Đề Xuất 3/2023 # Kỹ Thuật Canh Tác Cây Sắn (Khoai Mỳ) # Top 10 Like | Vitagrowthheight.com

Đề Xuất 3/2023 # Kỹ Thuật Canh Tác Cây Sắn (Khoai Mỳ) # Top 10 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Kỹ Thuật Canh Tác Cây Sắn (Khoai Mỳ) mới nhất trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Tuyển chọn giống sắn thích hợp với điều kiện sản xuất từng vùng

1.1. Tiêu chuẩn giông sắn năng suất cao

– Tiêu chuẩn để đánh giá và nhận biết giống sắn có tiềm năng cho năng suất cao đã được các nhà chọn giống tổng kết trên cơ sở phân tích mối quan hệ tương quan giữa một số tính trạng số lượng với năng suất và hệ số di truyền của một số tính trạng nông học.

1.2. Các giống sắn mới có năng suất bột cao

– Một số giống sắn có tiềm năng năng suất cao được trồng phổ biến tại Việt Nam: KM419, KM440, KM414, KM397, KM325, KM21-12, KM140, KM98-5, KM98-7, KM419, HL-S11, KM – 505, SM 937-26,

1.3. Kỹ thuật nhân nhanh giống sắn tốt

– Hệ số nhân giống của sắn rất thấp (1 : 10), do đó khi có được giống sắn có năng suất cao, phù hợp với điều kiện sản xuất của vùng cần phải nhân nhanh giống sắn đó. Biện pháp đơn giản dễ làm đó là nhân bằng các đoạn hom có hai mầm ngủ. Sau khi cắt các đoạn hom có hai mầm ngủ cho nảy mầm trong điều kiện ẩm độ với nhiệt độ thích hợp. Khi chồi mọc được 10 cm thì cắt chồi trồng vào dung dịch, khi chồi ra rễ đem ra trồng trên đồng ruộng. Hoặc nhân nhanh bằng nhân các mầm có lá. Phương pháp này có thể nhân được theo hệ số từ 100.000 – 300.000 lần.

Nhân giống sắn bằng hom sắn

2. Kỹ thuật trồng, chăm sóc và thu hoạch

2.1. Làm đất sắn

– Cây sắn không yêu cầu làm đất kỹ như làm đất cho các cây màu. Vì vậy, làm đất kỹ sẽ làm cho đất dễ bị phân tán, mất kết cấu và không giữ được dinh dưỡng. Trên đất bằng có thể làm đất bằng cày máy một lần, sau đó lên luống bằng cày luống là được. Trên đất dốc áp dụng kỹ thuật làm đất tối thiểu như cày thành luống theo đường đồng mức. Sau đó cuốc hốc theo mật độ dự định. Những nơi nông dân có điều kiện chỉ cần phun thuốc trừ cỏ, sau đó cuốc hốc trồng sắn, năng suất sắn tương đương như làm đất theo truyền thống nhưng hạn chế được xói mòn

 Làm đất trồng sắn

2.2.Thời vụ trồng

– Sắn là cây hàng năm có thời gian sinh trưởng dài, thời vụ trồng có các điều kiện khí hậu khác nhau có ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình sinh trưởng và năng suất củ.

– Ở châu Á nói chung có hai thời vụ chính để trồng sắn là vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa. Vụ thứ nhất thường bắt đầu trồng vào từ giữa tháng 4 đến đầu tháng 5. Vụ thứ hai trồng vào tháng 8 và tháng 9.

– Ở nước ta, các nghiên cứu về thời vụ trồng sắn ở các tỉnh miền Nam (khí hậu ấm quanh năm, có hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt) đã rút ra kinh nghiệm quý là cần chuẩn bị đất trước khi mùa mưa bắt đầu. Khi có trận mưa đầu mùa cần nhanh chóng trồng sắn. Năng suất sắn giảm rõ rệt khi trồng sắn muộn.

– Nghiên cứu về thời vụ trồng sắn ở miền Bắc nước ta cho thấy: Do điều kiện thời tiết giữa các năm thay đổi, đặc biệt là mưa xuân nên thời vụ trồng tốt nhất dao động từ tháng 2 đến tháng 3.

– Điểm cần lưu ý, ở miền Bắc thường sau khi kết thúc mưa xuân thời tiết khô hạn gần một tháng. Do đó, nếu không tranh thủ trồng sắn ngay khi bắt đầu có mưa xuân dễ bị chậm thời vụ. Khi bắt đầu mưa xuân đất không bị quá ẩm nên trồng sắn và trồng xen các cây trồng ngắn ngày như lạc, đậu…

2.3. Mật độ trồng

– Mật độ trồng sắn thích hợp được dựa trên cơ sở điều kiện đất đai, mức độ thâm canh và giống sắn. Trên đất đỏ vùng Đông Nam Bộ, mật độ trồ ng thích hợp với giống sắn KM60 và KM94 là 1,0m x 1,0m. Khi tăng mật độ đến 17780 cây/ha, năng suất giảm dần từ 26,28 – 30,10 tấn/ha xuống còn 22,28 – 27,28 tấn/ha. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và mức phân bón bón đến năng suất của giống sắn KM 94 tại Sơn Dương- Tuyên Quang cho thấy sắn trồng với mật độ 15625 cây/ha, khoảng cách trồng 0,8m x 0,8m và bón 10 tấn phân chuồng + 80 kg+ 40 kg P2O5 +80 kg K2O/ha đạt được năng suất củ tươi cao nhất

– Trong trường hợp trồng xen lạc có thể bố trí mật độ như sau: sắn trồng mật độ l,2m x 0,8m x 1 hốc. Lạc trồng xen 2-3 hàng giữa hai hàng sắn. Mật độ 0,45m x 0,1 m x 1 hạt. Nếu trồng sắn thuần, với các giống sắn có chiều cao cây trung bình, thân thẳng, không phân cành có thể áp dụng mật độ trồng l,0m x 0,8m.Ngược lại nên trồng mật độ 1,0m x 1,0m.

