Đề Xuất 2/2023 # Một Số Sâu Bệnh Hại Lan Hồ Điệp Và Biện Pháp Phòng Trừ # Top 10 Like | Vitagrowthheight.com

Đề Xuất 2/2023 # Một Số Sâu Bệnh Hại Lan Hồ Điệp Và Biện Pháp Phòng Trừ # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Một Số Sâu Bệnh Hại Lan Hồ Điệp Và Biện Pháp Phòng Trừ mới nhất trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Các biểu hiện của vườn lan hồ điệp bị virus thường thấy như: Lá có đốm trong, màu xanh không đều, có chỗ xanh nhạt, có chỗ xanh đậm. Hoa có màu không đều xen lẫn những vệt trắng, hoa nhỏ, cành ngắn. Cây thường cằn cỗi, không phát triển được.

Một số sâu bệnh hại Lan hồ điệp & biện pháp phòng trừ

A. Sâu hại

1. Rệp son (Scale insects):

Là loại rệp có vỏ màu nâu. Loài rệp này thường bám vào lá để hút nhựa và thải ra chất độc làm hại cây. Do đó phải phòng trừ thường xuyên để hạn chế khả năng sinh sản của chúng ( loài này sinh sản rất nhanh và gây hại lớn cho vườn lan). Phòng trừ bằng cách tiêu diệt bằng tay hoặc dùng các thuốc như Regent, Lannate, supracide…theo nồng độ khuyến cáo trên bao bì, phun 1 tuần 1 lần cho đến khi tiêu diệt hoàn toàn.

2. Bọ trĩ (Thrips):

Thường xuất hiện trong các giá thể có cấu tạo bằng xơ dừa, vỏ cây mục, dớn vụn hoặc do sử dụng quá nhiều các loại phân hữu cơ dưới dạng xác như: Bánh dầu, phân bò… có thể dùng các loại thuốc như Bassa nồng độ 20cc/8lit, confidor… nên phun ngừa thường xuyên 2lần/ tháng.

3. Ốc sên, nhớt:

Nó thường phá hoại ăn hết các rễ non và tiết ra những chất làm thối các chồi mới mọc. Cần rải thuốc diệt sên nhớt vào những khi có thời tiết quá ẩm.

4. Nhện đỏ (red spider mites):

Là loại côn trùng rất nhỏ, không dài hơn ½ mm, dưới kính lúp quan sát có dạng như con rệp, có 8 chân, thường có màu vàng lúc non rồi chuyển thành màu đỏ khi trưởng thành, nó thường chui trong bẹ lá của cây, nằm kín ở phần gốc lá, gây hại làm lá héo và rụng.

Xuất hiện nhiều vào mùa khô, ít hơn vào mùa mưa. Nhện đỏ sinh sôi và phát triển rất nhanh, khi phát hiện phải diệt trừ ngay nếu không cây sẽ ngừng phát triển. P

hải dùng thuốc thường xuyên và liên tục để diệt cả trưởng thành và trứng, các thuốc thường dùng là: Commite, Nissorun, Polytrin … dùng theo liều lượng khuyến cáo và xịt thường vào lúc 8-9 giờ sáng khi có nắng thì hiệu quả tiêu diệt cao.

B. Bệnh do nấm

1. Bệnh thối đen (black rot):

Thường gặp vào mùa mưa ở những vườn có độ ẩm cao hoặc tưới nước quá nhiều. Bệnh này thường gây thiệt hại nghiêm trọng: Cây thường chết nhiều và nhanh chóng, nhất là đối với cây con. Bệnh thường xuất hiện ở gốc, rễ rối và lan dần lên thân cây.

Ban đầu phát sinh ở chồi non làm chồi thối thành màu nâu, khi cầm vào thì rời khỏi thân dễ dàng, mềm nhũng và đầy nước. Nguyên nhân là do nấm Collectotrichum sp và Phytophthora sp.

nhưng phần lớn là do nấm Phytophthora sp. gây ra. Việc bón phân hoà tan không hết khi tưới cho cây sẽ làm cây bầm ngọn và làm nấm bệnh dễ gây hại. Ngoài ra trong mùa mưa, nếu tưới phân có hàm lượng đạm cao cũng là nguyên nhân gây bệnh.

Phòng trừ: Ở cây con thường dễ bị bệnh hơn, nên tách cây bị bệnh ra riêng và sử dụng thuốc ngừa cho những cây còn lại bằng cách phun hay nhúng cả cây vào dung dịch thuốc nấm. Ở cây lớn thì cắt bỏ phần bị thối, nếu thối đọt thì rút bỏ đọt và phun thuốc nấm vào. Các thuốc diệt nấm có thể sử dụng là: Kasumin, TopsinM, CuzateM8, Score,super Tilt…theo nồng độ khuyến cáo của thuốc.

