Đề Xuất 11/2022 # Tình Hình Nghiên Cứu Hoa Lan Đai Châu Trên Thế Giới P1 / 2023 # Top 13 Like | Vitagrowthheight.com

Đề Xuất 11/2022 # Tình Hình Nghiên Cứu Hoa Lan Đai Châu Trên Thế Giới P1 / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Tình Hình Nghiên Cứu Hoa Lan Đai Châu Trên Thế Giới P1 / 2023 mới nhất trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nghiên cứu phân tử và hình thái học đã được thực hiện để thiết lập các mối quan hệ phát sinh loài trong chi này. Các mối quan hệ giữa loài và mối quan hệ với các chi tương tự. Chẳng hạn như Rhynchostylis, Aerides và Vanda, vẫn còn chưa rõ ràng.

Ngoài phân tích hình thái, phân tích suy luận Bayes được thực hiện dựa trên hương thơm. nhân ITS, lục lạp trnL-F và gen matK của 31 loài (15 Holcoglossum, 14 Aeridinae, 2 Outgroups).

Nghiên cứu về tạo giống và nhân giống loài đai châu.

Nattaporn Kerdsuwan and Sompong Te-chato (2012) [59]. đã nghiên cứu tạo giống mới thông qua xử lý đột biến tạo cây đa bội thể. PLBs (Protocorm-like bodies) ở giai đoạn của GI5 của phong lan Chang Daeng( Rhynchostylisgigantea var. rubrum Sagarik) nuôi trong môi trường New Dogashima (NDM) lỏng với 2% sucrose và 15% nước dừa (CW) đã được sử dụng để xử lý với colchicines để tăng gấp đôi nhiễm sắc thể.

Các xử lý bao gồm 5 nồng độ colchicin (0; 0,05; 0,10; 0,15 và 0,20%) cùng với 3 thời gian xử lý 24, 48 và 72 giờ. Kết quả cho thấy, PLBs nhúng chìm trong colchicines ở nồng độ 0,20% trong 72 giờ có tỷ lệ sống là 26% và tạo ra tỷ lệ cây tứ bội cao nhất (60%). Tốc độ tăng trưởng và chiều cao của cây tứ bội, bao gồm cả hình dạng và kích thước lá thấp hơn nhiều so với đối chứng.

Đặc điểm giải phẫu của các cây tứ bội cho thấy mật độ lỗ khí khổng cao nhất 3,00 tế bào/mm 2 so với cây con đối chứng. Số lượng trung bình của lục lạp trong cây con tứ bội là 46 tế bào lục lạp/bảo vệ, thấp hơn so với các cây lưỡng bội.

Lan Đai Châu là lan đơn thân. Vì vậy, không thể nhân giống bằng tách thân.

Hạt lan Đai Châu cũng rất khó mọc được trong điều kiện tự nhiên nên phương pháp nhân giống Các tác giả Zhi-Ying Li and Li Xu (2009) [70] đã nghiên cứu nhân nhanh giống hoa lan Đai Châu đột biến, màu trắng in vitro là phương pháp tối ưu để nhân giống loại lan này. Các tác giả trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu về phương pháp nhân giống từ hạt trên môi trường nhân tạo. Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley thông qua protocorm (PLB) từ hạt chưa trưởng thành (nuôi cấy phôi 4 tháng tuổi). 75% PLB phát triển trên môi trường MS với 0,05 mg/l 6-BA và 0,2 mg/l NAA trong vòng 70 ngày kể từ ngày chuyển đến môi trường MS với 2,0 mg/l BA và 1,0 mg/l NAA đã tạo thành mô sẹo và sau đó phát triển thể chồi với 2-4 lá.

Môi trường phát sinh chồi là MS có chứa 100 g/l chuối nghiền, rễ và chồi sinh trưởng thuận lợi. Cây con sau in vitro đạt 95% sống sót.

Hạt giống của loài phong lan Đuôi Cáo (Rhynchostylis retusa Blume) nảy mầm được trong điều kiện in vitro trên môi trường MS.

Tương tự kết quả nghiên cứu của Anil Kumar et al. (2002) [40], Dennis Thomas and Alwin Michael (2007) [44] đã nghiên cứu trên môi trường này có bổ sung 15% nước dừa. Cho thấy 93% các mô nuôi cấy tái sinh thành cây con sau 90 ngày.

Cây con được cấy chuyển trên MS có bổ sung kinetin (Kn) hoặc thidiazuron (TDZ), có hoặc không có than hoạt tính (AC), cho hình thành sự đa chồi cao. Số lượng chồi nhiều nhất là 8,2 chồi đã được quan sát trên môi trường MS có bổ sung 2 TDZ mM và AC. Các chồi được tạo rễ trên môi trường ½ MS có bổ sung 2 mM axit indole-3-butyric (IBA) và được ra ngôi thành công. Trong số 45 cây con được ra ngôi có 40 cây sống sót.

Kết quả của các tác giả rất hữu ích trong nhân nhanh giống và bảo tồn các loài phong lan quý này.

Năm 2010, Distabanjong et al. [45] đã sử dụng hạt phong lan Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley được lấy từ quả 7-9 tháng và nuôi cấy trên môi trường rắn để làm tăng khả năng nảy mầm của hạt giống. Tỷ lệ nảy mầm đạt cao nhất của Rhynchostylis thu được trên môi trường Vacin and Went (VW). Có bổ sung 150ml/l nước dừa và 100g/l dịch chiết khoai tây.

Các môi trường nhân nhanh tốt nhất (tăng 1,7 lần so với trọng lượng tươi ban đầu trong vòng 9 tháng) là VW có bổ sung 150ml/l nước dừa và 1 mg/l phân bón phong lan (công thức 21 -21 -21). Việc bổ sung 2-4% mannitol là nồng độ tốt nhất cho sự duy trì sinh trưởng, chậm kéo dài trong 12 tháng mà không làm thay đổi môi trường. Tất cả các cây đều sinh trưởng tốt sau khi chuyển sang môi trường nhân nhanh.

Lan Đai Châu không chỉ nhân giống từ hạt mà còn được nhân giống từ nuôi cây mô tế bào.

Các chồi non (dài khoảng 10mm) của loài lan Rhynchostylis rubrum, có tỷ lệ tạo dạng đa chồi là cao nhất (100%). Số chồi (10 chồi/mẫu cấy) và phôi callus (EC) (56%). Sự sản sinh các callus trên cả 2 loại môi trường VW và NDM có bổ sung sucrose 2% và 15% nước dừa (CW) ở điều kiện sáng hoặc tối gần như giống nhau. Te-chato et al., 2010 [66], đã nghiên cứu và quan sát thấy. Các callus được cấy chuyển trên môi trường NDM trong điều kiện ánh sáng đã chuyển sang màu xanh lá cây và sau đó hình thành phôi soma với số lượng (9 phôi/callus) và tỷ lệ cao nhất (79,8%). Trong 1 tháng, những phôi nảy mầm khi được bổ sung AC (than hoạt tính) trong môi trường nuôi cấy. Các chồi cao hơn 3 cm với số lượng rễ trung bình từ 2-3, đã được ra ngôi thành công ở ngoài vườn ươm.

Kỹ thuật này rất hữu ích cho vi nhân giống cũng như cho việc chuyển gen vào Rhynchostylis rubrum. Kaewkhiew and Kaewduangta (2010) [50] đã nghiên cứu sự thay đổi của các chất phụ gia tự nhiên trong môi trường đến sinh trưởng của cây lan Đai Châu (Rhynchostylis gigantea (Linldey) Rildey) nuôi cấy mô tế bào. Môi trường VW có thêm chất phụ gia tự nhiên được sử dụng để thay thế cho môi trường hóa sinh đã được sử dụng trong nuôi cấy mô tế bào. Kết quả cho thấy công thức môi trường 2g/l than tre + 5g/l bột nhộng + 50g/l chuối nghiền + 50g/l gạo lật + 150mg/l nước dừa là tốt nhất cho sinh trưởng, phát triển của cây con. Chiều cao cây đạt 8,05 cm, trọng lượng tươi 1 753g, số lá 5 lá, số rễ 3,9 rễ. Thường nhân giống hoa lan chỉ đạt được thông qua protocorm. Tức là giai đoạn trưởng thành. Để sản xuất trực tiếp từ chồi và nụ tái tạo nhanh chóng với một hệ số cao. Phương pháp nuôi cấy tế bào lát mỏng (tTCL) được tác giả Bui Van Le (1999) [43] thử nghiệm trên lan Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley. Lớp tế bào mỏng ngang 0,3 0,5mm được cắt từ chồi đỉnh của cây một năm tuổi, nuôi cấy trên môi trường MS có sự kết hợp tốt nhất cho tối đa tái sinh chồi là 3mM TDZ và 3 mM BAP, cho 11,7 chồi mỗi tTCL.

Nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học loài đai châu.

Hiện nay, chưa có những nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học trên hoa lan Đai Châu. Chúng tôi tham khảo kết quả nghiên cứu trên các loài lan khác có đặc điểm nông sinh học gần giống với lan Đai Châu. Các kết quả nghiên cứu này sẽ được kế thừa, so sánh, đánh giá trong các nghiên cứu trên cây lan Đai Châu. Các tác giả Zotz and Winkler (2013) [71 ] đã nghiên cứu rễ khí sinh của phong lan phụ sinh: Vỏ rễ và chức năng hấp thụ nước và dinh dưỡng. Các vỏ rễ xốp, được cấu tạo bởi nhiều lớp biểu bì, mà khi trưởng thành bao gồm các tế bào chết, thường được mô tả như một sự thích nghi quan trọng của phong lan phụ sinh. Như vậy, kết quả của tác giả hỗ trợ mạnh mẽ cho giả thuyết Went: Vỏ rễ đáp ứng một chức năng quan trọng trong sự hấp thu chất dinh dưỡng trong môi trường sống phụ sinh. Rodica Bercu et al. (2011) [64] đã mô tả các đặc điểm giải phẫu cấu trúc về rễ, thân, lá mọc trên không của loài lan Hồ Điệp sống phụ sinh ( Tuy nhiên, bằng chứng định lượng cho các chức năng. Ví dụ như hiệu quả và hấp thu nước, dinh dưỡng, duy trì chất dinh dưỡng, giảm sự mất nước, bảo vệ cơ khí, hoặc tránh quá nóng. Tác giả đã thử nghiệm khái niệm ban đầu được đưa ra bởi Went năm 1940 rằng vỏ rễ cho phép các cây lưu giữ và cố định những dung dịch đầu tiên đến từ trận mưa rào. Đó là những thay đổi lớn nhất với các chất dinh dưỡng. Đầu tiên, các tác giả cho thấy rằng vỏ của một số lượng lớn các loài lan hút các dung dịch trong vài giây, trong khi bay hơi từ vỏ mất vài giờ. Ion tích điện được giữ lại trong vỏ rễ có thể là do điện tích dương và âm trong vách tế bào, trong khi các hợp chất tích điện bị mất vào môi trường bên ngoài. Cuối cùng, các tác giả đã chứng minh rằng sự hấp thu chất dinh dưỡng sau hai pha động học với một hệ thống vận chuyển hoạt động có hiệu quả cao ở nồng độ bên ngoài thấp.Phalaenopsis amabilis (L.) Blume). Rễ mọc trên không là đặc điểm điển hình giúp loài hoa này thích nghi với môi trường sống phụ sinh và ẩm ướt. Thân cây cho thấy loài này có cấu trúc đặc trưng chính của cây một lá mầm. Lá và hoa cũng bộc lộ cấu trúc tương tự, cả hai đều mọng nước và thịt lá đồng nhất với không gian trên không, sau này được coi như là một sự thích nghi với môi trường thực vật.