2.4. Kỹ thuật trồng

Đặt hom sắn

– Cách đặt hom: hiện nay trong sản xuất có 3 cách đặt hom sau:

+ Đặt hom nằm ngang mặt đất: Cách này đơn giản đỡ tốn công. Rễ có thể ra và phát triển thành củ ở cả hai đầu hom. Có thể có từ 1-3 mầm phát triển thành cây. Do đó sau trồng khoảng một tháng cần phải tỉa lại cây, chỉ để lại cây to mập và để từ 1- 2 cây/ hom. Cách đặt này cũng như đặt hom đứng có nhược điểm là hầu hết củ sắn ra tập trung ở tầng từ 0 – 20 cái. Vì thế khi vun cao cho sắn làm củ sắn ở vị trí khá sâu dưới đất ảnh hưởng đến phình to và khi thu hoạch tỷ lệ gẫy củ cao.

+ Đặt hom nghiêng một góc so với mặt đất. Đây coi là cách cải tiến của 2 cách đặt hom ở trên. Khi đặt hom cần lưu ý hướng mắt hom lên phía trên và cùng theo một hướng nhằm tạo thuận lợi cho thu hoạch. Cách đặt hom này chỉ phần hom già sẽ ra rễ là chính, vì vậy củ ra tập trung về một phía. Trên hom có thể có 1- 3 mầm, sau trồng một tháng nên tỉa định cây.

* Chú ý: Khi đặt hom không để hom tiếp xúc trực tiếp với phân bón. Nếu hom tiếp xúc với phân bón, hom dễ bị nhiễm bệnh và bị thối hom.

2.5. Kỹ thuật bón phân

– Để duy trì năng suất sắn nhất thiết phải bón phân đầy đủ và cân đối cho sắn, ví dụ như không bón Kali và có bón đạm năng suất sắn thậm chí thấp hơn công thức không bón phân. Nhất là hiện nay trồng các giống sắn mới có tiềm năng năng suất cao lại càng cần phải tăng cường đầu tư phân bón cho sắn.

– Thực tế trong sản xuất sắn của nước ta, ở các tỉnh miền Nam, nông dân chủ yếu sử dụng NPK để bón hàng năm cho sắn. Nhưng ở miền Bắc do quy mô diện tích sắn của mỗi hộ dân không lớn, nên thường bón kết hợp phân khoáng với phân chuồng. Kết quả nghiên cứu bón phân chuồng kết hợp với phân khoáng tại nhiều địa phương trong chương trình FPR (Farmer Participatory Research) cho thấy đa số nông dân lựa chọn công thức bón 1 0 tấn phân chuồng + 80N + 40P + 80K/ha.

2.6. Chăm sóc

– Dặm tỉa cây: sau khi sắn vừa mới mọc đều, cần kiểm tra để trồng dặm nhằm đảm bảo mật độ, khi làm cỏ lần một tỉa định cây Mỗi gốc sắn chỉ để lại 2 thân.

– Phòng trừ sâu, bệnh hại:

Ở nước ta có xuất hiện bênh cháy lá do vi khuẩn và sâu ăn lá, dế phá hoại ở thời kỳ nảy mầm, nấm loang thốii nhũn củ và nhện đỏ phá hoại, nhưng mức độ hại không đáng kể. Ngoài ra trong sản xuất thỉnh thoảng có xuất hiện bệnh thối khô và thói nhũn củ do nấm gây nên. Trong sản xuất cần lưu ý phòng trừ dế và nhện đỏ phá hoại.

2.7. Thu hoạch củ và bảo quản hom giống

Thu hoạch sắn và chuẩn bị hom giống cho vụ tiếp theo

– Thu hoạch củ : sau trồng từ 6 tháng trở ra có thể thu hoạch củ hầu hết các giống sắn mới đều có thời gian sinh trưởng từ 7- 10 tháng. Quan sát trên đồng ruộng khi có 2/3 số lá trên cây rụng trở lên ta có thể thu hoạch, lúc này tỷ lệ tinh bột cũng như khối lượng củ đã đạt đến tối ưu. Riêng ở miền Bắc nước ta có mùa đông lạnh và khô kéo dài, sau đó chuyển sang thời kỳ lạnh ẩm (tháng 12 và tháng l). Vì vậy, nếu thu hoạch để lát phơi khô, bảo quản cần chọn thời kỳ khô hanh để thu hoạch. Khi thu hoạch cần dùng cuốc phá lớp đất mặt rồi mới nhổ sắn sẽ giảm được tỷ lệ gãy, do độ ẩm đất thấp, đất bị chặt cứng. Cần căn cứ vào khả năng chế biến để quyết định khối lượng củ thu hoạch, vì sắn củ tươi sau thu hoạch rất dễ bị chảy nhựa.

– Bảo quản hom giống: Đối với sản xuất s ắn hiện nay chủ yếu trồng các giống sắn mới, vì thế để đảm bảo đủ hom giống tết cho vụ sau cần phải bảo quản hom đúng kỹ thuật. Khi thu hoạch củ xong, cần chọn các cây sạch vết sâu, bênh, cây to mập, đều mắt, không bị xây xát làm cây giống cho vụ sau. Nơi bảo quản là nơi râm mát, khuất gió. Từng bó hom được đặt đứng trên nền đất xốp, lớp đất xốp dày khoảng 0,2 m. Sau đó lấp đất xung quanh cao khoảng 0,2m rồi tưới ẩm và phủ kín bằng rơm rạ hoặc lá khô để hạn chế thoát hơi nước. Bảo quản cẩn thận như vậy hom giống gần như còn tươi nguyên và chất lượng hom giống đảm bảo.

