Đề Xuất 2/2023 # Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc #102 # Top 9 Like | Vitagrowthheight.com

Đề Xuất 2/2023 # Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc #102 # Top 9 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc #102 mới nhất trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tổng quan về hoa lan Ngọc Điểm

Hoa lan Ngọc Điểm (Rhynchostylis gigantea) hay còn gọi là Nghinh xuân lan được khá nhiều người chơi lan ưa chuộng bởi màu sắc và mùi hương khác thường hơn bao giờ hết. Với mùi thơm thoang thoảng, loài hoa lan này giúp ta gợi nhớ đến những người quá cố hay tri âm.

Lan Ngọc Điểm được phân bố ở các vùng cao nguyên Nam Trung Bộ, đặc biệt các vùng giáp biên giới Lào và Campuchia ở cao độ thấp nhưng ở vùng nóng lan Ngọc Điểm xuất hiện nhiều hơn cả. Chúng còn những tên gọi khác nhau như: lan Xuân Nghing, lan Lưỡi Bò, lan Me, lan Đại Châu.

Loài lan này được ví là loài lan của Tết cổ truyền bởi chúng luôn nở vào tháng 12 âm lịch. Nếu có một chậu lan Ngọc Điểm trong nhà ngày tết sẽ mang lại vẻ đẹp của ngôi nhà và mang lại một không khí tết an lành.

Đặc điểm sống của Nginh Xuân Lan

Lan Ngọc Điểm có khả năng chịu nóng, nhiệt độ yêu thích cho Lan từ 26 – 30o Lan được khai thác từ những vùng bên nước bạn Campuchia, Lào và ở Việt Nam như vùng Đông Nam bộ và miền cao nguyên Nam Trung Bộ, có cao độ trung bình < 600m, như các vùng Nha Trang, Bình Thuận.

Ngọc điểm là cây lan chịu hạn khá tốt, nhưng nó thích ẩm, ẩm độ càng cao, rễ càng mọc nhanh và tăng trưởng cực kỳ tốt, ẩm độ lý tưởng 40 – 70%. Tuy nhiên, Ngọc điểm là loại lan đơn thân bởi vậy giá thể nên thật thoáng. Rất đơn giản chỉ cột chặt cây lan vào 1 cây tựa đặt vào chậu khoảng 3 cục than gỗ thật lớn là đủ. Nếu không sở hữu than mang thể đặt vào miếng ngói cong hoặc trồng trực tiếp lên khúc gỗ vú sữa.

Ngọc điểm có thể trồng trên các loại giỏ bằng gỗ hay các thân cây sống hoặc chết.

Chính do cấu tạo giá thể thoáng ,bà con cần tưới nước cho Ngọc Điểm 2 lần/ngày vào mùa mưa 3 lần/ngày vào mùa khô, mùa nghỉ của lan chỉ tưới nước 1lần/ngày cho cây đủ sống.

Thời gian thực tại của cây lan Ngọc Điểm phải khởi đầu sau lúc cây tàn hoa và kéo dài cho đến khi rễ mới xuất hiện khi mùa mưa bắt đầu.

Ngọc điểm là loại lan ưa sáng 60%, ánh sáng trực tiếp dễ khiến cho cây bị bỏng lá, cường độ ánh sáng đổi thay từ 15.000 – 20.000 1m/m2. Tuy nhiên, nếu cây lan được trồng trong điều kiện quá rợp, cây tăng trưởng chậm và yếu ớt, bộ rễ vững mạnh kém, cây khó ra hoa. Nhưng sự ra hoa của lan Ngọc Điểm ko bắt buộc do ánh sáng phổ biến hay ít, nắng hay rợp, toàn bộ là do thời gian chiếu của ánh sáng trong ngày. Vì thế cây lan Ngọc Điểm chỉ nở hoa vào dịp tết âm lịch, tức vào thời điểm trong năm sở hữu ngày ngắn đêm dài.

Kỹ thuật trồng hoa lan Ngọc Điểm mang hiệu quả

Cách thiết kế nhà vườn

Việc thiết kế nhà vườn trồng lan là vô cùng quan trọng. Do chi phí xây dựng nhà lưới trồng lan lớn, nên người trồng cần phải tính toán kĩ lưỡng.

Các yếu tố quyết định đến việc làm nhà lưới trồng lan:

Hướng của nhà lưới

Bà con nên chọn hướng cho vườn hoa lan Ngọc Điểm hướng Đông hoặc Đông Nam để đảm bảo vườn lúc nào cũng tràn ngập ánh sáng, giúp cây quang hợp và phát triển tốt.

Ngoài ra bà con nên sử dụng lưới che nắng để phân tán ánh sáng và nhiệt ra khắp vườn, giúp cây được phát triển và sinh trưởng bình thường. Khi giăng lưới bà con cần chú ý phải giăng lưới thật đều, tránh chỗ bị xô lại, chỗ lại không có lưới, ảnh hưởng tới sự phát triển đồng đều của hoa lan.

Khung sườn, trụ nhà lưới

Bà con cần lưu ý trong việc xây dựng khung của nhà lưới. Lắp khung sườn chắc chắn sẽ giúp cây được đứng vững , không đổ ngã do thời tiết và nghiêng ngả trong quá trình phát triển của cây.

Xây trụ chính bằng trụ bê tông hoặc sử dụng khung sắt, có thể dùng tre gỗ để xây giàn chậu ươm, dùng lưới che nắng lợp phía trên và bao xung quanh để hạn chế ánh nắng trực tiếp làm cháy lá. Hệ thống tưới nhỏ giọt và phun sương để đảm bảo ẩm độ từng giò lan. Chiều cao của trụ trung bình 3 – 3.5 m, ở mỗi trụ có nhiều dây chằng ngang dọc để giữ vững.

Khung nhà lưới phải đảm bảo chắc chắn, cố định để chống lại các yếu tố thời tiết như mưa, bão, gió lớn, chống lại tác động của con người.

Thông thường phần khung này được làm từ chất liệu sắt cứng bao gồm: sắt tròn D90 và sắt V5.

Nhà lưới trồng lan có chiều cao trung bình 4m, khẩu độ trong khoảng 8 – 10m.

Phần khung sườn làm từ mạ kẽm hoặc thép đen có khả năng chịu lực cực tốt, chống han rỉ, bong tróc hiệu quả.

Khi làm dàn khung, bà con lưu ý trong việc đặt luôn các thanh treo giá thể, hệ thống phun sương, quạt gió và hệ thống máng xối.

Về phần mái của hệ thống nhà vườn, bà con sử dụng lưới che nắng để làm mái là chủ đạo. Thông thường hoa lan Ngọc Điểm là loại lan ưa bóng râm nên cần phải sử dụng loại lưới che nắng có độ cắt nắng là 70%.

Phần phía trên mái, bà con thiết kế kế 1 mái hở hoặc tạo ra 2 khe hở giữa 2 mái để không khí đối lưu, giảm nhiệt độ trong nhà lưới.