Cả hai nhóm tác giả Zotz and Winkler (2013) [71 ] và Rodica Bercu et al. (2011) [64] đều cho rằng: rễ lan hấp thu chất dinh dưỡng sau hai pha động học với một hệ thống vận chuyển hoạt động có hiệu quả cao ở nồng độ bên ngoài thấp. Kết quả nghiên cứu của tác giả đã khiến chúng tôi liên tưởng đến chất lượng nước tưới và nồng độ phân bón có tác động lớn đến sinh trưởng, phát triển của cây. Yếu tố chính là pH và EC (nồng độ ion trong môi trường). Cây có khả năng hấp thu nước và dinh dưỡng mạnh ở điều kiện môi trường có EC thấp, kết luận này đã giải thích cho hiện tượng sau mỗi trận mưa rào cây lan nói chung và lan Đai Châu nói riêng sinh trưởng rất mạnh. Đây là cơ sở để chúng tôi đưa ra các nghiên cứu về chất lượng nước tưới, số lần tưới và các loại phân bón (với pH và EC khác nhau) trên lan Đai Châu.

Nghiên Cứu Cây Lan Cattleya, Dendrobium, Oncidium Trên Thế Giới / 2023

Trong nhiều năm qua, do giá trị kinh tế và giá trị thẩm mỹ của cây hoa lan cao mà trên thế giới các nước tiên tiến đã sử dụng các kỹ thuật truyền thống và hiện đại vào chọn tạo giống hoa nói chung và hoa lan nói riêng đã đạt được những kết quả rất khả quan, đặc biệt là trên một số giống lan công nghiệp như Vũ Nữ (Oncidium), Hoàng Thảo (Dendrobium), Cát (Cattleya) và một số loài lan khác, mang lại nguồn lợi kinh tế to lớn cho ngành sản xuất hoa lan ở các nước như Hà Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan…

1 Các nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật.

Song song với việc nghiên cứu tạo giống mới, các biện pháp kỹ thuật cho từng đối tượng từng giống lan cũng được các tác giả trên thế giới rất quan tâm, chú trọng giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, nâng cao nămg suất, chất lượng hoa.

* Các nghiên cứu về giá thể.

Với mong muốn tìm ra loại giá thể phù hợp thay thế cho cây dương xỉ sợi và rong biển trong nuôi trồng lan Cattleya intermedia giai đoạn cây con, Lone, A. B. (2008) đã thử nghiệm với các loại giá thể là cây dương xỉ sợi, rong biển, trấu hun, vỏ thông + xơ dừa tỷ lệ 1:1, vỏ thông và xơ dừa. Kết quả theo dõi sau 10 tháng cho thấy, xơ dừa và hỗn hợp vỏ thông + xơ dừa là những giá thể thay thế lý tưởng cho lan con Cattleya intermedia.

Khi nghiên cứu các loại giá thể thích hợp cho cấy chuyển lan Dendrobium officinale Kimura et Migo sau cấy mô, Guo YiHong, Sun HongJie, Shi iQing, Wu Ya (2010) đã kết luận giá thể gồm than bùn + vỏ cây + gỗ dăm tỷ lệ 2:4:4 có hiệu quả nhất đối với sinh trưởng, phát triển của lan Dendrobium officinale Kimura et Migo giai đoạn cây con.

Supinrach, S. và Supinrach, I. (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng đến sinh trưởng của lan Cattleya brassolaelio Chia lin. ở giai đoạn cây con và đã xác định trong 5 loại giá thể là rong biển, xơ dừa, than củi, đất sét nướng và đá núi lửa thì than củi cho hiệu quả tốt nhất đối với sự phát triển thân lá lan Cattleya brassolaelio Chia lin.

Nghiên cứu về giá thể đối với lan Cattleya giai đoạn cây con, Júnior và Venturieri (2011) đã nghiên cứu ảnh hưởng của 4 loại giá thể là than bùn, sỏi, hỗn hợp sỏi + than bùn tỷ lệ 3:1 và dương xỉ đối với Cattleya forbesii và Laelia purpurata giai đoạn sau nuôi cấy mô. Kết quả cho thấy, dương xỉ là giá thể tốt nhất cho C. forbesii và hỗn hợp sỏi + than bùn thích hợp nhất cho Laelia purpurata. Mặt khác nhờ so sánh sự sinh trưởng, phát triển của cây trên 2 giá thế sỏi số 2 và hỗn hợp sỏi số 2 + than bùn, tác giả đã khẳng tầm quan trọng của chất hữu cơ đối với các loài lan này.

* Các nghiên cứu về phân bón.

Năm 1992, Supaporn và Pornprasit nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón và các chất điều hoà sinh trưởng đến sự phát triển và chất lượng hoa lan Dendrobium ekapol “Panda no.1” đã kết luận bón phân 20-20-20 làm tăng số lượng giả hành, tăng số hoa và kéo dài độ bền hoa cắt. Bổ sung α-NAA 5 ppm, 20 ppm vitamin B1 hoặc 1% Liquinox-Start 1 tuần 1 lần trong vòng 1 tháng có hiệu quả tốt nhất đối với sinh trưởng của giả hành. Bổ sung 1000 ppm Paclobutrazol 1 tuần 1 lần trong vòng 1 tháng có tác dụng làm tăng chiều cao cây Dendrobium ekapol “Panda no.1”.

Yin-Tung Wang (1995) nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng, phát triển của lan Dendrobium đã kết luận Dendrobium Linapa “No.3” trồng chậu với giá thể vỏ thông cỡ nhỏ và bón phân N:P:K 20:8,6:16,6 hàm lượng 1 g/lít thúc đẩy sự xuất hiện và phát triển của giả hành, kéo dài tuổi thọ của rễ, thúc đẩy hình thành mầm hoa và tăng số lượng hoa.

Nhằm xác định tỷ lệ N:P:K tốt nhất cho Dendrobium nobile Lindl. trồng chậu, năm 2008 Rebecca G. Bichsel và cs nghiên cứu tỷ lệ N và K là 0; 50; 100; 200; 400 mg/lít, tỷ lệ P là 0; 25; 50; 100; 200 mg/lít và khẳng định tỷ lệ N:P:K lần lượt là 100 mg/lít, 50 mg/lít, 100 mg/lít thích hợp nhất cho lan Dendrobium nobile Lindl, giúp tăng chiều cao cây, tăng kích thước giả hành, tăng số hoa và chất lượng hoa.

Theo Rech, A.R. và cs (2010), trong số 5 cường độ ánh sáng được thí nghiệm gồm 12800, 8300, 6200, 5600 và 4500 lux thì Dendrobium phalaenopsis compactum thích hợp nhất với cường độ 8300lux. Khi trồng lan ở cường độ ánh sáng này kết hợp tưới phân 2 lần 1 tuần vào mùa hè và 2 ngày 1 lần vào mùa đông với N:P:K = 7:7:7 cây phát sinh trưởng, triển tốt, chất lượng hoa cao.

Năm 2009, Zhang Taolil và cs nghiên cứu ảnh hưởng của nguồn Nitơ trong phân bón đến sinh trưởng, phát triển của lan Oncidium. Thí nghiệm được bố trí với tỷ lệ khác nhau giữa NO3- và NH4+ trong phân bón là 1:0; 2:1; 4:1; 6:1; 10:1 và 0:1. Kết quả cho thấy bón phân nitơ với tỷ lệ 10:1 tốt nhất cho sinh trưởng và phát triển của lan Oncidium, nitơ có nguồn gốc NO3- làm tăng khả năng hấp thụ Ca và Mg của rễ Oncidium.

Đề tìm ra hàm lượng phân bón GaviotaTM (19-19-19) thích hợp nhất cho lan Cattleya giai đoạn cây con, Carnette C. Pulma và cs năm 2010 đã nghiên cứu 5 hàm lượng phân bón là 0,5; 1; 2; 3; 4 g/lít và khẳng định cây con Cattleya phát triển tốt khi bón phân GaviotaTM (19-19-19), số lá không có sự khác biệt giữa các hàm lượng phân bón nhưng chiều dài lá, chiều cao cây, số rễ và trọng lượng tươi cao nhất khi bón phân hàm lượng 2-3 g/lít. Các tác giả đã kết luận bón phân GaviotaTM (19-19-19) hàm lượng 2-3 g/lít giúp lan Cattleya giai đoạn cây con sinh trưởng, phát triển tốt nhất.

* Các nghiên cứu về kỹ thuật điều khiển ra hoa.

Năm 1978, Goh, C.J. và Yang, A.L. khi nghiên cứu ảnh hưởng các chất điều hoà sinh trưởng (BA, GA3, IAA) lên sự phát triển cành hoa Dendrobium lai (D. Lady Hochoy, D. Buddy Shepler x D. Peggy Shaw) đã nhận thấy ra hoa ở Dendrobium cần cytokinin (BA), còn GA3 thì giúp tăng nhẹ ảnh hưởng của BA, và IAA giúp tăng cường hiệu quả của BA. Goh, C.J. năm 1979 cũng nghiên cứu hormon điều hòa quá trình ra hoa ở lan Dendrobium Luisae cho thấy hoa chỉ xuất hiện sau cuối giai đoạn tăng trưởng dinh dưỡng ở giả hành. Ở giả hành trưởng thành thì cytokinin (BA) kích thích ra hoa. Giberelic acid tăng cường hiệu quả nhưng bản thân nó thì không có hiệu quả kích thích ra hoa. Cụ thể là BA ở nồng độ 10-3M, số chồi hoa trưởng thành là 6 so với BA ở nồng độ 10-4M là 4, tổng số cây ra hoa là 80%. Nhưng khi kết hợp BA (10-4M) và GA3 (10-4M) thì số chồi hoa trưởng thành là 7, tổng số cây ra hoa là 100%, đồng thời chiều dài cành hoa dài hơn và thời gian phát triển cành hoa ngắn hơn khoảng 1-2 ngày (7-8 ngày). Trong khi đối chứng không xử lý thì không có khả năng ra hoa.

Vichiato, M.R. de M. và cs (2007) nghiên cứu về sự kéo dài thân Dendrobium nobile Lindl. bằng cách phun Axit giberilic (GA3) để giúp cây phát triển nhanh. Kết quả cho thấy tăng chiều cao 64,08% và tăng chiều dài lá 44,27%, đồng thời làm giảm 50% đường kính giả hành và 56,09% chiều rộng lá. Hàm lượng GA3 có thể dùng từ 50-400 mg/lít.