2. Bệnh đốm vòng (Anthracnose):

Lá có chấm tròn màu nâu đỏ, nâu cháy rồi lan rộng ra thành nhiều vòng tròn đồng tâm, sau cùng sẽ khô cháy. Dấu vết to nhỏ tuỳ theo từng loại lan và tuỳ theo từng môi trường mà nấm phát triển, nếu mưa nhiều thì lá sẽ bị thối ngay.

Nguyên nhân là do nấm Glocosporium sp. và Collectotrichum sp. gây ra. Bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa nên phải phòng ngừa trước, thường xử lý bằng cách cắt bỏ lá bị bệnh và phun các loại thuốc như : Mancozep, Dithal, Vicaben…theo nồng độ khuyến cáo.

Hình 2 cho thấy hình ảnh các bệnh thường gặp trong Phalaenopsis: đốm nâu vi khuẩn (1), bệnh thán thư (2), thối do vi khuẩn (3) và (4) tương ứng.

3. Bệnh khô lá (Leaf blight):

Bệnh này thường gặp nhiều như bệnh đốm vòng và hai bệnh này thường phát sinh cùng một lúc nên bệnh này càng trầm trọng hơn.

Triệu chứng: Giai đoạn đầu lá khô sau đó biến thành màu nâu nhạt, thường khởi đầu bằng một chấm đen ở trên lá, có thể từ đầu lá khô dần vào hay từ gốc lá lan nhanh lên rồi khô hết cả lá.

Nguyên nhân: do nấm thuộc giống Phylostica gây ra, phát triển do bào tử và phát tán trong không khí nhờ gió.

Phòng trị: Phun thuốc Score hay Super Tilt 5ngày/lần cho đến khi cây hết bệnh.

4. Bệnh héo rễ (Wilt):

Nấm Sclerotium rolfsii gây héo rễ lan hồ điệp

Bệnh héo rễ là bệnh thông thường nhưng không kém phần quan trọng nó là trở ngại lớn cho những người trồng phong lan. Bệnh này ít xuất hiện trên Địa lan.

Triệu chứng: Rễ khô dần, cây còn nhỏ gặp bệnh này có hiện tượng lá úa vàng từ dưới lên và chết cả cây. Đối với cây đã phát triển tốt thì cây không chết nhưng rễ bị khô mục và sẽ làm cho cây chậm phát triển, nếu rễ khô nhiều thì cây càng yếu nhiều.

Nguyên nhân: Do nấm Sclerotium rolfsii gây nên, còn gọi là nấm hạch, những hạch này có thể tồn tại trong môi trường rất lâu, khi có điều kiện ẩm độ và nhiệt độ cao những hạch này phát triển thành sợi nấm và gây bệnh rất nhanh, nếu không chữa trị ngay thì có thể làm hư hết cả vườn.

Phòng trị: Có thể dùng các loại như Anvil, Sumi eight …phun vào phần gốc rễ tuần 2 lần khi bắt đầu chớm bệnh.

C. Bệnh do vi khuẩn

1. Bệnh thối mềm (Bacterial Soft and Brown Rot – Erwinia)

Triệu chứng: Từ một chấm nhỏ bắt nguồn từ một dấu bầm trên ngọn lá do giọt nước mưa quá mạnh gây ra rồi lan nhanh thành màu nâu như bị phỏng nước sôi, chỉ cần sờ tay vào một tí đã thấy dính tay, sau đó sẽ thối hết cả chồi.

Nguyên nhân: Do vi khuẩn Erwinia Carotovora gây nên, thường gặp những vườn có độ ẩm cao, chăm sóc không đầy đủ và phát triển mạnh vào mùa mưa. Thường vi khuẩn này làm hại cây do các vết thương hoặc do sâu bọ cắn, bệnh này lây lan rất mạnh, cây có thể chết sau 2-3 ngày nhiễm bệnh.

Phòng trừ: Cắt phần bị thối rồi đem cả cây ngâm vào dung dịch Kasumin 5g/lit trong vòng 10 phút hoặc dùng Agrimycin hay dung dịch 1gam thuốc tím pha trong 10 lít nước.

Ngưng tưới nước 2-3 ngày sau khi phun thuốc. Trong trường hợp bị bệnh nặng, nên lấy cây ra khỏi chậu rồi ngâm vào nước thuốc trên, sau đó chuyển sang trồng vào chậu mới. Giá đựng chậu lan bị bệnh dùng dung dịch foocmol tỉ lệ 1: 50 pha với nước và lau sạch. Sau đó cần phun xịt lại để vườn lan hoàn toàn hết bệnh.

2. Bệnh thối nâu (Bacterial Brown Spot)

Triệu chứng: Xuất hiện những chấm màu xanh đậm trên lá, tròn, lan rộng rất nhanh. Tế bào ở nơi đó biến thành màu nâu hay đen, mềm nhũng và chứa đầy nước. Nếu để lâu các vết bệnh này sẽ lan ra cả cây rất nhanh.

Nguyên nhân: Do vi khuẩn Phytomonas ? (Acidovorax (syn. / đồng danh Pseudomonas) gây ra cộng với sự tổn thương cơ học trong mùa mưa.