Giá thể trồng hoa lan

Đối với hoa lan Ngọc Điểm, có thể sử dụng nhiều loại giá thể để trồng. Ngoài việc chọn giống thì lan còn phải lựa chọn giá thể phù hợp. Bà con có thể có sử dụng một số loại giá thể sau:

Than củi

Than củi là loại giá thể tuy phổ biến và rẻ nhưng vẫn được khá nhiều người chơi lan sử dụng. Trong than củi không có mầm bệnh và khả năng hút nước, chất dinh dưỡng tốt. Vì thế than củi được sử dụng sẽ hấp thụ dinh dưỡng qua quá trình bón phân và thải ra dần qua sức hút rất mạnh của rễ lan.

Thời gian sử dụng của than củi phụ thuộc vào chất lượng than mà bà con lựa chọn, chất lượng than càng tốt thì thời gian sử dụng càng lâu. Than khi dùng nên được chặt nhỏ vừa (kích thước 1 x 3 x 2 cm), không nên chặt quá nhỏ sẽ làm cản trở hô hấp của rễ. Để tối ưu trong việc trồng lan, bạn nên chọn những loại lan ít ưa ẩm để trồng trong than. Vì than có khả năng giữ ẩm khá kém, nếu chọn giống không phù hợp rất dễ làm lan bị khô

Vỏ dừa

Vỏ dừa khô hay xơ dừa thường được xem là loại giá thể rẻ tiền và rất gần gũi với hoa lan Ngọc Điểm. Ưu điểm của loại giá thể này là khả năng hút nước và giữ ẩm tốt. Tuy nhiên đây là loại giá thể dễ mục, không thoáng và phải sử dụng thuốc ngừa sâu bệnh thường xuyên

Trước khi sử dụng,bà con nên xử lý qua với  nước vôi 5% hoặc NaOH 2%. Sau một thời gian trồng, tiến hành ngâm cả giá thể và cây vào nước sạch để rửa mặn, giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt hơn.

Dớn

Dớn là giá thể trồng lan được người trồng sử dụng nhiều nhất do chúng có khả năng cung cấp nhiều dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của cây lan Ngọc Điểm.

Dớn là thân và rễ của cây dương xỉ (Dicksonia antarctica) là một loại cây mọc nhiều ở các vùng thung lũng đồi núi Đà Lạt. Là loại cây thân đứng, rất nhiều rễ đen hoặc nâu bao trùm xung quanh thân, rễ to cỡ cây tăm cho tới chân que nhang hoặc hơn một chút, thân có thể cao từ vài mét tới vài chục mét. Đường kính gốc tính cả bộ rễ bao trùm có độ dài từ 0,5 -1m.

Trước khi sử dụng dớn cần xử lý trước khi trồng lan:

– Bước 1: Rửa thật sạch với nước lã. Rũ sạch đất, cát, lá và vỏ cây tạp. Sạch tới mức nước rửa trong veo luôn là tốt nhất.

– Bước 2: Ngâm nước vôi hoặc nước vôi trong với thời gian 1 tiếng tới 1 ngày. Mục đích chính là trung hòa axit, diệt cỏ dại, côn trùng gây hại như cuốn chiếu, sâu đất, kiến, mối, rết, ốc và sên. Hoặc bạn có thể ngâm Physan 20 nồng độ 2ml/1lít nước 1-24 tiếng.

– Bước 3: Rửa lại với thật nhiều nước lã, rửa trôi hết nước vôi đi.

– Bước 4: Ghép lan lên hoặc cho vào chậu hoặc làm tã đắp lên giò lan.

Chăm sóc và phòng trừ bệnh hại

Chúc bà con có thể trồng và chăm sóc giống hoa lan mang giá trị cao này. Lợi Dân luôn đồng hành cùng bà con nông dân.

Đôi nét về Sản phẩm Lợi Dân:

Lợi Lợi Dân là một trong những doanh nghiệp tiên phong hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng các sản phẩm phụ trợ nông nghiệp, đặc biệt là các sản phẩm phụ trợ lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao như:

Lưới chắn côn trùng, lưới UV, lưới may

Lưới bao che trái cây (Táo, Mận, Chanh Dây …)

Lưới che nắng (liên doanh, nhập khẩu)

Bạt trải diệt cỏ (màu đen, màu bạc)

Chậu nhựa trồng cây (chậu mềm, chậu cứng, chậu lan …)

Khay nhựa 12 lỗ, 15 lỗ

Dây treo trái cây, Dây giăng giàn

Các sản phẩm phụ trợ khác (Ghim, Kẹp, Sàn nhựa, Giấy bẫy …)

Mọi chi tiết Liên hệ: Hotline 028 7108 1616 hoặc Fanpage Sản Phẩm Lợi Dân

{Nguồn bài viết được tổng hợp từ nhiều trang kiến thức uy tín}

0/5

(0 Reviews)

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Bạch Đànkỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Bạch Đàn

Cây bạch đàn không phài là loại cây mọc tự nhiên trong các lâm phận Việt Nam. Loài này xuất xứ từ nước Úc được dẫn giống bằng hạt đem về trồng ở đất nước ta vào khoảng thập niên 1950 và cho thấy một số loài rất thích hợp với thổ nghi và khí hậu của Việt Nam, nhất là có thể trồng tập trung thành rừng thuần hay trồng phân tán trong đất thổ cư của nhân dân từ vùng đồng bằng cho đến các vùng bình nguyên và cao nguyên.

Tiên khởi ở Mền Nam, cây Bạch đàn mới du nhập được gọi là cây Khuynh điệp vì có lá cong cong hình lưỡi liềm . Sau đó ngành lâm nghiệp chế độ cũ đặt tên là cây Bạc hà vì lá có mùi dầu Bạc hà, nhưng xin đừng nhầm lẫn với cây rau Bạc hà (Mentha) cùng họ với cây rau Húng.

Sau ngày 30-4-1975, cây Khuynh diệp hay còn gọi là cây Bạc hà được Bộ Lâm Nghiệp đặt tên là cây Bạch đàn, có tên khoa học là Eucalyptus spp. Thuộc họ thực vật Sim ( Myrtaceae). Không phải chỉ có một cây Bạch đàn mà tại tại nước Úc nơi xuất xứ, chi eucalyptus (tức chi Bạch đàn) có ít nhất hơn 70 loài (species) mọc từ các vùng đồng bằng có độ cao ngang mực nước biển cho đến các vùng bình nguyên cao nguyên, từ các thung lũng đến đèo núi cao.