Cũng trong năm 2007, nhóm tác giả Guek Eng Sim, Chiang Shiong Loh, Chong Jin Goh nghiên cứu khả năng ra hoa sớm trong ống nghiệm của Dendrobium Madame Thong-In đã chứng minh BA thúc đẩy ra hoa hoa và hình thành mầm hoa. Tương tự, Kim Hor Hee, Chiang Shiong Loh, Hock Hin Yeoh (2007) cũng xác định nồng độ BA 11,1μM đã giúp cảm ứng ra hoa cây sau khi trồng 6 tháng trong ống nghiệm ở loài Dendrobium Chao Praya Smile.

* Các nghiên cứu về sâu, bệnh hại.

Pedroso de Moraes và cs (2011) khi nghiên cứu phản ứng của các loài Cattteya lai đối với bệnh héo rũ do vi khuẩn Fusarium oxysporum f. sp. Cattleyae Foster gây ra thấy 6 trong 7 giống Cattleya lai bị nhiễm bệnh ở các mức độ khác nhau. Riêng giống lai BrassoCattleya Orquidacea’s Melody không phát hiện thấy nhiễm bệnh héo rũ. Nguyên nhân sự miễn nhiễm được tìm ra là do thích nghi tiến hoá, do môi trường và chủ yếu là do tổ hợp gen khi lai. Do đó những cây kháng bệnh này nên được sử dụng cho công tác lai giống nhằm có được những dòng kháng bệnh di truyền trong tương lai.

Cùng năm này, Chung, W.C. và cs đã phân lập vi khuẩn Fusarium solani gây bệnh vàng lá từ cây Phalaenopsis bị bệnh ở Đài Loan và cấy thử nghiệm trên các loài lan khác nhau gồm Oncidium sp., Dendrodium sp., Cattleya sp. Quan sát thấy chủng F. solani không xuất hiện triệu chứng trên Oncidium, Dendrobium, Cattleya. Những phân tích ở mức độ phân tử cho thấy chủng F. solani từ Phalaenopsis là khác biệt với F. solani phân lập từ các loài khác.

2 Các nghiên cứu khác. * Các nghiên cứu về nhân giống bằng phương pháp lai hữu tính.

Năm 1844, Newman – một nhà vườn người Pháp đã làm nảy mầm hạt lan bằng cách rắc hạt lên các cục đất quanh gốc cây lan to. Sự thành công này đã lan rộng nhưng chưa có lời lý giải cụ thể. Năm 1904, Noel Bernard thực hiện phương pháp gieo hạt cộng sinh với nấm để gây sự nảy mầm. Năm 1909, Hans Burgeff đã làm nảy mầm được hạt của Laelio, Cattleya trên môi trường dinh dưỡng gồm 0,33% đường saccarose trong điều kiện hoàn toàn bóng tối. Năm 1922, Lewis Knudson, nhà khoa học người Mỹ lại thành công trong việc gieo hạt ở môi trường thạch. Ông cũng nhận thấy rằng sự nảy mầm của hạt còn phụ thuộc vào thời gian thu quả.

Trong tự nhiên, muốn hạt lan nảy mầm phải có sự hỗ trợ của mốt loại nấm ký sinh. Bernard (1904) đã tìm ra một số loài nấm có thể giúp nảy mầm ở hạt lan, mỗi loài có tác dụng trên một số loài lan nhất định như:

– Rhizoctonia repens giúp nảy mầm ở Cattleya, Laelia, Angraecum, Paphiopedium.

– Rhizoctonia mucoroides giúp nảy mầm ở Vanda, Phalaenopsis.

– Rhizoctonia lanuginosa giúp nảy mầm ở Oncidium, Dendrobium, Miltonoa và Odontoglossum.

* Các nghiên cứu về nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô.

Morel (1960) sử dụng chồi đỉnh của Cymbidium cấy vào môi trường Knudson III (C) để tạo ra protocorm. Vào năm 1964, ông tiếp tục thí nghiệm cắt nhỏ thể protocorm và cấy lại vào môi trường, từ một thể protocorm có thể sản xuất hơn 4.000 cây con/năm. Từ kết quả thí nghiệm của Morel, rất nhiều giống lan đa thân đã được nhân vô tính thành công như Cattleya (Scully, 1967), Dendrobium (Sagawa 1984).

Để hoàn thiện quy trình nuôi cấy mô hoa lan, các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu ảnh hưởng của một số chất phụ gia lên sự hình thành callus và protocorm như ảnh hưởng của nước dừa (Goh 1970, 1973; Goh và cs, 1975) với nồng độ 10-25%, dung dịch cà chua (Loh và cs, 1978), ảnh hưởng của nguồn cacbon và các hợp chất vô cơ (He, S.L. và cs, 2003).

Từ 1999 đến 2002, Chen, J.T. và cs đã kết luận môi trường ½ MS bổ sung 10-20 g/ lít sucrose, 170 mg/ lít NaH2PO4 và 0,5 g/ lít peptone là thích hợp nhất cho sự hình thành phôi trực tiếp từ mẫu lan On. Gower Ramsey.

Năm 2009, José Geraldo và Rezende nghiên cứu ảnh hưởng các nồng độ khác nhau của sacarose và GA3 đến sự phát triển protocorms từ hạt nảy mầm của phong lan Cattleya loddigesii sp. đã đi đến kết luận nồng độ 0 mg M-1 GA3 và 60 mg M-1 sacarose cho số rễ và sự phát triển rễ non Cattleya loddigesii sp. tốt nhất.

Dai Chuan Yun và cs (2011) đã nghiên cứu và xác định được môi trường tối ưu cho nhân nhanh protocorm lan Dendrobium candidum Wall. ex Lindl. là 1/2MS + 6-BA 2mg/l + αNAA 0,5mg/l + KT 1mg/l. Nghiên cứu này đã cung cấp cơ sở khoa học cho sản xuất ở quy mô công nghiệp protocorm và nhân giống chất lượng cao D. candidum.

* Các nghiên cứu về ứng dụng công nghệ sinh học để chọn tạo giống mới.

Ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo giống lan, một số tác giả đã chuyển gene thành công vào các giống lan ở giai đoạn protocom như Dendrobium (Chia T.F. (1994), Wang, Y. và cs (2005)), giống lan đại hoa huệ (C.hybridium) (Kyaw Thu Moe (2010)). Cùng năm này, Belarmino và Mii đã chuyển gene thành công vào giống lan Hồ điệp nhờ vi khuẩn Agrobacterium.

Cũng nhờ loại vi khuẩn này Yu H. (2001) đã chuyển gene DOH1 vào giống lan Dendrobium Madame Thong-In tạo thành cây nhiều thân trong môi trường có chứa 50 mg/ lít carbenicillin. Năm 2004, Sài Minh Lương đã có kết luận sau khi tiêm vào thể protocom đem nuôi cấy cùng Pcambia 1300- SmGFP và LBA4404 của gen gfp và hpt có thể thu được các cây chuyển gene.

Benner (1995), Chyi Chen (2000), Khosravi (2009) dùng chỉ thị RAPD để phân tích đa hình và quan hệ di truyền của chi Cattleya, Dendrobium, Oncidium đã lập bản đồ đa hình DNA tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định đặc tính của các loài lan trên.

Từ các kết quả trên cho thấy trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đối với cây hoa lan nói chung và các loài lan Cattleya, Dendrobium, Oncidium nói riêng. Các nghiên cứu đã tập trung đi sâu vào một số lĩnh vực như chọn tạo giống, nhân giống, các biện pháp kỹ thuật và các biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại,…

Các kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các nhà nghiên cứu và sản xuất hoa lan nước ta kế thừa kinh nghiệm, tiết kiệm được thời gian và kinh phí để đem lại hiệu quả cao trong việc nhân giống và nuôi trồng cây hoa lan trong điều kiện Việt Nam.

Theo Tài liệu nghiên cứu của Ts. Hoàng Xuân Lam.

Tình Hình Sản Xuất, Nuồi Trồng Hoa Lan Trên Thế Giới Và Ở Việt Nam / 2023

1. Vai trò của hoa lan trong đời sống kinh tế

Trong thế giới các loài hoa, hoa lan là một trong những loài hoa đẹp nhất. Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của các loài hoa. Hoa lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, cái đẹp của hoa lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã đến những dạng hình thân lá, cánh duyên dáng, ít có loài hoa nào sánh nổi.

Hoa lan được mệnh danh là món trang sức đẹp nhất mà thiên nhiên ban tặng cho loài người. Con người chưa hề ngừng chiêm ngưỡng các tác phẩm tuyệt mỹ ấy. Hoa lan luôn được nhiều người ưa thích bởi lẽ hoa lan có cấu trúc rất kiêu kỳ và phức tạp với n hững chạm trổ hết sức tinh vi, nhất là bộ phận môi hoa đã làm nhiều nhà điêu khắc phải thán phục. Hoa lan bao gồm rất nhiều màu sắc, được pha trộn một cách hài hòa, cân đối, khi thì hiện lên những nét tương phản rõ nét, khi thì chìm lắng một cách lặng lẽ.

Cây lan lại mang những nét đặc thù thú vị của một loại cây trồng không đất. Khác với các loài ký sinh thông thường có tác dụng hủy hoại ký chủ, trái lại đa số loài lan sống phụ sinh, chỉ xem giá thể như là vật để giá đỡ lan trong không gian và giữ ẩm cho bộ rễ. Vì thế cha ông ta đã dùng cây lan biểu hiện cho người quân tử “Mai, Lan, Cúc, Trúc” một đạo đức cao quí của con người Việt Nam.

Ngoài vẻ đẹp kiêu kỳ, quyến rũ, lan còn có các đặc điểm mà nhiều loài hoa khác không có được, với hương thơm đặc biệt, đa dạng mà hầu như không có loại hương liệu nhân tạo nào sánh được cùng với ưu điểm lâu tàn đã tạo cho lan trở thành một loại hoa vương giả. Chính vì vậy giá lan biến động rất cao trên thị trường, trung bình là 10-15 đôla/cây, nhưng cũng có các loài quí đạt tới 400 đôla/cây, cá biệt có loài giá bán tới vài nghìn đôla. Ở châu Á, Thái Lan là nước có sản lượng lan công nghiệp lớn nhất với trị giá kim ngạch xuất khẩu hàng năm tới hàng chục triệu đôla.

2. Tình hình sản xuất, nuôi trồng hoa lan trên thế giới

Hoa lan (Orchidaceae) là một trong đỉnh cao của sự tiến hóa của các loài cây có hoa. Hoa lan được con người biết đến rất sớm. Ở châu Á, danh từ lan là tên có từ xa xưa trong Tứ thư, ngũ kinh và cả trong Kinh dịch của Bách Gia Chư Tử (Trung Quốc 551 – 479 trước công nguyên). Hoa lan được tượng trưng cho người quân tử. Khổng Tử đã hết lời ca ngợi hoa lan và có lẽ là người đầu tiên coi hoa lan là vua của các loài hoa.