Phòng trừ: Hạn chế các nguyên nhân gây tổn thương cơ học cho cây trong mùa mưa, giữ cho vườn lan không bị quá ẩm. Dùng kháng sinh trong nông nghiệp như Agrimycin phun cho cả vườn và ngưng tưới nước 2-3 ngày. Có thể dùng 1gam Strep- tomycin + 2viên Tetracylin 500 hoà tan vào 1,5 lít nước để trị bệnh cho cây. Có thể dùng theo cách trị bệnh như bệnh thối mềm ở trên.

D. Bệnh do virus

Botrytis Petal Blight / Bệnh (làm) tàn cánh hoa

Các biểu hiện của vườn lan bị virus thường thấy như: Lá có đốm trong, màu xanh không đều, có chỗ xanh nhạt, có chỗ xanh đậm. Hoa có màu không đều xen lẫn những vệt trắng, hoa nhỏ, cành ngắn. Cây thường cằn cỗi, không phát triển được. Ở Cattleya thường gặp virus gây nên bệnh sọc trắng ở hoa.

Bệnh virus rất dễ lây lan qua dụng cụ tách chiết, qua các côn trùng châm hút gây hại. Nên cách ly hoàn toàn cây bị bệnh virus với những cây khác. Không có cách chữa trị nào khác ngoài việc phải đốt bỏ cây bị bệnh, khử trùng dụng cụ tách chiết và vệ sinh vườn lan.

Biện Pháp Phòng Trừ 1 Số Bệnh Hại Cây Địa Lan (Tiếp)

2.4. Bệnh thối rễ

– Đặc điểm:

+ Bệnh thối rễ còn gọi là bệnh khô héo, do khuẩn thể gây nên, ngoài địa lan còn làm hại các loại cây khác.

+ Rễ cây bị thối do một loại khuẩn hình sợi. Đây là loại vi khuẩn hại rất nặng đối với địa lan. Bệnh gây hại trên tất cả các giai đoạn của địa lan nhưng hại nặng nhất là ở cây mới trồng, tưới nước quá nhiều.

+ Bệnh thường xuất hiện sớm nếu như không bị khống chế kịp thời có thể lan đến thân giả rồi đến lá.

– Triệu chứng điển hình:

+ Trong quá trình phát triển, hình thành vết thối rữa màu nâu vòng quanh gốc cây, làm cho cây bị chết.

+ Cây to bị nhiễm bệnh sẽ suy yếu dần, đầu tiên chỉ làm cho rễ bị thối rữ sau đó làm cho cây bị chết.

+ Cũng có trường hợp lại lan đến thân giả làm cho sinh trưởng của cây bị suy thoái, thân giả và lá đều bị vàng, yếu ớt, cong queo khô héo rồi bị chết.

– Phòng trừ:

+ Để phòng trừ loại bệnh này cần chú ý đến điều kiện thông thoáng giảm số lần tưới nước.

+ Trong mùa hè nhiệt độ cao, mưa nhiều, hàng ngày cần phải chú ý quan sát phát hiện kịp thời và sử dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp.

+ Khi phát hiện cây mới bị bệnh nhẹ phải dùng thuốc trừ khuẩn để phun, cũng có thể ngâm rễ lan bằng thuốc tím hoặc tưới vào gốc từ 2-3 lần, cách 1 tuần 1 lần cho hiệu quả khá tốt.

+ Đồng thời nên thay chậu và giá thể khi thay chậu phải cắt bỏ rễ thối, sau khi thay chậu hạn chế tưới nước nhằm giảm khả năng bệnh tái phát. Khi cây bị bệnh nặng phải lập tức loại bỏ để tránh lây lan.

2.5. Bệnh khô lá

– Triệu chứng điển hình của bệnh:

+ Bệnh khô lá là loại bệnh do khuẩn hình gậy tròn gây hại hay phát sinh ở đuôi lá hoặc phía trước của phiến lá hoa địa lan.

+ Ban đầu xuất hiện những đốm nhỏ lớn rất nhanh, lúc đầu là các đốm màu nâu đen dạng giọt nước đọng rồi chuyển sang màu nâu đen, giữa có màu xám nhạt, các vết bệnh to có đốm đen nhỏ, khi nặng sẽ lan ra cả phiến lá làm cho lá bị chết khô.

– Đặc điểm phát sinh

+ Mùa xuân có mưa phùn trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm cao, thông thoáng kém, ánh sáng thiếu thì bệnh càng nặng.

– Phòng trừ bệnh:

+ Cần cắt bỏ ngay những lá khô đem tiêu hủy tập trung, đồng thời có thể phun thay đổi các loại thuốc trừ khuẩn.

2.6. Bệnh đốm tròn

– Đặc điểm:

+ Bệnh đốm tròn là loại bệnh hại khá nghiêm trọng do một loại vi khuẩn gây nên.

