Đề Xuất 11/2022 # Một Số Thuật Ngữ Đá Gà Thông Dụng Sư Kê Cần Biết / 2023 # Top 14 Like | Vitagrowthheight.com

Đề Xuất 11/2022 # Một Số Thuật Ngữ Đá Gà Thông Dụng Sư Kê Cần Biết / 2023 # Top 14 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Thuật Ngữ Đá Gà Thông Dụng Sư Kê Cần Biết / 2023 mới nhất trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

*Tiền biệt dưỡng (pre-conditioning): là giai đoạn chuẩn bị trước khi biệt dưỡng.

*Biệt dưỡng (conditioning): là giai đoạn chăm sóc đặc biệt trước khi chiến kê xuất trường. Giai đoạn này thường diễn ra từ 2 đến 3 tuần tùy vào mỗi phương pháp.

*Ốp (pointing): là giai đoạn chăm sóc đặc biệt diễn ra vào vài ngày cuối của quá trình biệt dưỡng. Ốp giúp chiến kê đạt phong độ tốt nhất khi vào trận hay còn gọi là “tới độ”, “đủ pin”. Có một số tác giả tách riêng quá trình ốp với biệt dưỡng.

*Phương pháp dưỡng (keep): thường bao gồm cả ba công đoạn ở trên.

*Dưỡng thể (physical conditioning): các hoạt động nhằm nâng cao năng lực thể chất như ăn uống, tập bay, đi dạo, xổ…

*Dưỡng tâm (metal conditioning): các hoạt động nhằm nâng cao năng lực tâm lý như làm quen tiếng ồn trường đấu, làm quen màu sắc…

*Phòng gà (cockhouse): được bố trí tại trại và trường gà để các sư kê dưỡng gà trước khi đá. Đôi khi, phòng gà được bố trí máy lạnh để ổn định nhiệt độ và độ ẩm.

*Tủ dưỡng (resting stall/pen): tủ nhiều ngăn, có cửa đóng để dưỡng gà; phòng gà thường có sẵn dãy tủ dưỡng để sư kê nhốt gà.

*Tủ xếp (folding pen): loại tủ dưỡng có thể tháo lắp; một số trường gà không bố trí sẵn tủ dưỡng hoặc sư kê thích xài tủ dưỡng riêng thì đem theo loại này.

*Lồng xách (cockbox): để vận chuyển gà từ trại đến trường, lồng xách thường nhỏ gọn, vừa đủ đựng gà.

*Lồng kẽm/bới/đợi (wire/scratch/limbering pen): hay còn gọi là bội, là loại lồng tiện dụng được dùng vào nhiều mục đích khác nhau; chẳng hạn như giúp gà nghỉ ngơi sau khi xổ, đào bới luyện cơ chân, khởi động chờ tới lượt thi đấu…

*Lồng dưỡng (conditioning pen): có rất nhiều loại lồng dưỡng với kích thước khác nhau với mục đích kích thích gà vận động. Lồng dưỡng không nên che mái ngoại trừ một mảng nhỏ để gà tránh mưa. Bởi không có mái nên cần bố trí lồng ở nơi râm mát, thường dưới gốc cây. Gà trở nên kém vận động một khi đã quen với lồng nên trong trại người ta thường bố trí nhiều loại lồng dưỡng khác nhau để luân chuyển gà.

*Lồng tôi (hardening pen): là phiên bản nhỏ hơn của lồng dưỡng dành để “tôi” tức làm săn chắc gà tơ.

*Lồng bay (fly pen): tương tự như lồng dưỡng nhưng có mái che và ngăn giữa các lồng để thả gà mái. Chạc được gắn cao hơn so với lồng dưỡng và có thể nâng dần lên. Bố trí để gà trống nhìn thấy gà mái một khi nó nhảy lên chạc, như vậy sẽ kích thích gà nhảy lên xuống và luyện cánh. Nếu lồng bay cũng được dùng như là lồng ốp (pointing pen) thì nên hạ chạc gần ngày xuất trường và không thả gà mái nữa…

*Lồng ốp (pointing/keeping/sleeping/holding pen): là phiên bản nhỏ của lồng bay. Trong khi lồng dưỡng khuyến khích gà vận động thì lồng ốp lại khuyến khích gà nghỉ ngơi. Bởi vậy, lồng ốp được che kín hoàn toàn.