Theo Bretchneider: từ đời vua Thần Nông – Trung Quốc (2800 trước Công nguyên) trong một tài liệu về cây thuốc, còn ghi lại hai loài lan được dùng làm thuốc trị bệnh. Sau này dựa vào sự mô tả người ta có thể xác định đó là loài Cymbidium ensifolium và Dendrobium monniliforme.

Đời nhà Tần – Trung Quốc (255 – 206 trước Công nguyên) có một quan thượng thư nghiên cứu và viết một tác phẩm về cây cỏ trong đó cũng có mô tả hai loài hoa lan làm thuốc nói trên.

Đến đời nhà Tống – Trung Quốc (960 – 1279) có một học giả là Mao Siang có viết một cuốn sách về dược thảo và phương pháp dưỡng sinh. Trong cuốn sách này có trình bày về công cụ dược học của nhiều hoa lan như: Dendrobium nobile và Dendrobium crumenatum.

Từ đời nhà Minh (1278 – 1368) trở đi, hoa Lan được họa thành tranh, và tranh hoa lan là loại tranh nghệ thuật quý để trang trí nội thất thời bấy giờ.

Năm 1728 Matsuka (Nhật Bản) đã viết một quyển sách chỉ dẫn kỹ thuật trồng hoa lan và bón phân, tưới nước cho cây lan.

Nói chung các nước ở châu Á, hoa lan được biết đến và đưa vào nuôi trồng rất sớm. Đến thế kỷ 20, người Anh mới đến Singapore mở đầu cho một giai đoạn mới là lập trại nuôi trồng hoa lan và kỹ nghệ nuôi trồng lan. Các giống lan được nuôi trồng ở đây là: Arachnis, Vanda, Oncidium… đồng thời lai tạo các loài lan mới.

Từ năm 1957, Thái Lan, Indonexia bắt đầu phát triển nuôi trồng lan quy mô ngày càng lớn phục vụ cho xuất khẩu. Các loài lan rừng, lan lai, lan cắt cành của Thái Lan được xuất khẩu qua nhiều nước trên thế giới.

Có thể nói Thái Lan là một nước điển hình cho ngành nuôi trồng và xuất khẩu hoa lan ở các nước châu Á. Công nghiệp sản xuất, xuất khẩu hoa lan ở Thái Lan được bắt đầu từ Thong Lor Rakhpa Busobat ở Bangkok. Từ người đầu tiên không biết gì về hoa lan và hầu như không ai chỉ dẫn, Thong Lor Rakhpa Busobat đã đến với hoa lan với tấm lòng say mê vô hạn. ông đã tự mày mò nghiên cứu, trải qua bao nhiêu gian lao vất vả trên bước đường nghiên cứu. Thành công nhiều nhưng sai lầm cũng không phải ít. Và như ông đã từng nói: “Chính cây lan dạy tôi mò mẫm từ sai lầm”, cuối cùng ông đã thành công rực rỡ.

Sau những thành công của Thong Lor, nhiều người từ các nước Ấn Độ ,Sri Lanka, Philippin đã lần lượt đến Thái Lan học hỏi kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh lan. Hiện nay hàng tháng công ty hoa lan của Thong Lor đã gửi hàng trăm chuyến hoa lan xuất khẩu sang các nước châu Âu, sang Hoa Kỳ và sang Nam Mỹ. Các vườn hoa lan của Thong Lor thường có ít nhất là 10.000 cây trở lên. Đặc biệt Thong Lor đã lai tạo thành công nhiều loài hoa lan lai mới có hoa với nhiều màu sắc đẹp hấp dẫn người thưởng thức.

Ngành hoa lan Thái Lan ngày càng phát triển mạnh hơn lên với các vườn lan Mountain Orchids và Sai Nam Phung Orchids ở Chiang Mai, đây là những vườn lan lớn với diện tích, số lượng cây và loài đáng chú ý của Thái Lan.

Ở châu Âu cũng như châu Á, người châu Âu đã biết đến hoa lan rất sớm, các tập di cảo dược tính, thảo mộc trong đó có nói đến cây lan đã có từ trước Công nguyên.

Lan (Orchidologia) bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại. Theo Phrastus (370 – 285 trước Công nguyên) là người đầu tiên dùng danh từ Orchis trong tác phẩm “Nghiên cứu về thực vật” để chỉ một loài hoa.

Đầu thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên, Dioscoride đã đặt tên gọi trên cho hai loại cây trong tác phẩm của mình về cây mộc thảo làm thuốc. Orchis tiếng Hy Lạp có nghĩa là tinh hoàn, nó chỉ sự giống nhau của thân củ ngầm của lan có dạng tương tự với tinh hoàn của động vật.

Trải qua một lịch sử lâu dài, năm 1519, một người châu Âu là Coster đã phát hiện một loài cây mới và lạ ở Mexico có mùi thơm, loại cây này được ông mang về Tây Ban Nha và phát triển thành lập kỷ nghệ sản xuất hương vị vani, loại cây đó chính là an Vanilla. Mô tả về lan sớm nhất ở châu Mỹ là “Y văn cổ của Astec” (Badianus madues cript, 1552), ngoài giống lan Vanilla còn nhắc đến một loài lan khác.

Lobelius (1529 – 1616) trong nghiên cứu về thực vật của mình đã nêu những nhận xét về cây cỏ và xếp thành các họ đơn giản, trong đó có họ lan.

Đến năm 1753, Linnaeus đã dùng danh từ orchis trong cuốn sách thảo mộc Specles Platarum để chỉ các loài lan. Năm 1836, John Lindely dùng danh từ orchid định danh chung cho các loài lan. Còn chữ orchis dùng chỉ một loài địa lan ở châu Âu.

Các thế kỷ 16 – 17, những người châu Âu, đặc biệt là người Anh đã đi khắp thế giới nghiên cứu, sưu tập cây cỏ. Trong thời kỳ này nhiều loài lan nhiệt đới đã được đưa về nước Anh. Năm 1794 ở Anh người ta đã biết được 15 loài lan nhiệt đới. Ở châu Âu trong cả một thời gian dài người ta cho rằng hoa lan mọc trên gỗ, nên chúng là vật ký sinh và xem sự nghiệp gây trồng là vô vọng. Những dò lan quý hiếm do các nhà du lịch mang từ các vùng rừng núi nhiệt đới xa xôi về được bảo quản một cách vô cùng cẩn thận trong những bộ thực vật sưu tập được coi là những tài sản vô giá. Sự yêu thích về hoa lan của người châu Âu ngày một tăng lên, dần dần càng có nhiều người đi đến các nước châu Á, châu Mỹ tìm lan. Nhiều người đi sâu vào rừng nguyên sinh nhiệt đới, trải qua bao nhiêu nguy hiểm để tìm kiếm được một giò lan, không ít người đã phải trả giá đắt bằng cả tính mạng của con người để tìm được một vài loài lan mới trong các chốn rừng sâu. Ở thế kỷ 18 – 19, lan là một loài thực vật quý được đánh giá cao, một vài giò lan quý bằng mấy lần tiền lương của công nhân hàng tháng. Ở thời kỳ này, khoa học và kỹ thuật trong sinh học và nông học chưa cao, người ta chưa biết sự cần thiết của nấm rễ đối với đời sống của cây lan, người ta chưa biết kỹ thuật gây tạo cây giống lan từ hạt, quá trình tìm kiếm các loài lan gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề vận chuyển lại càng khó khăn gấp bội. Chính vì vậy nên giá hoa lan trở nên cao vượt bậc. nhiều cuộc khảo sát, tìm tòi các loài lan được tổ chức trong thời gian này với một kinh phí lớn và hoa lan trở thành mặt hàng kinh doanh mang lợi nhuận cao.

Đầu thế kỷ 20, kỹ thuật gieo trồng hoa lan từ hạt bằng nhiều nấm cộng sinh có từ cây lan mẹ bắt đầu mở ra một giai đoạn mới đối với nghề nuôi trồng lan. Nhiều nhà khoa học, nhiều nhà làm vườn đã nghiên cứu các phương thức nuôi trồng hoa lan trong những điều kiện môi trường khác nhau, việc chăm bón, cung cấp các chất dinh dưỡng được tiến hành trên những cơ sở khoa học mới. Việc khám phá ra vấn đề bổ sung gluxit và những chất hữu cơ khác cho hoa lan tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô môi trường ngày càng lớn. Với những phương pháp kỹ thuật nhân giống bằng hạt đã mở ra khả năng phát triển ngành lan ở châu Âu cũng như ở thế giới. Đặc biệt là đưa kỹ thuật lai tạo áp dụng vào giống lan, tạo ra những cây lan lai có vẻ đẹp về màu sắc và hình dạng duyên dáng hơn hẳn bố mẹ. Từ đây lan lai đầu tiên được tạo ra giữa các loài hoa là Calanthe dominii bắt đầu nở hoa vào năm 1856 được nhà làm vườn người Anh là Fohn Domini tạo ra bằng cách lai C. masutra x C. furcata.

Ngày nay, các loài lan đã xếp thành một hệ thống phân loại chung gọi là Orchidaceae, lan rừng đã xác định được 750 chi và hơn 25.000 loài tự nhiên và có hơn 30.000 loài lan lai. Mọi kỹ thuật nhân giống và nuôi trồng hoa lan đã trở thành một bộ phận chủ yếu nhất của ngành trồng hoa cảnh xuất khẩu của nhiều nước. Việc khai thác nguồn lan nhiệt đới đối với người châu Âu không còn nguy hiểm nữa. Nhiều công ty ở các nước nhiệt đới đã thu thập các loại lan rừng và nuôi trồng để xuất khẩu. Trong những thập niên cuối thế kỷ 20, ở châu Âu, lan trở thành mặt hàng thương mại, từ Anh sang Pháp… sau đó lan sang Mỹ. Ở Mỹ có hai bang sản xuất hoa lan phổ biến nhất ở California và Florida. Việc nuôi trồng để xuất khẩu hoa lan hiện nay ở nhiều nước đã đạt đến số lượng hàng trăm giò lan và cành lan mỗi năm. Trước đây số lượng xuất khẩu chủ yếu là từ lan được khai thác trong rừng đã gây lên nguy cơ khoảng 13 số loài lan có thể bị diệt chủng. Nhu cầu nuôi trồng hoa lan trên quy mô công nghiệp ngày càng phát triển. Ở nhiều nước, các nhà nuôi trồng hoa lan nghiệp dư và chuyên nghiệp đã lập ra các hội hoa lan ngày càng nhiều. Ngày nay đã có hơn 400 hội hoa lan trên thế giới, có nhiều chuyên san về hoa lan đã được xuất bản. Nhiều cuộc hội thảo về hoa lan trên quy mô quốc tế được triệu tập.