Ở Việt nam chỉ du nhập khoảng 10 loại bạch đàn như:

+ Bạch đàn đỏ: Eucalyptus camaldulensis thích hợp vùng đồng bằng + Bạch đàn trắng: Eu.alba, thích hợp vùng gần biển + Bạch đàn lá nhỏ: Eu. Tereticornis, thích hợp vùng đồi Thừa thiên – Huế + Bạch đàn liễu: Eu. Exserta, thích hợp vùng cao miền Bắc VN + Bạch đàn chanh: Eu. Citriodora, thích hợp vùng thấp, lá có chứa tinh dầu mùi sả + Bạch đàn lá bầu: Eu. globules, thích hợp vùng cao nguyên + Bạch đàn to: Eu. grandis, thích hợp vùng đất phù sa + Bạch đàn ướt: Eu. saligna, thích hợp vùng cao nguyên Ðà Lạt + Bạch đàn Mai đen: Eu. Maidenii, thích hợp vùng cao như Lâm Đồng, v.v.

Cây Bạch đàn thuộc loài đại mộc. Lá thường thon dài cong cong có màu xanh hơi mốc trắng hoặc xanh đậm chứa chất dầu Eucalyptone thơm mùi dầu tràm mà trước đây bác sĩ Bùi Kiến Tín gọi là dầu Khuynh diệp . Hoa có cuốn ngắn, trái hình bông vụ t khoản 1cm bên trong chứa nhiều hạt nhỏ màu nâu sậm.

Loài bạch đàn nói chung rất mau lớn, tán lá hẹp thưa, trồng trong vòng 5, 6 năm thì có chiều cao trên 7m và đường kính thân cây khoảng 9-10 cm. Trước năm 1975, người ta đã nhầm lẫn trồng rừng Bạch đàn tập trung thuần loại ở Miền Trung Việt Nam nhằm mục đích phủ xanh và phủ nhanh đất trống đồi trọc nhưng kinh nghiệm cho thấy, cây Bạch đàn là loài dễ trồng, ít kén đất tăng trưởng nhanh nhưng hấp thụ nhiều nước và dưỡng chất trong đất nên nếu trồng tập trung thành rừng thuần loại trên đất trống đồi trọc vô tình sẽ làm khô cằn và nghèo nàn đất đai sau một vài chu kì. Do đó, nếu cần phủ xanh đất trống đồi trọc thì chỉ nên trồng hỗn giao với loài bạch đàn bằng cách loài cây họ Ðậu như Keo lá tràm, Keo tai tượng hoặc Keo giậu để bù đắp chất đạm cho đất.

Ở Việt Nam, do gỗ bạch đàn thường đốn chặt khoảng 5-7 năm để làm cây chống trong xây dựng và làm bột giấy hay ván dăm bào gọi là ván okal (panneau de copaux) nên cho rằng bạch đàn là lọai gỗ mềm và kém chất lượng khi làm đồ mộc gia dụng, trong khi ở nước Úc, các rừng bạch đàn có tuổi trên 70-80 năm, cây cao đến 50-60 mét, đường kính trung bình đến cả mét và gỗ được sử dụng đa năng từ làm bột giấy, ván ép, ván dăm bào, trụ cột cho đến dồ mộc gia dụng, xây cất nhà cửa cũng như công trình xây dựng nặng .

Nguồn: Cục lâm nghiệp chúng tôi

Kỹ thuật trồng và chăm sóc bạch đàn

1. Kỹ thuật trồng rừng bạch đàn

– Vụ xuân: Trồng từ 15/2 đến 30/3.

– Vụ thu: Trồng từ 15/9 đến 30/10.

Để trồng rừng bạch đàn phục vụ cho nguyên liệu bột giấy, mật độ trồng 1.660cây/ha, hàng cách hàng 3m, cây cách cây 2m. Nếu nơi trồng được cày máy, kích thước hố đào 30cm x30cm x30cm. Nếu trồng rừng bằng phương pháp làm đất cục bộ, cuốc đất bằng tay, kích thước hố đào 40cm x40cm x40cm. Mỗi hố cần bón lót 2kg phân hữu cơ vi sinh và 0,2kg NPK 8-4-4. Dùng đất tầng mặt đập nhỏ, trộn đều với phân sau đó bón vào hố. Sau 15-20 ngày, gặp thời tiết thuận lợi: Mưa vừa, râm, mát, đất đủ ẩm, cần tiến hành trồng bạch đàn ngay. Sau khi trồng 25-30 ngày, phải kiểm tra rừng đã trồng, nếu phát hiện cây con bị chết hoặc đổ gãy phải vứt bỏ và kịp thời trồng dặm lại để bảo đảm tỉ lệ thành rừng 100%.

Để rừng bạch đàn sinh trưởng nhanh, cần bón thúc trong lần chăm sóc thứ 2 với lượng 0,2kg NPK/cây.

Trong 3 năm đầu, rừng non bạch đàn phải được chăm sóc bảo vệ chu đáo, phòng ngừa tránh mọi tác động gây hại. Nếu rừng được trồng vào vụ xuân, năm thứ nhất chăm sóc 3 lần, năm thứ 2 chăm sóc 2 lần, năm thứ 3 chăm sóc 1 lần. Nếu rừng trồng vào vụ thu năm thứ nhất chăm sóc 1 lần năm thứ 2 chăm sóc 3 lần, năm thứ 3 chăm sóc 2 lần. Khi chăm sóc phải cuốc xới xung quanh và vun đất tơi vào gốc cây trồng, phát bỏ dây leo cỏ dại cạnh tranh chèn ép, tỉa bỏ cành gốc.

Tổ hợp bạch đàn cao sản, bạch đàn lai là giống mới, có ưu thế trội và ưu thế lai rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng, tỉ lệ thành rừng, hiệu suất bột giấy, độ bền cơ học và độ trắng của giấy sản suất từ gỗ bạch đàn cao sản, bạch đàn lai vượt trội hơn những cây trong quần thể chọn lọc và cây bố mẹ lai.

Dùng phương pháp nhân giống sinh dưỡng hom – mô, cây hom giống hoàn toàn di truyền được các tính chất vốn có của cây mẹ lấy hom.

2. Quản lí bảo vệ rừng và sâu bệnh hại

Rừng trồng bạch đàn cần phải bảo vệ chu đáo cho đến khi thu hoạch, thường xuên tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức bảo vệ rừng trong cộng đồng dân cư, vận động các chủ trồng rừng sử dụng loại giống bạch đàn tốt, năng suất cao, có xuất xứ rõ ràng; áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để không ngừng nâng cao sản lượng rừng. Thường xuyên tuần tra phát hiện nguy cơ cháy rừng để có biện pháp ngăn chặn kịp thời .

Rừng trồng bạch đàn thường bị mối đất phá hoại. Trước khi trồng phải tiến hành dọn sạch cành nhánh, phá bỏ những tổ mối hỗn hợp, nuôi cây trong bầu PE phải được thanh trùng chu đáo. Không bón phân NPK chứa mùn cưa, không xén rễ cây hom giống bạch đàn trước khi trồng.

