Đề Xuất 1/2023 # Hoa Lan Disa – Dân Chơi Lan # Top 2 Like | Vitagrowthheight.com

Đề Xuất 1/2023 # Hoa Lan Disa – Dân Chơi Lan # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Hoa Lan Disa – Dân Chơi Lan mới nhất trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Hoa lan Disa

Tông: Diseae

Tông phụ: Disinae

Phân bố: Khoảng 160 loài ở miền nhiệt đới châu Phi và Đông Phi, với 1 loài ở Arabia và 4 loài ở Madagsacar và quần đảo Mascarene

Là địa lan thân thảo, với thân hình cầu, hình trứng hoặc hình ê-lip. Lá mọc hoặc là trên thân đang mang hoa hoặc là trên các chồi đã cằn. Vòi hoa không phân nhánh, có từ 1 đến nhiều hoa, hoa nổi bật. Các lá đài không theo quy ước, lá đài sau trông giống cái cựa, thường thì nó làm thành cái mũ chụp đầu, hai lá đài bên phẳng.

Các cánh hoa nhỏ hơn, đôi khi có phân thùy, thường thì ẩn mình bên trong cái mũ chụp. Môi hoa có khi hình đai (strap), nhưng cũng có khi có xẻ thành tua sâu. Trụ hoa ngắn, nắp phấn hoa đứng thẳng, nằm ngang hoặc đối diện so với đầu nhụy nằm dưới nó. Khối phấn 2.

Sau khi phân tích ADN, một số loài trước kia được phân thành một giống riêng như Monadenia và Herschelianthe (cùng loài Herschelia) nay được đưa cả vào giống Disa.

CÁCH TRỒNG

Lan Disa bao gồm nhiều cây rất đáng yêu, nhưng chỉ có một số loài thường được trồng là những loài luôn giữ được màu xanh có liên hệ đến loài Disa uniflora. Đây là những loài ưa trồng nơi mát, chúng có nhu cầu trồng ngoài trời nhưng không phải dưới ánh sáng trực tiếp của mặt trời.

Chúng có nhu cầu được giữ ẩm quanh năm, dù vậy khi cây đang phát triển thì cần tăng cường tưới nước. Một số nhà trồng lan đã đặt ống tưới nhỏ giọt thẳng vào chậu lan. Các cây thuộc giống Disa có thể trồng thành công nếu như ta dùng rêu nước, có hoặc không có đá trân châu (loại đá ngậm nước), cùng với sỏi lấy từ sông để chúng thoát nước tốt. Chúng có thể hấp thụ tốt nhưng cũng không nên bón nhiều phân. Những loài lan lai từ Disa uniflora cũng trồng cùng cách như vậy.

Những cây phát triển mạnh vào mùa đông mang về từ khu vực mưa nhiều về mùa hè ở Nam Phi, như loài Disa sagittalis, có thể được trồng ở lòng chảo với các chất trồng sao cho thoát nước tốt. Khi tưới cần lưu ý đến chồi xanh mới xuất hiện. Sau khi đã ra hoa, cây sẽ chết, cần giữ khô cho đến khi thấy chồi mới hình thành, chỉ cần tưới nhỏ giọt để đề phòng chồi mới bị chết.

Những loài thuộc khu vực nhiệt đới và rụng lá theo mùa thì ít khi được trồng, một phần là do chúng khá khó trồng, một phần là cũng khó tìm thấy chúng. Những loài mà đã từng đưa vào giống Herschelianthe (thí dụ như Disa baueri) là những cây đẹp, với hoa màu xanh dương và cái môi có xẻ tua sâu. Những loài này có trồng ở Nam Phi nhưng ít thấy nơi nào thành công.

Lan Disa cardinalis

Hoa có màu đỏ sáng, to 5 cm. Lá đài sau hình thành một cái mũ chụp, mang theo một cái cựa hình côn. Ra hoa vào mùa xuân-hè.

Hình thành từng nhóm bên dòng suối, trên độ cao chừng 600 m, ở Nam Phi (tỉnh Cape).

Lan Disa crassicornis

Cây khỏe, thuộc loài lan rụng lá theo mùa, cao tới 100 cm. Vòi hoa có 5-15 hoa, hoa to 5 cm, có hương thơm, màu trắng kem và có những đốm màu hồng hoặc đỏ tía. Lá đài sau hình thành cái mũ chụp như ống khói tàu hỏa, dài 20-40 mm, cái cựa hình trụ đầu nhọn như búp măng và uốn cong ngược lại, dài 30-40 mm. 