Nguồn: Giáo trình cây sắn – Đại học Thái Nguyên

Kỹ Thuật Trồng Cây Sắn (Khoai Mì)

Sắn là cây trồng của vùng nhiệt đới ẩm. Sắn cần ánh sáng ngày ngắn để tạo củ. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho sắn từ 23 – 27 độ C.

Lượng mưa trung bình năm thích hợp đối với sắn trong khoảng 1.000 – 2.000 mm.

Thời vụ trồng sắn tùy thuộc nông lịch cụ thể của từng địa phương. Các giống sắn công nghiệp trồng để lấy bột thường thu hoạch 8 – 12 tháng sau trồng.

Các giống sắn ngọt trồng để ăn tươi thì có thể thu hoạch rải rác từ 6 – 9 tháng.

Ở miền Bắc Việt Nam, sắn trồng tốt nhất là trong tháng 2 vì lúc này có mưa xuân ẩm, trời bắt đầu ấm, thích hợp cho cây sinh trưởng, hình thành và phát triển củ. Trồng muộn vào tháng 4, trời đã nóng, cây sinh trưởng mạnh nhưng không đủ thời gian cho củ phát triển.

Vùng ven biển miền Trung, sắn được trồng từ tháng 1 đến tháng 2 trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao và có mưa ẩm, thu hoạch vào tháng 9, tháng 10 để né tránh bão lụt gây đổ ngã và thối củ ngoài đồng. –

Vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam Bộ, vùng đất núi Đồng bằng Sông Cửu Long, sắn được trồng vụ chính (70%) từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 5 và vụ phụ (30%) từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 11.

Tục ngữ Việt Nam có câu “nhất thì, nhì thục”. Thời vụ trồng thích hợp là rất quan trọng đối với cây sắn.

2. Chuẩn bị đất trồng khoai mì

– Kỹ thuật làm đất cần phù hợp với từng loại đất: Thông thường, đất được dọn sạch cỏ, cày 1 – 2 lần sâu 20 – 25 cm, bừa 1 – 2 lượt, sau đó lên luống hoặc trồng bằng tùy điều kiện cụ thể và tập quán canh tác của vùng. Đất có độ dốc cao nên cuốc hốc trồng trực tiếp theo đường đồng mức xen các băng cây cốt khí, anh đào, bình linh hoặc cỏ vertiver để chống xói mòn.

Đất có độ dốc thấp hoặc đất bằng nên trồng luống cách nhau 1,0 m theo đường đồng mức và chỉ nên cày sâu vừa phải để không làm đảo “tầng đế cày” lên mặt đất. Đất nâu vàng và đất đỏ nên cày sâu 25 – 30 cm để cây sinh trưởng tốt hơn và cho năng suất cao hơn. – Cày đất bằng xe cơ giới:

+ Lần 1: 3 đĩa cày ở độ sâu càng nhiều càng tốt để cho đất thông thoáng và cây mì phát triển củ

+ Lần 2: 7 đĩa sau cày lần 1 khoảng 10 ngày cho cây cỏ mọc lên sau đó cày lần 2 giúp giảm việc diệt cỏ

+ Lần 3: Tạo luống để trồng, sau khi tạo luống nên trồng mì ngay vì đất đang có độ ẩm phù hợp.

* Lưu ý: trong thời gian chuẩn bị đất nên bón phân chuồng hoặc phân hữu cơ để giúp cải thiện hữu cơ trong đất

Cần chọn giống mì phù hợp với vùng đất, yêu cầu sản xuất và thị trường tiêu thụ cũng như thời gian thu hoạch.

Mỗi 2 – 3 năm nên đổi giống hoặc mua giống nguyên chủng từ trung tâm để hạn chế việc lây lan và dịch bệnh.

3.1 Hom giống sắn và kỹ thuật trồng cây khoai mì

Chọn Giống phải khỏe, không bị bệnh (để an toàn bà con nông dân đem giống đi kiểm nghiệm tại các trung tâm có uy tín trước khi sử dụng, để tránh cho cây mì bị nhiễm bệnh bà con cần thay đổi sang giống thuần chủng sau khi trồng được 2 – 3 vụ).

+ Cây có tuổi từ 10 – 14 tháng

+ Cây không nên để quá 45 ngày và đường kính thân 1,5 – 2 cm cắt hom giống.

+ Cây giống cắt bỏ phần ngọn và gốc cây 20 cm (sử dụng phần giữa).

+ Cắt hom thẳng sẽ làm rễ mọc xung quanh và nhiều hơn.

+ Dao cắt phải sắc.

+ Chiều dài hom 20 – 30 cm.

– Xử lý hom giống:

+ Sử dụng chế phẩm ROOT 555 để xử lý hom giống giúp hạn chế lây nhiễm bệnh có sẵn trên cây giống, tăng khả năng sống của cây giống, rễ của cây giống mọc nhanh hơn, nhiều hơn và có năng suất cao hơn, cây trồng hấp thu được tốt hơn và hiệu quả hơn chất dinh dưỡng trong đất, cung cấp một số Amoni acid và vi lượng cần thiết cho cây giống, giúp cây giống phát triển tốt và có sức đề kháng cao.

+ Xử lý ngâm hom từ 20 – 25 phút trước khi trồng.

3.2 Khoảng cách và mật độ trồng cây khoai mì

– Khoảng cách và mật độ trồng sắn tuỳ theo đất với nguyên tắc chung là “đất tốt trồng thưa, đất xấu trồng dày”.

+ Đất tốt: Khoảng cách trồng 1,20 m x 0,80 m, mật độ 10.417 cây/ha.