*Teepee: loại mái che để chiến kê (cột dây) trú mưa nắng; thường là hai tấm bê tông chụm lại, bên trên có gác thanh ngang để gà đậu.

*Cột dây (cording/string-walk): gà được cột chân bằng dây và thả tự do. Dây cột (tie cord) dài khoảng 2 mét thường đi kèm với teepee.

*Sàn xổ/tập (sparring area/training pit): nơi diễn ra mọi hoạt động luyện và xổ gà. Nên bố trí đèn phòng trường hợp gà được xổ vào chiều tối.

*Ván tập (training table): nơi luyện gà tập bay, bật, xoay tròn và những bài tập khác để phát triển lực và độ bền. Gà đá cựa sắt và dao ngắn vẫn phải phát triển các yếu tố này trong khi gà đá cựa dao dài tập trung phát triển tốc độ và lối chém.

*Đảo (rotation): luân chuyển gà từ lồng bay, sang dây cột, sang lồng dưỡng… vào các thời gian khác nhau trong ngày với mục đích tăng cường sự vận động, cải thiện cơ bắp.

*Bới (scratching): giúp cải thiện cơ bắp, giải phóng năng lượng và thư giãn trước và sau trận đấu.

*Xổ (sparring): nhằm phát triển cơ bắp, độ bền và cả lối đá. Nên xổ thường xuyên, nhiều đợt ngắn.

*Xổ tay (hand sparring): là xổ với gà giả hoặc gà thiệt được sư kê bồng trên tay với mục đích cải thiện lực đá và độ bền mà lại tránh được thương tích so với lối xổ bình thường. Nên để gà được huấn luyện đá tận lực vào gà mồi, ra chân tối đa sẽ giúp cơ bắp phát triển.

*Xổ kéo (salida/kahig & sampi): là kỹ thuật xổ có kiểm soát. 1) Cho gà hai bên mổ qua mổ lại lên cổ. 2) Thả gà xuống và nắm đuôi để kiểm tra và phát triển lực kéo của cơ đùi khi chân gà cào vào đất (kahig). 3) Để gà đá nhau nhưng kéo đuôi để kiềm chế lực đá (tránh bị thương) (sampi), qua đó có thể phát triển cơ cánh, biết được cách gà nạp hay né (đặc biệt là lối nạp bồi – saltik). 4) Thả gà ra sới và dùng gà nhử cho nó sung lên. Đây là cách để kiểm tra xem gà còn tập trung hay không. Nếu không thì lặp lại từ đầu.

*“Tới độ” (on point/peak): trạng thái mà gà đạt phong độ tối đa, còn gọi là “tới pin”. Toàn bộ quá trình biệt dưỡng và ốp đều có một mục đích là đưa gà đến trạng thái này, ở ngay thời điểm bước vào trận đấu.

*Phân gà (dropping): bao gồm 4 loại, phân cục (solid), phân nâu (cecal), phân lỏng hay nước tiểu (urate) và “nọc” hay phân sáp (moisture). Bởi gà không có đường tiểu riêng nên nước tiểu được thải chung với phân và được tính như là một thành phần của phân.

(Bên phải) 1-phân cục (phần chóp trắng là nước tiểu), 2- phân nâu và 3-phân sáp (cục nhỏ nhất là dấu hiệu chiến kê “tới độ”) (Bên trái) Phân cục: vón là dấu hiệu tốt nhưng quá khô, phân cục: cơ thể quá “ướt”, phân nâu: như mù tạt nhưng vẫn vón, phân sáp: so sánh với đồng 25 xu.

*Dao Philippine (slasher/tari/long knife): cấu tạo và cách gắn.

Một Số Điều Cần Biết Về Kỷ Thuật Trồng Cây Chuối Lùn / 2023

 Chọn cây giống: Nên chọn cây giống cao từ 1-1,2m, hình búp măng, có ít lá, lá thẳng mới là cây đạt tiêu chuẩn.