+ Nó qua đông bằng các nội khuẩn hoặc bào tử.

+ Bệnh phát sinh nhiều ở bộ phận giữa và dưới của lá, thòng gây hại trên các cây sinh trưởng yếu, đặc biệt các vườn lan trong điều kiện thiếu ánh sáng kéo dài, ít thông thoáng thì bệnh càng phát triển mạnh hơn.

– Triệu chứng:

+ Cây sau khi bị nhiễm bệnh ban đầu xuất hiện những đốm nhỏ màu nâu đỏ, sau lan dần thành các đốm tròn hoặc giữa hình tròn (ở mép lá) rồi thành đốm màu nâu đen, giai đoạn cuối giữa phần lớn chuyển thành màu nâu nhạt, vết bệnh khá lớn, mép lá vàng thể hiện rõ ở 2 mặt lá, khi nặng vết bệnh phủ kín lá và làm cho lá bị chết khô.

– Phòng trừ:

+ Để phòng trừ bệh đốm tròn, ngoài biện pháp cắt bỏ lá bệnh đem tiêu hủy tập trung, còn có thể dùng các loại thuốc trừ khuẩn như: Boocdo, Benlat để phun liên tục 3-4 lần cách 10-15 ngày phun 1 lần vào mùa xuân và mùa thu.

2.7. Bệnh muội đen

– Phát sinh phát triển:

+ Bệnh này xuất hiện khi vườn lan bị thiếu ánh sáng, thông thoáng kém, một số loại sâu như rệp, khi bám vào cây lan chúng tiết ra loại dịch, tạo điều kiện cho vi khuẩn cộng sinh hình thành bệnh, loại khuẩn này ít gây hại cho cây lan nhưng khi trên lá bị phủ bề lớp muội đen sẽ ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của toàn cây, làm cho cây sinh trưởng kém, giá trị thẩm mỹ bị giảm.

– Phòng trừ bệnh: tạo môi trường thông thoáng cho cây, tiêu diệt các loại sâu hại và định kỳ lau lá bệnh bằng khăn mặt ướt nhằm loại bỏ vi khuẩn bám ở đó.

2.8. Bệnh hoa lá do virut gây bệnh

– Đặc điểm:

+ Bệnh này còn gọi là bệnh virut hoại tử, bệnh hoại tử vệt đen, bệnh này do sự xâm nhiễm của virut hoa lá ngọc lan (CYMV) và virut hoa lá thuốc là (TMV) gây nên, đây là loại bệnh thường thấy xuất hiện ở hoa địa lan.

+ Loại virut này có trên 70 ký chủ thuộc họ lan, có thể tồn tại lâu với tính chất ổn định trong nhựa cây.

+ Bởi vậy khi thay chậu hoặc tách cây để trồng trong đó có những cây đã nhiễm bệnh nhựa cây của cây bệnh sẽ bám vào dụng cụ, giá thể truyền cho cây khác, rồi qau vết cắt thâm nhập vào sống trong tế bào khỏe mạnh tạo ra nguồn lây nhiễm.

– Triệu chứng:

+ Do môi trường sinh trưởng khác nhau mà xuất hiện triệu chứng bệnh không giống nhau, thông thường vết bệnh xuất hiện thành vệt dài hoại tử dưới mặt lá làm cho lá bị chết, nhưng hoa vẫn không có triệu chứng bệnh.

+ Sau khi nhiễm khoảng 3 tuần mầm non xuất hiện đốm màu vàng lộn xộn, sau đó lá càng lớn thì càng nhiều đốm và rõ hơn, tiếp đó là những đốm hoại tử màu nâu hoặc nâu xám.

+ Cũng có những giống lan sau khi nhiễm bệnh xuất hiện các vệt màu vàng hình chữ nhật, sau đó thành hoại tử màu đen lan khắp phiến lá.

– Phòng trừ bệnh:

+ Bệnh Virut hại địa lan cũng như các loại cây khác, với trình độ khoa học kỹ thuật hiện nay vẫn chưa có được biện pháp phòng trừ có hiệu quả, bởi vậy phải thường xuyên quan sát khi phát hiện có cây khả năng nên lập tức cách ly hoặc tiêu hủy. + Để phòng trừ lây nhiễm cần cải thiện vệ sinh môi trường, phun thuốc định kỳ tiêu diệt côn trùng, khử trùng dụng cụ.

+ Hiện nay thường dùng các loại dung dịch khử trùng như Foocmalin 2% và Hydroxit Natri 2%, đều cho hiệu quả khá tốt. Không được mua những cây đã nhiễm bệnh hoặc nghi có bệnh, không được dùng các bộ phận của cây có bệnh hoặc khả nghi mang bệnh để nhân gióng. Cần kiểm tra virut đối với những cây làm giống, xác định chính xác không nhiễm bệnh mới được sử dụng.