Từ năm 1983, tập san chuyên đề về lan alf To orchids – Review được Anh xuất bản theo định kỳ 3 tháng một số, và từ năm 1932 tập san To American orchid – Society (AOS) được Mỹ xuất bản định kỳ mỗi tháng một số. Cho đến nay cả hai tập san trên vẫn tiếp tục phát hành và có hàng loạt các tập san về hoa mới phát hành tiếp sau. Nhiều cuộc triển lãm về lan đã được tổ chức. Nhiều giải thưởng đặt ra cho những thành tựu xuất sắc nhất trong việc chọn giống lan.

Trung Quốc là nước có tốc độ phát triển lan khá nhanh. Đầu thập kỷ 80, Trung Quốc bắt đầu nhập nội lan Hồ Điệp. Năm 2002, sản lượng lan Hồ Điệp của Trung Quốc là 3 triệu cây, chủ yếu ở Quảng Đông, Phúc Kiến, Bắc Kinh, Vân Nam, Sơn Đông.. bao gồm 50 – 60 xí nghiệp có quy mô lớn, trong đó Quảng Đông có hơn 10 công ty sản xuất khoảng 1,2 triệu cây (chiếm 40% sản lượng lan Hồ Điệp của Trung Quốc). Cùng với mức sống ngày càng cao của người dân thì nhu cầu về hoa cũng ngày càng tăng, diện tích trồng hoa ngày một tăng và nghề trồng lan Hồ Điệp đã trở thành con đường làm giàu chắc chắn cho nhiều công ty doanh nhân ở Trung Quốc.

Hiện nay, đối với người các nước châu Âu và châu Mỹ cũng như hầu hết các nước trên thế giới, hoa lan là một sản phẩm cao quý. Đặc biệt đến mùa Giáng sinh, lan được xuất khẩu một cách ồ ạt từ các ước châu Á như Thái Lan, Singapore sang các nước Âu Mỹ với giá cao, các nhà sản xuất thuê bao các hãng hàng không vận chuyển hoa lan sang phục vụ người tiêu dùng.

Thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng mở rộng. Kim ngạch thương mại hoa lan cắt cành thế giới 2000 đạt 150 triệu USD trong đó Nhật Bản là nước nhập khẩu hoa lan cắt cành số 1 thế giới, thứ hai là Ý, tiếp đến là PHáp, Đức đứng thứ tư và thứ năm là Mỹ, các nước từ thứ 6 đến 17 lần lượt là: Anh, Hà Lan, Áo, Bỉ, Hy Lạp, Ba Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Canada, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Sĩ…

Thị trường xuất khẩu hoa lan hiện nay rất lớn và đầy triển vọng. Ngày nay người tiêu dùng có xu hướng mua hoa lan có giá thành hạ mà không cần biết xuất xứ vì vậy thị trường hoa lan thế giới luôn có chỗ cho những quốc gia mới tham gia miễn là giá hạ, hoa bền lâu và màu sắc đúng thị hiếu của đa số người tiêu dùng.

Xu hướng phát triển mới của ngành thương mại hoa lan thế giới là sự gia tăng diện tích của các trang trại trồng lan, nhất là ở Thái Lan đã có những trang trại chuyên trồng loài Dendrobium rộng đến 39ha.

Thứ hai là qui mô các dự án đầu tư cho ngành thương mại hoa lan đang gia tăng, tại Panama đang có dự án với vốn đầu tư lên đến 200.000USD.

Thứ ba là sự phát triển của việc lai tạo giống hoa lan, nhất là Dendrobium tạo ra các cành hoa dài, hoa lớn và đa dạng màu sắc.

Thứ tư là sự phát triển của các loại hoa lan ôn đới như Cymbidium, Dendrobium và Oncidium cho những cành hoa có độ bền cao, có thể cắm trong bình đến 1 tháng.

Cuối cùng là sự thay đổi mạng lưới phân phối để có thể giao hàng đến tận tay khách hàng.

3. Tình hình sản xuất, nuôi trồng hoa lan ở Việt Nam

Riêng về hoa lan, các loại hoa lan rừng đẹp đến mức độ lộng lẫy đã đến với người dân Việt Nam từ cổ xưa. Hoa lan đến với người Việt Nam từ những bông hoa đẹp, từ những vị thuốc chữa bệnh được lưu truyền trong dân gian từ đời này qua đời khác cho đến ngày nay. Hoa lan là một loài hoa quý, đối với người Việt Nam, hoa lan tượng trưng cho sự trong sạch, thanh cao, số người hiểu biết về hoa lan tuy còn ít ỏi, và những người chơi lan trước đây chủ yếu là những người giàu có, những nho sĩ, những cụ già nhàn rỗi…

Từ thời Trần Anh Tông, nhà vua thích sưu tầm các loại hoa, các cây cảnh uốn thế và các loại hòn non bộ. Đặc biệt là đã sưu tập được 500 loài cây lan quý, lập nên “Ngũ bách viên” – niềm kiêu hãnh của một ông vua hào hoa phong nhã. Các sứ thần Trung Quốc và các nước mỗi khi đến Việt Nam, vua Anh Tông thường đích danh dẫn họ đi xem vườn. Ai cũng tấm tắc khen và cho rằng Đông phương có một không hai, không ai có được vườn lan quý như vậy. vua Anh Tông thường sai bảo đi khắp nơi, lên rừng xuống biển, qua cả các nước Lào, Chiến Thành, Phù Nam, Xiêm La tìm các loài hoa quý, lạ đưa về.

Bên cạnh “Ngũ bách viên” của vua Anh Tông, có một vườn lan ở phường Thanh Hà – Thăng Long. Đó là vườn của một cự phú họ Lữ, người Trung Hoa, anh ruột của Tổng đốc Quảng Tây Lữ Cảnh Phú, tên là Lữ Hồng Chiêu. Vườn lan của Lữ Hồng Chiêu toàn những loài lan quý, hiếm và có hương thơm ngào ngạt, Lữ Hồng Chiêu có những kỹ thuật, kinh nghiệm chăm sóc vườn lan rất đặc biệt, ông có một số nữ nhân công chuyên chăm sóc lan. Bí quyết của việc chăm sóc cho lan làm kích thích cho cây lan tốt, chóng ra hoa và hoa bền đẹp là dùng nước tắm của phụ nữ để tưới cây hoa lan. Bí quyết về kỹ thuật này khởi thủy từ Đỗ Phủ đời Đường của Trung Quốc lưu truyền lại.

Trong “Vũ trung tùy bút” và “Tang thương ngẫu lục” của Phạm Đình Hổ, ông đã mô tả nhiều cảnh ở Tây Hồ, Bắc Cung, Long Trì và việc nuôi trồng hoa, chơi cây cảnh của vua quan và nhân dân ta. Mục “Hoa thảo” trong “Vũ trung tùy bút” đã mô tả nhiều loài hoa như Thạch hoa, Thanh lan, Đông lan, Kiết lan, đồng thời có nói rõ kỹ thuật trồng lan.

Nhiều tác phẩm văn thơ Việt Nam ngàn xưa đã nhắc nhiều loại hoa lan. Đặc biệt là trong các sách nói về cây thuốc như của Hải Thượng Lãn Ông và các sách thuốc khác lưu truyền ở Việt Nam đều có nêu lên những cây lan làm thuốc chữa bệnh.

Thế kỷ 17, người châu Âu, chủ yếu là những người truyền giáo đạo Gia tô đến Việt Nam. Năm 1780 giáo sỹ Ivannis Ioureiro trong chuyến đi Việt Nam đã mô tả một số loài lan Việt Nam thuộc các giống Phalaenopis, Dendrobium, Cymbidium.

Tại Việt Nam, người chơi hoa và chung thủy với hoa nổi tiếng phải kể đến Trần Tuấn Anh, người đất Hà Thành. Anh là người chơi lan, gắn bó với lan đã hơn 20 năm, từng ngược xuôi khắp mọi miền đất nước để săn lùng phong lan. Được biết, cũng vì tìm lan mà đã có lần Tuấn Anh đã lạc trong rừng sâu nhiều ngày. Qua tháng năm, vườn lan ở Thanh Xuân của Tuấn Anh hội tụ được hơn 300 loài luôn giành được sự “kính trọng” của giới chơi lan.

Năm 2002 là một năm đánh dấu một sự kiện không thể quên với Tuấn Anh. Anh đã tìm được một loài lan hoàn toàn mới lạ tại miền núi Tây Bắc – Việt Nam. Loài lan này có tên khoa học là Dendrobium tuananhii được thế giới công nhận và tên anh đã được đặt cho loài hoa đặc biệt quí hiếm này.

Việt Nam có khí hậu nhiệt đới ẩm phù hợp với nhu cầu sinh thái của các loại lan, hoa lan đã đến với con người Việt Nam từ lâu đời, nhưng bối cảnh lịch sử của nền kinh tế lúc đó còn chưa phát triển nên từ đời này qua đời khác cây lan ở Việt Nam chỉ dừng lại ở dạng trồng để thưởng thức. Việc nuôi trồng kinh doanh hoa lan như các nước ở châu Âu và châu Á phát triển chưa được quan tâm đúng mức.

Vấn đề kinh doanh xuất khẩu hoa lan đối với Việt Nam cho đến nay vẫn đang ở giai đoạn đầu. Việt Nam có hai miền Nam, Bắc có khí hậu khác nhau rõ rệt. Miền Nam có mùa đông lạnh và có bão, miền Nam khí hậu ôn hòa ấm áp. Vì vậy để sản xuất lan kinh doanh ở miền Bắc chỉ thích hợp với việc trồng các loại hoa lan chủ yếu khai thác từ các loại lan rừng và nuôi trồng với số lượng ít để trưng bày thưởng thức, còn vấn đề nuôi trồng theo quy mô công nghiệp không thích hợp, do có mùa bão, dẫn đến giá thành cao hiệu quả kinh tế kém.

Khí hậu ở miền Nam Việt Nam thích hợp với nuôi trồng lan. Từ những năm 1960 – 1970 do ảnh hưởng của ngành hoa lan, cây cảnh thế giới (Thái Lan và các nước Tây Âu), những cây lan thuộc các giống như Phalaenopis, Dendrobium, Cattlleya, Cymbidium từ Thái Lan, Singapore, Pháp và Mỹ được nhập nội vào miền Nam Việt Nam chủ yếu đưa vào Sài Gòn tức là thành phố Hồ Chí Minh ngày nay và Đà Lạt là nền móng đầu tiên cho ngành nuôi trồng lan. Trước đây các chủ vườn và các “nghệ nhân” nuôi trồng lan chủ yếu để thưởng thức nghệ thuật. Dần dần hòa theo trào lưu sản xuất kinh doanh hoa lan của thế giới, chủ yếu là Thái Lan, các vườn lan được chuyển dần sang kinh doanh, bắt đầu mở rộng nhập nội cây lan với quy mô đáng kể. Sau năm 1975, vấn đề nuôi trồng lan gần như bị ngưng lại. Một số vườn lan trở thành vô chủ, một số vườn lan khong có người chăm sóc. Nhưng chỉ vài năm sau tình hình bắt đầu ổn định, ngành hoa lan bắt đầu chuyển sang một giai đoạn mới. Ở thành phố Hồ Chí Minh, một số vườn lan cũ được phục hồi, có các ngày hội thi hoa lan, cây cảnh của thành phố và các quận huyện ngày càng trở lên rầm rộ, từ năm 1981, Hội hoa xuân bắt đầu mở ở thành phố Hồ Chí Minh.