Sống trong các vùng đồng cỏ, trên độ cao 1.000-2.700 m, ở Nam Phi, Lesotho

Lan Disa racemosa

Là loài lan không rụng lá, lá mọc từ gốc có hình hoa thị, dài 9 cm. Chùm hoa cao 7-100 cm, không thật nhiều hoa, hoa có thể mọc sít nhau hoặc thưa thớt. Hoa màu trắng hoặc màu hồng pha tím hoa cà. Lá đài sau cong lòng chảo với một dấu vết của cái cựa, lá đài hai bên phẳng, dài 15-25 mm.

Ra hoa vào mùa hè.

Thường sống ở vùng đầm lầy, chúng ra hoa sau khi người ta đốt đồng, trên độ cao 0-1.200 m ở Nam Phi (miền tây và nam Cape)

Loài tương tự: Disa venosa Swartz, cũng ở miền tây Cape, có màu hoa đậm hơn và hình dáng lá đài sau cũng khác hơn.

Lan Disa sagittalis

Lan rụng lá theo mùa, cao 30 cm với các lá có hình hoa thị mọc từ gốc, vỏ lụa của lá bao bọc dọc thân. Vòi hoa có thể có nhiều hoa mọc sít nhau hoặc thưa thớt. Hoa nhỏ, màu trắng hoặc màu tím hoa cà. các cánh hoa thường có màu đậm hơn. Lá đài dài 10 mm. Chúng mọc trên đá hoặc trong các khe đá, thường bên cạnh bờ suối, trên độ cao 0-1.000 m, ở Nam Phi (miền đông và miền nam Cape và KwaZulu-Natal).

Lan Disa tripetaloides

Mọc bên các bờ suối và sườn đồi ẩm thấp, trên độ cao 0-1.000 m, ở Nam Phi (tỉnh Cape, KwaZulu-Natal)

Loài tương tự: Disa aurata (Bolus) L. T. Parker & Koopowitz (cùng loài Disa tripetaloides var. aurata Bolus), có hoa lớn hơn một chút, hoa màu vàng sáng.

Lan Disa uniflora

Cây không rụng lá, cao 60 cm. Lá mọc theo thân, dài 25 cm, lá dài nhất là ở phần gốc. Vòi hoa có 1 đến một số hoa. Hoa to 8-12 cm, màu nổi bật, thường là màu đỏ sáng, bên trong cái mũ chụp đầu có màu cam với những đường vân màu đỏ, nhưng cũng có trường hợp là màu vàng hoặc hồng. Lá đài sau dựng đứng, cong lòng chảo, có kích thước 20-60 x 15-20 mm. Cựa dài 10-15 mm. Lá đài hai bên phẳng, dài 65 mm.

Loài lan đẹp này thường được dùng để lai tạo, chủ yếu với các loài cùng giống như Disa cardinalis, D. racemosa và D. uniflora. Có khoảng 85 loài lai tạo với Disa đã được đăng ký, chủ yếu vẫn là với D. uniflora làm cây chính.

Cây mọc dọc theo suối và các tảng đá có nước thấm qua, dưới bóng râm hoặc trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời, trên độ cao 100-1.200 m, ở Nam Phi (miền tây và tây nam Cape).

Nguồn tài liệu từ: Sách hoa lan ( của Bác Phạm tiến Khoa )

Hoa Lan Miltonia – Dân Chơi Lan

Miltonia

Cùng giống: Anneliesia Brieger & Luckel

Tông: Maxillarieae

Tông phụ: Oncidiinae

Phân bố: Có 11 loài và khoảng 4 loài được lai tạo trong tự nhiên ở Nam Mỹ, chủ yếu là ở Brasil

Giả hành thường hình trứng đến hình thuôn,hơi bị bóp lại, được làm phình to bởi các lớp vỏ lụa của lá. Có 2 lá trên đỉnh, giả hành mọc lên từ thân rễ bò lan. Lá thẳng hoặc hình đai. Vòi hoa mọc từ nách lá, thường không phân nhánh, đứng thẳng hoặc uốn cong, có từ 1 đến nhiều hoa, hoa nổi bật. Các lá đài và cánh hoa phẳng, tương tự như nhau, cánh hoa rộng hơn. Môi không phân thùy, thường có hình cái quạt hoặc

hình cái chốt chặn. Khối phấn 2.

CÁCH TRỒNG

Trồng trong chậu, với chất trồng thông thoáng, nhiệt độ trung bình, ánh sáng và bóng râm vừa phải. Khi cây đang trong giai đoạn phát triển thì tưới nhiều nước, giảm nước tưới khi lan đi vào kỳ nghỉ.

Giả hành dài 10 cm. Lá dài 45 cm, rộng 2,5 cm, màu xanh xỉn. Vòi hoa không phân nhánh, cao 4 cm, có một số hoa, mỗi lần nở chỉ có 2 hoặc 3 hoa, hoa nở mở rộng hết cỡ, hoa to 5-8 cm, ngả màu vàng, có những sọc và đốm màunâu đỏ. Môi trắng với một bớt màu đỏ tía xuống tận phần chân. Ra hoa vào mùa thu.