– Cách chuẩn đoán bệnh virut hoa lan

+ Hoa lan bị nhiễm virut mà sinh bệnh gọi là bệnh virut hoa lan. Hiện nay đã phát hiện ít nhất là 6 loại như: ROSV, CYSV, CYMV, CYRV, CRV, CMV thuộc họ Roty virut. Nhiễm loại virut CYMV trên lá xuất hiện đốm màu vàng nhạt theo vệt dài hoặc hoại tử, cánh hoa có vết hoại tử, cũng có lúc triệu chứng bệnh trên hoa biểu hiện không rõ rệt. Cây lan khi bị ROMV và CYMV cùng xâm nhiễm trên lá xuất hiện vân khảm.

+ Virut CMV làm cho lá bị vàng, còn cánh hoa màu nhạt và dị hình. CYRV và CRV làm cho lá có vệt màu vàng đốm hoại tử hoặc vàng từng mảng, cánh hoa màu nhạt hoặc có vết hoại tử. Còn loại poly virut sau khi xâm nhập làm cho lá xuất hiện vân khảm hoặc dị dạng và làm cho hoa bị mất màu. Trong đó phổ biến nhất là các bệnh do virut CYMV, ROSV và CMV. Sau đó cây lan bị nhiễm bệnh sẽ lan truyền tất cả các bộ phận của cây làm cho cây sinh trưởng chậm, trên lá xuất hiện các vết vàng, hoặc thành mảng mất màu lõm xuống, đôi khi xuất hiện các vết dài hoại tử. Trên hoa hình thành những vệt dài, mảng màu sắc không giống nhau, thậm chí trở thành dị dạng, hoại tử, rụng sớm, ảnh hưởng lớn đến giá trị thương phẩm của hoa. Tuy nhiên phản ứng đối với bệnh virut còn tùy thuộc vào họ lan, có một số họ lan mặc dù đã nhiễm bệnh nhưng không xuất hiện triệu chứng có rất nhiều họ lan triệu chứng bệnh ở những cây non không nặng khi cây trưởng thành mới dần dần xuất hiện triệu chứng bệnh.

+ Có một số triệu chứng bệnh do virut gây ra ở cây lan rất khó phân biệt với trạng thái dị thường do bệnh sinh lý của cây lan, do đó làm cho người ta rất khó chẩn đoán và phòng trừ bệnh do virut gây ra. Hiện nay đang có các phương pháp kiểm định bệnh virut như phương pháp sinh vật truyền thống và phương pháp dùng kính hiển vi điện tử, kính hiển vi quang học và phương pháp kháng huyết thanh. Phương pháp kiểm định sinh học trước đây có tốn nhiều công sức và thời gian. Phương pháp kính hiển vi điện tử do thiết bị quá đắt nên không phổ cập, phương pháp hiển vi quang học lại đòi hỏi phải có kinh nghiệm mới chẩn đoán chính xác. Trong các phương pháp thì phương pháp huyết thanh được dùng rộng rãi hơn, không yêu cầu nhiều kinh nghiệm cũng có thể đọc kết quả từ máy một cách khách quan chính xác, nhưng pha chế huyết thanh hơi khó, chi phí khá cao.

2.9. Bệnh tuyến trùng

Bệnh tuyến trùng địa lan là một trong những loại bệnh thường gặp do tuyến trùng gây ra.

– Đặc điểm:

+ Tuyến trùng là loại động vật nhiều tế bào ký sinh chỗ giàu dinh dưỡng, rất nhỏ kích thước 1mm thuộc dạng bán trong suốt, chỉ quan sát được tuyến trùng bằng kính hiển vi. + Thông thường con cái hình quả bí, con đực dạng sợi, ưa ẩm gây hại địa lan vào mùa mưa khi nhiệt độ cao.

+ Nguồn tuyến trùng gây bệnh đối với địa lan vẫn là tuyến trùng lưỡi liềm, nó ký sinh trên lá làm cho lá vàng hoặc đốm nâu làm cho lá bị khô héo thậm chí bị rụng, do đó làm cho cây sinh trưởng chậm, phát triển không tốt, ký sinh ở mầm hoa có thể làm cho mầm hoa bị khô héo không hình thành nụ, còn ký sinh ở rễ làm cho rễ xuất hiện những chuỗi hạt liên kết hoặc nốt sần nhỏ trong nốt sần có những hạt tròn, hoặc làm cho rễ bị tổn thương xung quanh vết thương xuất hiện rễ tơ ngắn nhỏ khiến cho bộ phận trên mặt đất sinh trưởng kém, lá nhỏ, ít lá, màu vàng, khi bị bệnh nặng có thể làm chết cả cây.

– Phòng trừ bệnh:

+ Để phòng trừ bệnh tuyến trùng ở địa lan, trước hết phải loại trừ nguồn bệnh, nhổ bỏ và tiêu hủy những cây bị nặng, những cây nhẹ cắt bỏ phần lá, rễ bị bệnh, phần còn lại ngâm vào nước nóng ở 500C trong thời gian 10 phút hoặc 550C trong thời gian 5 phút. + Làm sạch giá thể bằng thuốc sát trùng. Nếu như cần chuyển cây bệnh ở nơi khác về thì giá thể phải được xử lý trước đó 2 tuần bằng các loại thuốc khử trùng.