Khi phát hiện rừng bạch đàn bị sâu bệnh phải thông tin kịp thời đến cơ quan kỹ thuật chuyên ngành để có biện pháp xử lí kịp thời.

Rừng trồng bạch đàn thâm canh đúng kĩ thuật về chọn giống, kỹ thuật tạo cây giống, kĩ thuật trồng rừng thâm canh đồng bộ, chăm sóc bảo vệ rừng chu đáo, sau 7-8 năm có thể cho thu hoạch gỗ để làm nguyên liệu chế biến bột giấy. Năng suất tăng trưởng rừng trồng bạch đàn (hiện tại) có thể đạt từ 12-13 m3/ ha/ năm, tức là 88-104 m3/ ha sau 7-8 năm tuổi. Sau 15 năm có thể khai thác làm gỗ gia dụng, gỗ xây dựng.

Rừng trồng bạch đàn đền tuổi nên khai thác trắng, sau đó tiếp tục chăm sóc gốc chồi để tiếp tục kinh doanh các chu kỳ sản xuất tiếp theo./.

Nguồn: TT KN quốc gia và Trung tâm khuyến nông TPHCM, KS. Đức Dũng chúng tôi

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Lạc

Thời vụ: Gieo trồng trong tháng 2 dương lịch. Lượng giống: 7-8 kg lạc củ/sào.

Làm đất và lên luống: Đất cần làm tơi xốp, sạch cỏ dại, lên luống rộng 1-1,5 m, cao 25-30 cm.

Chăm sóc:

Bón phân: Bón đủ phân hữu cơ, lân và vôi. Trên đất bạc màu bón thêm kali. Lượng phân bón cho một sào gồm: phân chuồng 300-350 kg; phân đạm 3-4 kg; kali 3-4 kg; lân 15 kg; vôi bột 15 kg. Vôi bón lót 50% trước khi rạch hàng. Dùng cuốc rạch sâu 5-7 cm, hàng cách hàng 30-40 cm, hàng ngoài cách mép luống 10-15 cm. Phân hoá học gồm 15 kg supe lân + 1,5-2 kg kali +1,5-2 kg đạm, trộn đều và rải xuống rạch; phân hữu cơ bón sau cùng. Sau khi bón phân, lấp một lớp đất dày 2-3cm để hạt giống không bị tiếp xúc trực tiếp với phân; gieo 1-2 hạt/hốc, hốc cách hốc 10-15 cm. Bón thúc khi cây có 2-3 lá thật: urê 1,5-2 kg + 1,5-2 kg kali + 4 kg vôi bột. Sau khi lạc ra hoa rộ 7-10 ngày, bón nốt lượng vôi còn lại, không trộn vôi với loại phân nào khác.

Xới lần 1: Khi cây có 2-3 lá thật (sau mọc 10-12 ngày), xới phá váng, không vun để tạo độ thoáng dưới gốc, giúp cành cấp 1 phát triển.

Xới lần 2: Khi cây có 7-8 lá thật (sau mọc 30-35 ngày), trước khi ra hoa nên xới sâu 5-6 cm giữa hàng, giúp đất tơi xốp, thoáng khí, chú ý không vun gốc.

Xới lần 3: Xới và kết hợp vun gốc sau khi lạc ra hoa rộ 7-10 ngày. Chủ động phòng, trừ sâu bệnh bằng cách bón phân cân đối, chăm sóc hợp lý, áp dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp. Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sâu bệnh và phòng trừ kịp thời. Chú ý đề phòng dế, kiến, mối hại quả và bệnh héo xanh do vi khuẩn.

Báo Bắc Giang, 9/2/2011 chúng tôi

Kỹ thuật trồng và chăm sóc lạc đông

Thời vụ trồng: Thường cây lạc đông được trồng trong tháng 9 dương lịch. Nếu trồng sau tháng 9, khi cây ra hoa đâm tia và phát triển quả (khoảng 30 – 35 ngày sau trồng) sẽ gặp rét, cây lạc phát triển chậm, năng suất thấp.

Chọn giống, lượng giống: Nên dùng các giống có thời gian sinh trưởng trung bình khoảng 100 ngày như L14, L23. Lượng giống là 9 – 11 kg lạc vỏ/sào.

Kỹ thuật trồng: Nên chọn chân đất cát pha hoặc đất thịt nhẹ và dễ tưới, tiêu nước. Làm luống có bề rộng 55 – 60 cm, cao 25 – 35 cm, trồng thành hàng đôi, hàng cách hàng 30 – 35 cm, trồng hai hạt/gốc với gốc cách gốc 20 – 25 cm.

Lượng phân bón cần cho một sào lạc gồm: Phân chuồng hoai mục 250 – 300 kg, lân supe 20 kg, urê 3-4 kg, kali 3 kg, vôi bột 15 – 20 kg.

Cách bón: Bón lót phân chuồng và phân lân vào giữa hai hàng lạc khi làm đất cào luống. Sau khi lạc mọc đều khoảng 20 ngày dùng 80% lượng đạm urê hòa loãng tưới nhử kết hợp xới nông và vun nhẹ. Sau trồng khoảng 30 – 35 ngày là lạc ra hoa, lúc này nên tạo điều kiện thuận lợi nhất cho cây lạc sinh trưởng như bón hết lượng đạm còn lại và toàn bộ phân kali kết hợp tung vôi bột hả lên lá, thân, gốc và vun hoàn chỉnh luống để tạo quả ngay ở những lớp hoa đầu tiên. Chú ý lựa khi lá khô sương mới bón vôi.

Điều tiết nước và phòng sâu bệnh: Giai đoạn đầu đất còn ẩm đủ cho lạc phát triển, nếu gặp mưa gây úng cần thoát nước sớm trước 24h. Thường sau khi lạc đông có quả non thời tiết bắt đầu khô hanh cần duy trì độ ẩm đất khoảng 75% bằng cách luân phiên tưới dưỡng 10-15 ngày/lần đến trước thu hoạch 10 ngày.

Phòng sâu bệnh hại lạc đông: Nhìn chung cây lạc đông ít nhiễm sâu bệnh, tuy nhiên, giai đoạn đầu cần chủ động phòng, trừ rầy xanh chích hút gây xoăn lá bằng thuốc Regent 800 WG; Actara 20WP. Ngoài ra cần quan tâm đến bệnh đốm lá, gỉ sắt hại lá lạc ở giai đoạn phát triển quả, nếu xuất hiện bệnh thì dùng các thuốc trừ nấm phổ rộng như Al vil 5SC; Đacônil.

Báo Bắc Giang, 8/9/2010 chúng tôi

Thâm canh lạc xuân có che phủ nilon

Chọn giống

Sử dụng một số giống mới có triển vọng và cho năng suất cao như:

– Giống lạc MD7 và MD9: Do bộ môn miễn dịch Viện KHKTNN Việt Nam chọn tạo ra từ giống lạc nhập nội của Trung Quốc. Giống có thời gian sinh trưởng từ 125 – 135 ngày vụ xuân, từ 100 – 110 ngày trong vụ thu đông. Cây cao trung bình từ 35 – 50cm chịu hạn khá, năng suất trung bình 33 – 35 tạ/ha. Tỷ lệ nhân từ 68 – 70%. Đặc biệt giống MD7 có khả năng kháng được bệnh héo xanh vi khuẩn.