Lan biểu sinh, trong các khu rừng ần bờ biển, trên độ cao 0-900 m, ở miền đông Brasil

Loài tương tự: Mmiltonia candida Lindley có các lá đài và cánh hoa ngả nâu, có những đốm và đầu cánh màu vàng. Môi trắng với 2 đốm đỏ ở họng, chân trụ hoa cuộn lại.

Miltonia cuneata

Giả hành bị dẹt, dài 10 cm. Lá dài 45 cm, rộng 2,5 cm, màu xanh tối. Cuống hoa cao 45 cm, có 7-10 hoa, hoa to 5-8 cm. Các lá đài và cánh hoa màu vàng kem, có những sọc màu nâu sô-cô-la đậm. Môi trắng, hình cái quạt, có 1 mô sần ở chân của 2 mô chụp. Ra hoa vào mùa đông-xuân.

Lan biểu sinh, trong các khu rừng cận sơn, trên độ cao 800-1.000 m, ở Brasil 

Giả hành dài 12 cm. Lá dài 35 cm, rộng 1,5 cm

Vòi hoa không phân nhánh, có 7-10 hoa, các hoa nở cùng một lúc. Các cuống hoa dẹt, hoa có hương thơm, màu vàng dâu tây, môi có những đốm đỏ. Các lá đài và cánh hoa hẹp, dài 50 mm, rộng 5 mm. Môi hình trứng tới hình thuôn, riền gợn sóng. Ra hoa vào mùa hè-thu.

Lan biểu sinh, trong các khu rừng cận sơn, trên độ cao chừng 800 m, ở Argentina, Brasil, Paraguay, Peru.

Miltonia moreliana

Cùng loài: Miltonia spectabilis Lindley var. moreliana (A. Richard) Henfrey

Giả hành ngả vàng, hai bên bị bóp lại, dài 10

Lá dài 10-15 cm, hình đai hẹp, màu xanh vàng. Vòi hoa dài 25 cm, có 1 hoa, hoa bẹt, to 10 cm. Các lá đài và cánh hoa có màu đỏ mận, môi màu hồng, với những vân màu đỏ tía nổi bật.

Lan biểu sinh, trong rừng, ở Brasil.

Miltonia regnellii

Giả hành dài 9 cm. Lá dài 30 cm, rộng 1,5 cm

Vòi hoa dài 40 cm, không phân nhánh, có 3-5 hoa, hoa to 7,5 cm, hoa màu trắng ánh lên màu hồng hoặc màu hoa tử đinh hương. Môi màu hông ngả sang màu hoa tử đinh hương, riềm môi màu trắng. Ra hoa vào mùa thu.

Lan biểu sinh, trong các khu rừng nhiều mưa vùng cận sơn, trên độ cao 300-800 m, ở miền đông Brasil.

Giả hành dài 7 cm. Lá dài 13 cm, rộng 2 cm, màu xanh vàng. Vòi hoa cao 25 cm, các cuống hoa dẹt, có 1 hoa, hoa to 10 cm, các lá đài và cánh hoa màu trắng pha hồng ờ phần chân. Môi màu hồng tím với những vân đậm màu hơn, mô sần màu vàng, có 3 chụp. Ra hoa vào mùa thu.

Lan biểu sinh, trong rừng, trên độ cao chừng 800 m, ở Brasil.

Nguồn tài liệu: SÁCH HOA LAN ( của Bác Phạm Tiến Khoa )

Brassavola – Dân Chơi Lan

Brassavola

Tông: Epidendreae Tông phụ: Laeliinae

Phân bố: Khoảng 20 loài ở Trung và Nam Mỹ và quần đảo Indies. Lan biểu sinh hoặc thạch lan, thân mộc, thân rễ, bò leo. Các giả hành hẹp, hình trụ, có 1 lá ở đỉnh. Lá hẹp, dạng terete (nhọn), lá có nhiều thịt.  Vòi hoa phát lộ hoặc là từ phần rễ ở gốc hoặc là từ đỉnh của giả hành, số lượng hoa không nhiều, hoa có màu ưa nhìn, thường là trắng hoặc xanh lục, có hương thơm về đêm. Các lá đài và cánh hoa phẳng, gần giống nhau, thẳng hoặc có hình mũi mác hẹp. Môi hoa không phân thùy, nhưng cuộn lại ở gốc, phần đầu phẳng. Khối phấn: 8.

CÁCH TRỒNG Bởi vì chúng có thói quen mọc treo lủng lẳng trên cây nên Brassavola thường trồng ghép vào cái gì đó hoặc trồng trong các giỏ với các chất trồng là những miếng gỗ nhỏ như trồng lan biểu sinh. Chúng cần một nhiệt độ vừa phải và ánh sáng mạnh. Khi cây đã trưởng thành thì cần tưới nhiều nước nhưng cần giữ khô giữa hai lần tưới. 