+ Đất trung bình: Khoảng cách trồng 1,00 m x 0,80 m, mật độ 12.500 cây/ha.

+ Đất nghèo: Khoảng cách trồng 1,00 m x 0,70 m, mật độ 16.286 cây/ha.

– Khoảng cách trồng 0,80 m x 0,80 m, mật độ 15.620 cây/ha.

– Khi trồng cắm hom thẳng đứng và sâu 10 – 15cm.

– Sau khi cắm hom xong nên phun thuốc diệt cỏ ngay (đối với ruộng xuất hiện cỏ nhiều).

– Khi cây mì được 2 tháng tuổi nên sử dụng thuốc cỏ 1 lần nữa trước khi bón phân. Thời gian này rất quan trọng phải xử lý cỏ triệt để vì nếu không xử lý được cỏ sẽ tranh thức ăn và phân bón của cây mì làm cho năng suất thấp.

– Sau khi xử lý cỏ xong bón phân và giữ độ ẩm phù hợp, bón phân theo gốc cây và lấp lại đất, lượng bón 20g/ cây (liều lượng bón: 200 – 350kg/ ha).

4.Dinh dưỡng khoáng và bón phân cho cây khoai mì

– Để cây mì đạt năng suất cao Công ty Sitto Việt Nam khuyến cáo bà con nông dân áp dụng theo quy trình chăm sóc sau: + Bón lót: . PP1: Toàn bộ phân chuồng 2 tấn + 150kg super lân/ha, bón khi cày bừa hoặc bón theo hàng hay hốc trước khi trồng. . PP2: Bón phân hữu cơ chuyên dùng cho khoai mì cùng với 100kg Super lân và 250kg Sitto Phat 16-8-16-12SiO2+TE/ha + Bón thúc: Bón một lần duy nhất vào giai đoạn sau trồng 45 – 60 ngày: 300kg Sitto Phat 16-8-16-12SiO2+TE * Lưu ý: Để phù hợp việc cung cấp dinh dưỡng cho cây mì bà con cần phải mang đất đi phât tích hàm lượng dinh dưỡng để có cách bón phù hợp nhất (vì mỗi năm trên ruộng canh tác của bà con lượng dinh dưỡng trong đất luôn thay đổi).

5. Thu hoạch củ và bảo quản cây sắn:

– Thời gian thu hoạch sắn thích hợp trong khoảng 8 – 11 tháng sau trồng (tùy giống). Thu hoạch xong phải vận chuyển ngay đến cơ sở chế biến, tránh phơi nắng lâu ngoài đồng sẽ giảm chất lượng bột.

– Bà con nông dân sau khi thu hoạch xong cần trồng cây họ đậu, họ….. để cải tạo lại đất (để bổ sung lượng N và phân xanh cho đất, tăng độ tơi xốp đất cho vụ sau).

Mọi yêu cầu báo giá tư vấn sử dụng TINH BỘT SẮN – TAPIOCA STARCH, TINH BỘT BIẾN TÍNH – MODIFILED STARCH xin vui lòng liên hệ:

♦ Công Ty TNHH XNK VinaStarch (Tinh bột sắn VinaStarch)

♦ Địa chỉ: 332/56A Độc Lập, Tân Quý, Tân Phú, HCM

♦ Call: 028 668 20 800 – Hotline: 0931 489 363 – 0985 21 41 31

Nguồn: tiepthinongnghiep

Hai thẻ thay đổi nội dung bên dưới.

Hướng Dẫn Kỹ Thuật Canh Tác Khoai Tây Đạt Năng Suất Cao

1. Thời vụ trồng

* Vùng đồng bằng bắc bộ : Có 3 vụ:

– Vụ Đông Xuân sớm: Thường ở vùng trung du, trồng vào đầu tháng 10, thu hoạch vào tháng 12

– Vụ chính: ở khắp trong vùng, trồng cuối tháng 10, đầu tháng 11, thu hoạch cuối tháng 1, đầu tháng 2

– Vụ Xuân: Thường ở đồng bằng sông Hồng, trống tháng 12, thu hoạch đầu tháng 3

* Vùng núi miền Bắc:

– Vùng núi thấp <1000m: Vụ Đông trồng tháng 10, thu hoạch tháng 1. Vụ Xuân trồng tháng 12, thu hoạch cuối tháng 3

* Vùng Bắc trung bộ:  có 1 vụ là vụ Đông trồng đầu tháng 11, thu hoạch cuối tháng 1.

* Vùng Tây Nguyên (Lâm Đồng):

– Vụ mùa chính thu hoạch kéo dài trong thời gian mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5.

– Vụ mùa nghịch thu hoạch trong mùa mưa từ đầu tháng 6 đến tháng 11.

2. Chọn giống trồng

Hiện nay, trong sản xuất đang phổ biến nhiều giống khoai tây có năng suất cao phẩm chất ngon được thị trường trong nước ưa chuộng và đảm bảo tiêu chuẩn chế biến, xuất khẩu:

– Giống khoai tây Đức: giống Mariela, Solara.

– Giống khoai tây Hà Lan: giống Diamond (Diamant).

a. Giống khoai tây Đức Solara – b. Giống khoai tây Hà Lan Diamond

– Các giống khác: giống khoai tây KT3, giống VT2, khoai tây hạt lai đời G1 (giống khoai tây lai Hồng Hà 2 và Hồng Hà 7)… 

3. Chọn và làm đất trồng khoai tây

a. Chọn đất:

Khoai tây phù hợp trên đất ruộng, đất cát pha, thịt nhẹ, đất phù sa ven sông với thành phần cơ giới nhẹ thoát nước và giữ ẩm tốt.

b. Làm đất:

Cày bừa, làm đất nhỏ vơ sạch cỏ dại, tàn dư cây trồng vụ trước. Lên luống đơn, luống rộng 0,6-0,7 m (trồng 1 hàng) hoặc lên luống kép, luống rộng 1,2 m (trồng 2 hàng).