– Giống L14: Do Trung tâm Nghiên cứu Đậu, đỗ Viện KHKTNN Việt Nam nhập từ Trung Quốc. Giống có thời gian sinh trưởng từ 130 -140 ngày vụ xuân, từ 110 – 115 ngày vụ thu đông, là giống chịu thâm canh có tiềm năng năng suất cao, từ 38 – 40 tạ/ha. Tỷ lệ nhân cao 70 – 72%.

– Giống TQ6: Được tỉnh Hà Bắc (cũ) nhập nội từ Trung Quốc năm 1995. Giống có thời gian sinh trưởng từ 125 – 130 ngày trong vụ xuân, từ 100 – 110 ngày trong vụ thu, là giống thấp cây, chống đổ tốt, chịu hạn khá, năng suất trung bình từ 28 – 30 tạ/ha.

– Giống SĐ1: Là giống mới được nhập nội từ Trung Quốc, có tiềm năng năng suất cao 40 – 42 tạ/ha, giống có thời gian sinh trưởng 130 – 140 ngày vụ xuân, từ 110-115 ngày vụ thu đông, tỷ lệ nhân 70 – 72%.

Thời vụ gieo trồng

Lạc xuân có thể gieo trồng từ 25/1 – 25/2 hàng năm, tốt nhất gieo từ 1/2 – 10/2.

Chuẩn bị nguyên vật liệu

* Nguyên vật liệu cần thiết tính cho 1 sào Bắc bộ bao gồm:

– Định lượng giống: Từ 6 – 8kg lạc vỏ, tùy từng giống. Giống lạc nhất thiết phải phơi lại dưới nắng nhẹ (2 nắng) trước khi đem đi trồng (phơi cả củ), phơi trên nong, nia, không được phơi trên nền xi măng. Lạc được tách vỏ, chọn những hạt to, mẩy đem gieo. Có thể gieo bằng hạt hoặc ủ mầm trước khi gieo, ủ bằng nước ấm trong thời gian 8 – 10 tiếng, vớt ra, để dóc nước rồi đem ủ, khi hạt nhú mầm thì đem gieo.

– Nilon: 3,5 – 4,0kg.

– Phân bón: + Phân chuồng ủ mục: 350 – 400kg

+ Lân Supe: 18 -20kg

+ Kali clorua: 4 – 5kg

+ Đạm urê: 2,5 – 3kg

+ Vôi bột: 18 – 20kg

Làm đất bón phân

– Làm đất: Chọn đất cát pha thịt nhẹ, chủ động tưới tiêu và dễ thoát nước, đất được cày bừa kỹ, sạch cỏ dại, tỷ lệ hạt đất có đường kính, nhỏ hơn 1cm chiếm trên 70%. Lên luống rộng 90cm, cao 20cm, rãnh rộng 25cm.

– Bón phân: Sau khi lên luống tiến hành rạch 2 hàng dọc theo luống cách mép luống 30cm, rạch sâu 10cm. Bón lót toàn bộ lượng phân trên và san phẳng mặt luống. Riêng vôi bột chia thành 2 lần bón, lần thứ nhất bón 50% khi bừa phẳng, lần thứ hai bón 50% lượng còn lại khi cây lạc tắt hoa, có thể bón trực tiếp vào gốc hoặc rắc lên cây.

Mật độ, khoảng cách và phương hướng gieo hạt

– Mật độ trung bình trong vụ xuân từ 33 – 34 cây/m2, khoảng cách thích hợp 20cm x 30cm.

– Phương pháp gieo hạt: Trên luống , rạch 3 hàng dọc theo luống sâu 3 – 4cm, mỗi hàng cách nhau 30cm. Hạt được gieo ở độ sâu 3 – 4cm, gieo theo khóm, các khóm cách nhau 20cm, mỗi khóm gieo 2 hạt.

Kỹ thuật phủ nilon

Sau khi gieo hạt dùng thuốc trừ cỏ Ronstar pha 50cc/bình 10 lít, phun ướt đều trên ruộng, dùng cuốc gạt nhẹ đất ở 2 mép luống về phía rãnh, phủ nilon phẳng và kín đều trên mặt luống. Khi cây lạc nhú lên khối mặt đất dùng tay cấu nilon hoặc dùng ống bơ sữa bò, hộp chè đã tạo hình răng cưa để đục lỗ, đường kính lỗ khoảng 4 – 5cm tạo điều kiện thuận lợi cho lạc mọc lên khỏi mặt nilon.

Các biện pháp chăm sóc khác

– Gieo hạt trong điều kiện đất phải đủ ẩm, nếu đất khô có thể tưới ruộng trước khi cày hoặc tưới trực tiếp vào rạch trước khi gieo hạt, tuyệt đối không nên tưới nước vào rãnh ngay sau khi gieo vì ẩm độ đất cao làm các phân vô cơ tan nhanh sẽ gây ra hiện tượng thối hạt.

– Khi cây nhô lên khỏi mặt đất, dùng tay bới đất xung quanh gốc để lộ hai lá mầm tạo điều kiện thuận lợi cho cành cấp 1 phát triển sớm…

– Phun Boocdo 1%, Zinep 0,3%, Daconil 0,2% khi thấy lạc có biểu hiện của bệnh gỉ sắt, đốm lá.

– Dùng Anvil, Starner phun phòng bệnh héo rũ.

– Dùng Padan 95SP, Ofatox, Beettox phun khi lạc bị sâu xanh, sâu khoang, bọ trĩ, bọ phấn hay rệp muội gây hại.

Sử dụng biện pháp thủ công bắt giết, bả chua ngọt hoặc thuốc hóa học để diệt trừ sâu xám…

NNVN, 29/12/2003 – Số 259 chúng tôi

Kinh nghiệm trồng lạc đông trên đất hai lúa

1. Thời vụ để trồng lạc đông:

Đây là yêu cầu kỹ thuật cơ bản quyết định năng suất của lạc đông. Do vụ đông ở miền Bắc thường có rét từ giữa tháng 11 năm trước đến hết tháng 3 năm sau nên việc sắp xếp thời vụ trồng để khi lạc bước vào giai đoạn phát triển thân lá và nhất là khi ra hoa, đâm tia tránh được nhiệt độ thấp là rất quan trọng. Thường cây lạc đông ở đây được trồng trong tháng 9. Nếu trồng sau 30/9, khi ra hoa đâm tia và phát triển quả (khoảng 30 – 35 ngày sau trồng) gặp rét cây lạc không thể phát triển được cả về chiều dài thân lá cũng như không thể thụ phấn, thụ tinh thuận lợi nên năng suất thấp. Để trồng lạc đông trên đất cấy lúa mùa sớm, lúa mùa thường được gieo cấy trước 15/6 và dùng những giống có thời gian sinh trưởng dưới 110 ngày.