Ngoài những bệnh trên địa lan còn có những bệnh như bệnh muội xám, bệnh héo hoa, bệnh thối rữa vi khuẩn, bệnh vi khuẩn đốm nâu, vi khuẩn thối lá, vết bệnh đốm vòng.

Nguồn: Giáo trình cây lan

Biện Pháp Phòng Trừ 1 Số Bệnh Hại Điển Hình Cho Cây Địa Lan

1. Bệnh sinh lý ở địa lan

Triệu chứng một số bệnh sinh lý ở địa lan

Bộ phận

Triệu chứng bệnh

Nguyên nhân

Vàng lá, mầm non vừa nhỏ vừa sinh trưởng chậm, không xoăn

Thiếu đạm

Lá từ màu xanh chuyển sang vàng, bộ phận khác bình thường

Thiếu ánh sáng

Lá tím đặc biệt là lá non

Sang chậu không đúng hoặc rễ quá già

Đuôi lá bị khô, lan dần xuống dưới, nhưng không lây, nhiễm rễ trên mặt chậu chết khô

Bón nhiều phân hoặc bón không thỏa đáng

Lá cháy khô thêm đốm đen

Ánh sáng quá mạnh

Lá xoăn chuyển màu xanh xám rất nhanh, thân giả cũng dần dần xoăn lại

Nhiều nước hoặc thoát nước kém

Lá dần dần xoăn lại, lá già có màu vàng xanh, nặng thì sẽ bị rụng

Trồng quá dày, thông gió kém

Bộ rễ

Rễ bị chết khô, trên bị nhiều hơn dưới, thân lá khô héo

Bón quá nhiều phân hoặc độ ẩm của chậu quá cao

Rễ ở mầm non khỏe, còn các rễ khác đều bị chết

Tưới quá nhiều nước hoặc giá thể quá mục, thoát nước kém

Vỏ thân giả

Vỏ thân giả bị xoăn lại, sai vài tuần hoặc vài tháng lá bị vàng

Ánh sáng quá mạnh

Vỏ thân giả bị cháy từng mảng

Thiếu ánh sáng hoặc thừa đạm thiếu kali

Nụ hoa

Nụ hoa ngừng sinh trưởng

Ban đêm chiếu sáng quá mạnh, thời gian chiếu sáng không thỏa đáng, hoặc nhiệt độ ban đêm quá cao

Đài hoa

Nụ hoa bị vàng rồi dần dần chuyển sang m,àu đỏ da cam nhạt và rụng

Ngộ độc thuốc hoặc cây sinh trưởng quá yếu

Đài hoa vàng sau chuyển sang màu xám

Nhiệt độ ngày và đêm chênh lệch quá lớn hoặc ngộ độ

Đài hoa dính vào nhau, khó tách

Độ ẩm không khí quá thấp

Phần dưới cánh hoa có màu đỏ

Quá lạnh

Hoa tàn sớm, từ phòng vàng hoặc phớt hồng

Ngộ độc thuốc

Hoa dị dạng

Trong khi phân hóa mầm hoa cây bị ngộ độc hoặc nhiệt độ chênh lệch quá lớn, hoặc thúc hoa không thỏa đáng

 

2. Một số bệnh điển hình do nấm, vi khuẩn, trực khuẩn tuyến trùng gây bệnh cho địa lan

2.1. Bệnh thán thư

– Triệu chứng điển hình

+ Các bộ phận của địa lan như thân lá, vỏ thân giả, đài hoa, cánh hoa thường bị bệnh thán thư, thường thấy ở những cây chăm sóc kém.

+ Những cây tổn thương do rét, ngộ độc thuốc, cháy nắng và những cây sinh trưởng kém do bón quá nhiều đạm, giá thể quá chua hoặc trồng quá dày, rễ thiếu không khí làm cho bộ rễ phát triển kém đều dễ mắc bệnh. Khi vi khuẩn xâm nhập vào lá, vỏ thân giả, đầu tiên xuất hiện đốm đen dài trên nền màu xám hoặc xanh vàng và hình thành các bào tử trên đó.

+ Giữa bộ phận chưa bị nhiễm bệnh và bộ phận đã nhiễm bệnh có ranh giới rõ rệt,ở giai đoạn sau vết bệnh loang dần rồi liền với nhau tạo thành vết lõm hoặc từ màu đen.

– Biện pháp kỹ thuật:

+ Tăng cường chăm sóc, tạo cho cây đủ ánh sáng, thông thoáng, tránh bị tổn thương là cách phòng trừ sâu bệnh thán thư tốt nhất.

+ Mùa mưa phun nên phun ít nước, bón thêm phân hữu cơ nhằm nâng cao khả năng chống bệnh, không được bón quá nhiều đạm. Khi bị bệnh nhất thiết không được tưới nước, lập tức cắt bỏ vết bệnh và đem tiêu hủy.