Thời vụ trồng: Cây chuối lùn có thời gian ra hoa là 4 tháng kể từ ngày trồng cây con. Thời gian từ ra hoa kết quả đến chín là 6 tháng. Do vậy, người trồng chuối phải tính cho chuối trổ và thu hoạch đúng thời điểm theo ý muốn.

Kỷ thuật trồng:

Đào hố đường kính 50cm. Miền đồng bằng hố đào sâu 50 – 60cm. Miền đồi núi hố đào có thể sâu 60 – 80cm. Đào cây giống lên dùng kéo cắt hết rễ sau đó để vào chỗ bóng mát 1-2  ngày rồi mới đem  trồng. Trước khi trồng dùng đất bột tơi xốp trộn với phân chuồng hoai mục cho xuống 1/2 hố  rồi đặt cây giống vào giữa hố lấp đất nện chặt vừa phải cho cây đứng vững, sau đó tưới nước ngay cho cây,  nếu thấy cây bị nghiêng nên giử cho cây đứng thẳng.

 Chăm sóc:

Sau khi trồng 45-50 ngày bón thúc lần 1 bằng 0,5 – 1kg phân NPK cho mỗi gốc. Dùng rơm rạ mục hay cỏ khô phủ mặt gốc, tưới nước đều thường xuyên quanh gốc để giữ ẩm.

Sau 6 tháng trồng chuối đã có quả bón thúc lần 2 gồm 0,2 – 0,3kg đạm urê, 1 – 1,5 kg NPK, phủ tiếp một lớp rơm rạ lên mặt quanh gốc, tưới nước thường xuyên để cây nuôi quả.

Thu hoạch: Khi thấy quả tròn, nhẵn bóng thì thu hoạch có thể để tươi hoặc ủ chín để bán.

 Cây chuối có tên khoa học là Musa sapientum L., thuộc họ Musaceae. Chuối là loại cây ăn quả nhiệt đới, dễ trồng và cho sản lượng khá cao, trung bình có thể đạt năng suất 18-28 tấn/ha.

* Điều kiện sinh thái của cây chuối:

– Nhu cầu về nhiệt độ: Chuối sinh trưởng và phát triển thuận lợi trong phạm vi 25-350C. Khi nhiệt độ giảm đến 10°c thì quả chuối nhỏ, phẩm chất kém, sinh trưởng chậm. Chuối sợ rét và sương muối, khi gặp sương muối kéo dài lá chuối sẽ xám lại và héo khô. Ở Quảng Nam nói chung huyện Núi Thành nói riêng có điều kiện thời tiết khá thuận lợi nhiệt độ trung bình từ 20-25°c không có rét đậm và sương muối  cây chuối không bị các trường hợp như đã nêu. Đặc biệt cây chuối rất cần nước: Hàm lượng nước trong các bộ phận cây chuối rất cao, trong thân già 92,4%, trong rễ 96%, trong lá 82,6% và trong quả 96%. Độ bốc hơi của lá rất lớn, dưới ánh nắng mặt trời, sức tiêu hao nước của chuối từ 40-50mg/dm2/phút. Với giống chuối tiêu lùn, cần từ 15-20 lít nước/ngày tuỳ theo trời râm hay trời nắng. Chú ý vào mùa đông thường khô hanh, ít mưa nên cần có biện pháp tưới ẩm để cung cấp đủ nước cho chuối.

Hình thức nhân giống chuối chủ yếu là nhân giống vô tính. Người ta thường dùng loại chồi con để trồng. Chồi con được hình thành từ những mầm ngủ mọc trên thân ngầm của chuối, thường có 2 loại chồi con: chồi con đuôi chiên và chồi con lá rộng. Theo nhiều kinh nghiệm, loại chồi con đuôi chiên được sử dụng trồng tốt nhất. Nó được sinh ra khoảng tháng 4 đến tháng 6. Trong điều kiện đầy đủ ánh sáng, nhiệt độ thích hợp, loại chồi non này sinh ra rất nhanh, tốc độ sinh trưởng rất mạnh. Chồi này rất sung sức, khi trồng mau bén rễ, tốc độ hồi sinh nhanh, sinh trưởng mạnh và mau ra buồng, sản lượng cao.