Làm đất trồng khoai tây

4. Chuẩn bị củ khoai tây giống

a. Cách chuẩn bị củ khoai tây giống bằng phương pháp bổ củ:

Khoai tây có thể trồng nguyên cả củ hoặc trồng bằng miếng bổ. Có 2 cách bổ, bổ củ theo cách truyền thống chấm xi măng khô, cách này đơn giản nhưng củ giống dễ bị thối nếu sau khi trồng gặp mưa. Bổ củ theo phương pháp cắt dính tuy có tốn công hơn nhưng tỷ lệ củ giống bị thối sau khi trồng ít hơn nhiều.

Khoai tây có thể trồng cả củ hoặc trồng bằng miếng bổ

b. Tiêu chuẩn củ khoai tây giống:

Yêu cầu củ giống đem cắt phải có độ trẻ về sinh lý, thường là những củ giống từ nguồn nhập khẩu hoặc củ giống được bảo quản trong kho lạnh ở 40C. Củ giống phải có khối lượng ít nhất 50gr trở lên, đã hết thời gian ngủ nghỉ (đã phát mầm).

Củ giống khoai tây đạt tiêu chuẩn

c. Phương pháp bổ củ chấm xi măng:

Trước khi trồng 1-2 ngày tiến hành bổ củ giống, chỉ bổ những củ giống to có nhiều mầm. Tốt nhất bổ theo chiều dọc củ để chất dinh dưỡng được phân bố đều trên các miếng bổ tạo độ đồng đều của cây sau khi trồng. Mỗi miếng bổ phải có ít nhất từ 1-2 mầm. Dao cắt phải mỏng, sắc để tránh gây dập nát tế bào nơi vết cắt. Cần nhúng dao vào nước xà phòng đặc sau mỗi lần bổ 1-2 củ để tránh lây bệnh. Chấm mặt cắt của miếng khoai tây vào xi măng khô rồi xếp 1 lượt lên giàn.

Bổ củ giống khoai tây theo chiều dọc để phân bổ đều dinh dưỡng

d. Phương pháp cắt dính:

- Cắt dọc củ theo chiều của mầm đỉnh để tiết diện miếng cắt là nhỏ nhất. Miếng cắt tuyệt đối không được cắt rời mà phải còn dính với nhau khoảng 2-3 mm, không được bẻ rời sau đó. Cắt củ xong phải áp ngay 2 miếng cắt còn dính liền lại xếp vào khay hoặc rổ rá. Tuyệt đối không được cho vào bao hoặc túi ẩm. Không cần xử lý củ giống sau cắt với bất kỳ hóa chất nào. Mỗi củ giống chỉ nên căt đôi không nên cắt 3 hoặc 4. Sau khi cắt, củ giống phải được bảo quản trong điều kiện khô ráo, thoáng khí, nhiệt độ từ 18-200C. Thời gian để miếng cắt lành lại vết thương khoảng từ 7-10 ngày. Trước khi trồng 1-2 ngày nên tách rời hẳn miếng cắt để vết thương lành hoàn toàn.

5. Bí quyết cắt khoai tây để trồng cho năng suất cao

– Bắt đầu bằng cách giữ củ có cuống xuống. Trước tiên loại bỏ một phần hình nón quanh cuống. Sau đó, bắt đầu từ khoảng 1/2 inch trên một mắt, cắt về phía cuống, đáp gốc với con dao trong mỗi lần cắt. Để lại một hoặc hai mắt trông khỏe mạnh trong mỗi phần.

– Sau khi phơi khô trong vài ngày để phát triển một lớp bảo vệ, bạn đã sẵn sàng để trồng. Đào một rãnh sâu 4-inch, bón phân, đặt hom (mắt bên lên) một chân ngoài, và che phủ với đất.

a. Mỗi mắt được nuôi bằng một sợi tĩnh mạch – b. Tách mặt từ củ khoai tây còn nguyên – c. Khoảng cách 1/2 inch trên 1 mắt

6. Cách trồng khoai tây

* Cách trồng khoai tây (bổ củ):

– Rạch hàng trên mặt luống, rải toàn bộ phân chuồng mục và lân vào rạch trộn đều với đất trong rạch. Đặt củ giống hay miếng bổ vào rạch, chú ý tuyệt đối không để củ giống hoặc miếng bổ tiếp xúc trực tiếp với phân. Khoảng cách giữa củ giống (hoặc miếng bổ) 25-30cm.

a. Rạch hàng và đặt củ giống – b. Đậy rơm, tưới rảnh cho ruộng khoai

* Trồng khoai tây nguyên củ:

- Đặt củ giống so le nhau, nằm ngang và mầm khoai hướng lên trên (không để củ giống tiếp xúc với phân). Dùng đất bột, mùn, trấu hoặc phân chuồng hoai mục phủ kín củ giống một lớp mỏng; sau đó dùng rơm rạ phủ lên toàn bộ mặt luống khoảng 7 – 10 cm.

– Tưới nước ướt đều lên mặt luống làm ẩm rơm rạ và đất; nếu độ ẩm đất còn cao không cần tưới. Có thể dùng đất đè lên rơm rạ tránh rơm rạ bay nếu gió mạnh

a. Đặt củ giống nằm ngang và củ khoai hướng lên trên – b. Dùng rơm rạ phủ lên toàn bộ mặt luống – c. Nếu độ ẩm đất cao không cần tưới, cây sẽ mọc đều

7. Kỹ thuật chăm sóc, xới xáo, làm cỏ ,vun gốc khoai tây

– Chăm sóc đợt 1: Khi cây mọc lên khỏi mặt đất 7-10 ngày, cao khoảng 15-20 cm thì xới nhẹ, làm sạch cỏ, bón thúc đợt 1 rồi vun luống, khi bón thúc thì bón vào mép luống hoặc giữa 2 khóm khoai, không bón trực tiếp vào gốc cây làm cây chết. kết hợp tỉa cây để lại 2-3 mầm chính.