2.2. Bệnh thối rữa

Đây là loại bệnh hại do trực khuẩn gây ra với sự xâm nhiễm của men ác tính và men thối rữa trong đơn bào thực vật gây nên. Do đó tùy thuộc vào vị trí sinh bệnh và triệu chứng của bệnh mà còn có thể phân chia thành các bệnh như bệnh thối đen, thối tâm, thối gốc, bệnh đổ rạp.

– Triệu chứng của bệnh thối rửa

+ Khi bệnh nặng bắt đầu từ lá non sát gốc, lúc đầu lá mất màu xanh hoặc đốm tròn như giọt nước, sau đó loang dần thành các vết thối rữa, màu nâu nhạt, rồi nâu đen, cho đến khi toàn cây bị chết khô.

+ Triệu chứng bệnh rất khó phân biệt với bệnh bạch quyển (lụa trắng) và bệnh do khuẩn lưỡi liềm gây nên.

– Đặc điểm phát sinh phát triển bệnh:

+ Ở các vùng có khí hậu ấm áp, quanh năm đều có thể phát sinh bệnh nhưng cậy bị hại nặng nhất vẫn là mùa xuân do có mưa phùn ít nắng, môi trường không thông thoáng.

+ Cây lan sau khi phát bệnh nếu như không xử lý kịp thời sẽ lan đến thân giả và bộ rễ là loại bệnh hủy hoại hoàn toàn.

+ Bệnh này có thể bị lây lan qua mưa, cũng có thể lây qua côn trùng khi di chuyển.

– Phòng trừ bệnh:

+ Tránh tưới quá nhiều nước và để vườn lan đủ ánh sáng, thông thoáng.

+ Khi mới phát bệnh nên dùng dao đã khử trùng cắt bỏ phần bị bệnh và dùng loại thuốc có chứa 70% Mn và Zn pha loãng 1/600 – 1/1.000.

2.3. Bệnh vi khuẩn thối nhũn (bệnh đốm nâu)

– Triệu chứng bệnh:

+ Bệnh vi khuẩn thối nhũn hại lá, mầm và thân già, lá. Sau khi bị nhiễm bệnh giai đoạn đầu xuất hiện các vệt như nước đọng, sau biến thành màu nâu hoặc màu đen và lan ra rất nhanh, thành những mảng thối nhũn chảy nước, bệnh lan truyền theo nước tưới hoặc nước mưa.

+ Nếu như thân già bị nhiễm bệnh cũng xuất hiện các hạt nước đọng, sau đó xuất hiện các vết bệnh màu nâu hoặc màu đen, cuối cùng mềm nhũn, thối rất nhanh.

– Đặc điểm phát sinh phát triển

+ Mầm non thường bị nhiễm bệnh vào đầu mùa hè, bệnh xâm nhập vào qua các vết đứt gẫy, sâu cắn, khi gặp mưa nhiều, môi trường không thông thoáng bệnh sẽ rất nặng và lan ra rất nhanh chỉ cần 3-5 ngày toàn bọ lá bị thối nhũn kể cả lá non cũng như lá già.

+ Bất cứ mùa nào trong năm cũng có thể phát bệnh nhưng mùa đông giảm hơn một chút, ở những bộ phận nhiễm bệnh đã bị phân giải chỉ cần va nhẹ đã có dịch chảy ra đồng thời có mùi tanh của cá, khi nhỏ vài giọt dịch đó vào chén nước thấy ngay nước đục tỏa ra xung quanh.

– Phòng trừ bệnh:

+ Chú ý môi trường khi thoát nước tốt, ánh sáng đầy đủ. Các loại thuốc thường ít tác dụng với loại bệnh này, cho nên tốt nhất là loại bỏ cây bị bệnh.

Nguồn: Giáo trình hoa lan – Trường đại học Thái Nguyên

Cách Phòng Trừ Sâu Bệnh Hại Cây Điều

Hiện nay đang vào thời điểm cây điều ra bông đậu trái, song thời tiết lạnh, sương mù làm một số bệnh gây hại trên cây điều như: thán thư, bọ xít muỗi đỏ, bọ trĩ phát triển mạnh.

Để phòng trừ các loại sâu bệnh trên, bà con nông dân nên áp dụng một số quy trình sau:

– Bệnh này do nấm Colletotrichum gloeosporioides gây ra. Loại nấm này gây hại trên lá, chồi non, bông và trái. Ban đầu bệnh xuất hiện chỉ là những chấm nhỏ màu nâu tím, sau lớn dần có màu nâu xám và xung quanh viền nâu vàng. Trên vết bệnh có những chấm đen nhỏ đó là các ổ bào tử. Các vết bệnh có thể liên kết với nhau làm lá bị cháy khô từng mảng.

Thời tiết 2-3 năm nay bất lợi nhưng một số nông dân ở xã Xuân Trường (huyện Xuân Lộc) áp dụng kỹ thuật đẩy năng suất trên 2 tấn/hécta/năm.