2. Chọn giống, lượng giống:

Nên dùng các giống có thời gian sinh trưởng trung bình khoảng 100 ngày như L14; L23, đây là những giống có khả năng sinh trưởng phát triển khỏe, chịu sâu bệnh khá, năng suất khá cao khoảng 25 tạ/ha/vụ, tỷ lệ nhân đạt trên 72%, đã được nhiều địa phương sử dụng làm giống chủ lực. Lượng giống dùng cho 360 m2: 9 – 11 kg lạc vỏ, tương đương khoảng 250 – 300 kg lạc vỏ/ha. Vì lạc đông cơ bản lấy giống từ nguồn lạc trồng vụ xuân, thu hoạch trong điều kiện thời tiết nóng và ẩm, hạt chứa nhiều dầu nên tỷ lệ nảy mầm thường chỉ đạt 70 – 75%. Năng suất lạc đông thường quyết định bởi mật độ, vì vậy nên kiểm tra khả năng nảy mầm của giống trước khi trồng bằng cách: Tách nhân lạc để quan sát phôi và 2 lá mầm nếu phôi còn trắng hồng, lá mầm không có biểu hiện xỉn mốc là tốt hoặc trồng thử vào cát.

3. Chọn đất, làm đất và kỹ thuật trồng:

Nên chọn chân đất cát pha, thịt nhẹ và chủ động nước, nếu chọn chân đất thịt nặng khó chăm sóc, lạc phát triển chậm.Trồng lạc đông trong tháng 9 (giai đoạn chuyển mùa) thường hay gặp mưa, đất nhão và có thể gây ngập thối giống. Nếu đất khô áp dụng làm đất kỹ như bình thường. Nếu đất ướt, để trồng kịp thời vụ có thể áp dụng biện pháp làm đất tối thiểu (cầy vỡ, không bừa) với kích thước luống: chiều rộng 55 – 60 cm, cao 25 – 35 cm, trồng thành hàng đôi (tận dụng ánh sáng hàng rìa), hàng cách hàng 30 – 35 cm, trồng hai hạt/gốc với gốc cách gốc 20 – 25 cm, sử dụng đất hun (rạc cỏ có lẫn đất để khô chất thành đống và đốt) kết hợp phân chuồng mục để đậy hạt khi trồng.

4. Đầu tư phân bón và chăm sóc lạc sau trồng:

Về phân bón/360 m2: Do điều kiện nền đất ướt, vi khuẩn cộng sinh cố định đạm trên nốt sần cây lạc ở vụ đông ít hơn ở vụ xuân, hơn nữa thời gian sinh trưởng của lạc ở vụ đông ngắn hơn vụ xuân từ 25 – 40 ngày, do vậy để lạc đông có năng suất cao thì cần đầu tư phân bón nhất là phân đạm cao hơn vụ xuân, cụ thể: Phân chuồng mục 250 – 300 kg; lân supe 20 kg; Urê 3 – 4 kg; kaly 3 kg; vôi bột 15 – 20 kg.

Cách bón cho lạc đông: Để tránh khi trồng xong gặp mưa gây tan phân nhất là đạm làm cho thối hạt giống thì nên bón phân như sau: Nếu đất khô bón lót phân chuồng, phân lân vào giữa hai hàng lạc khi làm đất cào luống. Nếu đất ướt dùng phân chuồng chộn đất hun và phân lân phủ (đậy) lên hạt giống khi trồng.

Sau khi lạc mọc đều đến sau trồng khoảng 20 ngày dùng đạm urê hòa loãng tưới nhử khi cây nhỏ kết hợp xới phá váng và vun nhẹ, lượng đạm dùng ở giai đoạn này đến 80% quy trình. Với lạc đông sau trồng khoảng 30 – 35 ngày là lạc ra hoa, nên tạo điều kiện thuận lợi nhất như bón lượng đạm còn lại, toàn bộ phân kaly kết hợp tung vôi bột hả lên toàn bộ lá, thân, gốc và vun hoàn chỉnh luống để tận dụng ngay những lớp hoa đầu tiên vì lúc này nhiệt độ và ẩm độ còn thích hợp cho quá trình phát triển thân, lá và thụ phấn, thụ tinh phát triển quả (khi bón vôi lựa khi lá khô sương).

5. Điều tiết nước và phòng sâu bệnh:

Điều tiết nước: Giai đoạn đầu đất còn ẩm đủ cho lạc phát triển, nếu gặp mưa gây úng cần thoát nước sớm trước 24h. Sau khi lạc có quả non lúc này thời tiết bắt đầu khô hạn cần duy trì độ ẩm đất khoảng 75% bằng cách luân phiên tưới dưỡng 10 – 15 ngày/lần đến trước thu hoạch 10 ngày.

Sâu bệnh hại lạc đông: Nhìn chung cây lạc đông ít nhiễm sâu bệnh, tuy nhiên giai đoạn đầu cần chủ động phòng trừ rầy xanh trích hút gây xoăn lá bằng thuốc Regent 800 VVG; Actara 20VVP. Ngoài ra cần quan tâm đến bệnh đốm lá, gỉ sắt hại lá lạc ở giai đoạn phát triển quả, nếu có dùng các thuốc trừ nấm phổ rộng như Al vil 5SC; Đacônil…

Ngô Hồng Huyên – Khuyến Nông VN, 23/07/2010 chúng tôi

Thu hoạch và bảo quản lạc giống

Để thu hoạch và bảo quản lạc giống tốt, đảm bảo được tỷ lệ nảy mầm cho vụ sau cần làm tốt các yêu cầu kỹ thuật sau:

1.Thu hoạch

Xác định thời điểm thu hoạch là một khâu quan trọng vì nó ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng hạt giống. Nên chọn ngày nắng ráo, mặt ruộng khô để thu hoạch. Lạc giống nên thu hoạch khi kiểm tra thấy lá vàng, vỏ quả cứng, chắc, ít quả lép, 70-75% quả chín sinh lí (với dạng cây phân cành liên tục tỷ lệ này còn có thể thấp hơn). Gần đến ngày thu hoạch nên nhổ mẫu kiểm tra để xác định thời gian thu thích hợp nhất.

Sau khi nhổ, cây nên rải ra thành hàng để khử lẫn lần cuối. Bất cứ cây khác dạng nào và cây có quả bị bệnh nên loại bỏ, những quả rơi rụng không nên giữ làm giống.