Ngoài chồi con, ở một số nơi đã chọn củ chuối (thân ngầm) để nhân giống, ở nước ta chưa áp dụng nhiều nhưng ở Trung Quốc, các nước châu Phi, châu Mỹ đã áp dụng nhiều phương pháp trồng bằng củ chuối. Theo họ, phương pháp này có lợi ở những mặt: dễ vận chuyển, con giống mọc ra từ củ tương đối đồng đều nên khi trồng dễ chăm sóc và thu hoạch, hệ số nhân giống cũng tương đối cao vì khi ta bổ một củ ra đem trồng có thể đạt được từ 4 đến 6 cây con.

* Yêu cầu về loại đất trồng chuối:

Chuối là loại cây dễ trồng, yêu cầu về đất không quá nghiêm khắc. Tốt nhất đối với chuối là đất thịt nhẹ, đất pha cát, đất phù sa (tốt hơn cả), đất thoáng có cấu tượng tốt và độ xốp cao. Về hóa tính đất, chuối rất cần các chất khoáng trong đất như N, P, K, Ca, Mg, trong đó hai yếu tố chính là N và K. Kết quả phân tích hàm lượng các chất khoáng trong giống chuối tiêu lùn cho thấy:

Chất khoáng                                     Hàm lượng (kg/tấn quả tươi)

N                                                    1,0 – 2,0

P                                                    0,18 – 0,22

K                                                    4,3 – 4,9

Ca                                                   0,09 – 0,21

Mg                                                  0,11 – 0,32

Chuối mọc bình thường trong đất có pH từ 4,5-8, tốt nhất trong khoảng 6-7,5. Trường hợp đất quá chua hoặc quá kiềm có thể gây ra hiện tượng thiếu vi lượng trong đất, ảnh hưởng đến sinh trưởng của chuối.

* Mật độ trồng chuối thích hợp:

Mật độ trồng dày hay thưa phụ thuộc vào giống chuối. Đối với giống càng thấp cây, tán lá hẹp như chuối tiêu lùn, chuối ngự có thể trồng dày, còn các loại như chuối tiêu vừa, chuối tiêu cao, chuối lá, chuối gòn,…lại trồng thưa hơn. Ở các vườn chuối nước ta, mật độ trồng phổ biến khoảng trên dưới 1.000 cây/ha (với chuối tiêu vừa và lùn), khoảng cách trồng: 3m x 3m (1100 cây/ha) hoặc 3m x 2,5m (1.300 cây/ha). Tuy nhiên, so với các nước khác, mật độ trồng nước ta quá thưa nên năng suất thấp hơn nhiều. Theo nhiều kinh nghiệm cho biết, ở nước ta đối với giống chuối tiêu lùn, có thể trồng 20.00-2.500 cây/ha. Tuy nhiên, khi trồng mật độ dày cần phải chú ý: Chọn cây con thật đồng đều nhằm tránh hiện tượng lấn át, tranh giành dinh dưỡng và ánh sáng giữa các cây; chú ý bón phân đúng mức và phòng tránh kịp thời bệnh đốm lá cho cây; trồng dày hợp lý có tác dụng tốt cho vườn chuối, vườn sớm được che bóng, ít cỏ dại, tạo điều kiện nóng ẩm phù hợp với cây chuối và tốt hơn cả là tăng năng suất chuối.

* Bón phân, tưới nước cho chuối:

Chuối có nhu cầu nước cao, chịu hạn kém, cho nên cần lưu ý tưới nước đủ cho chuối. Một nghiên cứu đã cho biết một cây chuối có diện tích bộ lá 13,5m2 cần 50-70kg nước để thoát nước trong một phút.