Hiện nay, hàng năm vào dịp tết Nguyên đán, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đều mở hội hoa xuân trong đó có trưng bày nhiều loại hoa lan. Việc tổ chức chấm thi hoa lan, tranh giải trao huy chương cho các nghệ nhân nuôi trồng hoa lan có hoa lan đẹp diễn ra thường kỳ, có tác dụng kích thích người nuôi trồng hoa lan, phong trào nuôi trồng hoa lan ngày càng phát triển và việc nuôi trồng hoa lan dần dần bước sang giai đoạn kinh doanh xuất khẩu. Các công ty như công ty rau quả xuất khẩu Trung nông – Vetgetexco và công ty Thủ công mỹ nghệ tổng hợp xuất khẩu thành phố Hồ Chí Minh (Atex – Saigon) là những công ty tham gia xuất khẩu hoa lan đầu tiên ở Việt Nam.

Việc xuất khẩu hoa lan của Việt Nam chính thức dược thực hiện vào năm 1980 do công ty Vegetexco xuất lan cắt cành Đà Lạt (Cymbidium) và các loại hoa khác như hoa Lay ơn (Gladiolus communis L.), hoa Lily. Các công ty của Việt Nam lần đầu tiên cử đại diện đi dự hội nghị hoa quốc tế tổ chức tại Bratislava (Tiệp Khắc) và bắt đầu quan hệ với các công ty hoa Unicoop (Tiệp Khắc) Inovator (Hunggari) về hoa lan, cây cảnh.

Ở Hà Nội, Hải Phòng, phong trào nuôi trồng hoa lan chủ yếu là hoa lan rừng chỉ mang tính chất thưởng thức nghệ thuật ở các cơ sở công cộng như các vườn hoa, các cơ sở nghỉ ngơi, giải khát.

Tại Đà Lạt có khoảng 500 gia đình nuôi trồng hoa lan, trong đó có hơn 150 gia đình tham gia vào Hội hoa lan của thành phố Đà Lạt. Ủy ban Khoa học kỹ thuật của Đà Lạt và phòng Sinh học của Viện Hạt nhân Đà Lạt cũng tham gia tích cực vào lập các cơ sở cấy mô phong lan và sưu tầm các loại lan. Hiện nay Đà Lạt đã thu thập được 200 loài có khả năng nuôi trồng xuất khẩu.

Tại thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1983 – 1984 bắt đầu có hàng loạt các cơ quan đóng tại thành phố tổ chức thử nghiệm nuôi trồng trên quy mô lớn để xuất khẩu. Các vườn lan đáng kể là vườn lan của T78, vườn lan của Cục Quản lý giáo dục Bộ tham mưu, vườn lan của ngành hàng không dân dụng.

Về lan giống từ năm 1976, Trung tâm Sinh học thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức nuôi cấy mô phong lan và tạo ra hàng loạt cây con phong lan bằng phương pháp cấy mô.

Năm 1987, Ủy ban khoa học thành phố Hồ Chí Minh tổ chức nghiên cứu đề tài và kinh tế kỹ thuật khoa học lan xuất khẩu. Và cũng năm 1987, thành phố quyết định thành lập Công ty phong lan xuất khẩu trực thuộc Sở Lâm nghiệp. Trong những năm 1987 – 1988, Hội khoa học Lâm nghiệp và trường Đại học Tổng hợp đã lần lượt mở lớp nuôi trồng hoa lan xuất khẩu, phong trào nuôi cấy lan thành phố trong thời gian này ngày càng sôi động. Sau đó hội hoa lan, cây cảnh thành phố ra đời, thường xuyên mở những buổi hội thảo về hoa lan, về cây cảnh. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh đã có mấy ngàn người nuôi trồng hoa lan, và có khoảng 20 vườn lớn. Trong đó có một số vườn tư nhân đã trở thành xí nghiệp nuôi trồng xuất khẩu thường xuyên giao dịch với các công ty ở Thái Lan, Singapore, Nga…

Hoa lan ở Việt Nam chỉ chiếm xấp xỉ 10% tổng diện tích, hầu hết hoa được trồng trên những mảnh vườn mở không có lưới và các phương tiện phòng chống mưa, bão, lụt rất thô sơ… nên chất lượng và thời vụ thu hoạch bị ảnh hưởng rất nhiều. Hoa lan tuy cũng được trồng trong vườn có lưới che mát nhưng cũng không có các phương tiện bảo vệ tránh gió, mưa, bão gây hại cho hoa.

Đà Lạt hiện nay đang trở thành điểm thu hút các nhà đầu tư kinh doanh hoa do sự thành công của các công ty nước ngoài đầu tư vào cách đây hơn 10 năm như Dalat Hasfarm chuyên trồng hoa ôn đới; công ty Lâm Thăng Đài Loan chuyên về Phalaenopsis (lan Hồ Điệp). vùng Sapa, Tam Đảo rất thích hợp cho việc trồng hoa ôn đới như hồng, Lily, Lay ơn,… Riêng hoa lan nhiệt đới, qua các năm từ 2003 – 2005 đã tăng từ 20ha lên 50ha (tăng 150%). Xu hướng tiêu dùng hoa lan đã tăng lên đáng kể và dự đoán sẽ tăng mạnh trong thập niên tới do Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO sẽ là yếu tố tăng mạnh đầu tư nước ngoài làm tăng các dịch vụ du lịch, tổ chức hội nghị quốc tế…

3.1. Tiềm năng ngành sản xuất hoa lan ở Việt Nam

3.1.1. Sự tăng trưởng của nền kinh tế

Nền kinh tế Việt Nam những năm qua phát triển vượt bậc đã nâng cao mức sống của người dân nhất là dân cư các thành phố lớn trong cả nước. Do đó nhu cầu tiêu dùng hoa cắt cành trong đó có hoa lan ngày càng tăng. Hầu hết hoa lan được trồng và tiêu thụ trong nước nhất là vào các dịp lễ hội như Tết, Giáng sinh, ngày Phụ nữ, Quốc khánh, ngày Nhà giáo, Sinh nhật, Hội nghị khách hàng…

Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của WTO tạo điều kiện cho ngành sản xuất hoa lan của Việt Nam có nhiều cơ hội tiếp cận thị trường quốc tế trong các lĩnh vực: kỹ thuật trồng, lai tạo giống, nhân giống (cấy mô), bảo quản sau thu hoạch… để thúc đẩy công nghiệp hoa lan phát triển.

Tuy công nghiệp hoa lan ở Việt Nam chưa được qui hoạch trong chiến lược phát triển kế hoạch 5 năm của quốc gia nhưng xu hướng phát triển của hoa lan lại rất nhiều triển vọng vì hầu như cung không đủ cầu: làn sóng đầu tư đổ vào Việt Nam trong đó có Mỹ, Nhật, Trung Quốc và các quốc gia khác, các vùng đang tạo một cảnh quan du lịch sinh thái, các hội nghị quốc gia cũng như các diễn đàn quốc tế tổ chức tại Việt Nam với tần suất ngày càng tăng khiến cho nhu cầu hoa lan tăng thêm và hầu như Việt Nam hàng năm phải chi ra hàng tỷ đồng để nhập khẩu hoa lan từ các nước láng giềng cũng chỉ để đáp ứng cho thị trường nội địa.

3.1.2. Thu nhập từ trồng hoa lan

Hiệu quả kinh tế nói chung của vườn lan cao hơn các loại cây trồng nông nghiệp khác; nhất là tại những vùng đất sản xuất nông nghiệp không hiệu quả như đất bạc màu, chua phèn hay nhiễm mặn vì cây lan không cần đến đất. Đặc biệt Việt Nam có các tỉnh duyên hải và Bến Tre là nơi tập trung trồng dừa và vỏ dừa khô chính là giá thể tốt nhất để cây lan phát triển. Xơ dừa là vật liệu rẻ tiền giúp cho việc đầu tư vào sản xuất giảm đi rất nhiều so với các quốc gia khác. Các vật liệu khác như lưới che mát, than, tre nứa cũng đã sản xuất được ở Việt Nam góp phần làm giảm chi phí đầu tư cho người sản xuất.

Hiện nay người trồng lan có thu nhập cao gấp nhiều lần so với người trồng lúa, gấp 4 – 5 lần so với người trồng rau cải, cỏ cho chăn nuôi… Theo số liệu thống kê của vụ kế hoạch thuộc Bộ NN & PTNT nếu trồng lan cắt cành Dendrobium và Mokara 1ha có thể cho doanh thu 500 triệu – 1 tỉ đồng/ha/năm.

3.1.3. Thu nhập cao từ kinh doanh hoa lan

Các cơ sở kinh doanh hoa lan, cây kiểng tăng nhanh kể từ năm 2003 từ 264 điểm đến nay đã trên 1.000 cơ sở lớn nhỏ trên địa bàn TP. HCM. Riêng trên toàn quốc, số lượng các cửa hàng hoa tăng gấp nhiều lần so với năm 2000 cho thấy nhu cầu tiêu dùng hoa của người dân tăng nhanh. Theo thống kê của Sở NN & PTNT TP. HCM trong năm 2003 doanh số kinh doanh hoa lan cây kiểng chỉ đạt 200 – 300 tỉ đồng nhưng đến năm 2005 đã tăng đến 600 – 700 tỉ đồng và ngay từ đầu năm 2006 doanh số đạt được là 400 tỉ đồng.

3.1.4. Điều kiện khí hậu, lao động, đất đai

Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận có khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm cao nên thích hợp cho việc trồng các giống Dendrobium và Mokara. Đặc biệt là việc trồng Mokara tại TP. HCM cho thấy Mokara tăng trưởng và ra hoa tốt hươn trồng tại Thái Lan.

Ngoài ra, lực lượng lao động cho việc trồng lan không cần nhiều, có thể sử dụng lực lượng nông nhàn để theo dõi, chăm sóc cho cây hoa cũng là một lợi thế cho ngành hoa lan Việt Nam.

Những vùng đất phèn nặng hoặc bạc màu là địa điểm thích hợp để người dân chuyển đổi từ sản xuất trồng lúa hoặc rau cải cho thu nhập thấp sang trồng hoa lan cho thu nhập cao. Diện tích những vùng đất phèn nặng và bạc màu chiếm số lượng lớn ở TP. HCM đang được TP. HCM đưa vào qui hoạch những vùng cần chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng sẽ giúp cho hàng ngàn nông dân thay đổi tập quán canh tác từ cây lúa, cây rau sang cây hoa có giá trị kinh tế cao.