– Chăm sóc đợt 2: Cách đợt 1 từ 15-20 ngày khi đã qua tưới nước lần 2 thì tiến hành xới nhẹ, làm cỏ và vun luống lần cuối, lấy đất ở rãnh vun cho luống to và cao, dày cố định luôn, vun luống không đủ đất sẽ làm vỏ củ bị xanh hoặc mọc thành cây. Vét đất ở rãnh để khi ruộng bị nước sẽ nhanh khô.

Xới xáo,  làm cỏ vun gốc cho cây khoai tấy

8. Tưới nước cho cây khoai tây

Trong 60-70 ngày đầu khoai rất cần nước, thiếu nước năng suất khoai giảm, ruộng khoai lúc khô, lúc ẩm làm cho củ bị nứt, giảm chất lượng củ.

– Tưới rảnh: dẫn nước hoặc tát vào rãnh để thấm nước vào luống khoai. Từ khi trồng đến khi khoai 60-70 ngày thường có 3 lần tưới nước, tưới đủ ẩm không để đọng nước trong ruộng khoai. Tưới phải kết hợp với xới xáo, làm cỏ, bón phân thúc.

+ Tưới lần 1: khi khoai mọc cao khoảng 20-25 cm, đất khô thì tưới nước, đất cát pha cho ngập ½ luống, mỗi lần chỉ cho vào 3-4 rảnh, khi đủ nước thì cho tiếp vào 3-4 rảnh khác, lấp đầy rãnh củ, tháo đầu rãnh mới để nước thêm đều vào luống; với đất thịt nhẹ cho ngập 1/3 luống, cho nước vào cùng 1 lúc nhiều rãnh hơn.

+ Tưới lần 2: khoảng 2-3 tuần sau lần 1, đất cát pha cho nước ngập 2/3 luống, đất thịt nhẹ cho ngập ½ luống làm như lần 1.

+ Tưới lần 3: khi đất khô, khoảng 2-3 tuần sau lần 2, làm như lần 2.

– Tưới gánh: Không tưới nước trực tiếp vào gốc khoai mà tưới xung quanh gốc. khi kết hợp tưới với phân đạm và kali phải chú ý lượng phân hòa với nước,thùng 10-12 lít chỉ pha 1 nắm nhỏ là vừa. Không kết hợp tưới nước với phân chuồng vì có nhiều nấm gây thối củ.

Chú ý: Trước khi thu hoạch khoảng 2 tuần, cần đất khô ráo tuyệt đối.

a. Tưới rãnh cho ruộng khoai tây sau trồng – b. Tưới rãnh cho ruộng khoai tây giai đoạn tạo củ

9. Bón phân cho cây khoai tây

- Lượng phân bón (ha): 20-25 tấn phân chuồng 250-300 kg Urea 150-200 kg KCl

* Đối với củ giống không bổ:

– Bón lót: 100% phân chuồng + 100% Lân và ½ Urea + ½ KCl

– Bón thúc (18-22 NSKT) : ½ Urea + ½  KCl.

* Đối với củ giống bổ:

– Bón lót: 100% phân chuồng + 100% Lân

– Bón thúc lần 1 (cây mọc cao 15-20 cm): ½ Urea + ½ KCl (kết hợp vun xới nhẹ) Bón thúc lần 2 (10-15 ngày sau lần 1): ½ Urea + ½ KCl

– Cần thực hiện tưới rãnh nhẹ để khoai tây nhanh mọc trong trường hợp đất bị khô. Thực hiện vun xới 2 lần kết hợp bón thúc.

– Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho khoai tây, tốt nhất bằng biện pháp tưới rãnh.

Bón phân cho cây khoai tây

10. Thu hoạch khoai tây

- Thu hoạch sớm hơn 5-7 ngày, khi thấy lá vàng, cây rạc dần là có thể thu hoạch được, sau khi khoai được 60-70 ngày tuyệt đối không cho nước vào ruộng khoai, nếu mưa thì phải tháo kiệt nước, không cắt lá cho lơn hoặc trâu bò ăn, thu hoạch vào ngày khô ráo, trước khi thu hoạch 10 ngày nên cắt cách gốc 15-20 cm, củ sẽ không bị xây xát mà mã củ đẹp, khi thu hoạch nên phân loại ngay tại đồng ruộng, củ to và nhỏ riêng rẽ, để nhẹ nhàng cho vào sọt.

a. Thu hoạch khoai tây – b. Khoai tây càn phân loại sau khi thu hoạch

Bảo quản: có thể cho vào kho lạnh hoặc để tán xạ kho Bảo ôn.

Nguồn: Syngenta.com.vn

Kỹ Thuật Canh Tác Ớt

1. Các giống ớt

Hiện nay nhiều nơi vẫn canh tác giống địa phương là chính. Giống trồng phổ biến ở Đồng bằng Sông Cửu Long có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miền Trung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi. Ngoài ra Viện Nghiên Cứu Nông nghiệp Hà Nội công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa (1987), điều này chứng minh nguồn giống ớt phong phú, đa dạng chưa được biết đến ở nước ta. Tuy nhiên, giống địa phương bị lai tạp nên thoái hóa, quần thể không đồng đều và cho năng suất kém, trong khi các giống F1 có khả năng cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao nên bắt đầu được ưa chuộng và đang thay thế dần các giống địa phương.