* Những kinh nghiệm khác:

   Khi chuối ra hoa cần phải cắt hoa đực và hoa trung tính (tức cắt bắp chuối), có tác dụng làm quả to hơn. Vườn chuối phải trồng luân canh thì năng suất mới cao. Mùa mưa không nên đi lại, cày xới trong vườn chuối. Và quan trọng phải theo dõi sâu hại chuối và có cách phòng trừ hiệu quả.

  (Bài viết có sữ dụng một số tư liệu kỷ thuật từ trang thông tin điện tử BVCT và Agriviet)

  Vanly

15.524178

108.528507

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Bí Quyết Để Chọn Gà Chọi Đá Hay Bạn Cần Biết / 2023

Nuôi gà chọi, chơi gà chọi, đặc sản gà chọi đang là mốt hiện nay của nhiều gia đình và của xã hội.  Làm thế nào để  tuyển chọn được những con gà chọi hay không phải đơn giản. Dưới đây là một số bí quyết dành cho những người đam mê chọi gà để chọn ra được con gà chọi tốt nhất. Hãy cùng tìm hiểu nhé

1. Giống tốt

Trước hết, phải cố chọn con mái rặc nòi (gà thuần chủng), nếu cựa thì phải đúng là gà cựa và nếu đòn thì phải rặc gà đòn. Sau đó, phải xem tướng cách có đạt yêu cầu không, kế đó xem lông, xem vảy, thấy tốt mới chọn nuôi.

2. Bí quyết chọn gà đá

Về chân, ngón phải dài, khoẻ, 2 hàng vảy phải đều đặn và không có những vảy xấu. Màu vảy cả 2 chân phải sáng, thành ngoài úp vào thành trong. Nếu gà có những vảy quí lại càng nên chọn.

Gà mái nòi rặc giống, trong điều kiện nuôi và chăm sóc kỹ, đến 7,8 tháng tuổi đã bắt đầu chịu trống.

Nên chọn trống thật tốt về hình vóc, về xương cốt, vảy chân và nhất là có thành tích xuất sắc ở đấu trường cho cản mái.

Không nên chọn trống quá tơ hoặc quá già vì như thế con sẽ yếu. Lứa con đầu, nên loại bỏ vì lông thường giòn, không nuôi đá được.

Ta nên nuôi từ lứa gà thứ 2 trở đi.

Và khi thấy gà nòi mái đó ra con tốt, có tài nghề thì có thể cho đẻ đến 4, 5 năm sau…

Trứng gà nòi không to, nhưng vỏ dày hơn trứng gà tàu. Gà mái nòi rặc giống chỉ đẻ khoảng 7 trứng/lứa, tối đa là 8 trứng. Những mái nòi đẻ mỗi lứa trên 10 trứng là gà lai, nên loại bỏ.

Nên cho gà mẹ ấp trứng và nuôi con của nó. Với những mẹ nuôi con không giỏi cuối ngày ta nên cho bầy gà đó ăn thêm cho đủ no.

Muốn có gà đá tốt, người nuôi phải cố chọn được con gà nòi mái xuất sắc để nhân giống.

Ý Nghĩa Các Ký Tự Viết Tắt Thông Dụng Trên Một Số Loại Phân / 2023

Ý nghĩa các ký tự viết tắt thông dụng trên một số loại phân

OM

OM là từ viết tắt của Organic Matter, hay còn gọi là hàm lượng hữu cơ tổng số bao gồm: hợp chất mùn, các thành phần khác như protit, gluxit, lipit, lignin, tanin, sáp, nhựa, este, rượu, axit hữu cơ, anđehit,… có trong phân bón. (Nguồn:3fhitech.com.vn)

Hàm lượng OM này càng cao chứng tỏ phân bón càng tốt.

Chất hữu cơ (OM) là phần quý nhất của đất, nó không chỉ là kho dinh dưỡng cho cây trồng mà còn có thể điều tiết nhiều tính chất đất theo hướng tốt, ảnh hưởng lớn đến việc làm đất và sức sản xuất của đất.

Vai trò của chất hữu cơ lớn đến mức vấn đề chất hữu cơ của đất luôn luôn chiếm một trong những vị trí trung tâm của thổ nhưỡng học và đã dành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

Chất mùn hữu cơ trong đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của cây trồng.