2. Làm khô giống

Các giống lạc trồng phổ biến hiện nay hầu hết không có tỉnh ngủ tươi nên có thể nảy mầm ngay tại ruộng hoặc khi đã thu hoạch nhưng không làm khô kịp thời. Vì vậy cần làm khô quả lạc bằng cách: Phơi ngay tại ruộng nếu trời nắng to, ruộng khô ráo hoặc treo phơi dưới hiên. Cũng có thể vặt quả ra phơi dưới sân gạch hoặc phơi trong nia, mẹt tránh phơi trên sân bê tông nhiệt độ quá cao làm ảnh hưởng đến chất lượng hạt giống. Trong trường hợp thời tiết xấu, không có nắng nên hong khô vỏ và sử dụng máy sấy làm khô giống.

3. Phương pháp bảo quản lạc giống dạng quả

Tỷ lệ nảy mầm của giống phụ thuộc rất nhiều vào quá trình bảo quản. Nếu bảo quản bằng kho lạnh 12oC thì sau 12 tháng tỷ lệ nảy mầm vẫn đạt 95,6%, màu sắc vỏ lụa ít bị biến đổi. Nếu bảo quản kín trong phòng thì sau 6 tháng tỷ lệ nảy mầm đạt 89,5%, sau 8 tháng đạt 76,1% nhưng nếu để từ 9-12 tháng thì tỷ lệ nảy mầm giảm mạnh còn trên dưới 50 %.

*Đóng gói và bảo quản

Lạc giống thật khô (khi hạt tách khỏi vỏ, lắc thấy long là được), sạch được đóng gói trong bao tải có túi nilon hoặc chum vại có lót lớp vôi dưới đáy và bịt chặt bằng nilon trên đầu chum. Cũng có thể cho lạc vào chum rồi phủ lên trên 1 ít lá xoan, sau đó buộc nilon. Trong quá trình bảo quản không được mở nilon đến tận khi chuẩn bị gieo vì hạt lạc rất dễ mất sức nảy mầm. Nhiệt độ bảo quản càng thấp thời gian bảo quản có thể kéo dài. Khi nhiệt độ <13oC làm cho men trong nhân hạt không hoạt động, ngăn chặn sự tác động của các yếu tố khác làm giảm chất lượng hạt. Lạc giống không nên giữ quá 1 năm, nên sử dụng giống chuyển vụ là tốt nhất.

*Bóc vỏ quả

Chuẩn bị gieo thì tiến hành bóc vỏ quả. Bóc vỏ lạc tốt nhất nên làm bằng tay để tránh hư hại và vỡ hạt. Trong quá trình bóc thấy hạt nhiễm bệnh, hạt bị vỡ, hạt không đúng màu sắc của giống nên loại bỏ. Trước khi đem gieo hạt giống nên sử lí bằng thuốc trừ nấm và sâu thích hợp. Nên ngâm hạt giống 8-10 tiếng, đãi chua rồi chộn trấu đem ủ. Cần kiểm tra tỷ lệ nảy mầm trước khi gieo.

Mai Thu Hương – Khuyến nông VN, 22/04/2010 chúng tôi

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Na

Quả na hay còn gọi là mãng cầu ta là một loại quả ngọt thanh rất được lòng nhiều người. Không chỉ hấp dẫn vị giác mà chúng còn chứa nhiều dinh dưỡng giúp bổ mắt, giảm thiểu tình trạng tụt đường huyết và nhất là với phụ nữ mang thai, na đặc biệt tốt vì giảm tình trạng ốm nghén, mệt mỏi.

Ở đây, chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn kỹ thuật trồng na ngay tại nhà không tốn quá nhiều công sức mà vẫn cho ra được những trái thơm ngon nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

1. Cây na – đặc điểm và một số lưu ý trước khi trồng

1.1 Đặc tính cây Na

Na là một trong những giống cây được đánh giá là có độ thích ứng rất cao và chịu được khô hạt tốt. Mùa khô kéo dài cũng không ảnh hưởng đến sự phát triển của cây. Mỗi trái na đều có vị ngọt đậm, không chua và có hương thơm dịu nhẹ rất dễ chịu.

Do đó, nhiều người lựa chọn đây là một trong những loại trái cây yêu thích nhất. Na có hai loại là na dai và na bở. Hiện tại thì người ta ưa thích na dai hơn.

Đối với na dai thì chúng khá khó tính. Đất trồng phải thoáng khí, và không có tình trạng ngập úng thì chúng mới chịu. Tuy vậy những khu vực đất kém xấu thì chúng vẫn chịu được. Chỉ là nếu đất nhiều màu nhưng bạn lại không bón phân thì chúng rất mau cằn, cho quả không được to và ít thịt hơn.

Vì thế, bạn cần chăm sóc chúng tỉ mỉ từ khi mới trồng cho tới tới khi thu hoạch xong thì lúc nào cũng sẽ có được những trái na to thơm ngọt, nhiều thịt.

Na dai không chịu được ngập úng quá lâu. Bù lại chúng có thể chịu hạn rất tốt. Kể cả với những vùng đất ven biển thì đất ở trên cao, nếu gặp mùa khô mà cây rụng hết lá nhưng khi có 1 trận mưa rào là trên cành đã thấy xuất hiện những lộc non li ti rồi. Lúc đó (vào khoảng tháng 4,5) là chúng đã có thể trổ lá và ra hoa bình thường.

Thông thường ở những lứa đầu tiên, khi lá còn yếu thì hoa na rụng khá nhiều. Nhưng khi lá đã già và cứng cáp thì tình trạng này sẽ giảm đi và đậu quả. Vào những tháng cuối vụ hoa như tháng 7 tháng 8 hoa rụng cũng nhiều mà nếu có đậu quả thì trái cũng nhỏ và không ngọt như trước.

Do đó, na là trái cây theo mùa chứ không hề có quanh năm như chuối hay dứa hay đu đủ. Do đặc tính như vậy nên hầu như trong quá trình trồng bạn không cần tưới tắm quá nhiều. Còn nếu tưới sẽ giúp vụ của na kéo dài hơn đôi chút.

Na dai chịu rét tương đối tốt. Vào mùa đông chúng sẽ tự rụng hết lá nhưng chỉ khi nhiệt độ ấm lên và xuân sang là trên cành sẽ xuất hiện ngay những lá non li ti. Do đó Na được trồng ở những vùng có khí hậu mùa đông lạnh như miền Bắc nước ta, phía Nam Trung Quốc hay Đài Loan, Bắc Ấn,…

1.2 Giá trị dinh dưỡng của quả Na

Thông thường do có độ ngọt cao nên người ta hay dùng na làm sinh tố hoặc kem. Hoặc nhiều người còn dùng chúng để thêm vào các món rau củ quả trộn. Nhưng hạt na thì không tốt cho sức khỏe nếu không muốn nói là độc. Vì thế khi ăn bạn chú ý nhả bỏ hạt đi.