3.2. Các nhân tố ảnh hưởng chính đến sự phát triển công nghiệp hoa lan Việt Nam

3.2.1. Giống

Để nhân nhanh các giống lan, phương pháp nhân giống bằng nuôi cấy mô đang được các quốc gia trên thế giới áp dụng. Việt Nam cũng có các phòng nuôi cấy mô nhưng ở qui mô nhỏ, nên nguồn giống chủ yêu là nhập từ Thái Lan, Đài Loan và một vài quốc gia Tây Âu như Bỉ, Hà Lan… Vì vậy giống lan tại Việt Nam tùy thuộc rất nhiều vào nguồn giống ngoại nhập. Đây là một thực tế đáng lo ngại cho ngành sản xuất hoa lan của Việt Nam nếu tương lai Việt Nam tham gia vào thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới.

Việc nhập khẩu giống từ các nguồn khác nhau gây ra nhiều vấn đề khó khăn cho sự phát triển của ngành công nghiệp hoa lan như chất lượng hoa, sâu bệnh lan truyền qua nhập khẩu và bản quyền tác giả… sẽ làm cho giá thành của hoa lan Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực và rủi ro trong nuôi trồng cũng nhiều hơn.

3.2.2. Công nghệ sinh học

Khi trồng các loại hoa cắt cành như hồng, cúc, cẩm chướng… sau khi thu hoạch nông dân Việt Nam có xu hướng giữ lại hạt làm giống cho vụ sau. Trái lại việc nhân giống hoa lan phải nhờ đến công nghệ sinh học. Hiện nay cũng có vài công ty tư nhân đang đầu tư trong lĩnh vực cấy mô, lai tạo giống phong lan Dendrobium, Mokara hay Oncidium để tạo ra nguồn giống riêng của Việt Nam mặc dù hướng nghiên cứu gene phong lan ở Việt Nam chưa được chú ý đến. Tuy nhiên, nếu việc lai tạo các giống phong lan thành công thì đây là bước khởi đầu cho công nghiệp hoa lan Việt Nam và cần được sự hỗ trợ của nhiều ngành khoa học đặc biệt là công nghệ gene trong nông nghiệp.

3.2.3. Công nghệ canh tác, sản xuất hoa lan

Tuy hoa lan không cần đất để phát triển nhưng việc ứng dụng công nghệ canh tác tiên tiến rất quan trọng với mục đích tạo ra những hoa lan có màu sắc, kích thước, số lượng hoa trên cành, tính bền, khả năng ra hoa và tính kháng bệnh của cây với chất lượng cao và giá thành thấp.

Vai trò của hoa lan và hoa cắt cành ở Việt Nam mới chỉ trở nên quan trọng trong những năm gần đây, nhưng các qui trình công nghệ tiên tiến áp dụng trong lĩnh vực hoa lan chưa được chọn lọc và nghiên cứu đầy đủ trong điều kiện sinh thái của Việt Nam. Hầu hết là học tập và mô phỏng theo cách trồng của Thái Lan ở qui mô cá thể với diện tích chưa đủ lớn để tạo ra sự thay đổi sâu sắc trong tập quán trồng hoa của nông dân Việt Nam, trong đó vấn đề sâu bệnh hại là yếu tố quyết định cho sản xuất lan công nghiệp.

Đa số nông dân Việt Nam trồng hoa lan ở qui mô hộ gia đình từ vài m2 đến vài ngàn m2, cá biệt có vài hộ sản xuất kinh doanh trồng trên 1-2ha. Chính do qui mô nhỏ lẻ và nguồn giống phân tán nhập từ nhiều nguồn khác nhau nên đã dẫn đến chất lượng hoa lan không đồng đều, số lượng trên mỗi giống hoa không đủ cho thị trường, nhất là thị trường xuất khẩu trong tương lai.

3.2.4. Công nghệ sau thu hoạch

Hoa lan là sản phẩm của ngành nông nghiệp (khác với lan rừng thu hái từ tự nhiên) nên nó cần một công nghệ bảo quản sau thu hoạch để giữ cho hoa bền, lâu tàn. Trong điều kiện khí hậu Việt Nam thích hợp cho việc canh tác hoa lan nhiệt đới thì cũng chính khí hậu nóng ẩm của ta cũng dễ ảnh hưởng đến chất lượng hoa lan. Đa số nông dân cắt hoa và giao hoa ngay trên những phương tiện vận chuyển thô sơ, không có kho mát hay phòng mát và cũng chưa có dụng cụ chứa dinh dưỡng để cắm mỗi cành hoa vào để giữ cho hoa lâu tàn.

3.2.5. Thị trường và các biện pháp xúc tiến thương mại

Hoa lan và các loại hoa cắt cành khác đang được phân phối trên thị trường trong nước qua các kênh bán sỉ tại các chợ đầu mối hoa như chợ Hồ Thị Kỳ, Q.10. Các cửa hàng kinh doanh hoa mua trực tiếp từ các vườn hoặc thông qua các cơ sở tư nhân thu gom từ các vườn lan.

Hiện nay tuy chưa có một tổ chức hay doanh nghiệp nào đứng ra tổ chức hệ thống thu mua và phân phối hoa lan cho thị trong nước, nhưng các hộ kinh doanh hoa, các cửa hàng bán hoa đã rất nhạy bén nắm bắt tâm lý của người trồng hoa là cần có đầu ra ổn định nên đã có những thỏa thuận ở mức sơ khai của hình thức hợp đồng kinh tế, lấy uy tín là chính và việc đặt cọc tiền giữa 2 bên chỉ có giá trị tượng trưng cho sự thỏa thuận giữa hai bên. Cho đến hiện nay chưa có hợp đồng nào có giá trị ở mức cao và cũng chưa có thỏa thuận nào bị “bể” giữa bên bán và mua do cầu lúc nào cũng cao hơn cung đối với hoa lan.

So với các quốc gia trong khu vực, hoa cắt cành của Việt Nam cũng đã có thị trường xuất khẩu và mức tăng trưởng hàng năm đều tăng cao hơn so với năm trước. Tuy nhiên đối với hoa lan, nhất là hoa lan nhiệt đới thị trường xuất khẩu vẫn còn là thị trường tiềm năng. Để có thể tiến vào thị trường hoa lan cắt cành hay lan chậu của thế giới, ngành công nghiệp hoa lan Việt Nam còn rất nhiều vấn đề cần phải quan tâm.

3.3. Các thách thức trong quá trình phát triển

Mặc dù các cơ hội phát triển hoa lan Việt Nam là rất lớn nhưng các nhân tố đó cũng chính là những thách thức cần được quan tâm cho sự phát triển của ngành công nghiệp hoa lan còn non trẻ của Việt Nam như:

– Sản xuất lai tạo giống lan trong nước bằng phương pháp nuôi cấy mô chưa có đột phá mới. Phần lớn các phòng cấy mô chỉ cấy chuyền các giống nhập từ nước ngoài ở dạng chồi/phôi, do đó ngành kinh doanh lan Việt Nam luôn bị động và có xu hướng hập khẩu là chính.

– Chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng còn cao nên việc mở rộng diện tích trồng lan cần phải có sự quan tâm hỗ trợ của các tổ chức tín dụng.

– Chưa có công nghệ sản xuất tiên tiến, sản xuất canh tác hoa ổn định không theo mùa vụ sẽ giúp bình ổn giá hoa trên thị trường.

– Công nghệ sau thu hoạch và kỹ thuật đóng gói phù hợp chưa sẵn sàng.

– Chi phí lao động có kỹ thuật tăng cao.

– Dịch vụ hậu cần tại các cảng xuất hàng còn yếu kém như chưa có kho mát tại sân bay.

– Các yêu cầu kiểm dịch nghiêm ngặt của các nước nhập khẩu hoa trong khi Việt Nam chưa có hệ thống và biện pháp kiểm tra hoa nhập khẩu từ các nước khác.

– Hệ thống thông tin, tiếp thị hầu như chưa có nên rất khó khăn trong việc hoạch định sản xuất theo nhu cầu thị trường.

– Công nghiệp hoa lan chưa được quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền nên chưa có những biện pháp hỗ trợ, thúc đẩy ngành hoa lan phát triển.

3.4. Một số các biện pháp chiến lược phát triển ngành hoa lan Việt Nam

3.4.1. Giải pháp về giống

– Lai tạo, chọn lọc giống mới theo phương pháp nhân giống truyền thống: Nỗ lực tiến hành các biện pháp lai chéo giữa các giống lan với nhau để tạo ra các giống mới. Phương pháp lai vẫn tiến hành trên nền tảng di truyền cổ điển, tuy nhiên để giảm thiểu chi phí và thời gian, công nghệ sinh học phân tử cần tham gia vào ở giai đoạn mầm chồi để xác định các tổ hợp lai mới.

– Kỹthuật gene: áp dụng thành tựu chọn lọc gene trong nông nghiệp, nghiên cứu chọn lọc gene phong lan bằng các kỹ thuật gene.

– Nhân giống đột biến: chọn những cây lai đột biến mang các tính trạng nổi bật phù hợp với thị trường và nhân giống vô tính bằng phương pháp cấy mô.

3.4.2. Áp dụng thành tựu của các nước trong khu vực về canh tác hoa lan như

Khuyến khích sử dụng giá thể xơ dừa + than vụn hoặc giá thể bằng vỏ đậu phộng. Áp dụng sản xuất theo GAP để bảo vệ môi trường và kiểm soát sâu bệnh đúng cách.

3.4.3. Công nghệ bảo quản sau thu hoạch và dịch vụ hậu cần

– Ngành nhựa cần quan tâm đến việc cung cấp các tube (ống) chứa dụng dịch bảo quản hoa sau khi cắt khỏi cành.

– Nghiên cứu các công thức bảo quản hoa phù hợp với điều kiện vận chuyển tại Việt Nam.

3.4.4. Các hỗ trợ về cơ sở hạ tầng

Các phương tiện thiết bị chuyên dùng cho ngành hoa, các kênh thông tin, tiếp thị sản phẩm giúp người trồng dự đoán được giá cả, nhu cầu thị trường để tự hoạch định sản xuất.

3.4.5. Các văn bản luật, các tiêu chuẩn sản phẩm

Cần được ban hành trong thời gian ngắn nhất để người trồng tiếp cận, tránh được rào cản về thuế quan, kiểm dịch thực vật nghiêm ngặt của các nước nhập khẩu.

3.4.6. Nguồn nhân lực

Lực lượng lao động trong các lĩnh vực sản xuất, sau thu hoạch, xếp dỡ, phát triển sản phẩm, công nghệ sinh học, kỹ thuật gene, đấu giá … cần phải được đào tạo nhanh chóng vì điều này có thể trở thành khiếm khuyết nghiêm trọng trong sự cạnh tranh mạnh mẽ toàn cầu khi nước ta là thành viên WTO.

3.4.7. Hỗ trợ tín dụng

Ngành hoa lan cần vốn khá lớn và thời gian khá dài để phát triển do đó cần được các tổ chức tín dụng quan tâm hỗ trợ.