1.1. Giống lai F1:

- Giống Jet 18 (Công ty Syngenta sản xuất): Cây sinh trưởng khỏe, phân cành và ra hoa sớm, đậu quả tập trung, thu hoạch từ 75-80 ngày sau khi trồng; năng suất cao, ở điều kiện chăm sóc tốt có thể đạt 15-20 tấn/ha. Dạng trái dài 6-7cm, đẹp, đều, thẳng, cứng, bóng láng, màu sắc đỏ tươi được thị trường ưa chuộng. Jet18 chống chịu tốt với nhiều sâu bệnh hại quan trọng.

– Giống Chili (Công ty Trang Nông phân phối): Trái to, dài 12-13 cm, đường kính trái 1,2-1,4cm; trọng lượng trung bình trái 15-16 gram, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, cứng, cay trung bình, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Cây cao trung bình 75-85 cm, sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt và cho năng suất cao.

- Giống số 20 (Công ty Giống Miền Nam phân phối): sinh trưởng mạnh, phân tán lớn, ra nhiều hoa, dễ đậu trái, bắt đầu cho thu hoạch 85-90 ngày sau khi cấy, cho thu hoạch dài ngày và chống chịu tốt bệnh virus. Trái ớt chỉ địa dài 14-16 cm, thẳng, ít cay,

trái cứng nên giữ được lâu sau thu hoạch, năng suất 2-3 tấn/1.000m2.

– Giống TN 16 (Công ty Trang Nông phân phối): Cho thu hoạch 70-75 ngày sau khi gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4-5 cm, đường kính 0,5-0,6cm, trọng lượng trung bình 3-4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh trưởng tốt quanh năm.

– Giống Hiểm lai 207 (Công ty Hai Mũi Tên Đỏ phân phối): Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-3 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/cây, chống chịu khá bệnh thán thư.

1.2. Giống địa phương:

– Giống Sừng Trâu: Bắt đầu cho thu hoạch 60-80 ngày sau khi cấy. Trái màu đỏ khi chín, dài 12-15 cm, hơi cong ở đầu, hướng xuống. Năng suất 8-10 tấn/ha, dễ nhiễm bệnh virus và thán thư trên trái.

– Giống Chỉ Thiên: Bắt đầu cho trái 85-90 ngày sau khi cấy. Trái thẳng, bóng láng, dài 7-10 cm, hướng lên, năng suất tương đương với ớt Sừng nhưng trái cay hơn nên được ưa chuộng hơn.

– Giống Ớt Hiểm: Cây cao, trổ hoa và cho trái chậm hơn 2 giống trên nhưng cho thu hoạch dài ngày hơn nhờ chống chịu bệnh tốt. Trái nhỏ 3-4 cm nên thu hoạch tốn công, trái cay và kháng bệnh đén trái nên trồng được trong mùa mưa.

Các giống ớt phổ biến ở Việt Nam

2. Thời vụ trồng cây ớt

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, ớt có thể trồng quanh năm, tuy nhiên, trong sản xuất thường canh tác ớt vào các thời vụ sau:

– Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12-1 dl và kéo dài đến tháng 4-5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên đất bờ líp cao không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài, tuy nhiên, diện tích canh tác vụ này không nhiều.

– Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10-11 dl, trồng tháng 11-12 dl, bắt đầu thu hoạch tháng 2-3 dl. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh.

– Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5 dl trồng tháng 5-6 dl thu hoạch 8-9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn giống kháng bệnh thán thư.

Các vụ ớt chính trong năm

3. Chuẩn bị cây ớt con

Lượng hạt giống gieo đủ cấy cho 1.000m2 từ 15-25 gram (150-160 hạt/g). Diện tích gieo ương cây con là 250 m2. Chọn đất cao ráo hay làm giàn cách mặt đất 0,5-1 m, lót phên tre hay lá chuối rồi đổ lên trên một lớp đất, phân, tro dày 5-10 cm rồi gieo hạt. Cách này dễ chăm sóc cây con và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc phá hại. Cũng có thể gieo hạt thẳng vào bầu hay gieo theo hàng trên líp ương. Hạt ớt thường nẩy mầm chậm, 8-10 ngày sau khi gieo mới mọc khỏi đất, cây con cấy vào lúc 30-35 ngày tuổi, có sử dụng màng phủ cây con nên cấy sớm lúc 20 ngày tuổi.

Gieo ương cây ớt con

4. Cách trồng ớt cho năng suất cao

Đất trồng ớt phải được luân canh triệt để với các loại cây trồng khác họ, tránh trồng trùng lặp với các loại cây như cà chua, thuốc lá và cà tím… Trồng mùa mưa cần lên líp cao vì ớt chịu úng kém. Khoảng cách trồng thay đổi tùy thời gian dự định thu hoạch trái, nếu ăn trái nhanh (4-5 tháng sau khi trồng) nên trồng dày, khoảng cách trồng 50x(30-40)cm, mật độ 3.500-5.000 cây/1.000m2; nếu muốn thu hoạch lâu nên trồng thưa, 70x(50-60) cm, mật độ 2.000-2.500 cây/1.000m2.

(A) Kỹ thuật đặt bầu; (B) Trồng ớt có màng phủ nông nghiệp

5. Sử dụng màng phủ nông nghiệp trong trồng ớt

5.1. Mục đích:

 + Hạn chế côn trùng và bệnh hại: Mặt màu bạc của màng phủ phản chiếu ánh sáng mặt trời nên giảm côn trùng, nhện và nấm bệnh tấn công ở gốc thân và đốm lá chân.

 + Ngăn ngừa cỏ dại: Mặt đen của màng phủ ngăn cản ánh sáng mặt trời, làm hạt cỏ bị chết hay không mọc được trong màng phủ.

