từ núi Lâm Viên (Langbian) tại miền cao nguyên Đà Lạt.

Bằng chứng là trong cuộc triển lãm Ocean Orchids Show tại Westminster Mall ngày 28-29-30 tháng 1-2011 vừa qua, cây Thanh Đạm Tuyết Ngọc Coelogyne moorenea của bà Nguyễn Trần Ngữ lại đoạt giải danh dự trong cuộc thi này.

2-2011, BÙI XUÂN ĐÁNG, hoalanvietnam.org

Tìm hiểu về lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc; chúng tôi tổng hợp

Lan Thanh Đạm (Coelogyne) Của Việt Nam / 2023

Trong danh mục Lan Rừng Việt Nam, chúng tôi đã liệt kê ra 29 cây theo các tài liệu sách vở cũ. Nhưng theo bản danh sách số 4 của CITES năm 2006, có vài sự khác biệt. Danh mục này đã được các khoa học gia danh tiếng trên thế giới kiểm nhận lại tuy có một vài thay đổi, nhưng vẫn còn là 29 cây như sau:

Lan Thanh Đạm (Coelogyne) của Việt Nam

• Coelogyne assamicaLinden & Rachb. f. • Coelogyne brachchypteraRachb. f. • Coelogyne calcicolaKerr. • Coelogyne cristataLindl. (Không mọc tại VN) • Coelogyne ecarinataC. Schweinf (Không mọc tại VN) • Coelogyne cumingiiLindl. • Coelogyne dichroanthaGagnep. • Coelogyne eberhardtiiGagnep. • Coelogyne flaccidaLindl. • Coelogyne filipedaGagnep. • Coelogyne fimbriataLindl. • Coelogyne fuescensvar. brunnea Lindl. • Coelogyne griffithiiHook. f. (Mới) • Coelogyne huettnerianaRachb. f. (Mới) • Coelogyne lacteaRachb. f. (Đồng danh với Coelogyne flaccida) • Coelogyne lawrenceanaRolfe • Coelogyne lentiginosaLindl. • Coelogyne lockiiAvr. • Coelogyne malipoensisZ. H. Tsi • Coelogyne moorenaRolfe • Coelogyne nitida(Wall. Ex Don) Lindl. (Không mọc tại VN) • Coelogyne ovalisLindl • Coelogyne pallensRidl. • Coelogyne quadratilobaGagnep. (Mới) • Coelogyne proliferaLindl. (Không mọc tại VN) • Coelogyne rigidaPar & Rachb. f. • Coelogyne sanderaeKrzl. • Coelogyne schultesiiS. K. Jain & S. Das (Mới) • Coelogyne stricta(D. Don) Schltr. • Coelogyne tenasserimensisSeidenf. (Mới) • Coelogyne trinervisLindl. • Coelogyne virescensRolfe • Coelogyne viscosaRchb. f. • Coelogyne verrucosaRachb. f.

Theo danh sách này chúng ta không có 4 cây:

Coelogyne cristataLindl. Vì cây này mọc ở Bhutan, China, India, Nepal, Thailand Coelogyne ecarinataC. Schweinf, chỉ mọc tại Miến điện Coelogyne nitida(Wall. Ex Don) Lindl. mọc tại Bangladesh, Bhutan, China, India, Laos, Myanmar, Nepal, Thailand Coelogyne proliferaLindl. Mọc tại Bhutan, China, India, Myanmar, Nepal

Nhưng lại có thêm 5 cây đó là:

Coelogyne griffithiiHook. f. Coelogyne huettenrianaRchb. f. Coelogyne quadratilobaGagnep Coelogyne schultesiiS. K. Jain & S. Das và Coelogyne tenasserimensisSeidenf.

Quy luật về tên gọi đã ấn định rằng sẽ theo tên nào đươc công bố trước, nhưng hiện nay nhiều người vẫn còn gọi bằng tên đặt sau chỉ được coi là đồng danh (synonym)

Thí dụ: Coelogyne assamicaLinden & Rachb. f. Đồng danh: Coelogyne annamensis(Lindl. & Rchb. f.) Rolfe, Coelogyne dalatensisGagnep., Coelogyne saigonensisGagnep. Coelogyne lacteaRachb. f. Chỉ là đồng danh của Coelogyne flaccida

Sở dĩ có tình trang này là vì những cây lan được định danh từ trước có sự sai lầm, vì người này viết theo người kia, cho nên vấn đề nhận diện không được chính xác và phù hợp với khoa học hiện tại. Do đó chuyện nhầm lẫn và bất đồng ý kiến giữa các khoa hoc gia trên thế giới là chuyện vẫn thường xẩy ra.

Tình trạng này chỉ có thể chấm dứt khi trên thế giới có một Hàn Lâm Viện Hoa Lan và kỹ thuật nhận diện bằng DNA mới có thể chính xác được.

Coelogyne huettneriana Hình: EF de Vogel

Trở về những cây lan Việt, chúng ta thấy có nhiều cây mới lạ xuất hiện. Những cây này thường được các thổ dân tìm được trong rừng và chưa được các nhà khoa hoc nhân diện. Trong các cây này có một số mọc ở ranh giới Trung-Việt, Lào-Việt hay Miên-Việt cho nên không thể biết chắc rằng xuất xứ ở đâu. Hơn nữa những người buôn bán thường chuyền tay từ người này sang người khác và vì muốn giữ bí mật thương mại cho nên địa điểm có lan mọc không thể nào biết rõ. Cũng có thể là lan nhập nội từ các nước lân bang sang.

Do đó các nhà khoa học không muốn bỏ thì giờ nghiên cứu những cây lan mà họ không biết rõ xuất xứ cũng như các chi tiết cần thiết để có một sự công bố rõ rệt như: tọa độ, cao độ, rừng cây, thời tiết nơi lan mọc, kích thước của thân cây, hoa lá v.v…

Chúng ta là những người chơi lan tài tử, biết rõ xuất xứ của những cây lan cũng là một yếu tố cần thiết để cho việc nuôi trồng được bảo đảm thành công. Nhưng trong bản danh sách các cây lan Thanh Đạm mới kể trên không cho biết rõ địa điểm nơi lan mọc cũng như các chi tiết ra sao. Chúng tôi đành xin thu lượm hình ảnh để tạm thời nhận diện.

Những cây Coelogne griffithii và Coelogyne quadratiloba chưa tìm được hình ảnh. Nếu quý bạn nào tìm thấy xin vui lòng cho biết. Xin thành thực cám ơn.