Tuy ngành sản xuất hoa lan Việt Nam còn khoảng cách rất xa so với các nước trong khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia… nhưng tương lai của hoa lan Việt Nam rất xán lạng do vẫn còn nhiều quỹ đất để phát triển, nguồn gene lan rừng rất quí báu dồi dào nhưng chưa được khai thác, con người Việt Nam thông minh chịu khó và nắm bắt rất nhanh công nghệ tiên tiến.

Trước hết ngành sản xuất hoa lan cần mở rộng sản xuất cung cấp cho thị trường nội địa, sử dụng các giống lai tạo mới, sử dụng hiệu quả các thành tựu của công nghệ sinh học. Chính phủ cần khuyến khích nông dân chuyển đổi diện tích cây trồng thu nhập thấp sang trồng lan với các chính sách hỗ trợ về vốn, công nghệ sản xuất chuyên sâu. Kêu gọi các Doanh nghiệp tư nhân tham gia tích cực vào lĩnh vực công nghệ sinh học và di truyền cho ngành công nghiệp hoa lan nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm làm động lực cho sự phát triển của ngành. Chính phủ cũng cần tăng cường công tác thị trường và năng lực thị trường bằng cách hợp tác giữa khu vực tư nhân và các tổ chức nhà nước để quản bá sản phẩm và thâm nhập thị trường mới.

Nguồn: Giáo trình Hoa Lan – Đại học Thái Nguyên (Trường Đại học Nông Lâm)

Nghiên Cứu Đặc Điểm Nông Sinh Học Và Biện Pháp Kỹ Thuật Trồng, Chăm Sóc Hoa Lan Đai Châu (Rhynchostylis Gigantea (Lindley) Ridley) Ở Miền Bắc Việt Nam / 2023

Tính cấp thiết của đề tài

Hoa lan là một trong những sản vật của tạo hóa, là tác phẩm nghệ thuật tuyệt tác mà thiên nhiên ban tặng cho con người. Hoa lan có vẻ đẹp, sức hấp dẫn người chơi đến kỳ lạ. Có thể nói hoa lan được hội tụ tất cả các đặc điểm quý của các loài hoa như màu sắc đẹp, phong phú, cấu tạo hoa đa dạng, tinh tế, hoa có độ bền lâu và đặc biệt hấp dẫn người chơi bởi hương thơm quyến rũ. Chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hoa phong lan, tâm hồn con người như được giao hòa cùng thiên nhiên. Các bậc cao niên thời xưa cho rằng: hoa lan mang tất cả các tính cách thanh cao của người quân tử đó là nhân, lễ, nghĩa, chí, tín.

Nhờ các đặc tính quý báu mà ngành sản xuất hoa lan luôn không ngừng phát triển và càng lan rộng trên toàn thế giới, đem lại nguồn lợi lớn cho các quốc gia đầu tư nghiên cứu và sản xuất hoa phong lan như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan. Việt Nam là nơi có điều kiện khí hậu phù hợp cho rất nhiều loài lan sinh trưởng, phát triển và cũng là nơi khởi nguồn của rất nhiều loài hoa lan quý đã được các nhà nghiên cứu về hoa lan ghi nhận.

Lan Đai Châu (Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley) là một trong những loài lan bản địa, quý của Việt Nam. Cây có hoa chùm, rủ xuống, có hương thơm và độ bền lâu. Hoa lan Đai Châu còn có nhiều tên gọi khác: miền Trung gọi là Nghinh Xuân (vì nở vào mùa xuân), miền Nam gọi là Ngọc Điểm, còn miền Bắc gọi là lan Đai Châu (Chuỗi những hạt châu) và cây còn có tên dân dã là lan Me. Lan Đai Châu nở hoa vào dịp Tết Nguyên Đán nên cây có giá trị kinh tế cao. Cách sử dụng rất phong phú, có thể đặt trên chậu, trưng bày trong phòng khách, có thể treo trên ban công, cửa sổ, ghép trên thân cây đã chết, cây đang sinh trưởng hoặc ghép lan trên non bộ tạo thành cảnh vật rất đẹp và mang dáng dấp tự nhiên. Trong điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về thưởng ngoạn hoa cây cảnh ngày một tăng và yêu cầu ngày càng cao, hoa lan Đai Châu ngày càng chiếm được cảm tình của người tiêu dùng. Mặc dù vậy, việc khai thác lan rừng bừa bãi đã và đang khiến lan Đai Châu giảm dần về số lượng và đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, trong khi, việc bảo tồn và phát triển lan Đai Châu chưa thực sự phổ biến ở Việt Nam. Một trong những hạn chế trong sản xuất loài lan này là do cây sinh trưởng rất chậm, đặc biệt là ở miền Bắc Việt Nam dẫn đến thời gian từ khi trồng đến khi ra hoa phải mất vài năm. Mặt khác, những đặc điểm nông sinh học của cây còn chưa được đánh giá một cách đầy đủ. Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng, chăm sóc nhằm khắc phục những nhược điểm, phát huy những ưu điểm của loài hoa này cũng chưa có nhiều và chưa ứng dụng được vào sản xuất. Với mục đích bảo tồn và phát triển rộng rãi lan Đai Châu ở Việt Nam, NCS Đinh Thi Dinh đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và biện pháp kỹ thuật trồng, chăm sóc hoa lan Đai Châu (Rhynchostylis gigantea (Lindley) Ridley) ở miền Bắc Việt Nam”.

Những đóng góp mới của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống các đặc điểm hình thái, giải phẫu và đặc điểm sinh trưởng, phát triển của hoa lan Đai Châu từ sau ra ngôi đến khi ra hoa (3 năm tuổi). Đề tài đã nghiên cứu được mối tương quan giữa sinh trưởng chiều dài lá với chiều dài cành hoa và số hoa trên cành từ đó, đưa ra được các biện pháp làm tăng sinh trưởng của cây giai đoạn vườn ươm trong điều kiện mùa hè nóng ẩm, tăng sinh trưởng, tỷ lệ ra hoa và chất lượng hoa trên vườn sản xuất, cây 2 năm ra hoa 47% (sớm hơn 1 năm so với đối chứng), cây 3 năm ra hoa 80% trong điều kiện miền Bắc Việt Nam.

Kết luận

1. Trong 4 giống hoa lan Đai Châu, giống bản địa Trắng Đốm Tím, sinh trưởng, phát triển khỏe: sau trồng 3 năm, số lá đạt 6 lá, chiều dài lá đạt 24,5cm, 25,2 hoa/cành, chiều dài cành hoa 16,5cm, sâu bệnh hại ở mức nhẹ. Giống có hoa đẹp, hương thơm ngát, được người tiêu dùng ưa chuộng.

2. Đặc điểm hình thái và giải phẫu các cơ quan sinh dưỡng cây lan Đai Châu rất đặc trưng cho cây một lá mầm, thích nghi với điều kiện sống phụ sinh, có khả năng chịu hạn tốt thể hiện ở số lượng khí khổng trên lá ít, lá dày, rễ to, lớp nhu mô dày, có khả năng hấp thu, dự trữ nước và chất dinh dưỡng tốt. Màu sắc lá, thân và chóp rễ xu hướng theo màu sắc của hoa, đây là đặc điểm quan trọng để nhận biết các giống lan Đai Châu.

3. Tương quan về sinh trưởng chiều dài lá và chiều dài rễ của giống lan Đai Châu Trắng Đốm Tím là không chặt (R2= 0,1126). Tương quan giữa chiều dài lá và chiều dài cành hoa, giữa chiều dài lá và số hoa trên cành là thuận, chặt (R2= 0,8247, R2 = 0,9475). Điều đó chứng t rằng muốn nâng cao chất lượng hoa cần tác động các biện pháp làm tăng sinh trưởng của lá.

4. Cây lan Đai Châu có mùa sinh trưởng rất r rệt. Vùng Đồng bằng Sông Hồng (Hà Nội, Hưng Yên), cây sinh trưởng mạnh và sớm hơn (bắt đầu sinh trưởng từ tháng 3) so với vùng núi phía Bắc (Lào Cai, Sơn La), cây bắt đầu sinh trưởng từ tháng 4, thời gian ngừng sinh trưởng của cây trùng với giai đoạn ra hoa và thời gian nhiệt độ trong vùng xuống thấp.

5. Giai đoạn vườn ươm: Sử dụng giá thể là rong biển + than hoa + v cây, tưới nước 2 ngày 1 lần hoặc giá thể: mụn xơ dừa + than hoa + v cây, tưới ngày 1 lần, cây con sinh trưởng mạnh, tỷ lệ sống cao (88-89%). Bón phân Fish Emulsion (5:1:1), 5 ngày tưới 1 lần (nồng độ 0,05%), làm tăng số lượng và kích thước lá của lan Đai Châu.

6. Giai đoạn vườn sản xuất:

+ Thời vụ trồng thích hợp nhất là 15/4, tỷ lệ sống cao (97%), cây nhanh hồi xanh, sử dụng các nguồn nước có độ dẫn điện thấp như nước mưa (pH=5,55;EC=0,04), nước giếng khoan có lọc (pH=6,20; EC=0,26) cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn (đạt số lá 7,3 lá, chiều dài lá 27,6cm), tỷ lệ ra hoa cao (58%), so với nguồn nước máy hoặc giếng khoan chưa qua lọc.

+ Ghép lan Đai Châu trên gỗ nhãn, tưới ngày 1 lần hoặc trồng chậu với giá thể rong biển + than hoa + củi vụn, tưới nước 2 ngày 1 lần là phù hợp nhất. Phân bón hiệu quả nhất là HT-Orchid 222 (21:21:21), tưới 5 ngày 1 lần, 0,1% và giai đoạn ra hoa là HT-orchid 2 (6:30:30), tưới 7 ngày 1 lần cho mầm hoa ra tập trung, tỷ lệ ra hoa cao (65%), chất lượng hoa tốt.

+ Phun GA3 cho cây 1 năm tuổi với nồng độ 150ppm làm tăng chiều dài lá (22,6cm), cây ra hoa sớm với tỷ lệ 47%, chất lượng hoa đảm bảo so với đối chứng cây không ra hoa. Với cây 2 năm tuổi phun nồng độ 200ppm tăng chiều dài lá (đạt 32,1cm), tỷ lệ ra hoa (80%), chiều dài cành hoa (24,1cm) và số hoa/cành (34,6 hoa).

+ Giảm ánh sáng bằng che 2 lớp lưới trong vụ hè (tương ứng 1 3.000-16.000lux) thích hợp cho cây sinh trưởng, tăng tỷ lệ ra hoa (59%) và chất lượng hoa. Trong điều kiện miền Bắc Việt Nam cần thiết phải tăng nhiệt cho vườn lan vào mùa đông (tháng 12 đến tháng 2 năm sau) bằng cách che ni lông hoặc che ni lông + tăng nhiệt.

+ Sử dụng thuốc sinh học: Tasieu 5WG trừ sâu và thuốc Exin 4.5HP trừ bệnh hạn chế một số sâu, bệnh hại chính trên lan Đai Châu ở mức dưới 10%.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Tình Hình Nghiên Cứu Hoa Lan Đai Châu Trên Thế Giới P1 / 2023 trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!