– Bệnh thán thư trên cây điều phát triển nhanh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, ẩm độ không khí cao. Cây chăm sóc kém, sinh trưởng yếu khi bị bệnh thường ảnh hưởng nặng hơn.

– Cách phòng bệnh hiệu quả nhất là chăm sóc tốt cho vườn cây, tỉa cành tạo tán sau thu hoạch để vườn thông thoáng. Khi phát hiện cây điều bị bệnh nặng nên dùng thuốc trừ bệnh, như: Agronil 75 WP, Bendazon 50 WP, Agrodazim 50 SL…

– Là loại sâu hại nghiêm trọng ở hầu hết các khu vực trồng điều. Bọ xít muỗi đỏ khi trưởng thành có màu nâu đỏ, đầu đen, ngực đỏ, bụng trắng. Bọ trưởng thành thường hoạt động vào sáng sớm hoặc chiều mát, những ngày âm u ít nắng hoạt động gây hại cả ngày.

– Bọ xít muỗi đỏ cái đẻ trứng rải rác hoặc từng cụm 3-4 trứng trên ngọn hoặc lá non. Trứng rất nhỏ, hình bầu dục, màu trắng trong. Một con cái đẻ khoảng 3-5 lần, mỗi lần 10 trứng. Sau một thời gian trứng nở thành ấu trùng không cánh, mình thon dài, đuôi nhọn màu hồng nhạt. Loại bọ xít này thường xuất hiện lúc cây ra lá non, nụ bông và tập trung cao nhất vào lúc cây trổ bông.

– Bọ trưởng thành và ấu trùng dùng vòi chích hút nhựa ở lá non, chồi non, hoa, trái và hạt non. Các vết chích bị chảy nhựa màu trắng trong sau tạo thành những chấm màu đen. Nhiều vết chích liên kết lại tạo thành vết sẹo, nếu bị nặng thì chồi và hoa sẽ bị chết khô, lá bị xoắn biến dạng. Hạt non bị chích trên vỏ có những đốm vảy màu nâu đen, rụng sớm hoặc giảm kích thước và phẩm chất. Nguy hại hơn là các vết chích là nơi xâm nhập gây hại của một số nấm bệnh.

– Cách phòng trừ là vệ sinh vườn điều, dọn sạch cỏ dại, hun khói vào sáng sớm hoặc chiều tối. Khi phát hiện vườn điều bị bệnh thì phun thuốc vào lúc cành non (tháng 10), lúc cây ra bông (tháng 12) và lúc trái non rộ (tháng 2, 3). Chú ý phun thuốc vào lúc sáng sớm, chiều mát mới phát huy được hiệu quả. Các loại thuốc đặc trị bọ xít muỗi đỏ là Dibamerin 10EC, Cyperan 10EC, Phiromin 50SC…

– Bọ trĩ trưởng thành rất nhỏ, dài 1- 1,5mm, đuôi nhọn màu nâu hoặc đen, cánh dạng sợi và xung quanh có nhiều lông tơ. Bọ non giống bọ trưởng thành nhưng không cánh, màu trắng sữa hoặc vàng nhạt. Bọ trĩ rất khó phát hiện nên có thể kiểm tra bằng cánh giũ chùm bông điều trên tờ giấy trắng, nếu có bọ trĩ sẽ rơi xuống.

– Bọ trĩ thường xuất hiện khi cây điều ra bông và đẻ trứng ở mặt dưới của lá. Cả ấu trùng và bọ trĩ trưởng thành tập trung ở mặt dưới lá, trên chùm bông chích hút nhựa cây làm lá biến màu và nhăn nhúm, bông điều bị cháy khô màu nâu vàng và rụng. Lưu ý, bọ trĩ thường gây hại cùng với thán thư, vì vậy nông dân nên phân biệt kỹ để có biện pháp phòng trừ bệnh hiệu quả. Bệnh này thường gây hại nặng ở những vườn điều ra bông muộn, nhất là những vườn điều xả nhị sau Tết Nguyên đán.

– Cách phòng trừ bọ trĩ là chăm sóc cho cây điều sinh trưởng tốt và ra bông sớm sẽ hạn chế được thiệt hại. Khi phát hiện cây bị nhiễm bệnh nặng, nên phun thuốc phòng trừ như: Sago – Super 20EC, Regent 800 WG, Tungsong 25SL…

– Chú ý, khi phải sử dụng thuốc phòng trừ sâu bệnh gây hại cho cây điều nên dùng các loại có độ độc thấp và phun xịt theo phương pháp “4 đúng” (đúng thuốc, đúng nồng độ và liều lượng pha thuốc theo hướng dẫn trên nhãn, đúng lúc và đúng cách).

Bạn đang đọc nội dung bài viết Một Số Sâu Bệnh Hại Lan Hồ Điệp Và Biện Pháp Phòng Trừ trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!