Na là một trong những loại quả chứa nhiều vitamin C dù chúng không hề có vị chua chút nào. Trung bình 1 quả na cung cấp đủ lượng 1/5 vitamin C cần thiết cho cả một ngày. Cũng chính vì thế mà na được đánh giá là 1 trong những quả giúp tăng cường hệ miễn dịch cho người dùng bên cạnh các trái cây như cam, chanh, quýt,…

Không chỉ có vitamin C na còn chứa nhiều Kali, chất xơ và nhất là carbohydrates cùng nhiều vitamin cùng các khoáng chất khác giúp tăng cường dinh dưỡng cho cơ thể 1 cách tự nhiên và hiệu quả. Không những vậy na cũng không hề chứa chất béo bão hòa, hàm lượng nito trong na cũng thấp. Vì thế những người có ý định giảm cân đều có thể sử dụng na được. Tuy nhiên lượng đường trong na cao nên không thích hợp cho người bị tiểu đường.

Nếu 1 quả na có khối lượng là 312g không tính hạt và vỏ thì sẽ cung cấp cho người dùng 55g carbohydrate, 5g protein, 2g chất béo,… Còn lại là nước cùng nhiều dưỡng chất nữa.

2. Hướng dẫn trồng và chăm sóc na nhiều trái – hiệu quả

2.1 Hướng dẫn kỹ thuật trồng na

Tùy vào từng khu vực mà na được trồng ở những thời điểm khác nhau. Ở miền Bắc được trồng vào mùa xuân và mùa thu tức là tầm tháng 2, tháng 3 hoặc tháng 8, tháng 9.

Còn miền Nam thường được trồng vào tháng 4, tháng 5 tức là đầu mùa mưa.

Dù đặc tính của na đất nào cũng chịu được nhưng muốn cây cho trái ngon cũng như sai quả thì đất trồng cần tơi xốp, có nhiều lỗ thoáng khí, đủ ẩm, độ pH từ 5,5 đến 6 là được.

Nếu không có đất thì bạn có thể mua tại các cửa hàng nông nghiệp đất sạch còn nếu có thì dạn trộn đất cùng mùn hữu cơ, trùn quế,…. để đất giàu dinh dưỡng hơn. Trước khi trồng 7 đến 10 ngày bạn tiến hành bón lót vôi bột cho đất để khử chua cũng như mầm bệnh gây hại.

Trồng na có thể trồng bằng hạt hoặc cấy ghép. Tuy nhiên cấy ghép được chọn nhiều hơn vì tiết kiệm thời gian gieo trồng.

Nếu trồng bằng hạt thì vào giữ vụ bạn chọn lấy cây sai trái, khỏe mạnh nhất. Sau đó chọn tiếp từ 4 đến 5 quả to, trọng lượng tốt có mắt đều nhau rồi để chín thật kỹ.

Còn nếu chọn ghép thì gốc mẹ ghép phải là những gốc to, khỏe mạnh, ít sâu bệnh, cho trái to và đều. Mỗi trái đều nhiều thịt, mắt to, vỏ mỏng, ít hạt, thịt quả liền với nhau để dễ dàng vận chuyển. Sau đó bạn có thể ghép áp, ghép cành hay ghép mắt đều được.

Hố để trồng na đặc biệt cần sâu và rộng. Mỗi hố sâu khoảng 50cm là được. Sau khi đào hố thì bón lót 15 đến 20kg phân chuồng hoai mục cùng với nửa cân lân và 0.2 cân Kali là được.

Kích thước hố tùy vào diện tích vườn mà bạn có thể đào là 3m x 3m hoặc 3m x 4m. Chỉ cần 1 diện tích nhỏ ở góc vườn hoặc xen vào khu đất trồng cây lâu năm là được.

2.2 Hướng dẫn chăm sóc Na

– Sau khi cắt tỉa cành bạn lập tức bón phân cho cây ngay. Lấy 5 cân phân hữu cơ, 1-2 cân NPK 16-16-8 và 0.4 cân vôi bột trộn thật đều để bón cho cây. Khi bón, dùng cuốc xới tất cho thoáng rồi rải phân và vùi đất kỹ lại để tránh trôi phân đi. Sau đó liền tưới nước giữ ẩm cho cây.

– Nếu muốn na mau ra hoa hoặc thời vụ na kéo dài thì áp dụng cách tuốt lá để đạt được hiệu quả. Không nên tuốt hết luôn mà pha loãng 800g ure cùng với 8l nước rồi phun cho cây sẽ khiến lá già rụng đi. Lúc này những lá còn lại mới mang tuốt bỏ.

– Theo kinh nghiệm của những người trồng cây lâu năm thì chỉ sau 10 ngày bắt đầu từ ngày cắt tỉa trên mỗi cành sẽ xuất hiện rất nhiều chồi. Lúc này bạn chọn lấy 4,5 chồi khỏe mạnh nhất để giữ lại, còn lại thì ngắt bỏ.

Chú ý các chồi phân tán đều theo các hướng. Sau đó pha 35ml RA HOA C.A.T cùng 15g chúng tôi với 8l nước và phun sương đều trên các cành mới. Việc làm này nhằm mục đích kích thích cây ra hoa và ra hoa đồng loạt hơn.

– Vào giai đoạn đậu quả, quả non có đường kính 1cm thì tưới thêm 1kg NPK 16-16-8 cho cây để quả mau lớn. Nếu trồng để đem bán thì trong thời gian quả lớn có thể phun thêm phân bón trên lá để quả lớn đều, to và sáng mã hơn. Còn nếu trồng ăn ở nhà thì có thể không cần.

– Khi quả có đường kính tầm 2-3cm thì tiến hành tỉa bớt quả nhỏ và các cành chắn quả. Mục đích là để cây có lực nuôi những quả to và quả nhận được nhiều ánh nắng sẽ mau lớn hơn.

Sau đó phun thuốc trừ sâu bệnh hại cho cây. Sau khi phun 1 ngày thì dùng bao nilon cẩn thận bọc lấy từng quả để quả đẹp, không bị sâu tấn công, mẫu mã đẹp mắt cũng như sau này quả sẽ có giá trị cao hơn.

2.3 Thu hái

Khi na bắt đầu mở mắt và vỏ quả có chút ngả vàng thì tiến hành thu hoạch. Bạn thu hoạch thành nhiều đợt căn cứ vào tình hình chín của quả.

Khi hái chú ý cắt cả 1 đoạn cuống ngắn khoảng 1 cm rồi để thêm vài ngày nữa cho quả chín hẳn là có thể ăn được hoặc mang đi tiêu thụ.

Ở miền Bắc thời điểm Na chính vụ là tháng 6 đến tháng 9. Còn miền Nam do đặc điểm thời tiết mà na được thu hái sớm hơn chừng 15-20 ngày.

3. Lời kết

Vì vậy bạn hoàn toàn có thể tận dụng 1 góc vườn nhà mình để trồng loại trái cây thơm ngon, bổ dưỡng này theo hướng dẫn của chúng tôi đấy!

Cập nhật 30/06/2020

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc #102 trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!