Chelate và EDTA

Chelate là phức chất vòng càng (càng cua) giữa các hợp chất hữu cơ dẫn xuất từ  Aminoaxit, Polycacboxylic axit với các ion kim loại. Ion kim loại được bảo vệ tránh các yếu tố làm giảm hoạt tính như pH của đất, gốc photphat, cacsbonat, sunfua,… Phức này có độ tan hoàn toàn trong nước. Nói một cách đơn giản, chelate sẽ làm các loại phân (đặc biệt là các loại vi lượng) được cây hấp thu một cách dễ dàng tránh được hiện tượng kết tủa mà còn giúp bổ sung hữu cơ cho đất.

EDTA là một dạng chế phẩm chelate thông dụng nhất, có chứa Ethylene Diamine Tetra Acetate. Chế phẩm này tan rất nhanh và tan hoàn toàn trong nước.

Biuret hay Biurê

Là một hợp chất độc hại đối với cây trồng, nó được tạo ra trong quá trình sản xuất Phân Urê. Biuret có công thức hóa học là (NH2NH)CO2. Tỷ lệ Biuret trong phân Urê không được quá 3%.

Te

TE là viết tắt hai chữ cái đầu của hai từ tiếng Anh (Trace Elements). Trace Elements nghĩa là các nguyên tố vi lượng (kim loại vi lượng), có vai trò rất quan trọng đối với tất cả các quá trình sinh trưởng và phát triển cây trồng (đặc biệt là quá trình ra hoa và tạo phẩm chất quả) cây trồng cần một lượng rất rất nhỏ nhưng không thể thiếu.

Thiếu nguyên tố vi lượng thì cây mắc bệnh và phát triển không bình thường, song nhiều nguyên tố vi lượng lại là các kim loại nặng nếu thừa thì độc cho cả cây và người tiêu thụ sản phẩm. Các nguyên tố vi lượng thường được dùng bằng đơn vị ppm.

C/N hay C:N

C/N Là tỷ lệ phân giải chất hữu cơ, tỷ lệ C/N được sử dụng một cách rộng rãi như là một chỉ số đánh giá tốc độ phân hủy chất hữu cơ sau khi chúng được bón xuống đất.

Những chất hữu cơ có tỉ lệ C/N cao chẳng hạn 40% Carbon và 0.5% Nitơ, sẽ phân hủy chậm hơn so với những chất hữu cơ có tỉ lệ C/N thấp, chẳng hạn 40% Carbon và 4% nitơ. Hàm lượng hữu cơ trong đất sẽ tăng lên nếu chất hữu cơ bổ sung có tỉ lệ C/N cao, vì không có đủ nitơ để sự phân hủy được hữu hiệu. Hơn thế nữa, hàm lượng nitơ thay vì được khoáng hóa bổ sung, lại bị giảm đi do quá trình bất động hóa nitơ của vi khuẩn, do chất hữu cơ bổ sung không có đủ nitơ để chúng phát triển.

Chất hữu cơ bổ sung có tỉ lệ C/N thấp sẽ được phân hủy trọn vẹn và nhanh chóng với nitơ được khoáng hóa. Một số nitơ sau khi được khoáng hóa có thể được sử dụng trở lại để phân hủy những chất hữu cơ có tỉ lệ C/N cao trước đó chưa phân hủy được. Bởi vậy, hàm lượng chất hữu cơ trong môi trường nhiều khi sẽ bị giảm đi do quá trình phân hủy vật chất hữu cơ có tỉ lệ C/N thấp mới được thêm vào.

C/N = mức độ phân giải chất hữu cơ

< 8: kiệt

8 – 12: trung bình

10: cân đối

Tìm hiểu thêm:

5 lợi ích của Phân bò ủ hoai cho vườn rau – hoa – cây kiểng

Phân dê – phân dơi phân nào tốt hơn

(Tổng hợp bởi: Nguyễn Trung Trực)

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Thuật Ngữ Đá Gà Thông Dụng Sư Kê Cần Biết / 2023 trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!