 + Điều hoà độ ẩm và giữ cấu trúc mặt đất: Màng phủ ngăn cản sự bốc hơi nước trong mùa nắng, hạn chế lượng nước mưa nên rễ cây không bị úng nước, giữ độ ẩm ổn định và mặt đất tơi xốp, thúc đẩy rễ phát triển, tăng sản lượng.

 + Giữ phân bón: Giảm rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặc mưa to, ít bay hơi nên tiết kiệm phân.

 + Tăng nhiệt độ đất: Giữ ấm mặt đất vào ban đêm (mùa lạnh) hoặc thời điểm mưa dầm thiếu nắng mặt đất bị lạnh.

 + Hạn chế độ phèn, mặn: Màng phủ làm giảm sự bốc hơi qua mặt đất nên phèn, mặn được giữ ở tầng đất sâu, giúp bộ rễ hoạt động tốt hơn.

Kỹ thuật đặt ớt trồng có màng phủ nông nghiệp

5.2. Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp

– Vật liệu và qui cách: Dùng 2 cuồn màng phủ khổ rộng 0.9-1m trồng ớt hàng đơn, còn hàng đôi 1,5 cuồn màng phủ khổ 1,2-1,4 m, diện tích vải phủ càng rộng thì hiệu quả phòng trừ sâu bệnh càng cao. Chiều dài mỗi cuồn màng phủ là 400m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống.

– Lên liếp: Lên liếp cao 20-40cm tùy mùa vụ, mặt liếp phải làm bằng phẳng không được lồi lõm vì rễ khó phát triển và màng phủ mau hư, ở giữa liếp hơi cao hai bên thấp để tiện việc tưới nước.

– Rãi phân lót: Liều lượng cụ thể hướng dẫn bên dưới, nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì màng phủ hạn chế mất phân và không bị cỏ dại canh tranh, có thể giảm bớt 20% lượng phân so với không dùng.

– Xử lý mầm bệnh: Phun thuốc trừ nấm bệnh có hoạt chất Metalaxyl hoặc Hexaconazole đều trên mặt liếp trước khi đậy màng phủ.

– Đậy màng phủ: Mùa khô nên tưới nước ngay hàng trồng cây trước khi đậy màng phủ. Khi phủ kéo căng vải bạt, hai bên mép ngoài được cố định bằng cách dùng dây chì bẻ hình chữ U mỗi cạnh khoảng 10 cm ghim sâu xuống đất (dây chì sử dụng được nhiều năm) hoặc dùng tre chẻ lạc ghim mé liếp.

Trồng ớt ngọt có đậy màng phủ nông nghiệp.

6. Bón phân cho cây ớt

Xem quy trình bón phân cho cây ớt

7. Tỉa nhánh, làm giàn ớt

Tỉa nhánh: Thông thường các cành nhánh dưới điểm phân cành đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng. Các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng.

(A) Trồng mật độ hợp lý; (B) Tán cây phân bố rộng

Làm giàn:

Giàn giữ cho cây đứng vững, để cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu hái trái. Giàn được làm bằng cách cắm trụ cứng xung quanh hàng ớt, dùng dây chì giăng xung quanh và giăng lưới bên trong hoặc cột dây nilon lúc cây chuẩn bị trổ hoa.

(A) Làm giàn cho ớt; (B) Cột dây giăng cho ớt.

8. Thu hoạch ớt

 + Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh. Ớt cay cho thu hoạch 35-40 ngày sau khi trổ hoa, ở các lứa rộ thu hoạch ớt mỗi ngày, bình thường cách 1-2 ngày thu 1 lần, nếu chăm sóc tốt năng suất trái đạt 20-30 tấn/ha.

 + Làm giống nên chọn cây tốt, cách ly để tránh lai tạp làm giảm giá trị giống sau này. Chọn trái ở lứa thu hoạch rộ, để chín hoàn toàn trên cây, hái về để chín thêm vài ngày rồi mổ lấy hạt, phơi thật khô, để vào chai lọ kín và để nơi khô ráo. Hạt ớt chứa nhiều chất béo, do đó hạt khô thường hút nước lại và gia tăng ẩm độ, vì vậy, trữ hạt ở điều kiện nóng ẩm (ẩm độ trữ hơn 70% và nhiệt độ 20oC) hạt mất khả năng nẩy mầm 50% trong thời gian 3 tháng và mất khả năng nẩy mầm hoàn toàn trong thời gian 6 tháng. Trữ hạt trong điều kiện khô, kín (ẩm độ 20%, nhiệt độ là 25oC), hạt khô (ẩm độ 5%) có thể giữ độ nẩy mầm 80% trong 5 năm.

Thu hoạch ớt

Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thuận lợi cho việc canh tác ớt phục vụ xuất khẩu. Tuy nhiên, để làm tốt điều này cần chú ý:

 + Các giống ớt địa phương có năng suất, tỷ lệ tươi/khô thấp.

 + Ớt xuất khẩu thường ở dạng khô. Phương pháp làm ớt khô bắng cách phơi ớt tươi trực tiếp ngoài nắng thường làm ớt mất màu, không phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu. Ngoài ra, việc phơi nắng kéo dài trong 10-20 ngày tạo điều kiện cho bệnh đén trái tiếp tục phát triển trong thời gian phơi và làm mất phẩm chất ớt.

Thu hoạch và sơ chế ớt

 + Ớt xuất khẩu và dùng trong chế biến thực phẩm còn đòi hỏi các tiêu chuẩn như độ cay, mùi hương mà các giống trồng hiện chưa đáp ứng được. Do đó cần chú ý công tác chọn tạo giống và kỹ thuật chế biến ớt, bảo đảm tiêu chuẩn xuất khẩu thì cây ớt mới có giá trị kinh tế cao.

Nguồn: syngenta.com.vn

Bạn đang đọc nội dung bài viết Kỹ Thuật Canh Tác Cây Sắn (Khoai Mỳ) trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!