Brassavola acaulis Cùng loài: Brassavola lineata Hooker 

Giả hành mọc thành cụm, với chiều cao 15 cm. Lá dài 60 cm, nhiều thịt và buông thõng. Vòi hoa xuất hiện từ thân rễ, có 1-5 hoa, hoa to 8 cm, trông giống sáp, hương nồng. Các lá đài và cánh hoa màu xanh lục hoặc trắng pha xanh. Môi hoa trắng. Lan biểu sinh, trong các khu rừng ẩm ướt, nơi có lượng mưa cao, trên độ cao 1.000-1.300 m ở Costa Rica, Guatemala và Panama.

Brassavola cucullata Cùng loài: Brassavola appendicullata  Giả hành rất mảnh, dài 12 cm. Lá dài 25 cm. Vòi hoa hình thành từ gốc của lá, dài chừng 20 cm. Hoa màu trắng kem, có hương thơm, ở đầu màu xanh. Các lá đài và cánh hoa rủ xuống, dài 7 cm, rộng 7 mm. Môi hình phễu ở gốc, đôi khi có những dấu đỏ. Lan biểu sinh ở những khu rừng khô, rụng lá, trên độ cao 50-400 m ở Tây quần đảo Indies và Trung Mỹ, từ Mexico tới Venezuela.

Brassavola nodosa Lan biểu sinh hoặc thạch lan, thường sống ở những khu vực ít mưa, trên độ cao 0-500 m ở Trung Mỹ và Tây quần đảo Indies.

Brassavo la subulifolia Lan biểu sinh, mọc  trên các cây lớn trong các vườn cây, ở quần đảo Indies và Brazil.

Brassovola tuberculata Thân cây rất mảnh, dài 15 cm. Lá terete, có khe rãnh ở mặt trên, dài 25 cm. Vòi hoa ngắn, có 3-6 hoa, hoa to 7 cm, vào ban đêm tỏa hương rất thơm. Các lá đài và cánh hoa thẳng, màu vàng kem hoặc vàng chanh, đôi khi có những chấm đỏ. Môi hình ê-lip, màu trắng, họng xanh.  Lan biểu sinh hoặc thạch lan sống trong rừng ở Brazil.

Hoa Lan Dendrobium ( Phần 2 ) – Dân Chơi Lan

Dendrobium (phần 2)

 Dendrobium findlayanum

Giả hành mọc thẳng đứng hoặc buông rủ, dài 30-60 cm, ở chỗ đốt phồng lên trông như một chuỗi hạt trên một cái thân rất mảnh mai. Lá dài 7,5 cm, rộng 1,5 cm, lá tàn rất sớm. Có một số vòi hoa ở nửa trên của thân, có 2-3 hoa, màu hoa tử đinh hương nhạt, hoa to 5-7 cm. Cánh hoa rộng hơn nhiều so với lá đài. Môi hoa màu vàng đất, có viền màu trắng, đôi khi trong họng hoa có miếng bớt màu nâu.

Lan biểu sinh hoặc thạch lan, trong các khu rừng ở miền núi, trên độ cao 1.000-1.700 m, ở Lào, Myanmar và Thái-lan.

Cây cứng cáp, giả hành có thân cao 30 cm, to 2,5 cm. Có 2 lá, lá dai, dài 19 cm, rộng 10 cm, lá mọc tại đỉnh của thân. Vòi hoa ngắn, xuất hiện giữa các lá và hướng lên trên, có 8-20 hoa, hương thơm, hoa to 5-7 cm. Hoa màu trắng, màu kem hoặc màu xanh nhạt, hoa lâu tàn. Phía sau của lá đài có lông tơ, bầu nhụy đầy lông.

Lan biểu sinh, trong rừng trên núi, mưa nhiều, chúng thường sống trên cây cao, trên độ cao 900-1.700 m, ở New Guinea.

Giả hành cứng cáp, mọc thẳng đứng, dài tới 45 cm, lá mọc trên 2/3 phần thân. Vỏ lụa của lá có lông màu đen mịn. Lá mọc thành 2 hàng, lá dài 9-15 cm, rộng 2-3 cm, bền, không rụng. Có 1 hoặc 2 vòi hoa phát xuất từ đốt trên của thân, mang theo 5 hoa, màu trắng cánh mỏng, hoa tàn sau vài tuần lễ, hoa to 12 cm. Cánh hoa to hơn lá đài nhiều, môi có màu cam sáng ở họng.

Lan biểu sinh, trong các khu rừng nơi có khí hậu ấm áp, trên độ cao 0-500 m, ở Bhutan, Nepal, đông bắc Ấn độ, Myanmar, Thái-lan, Việt Nam.

Loài tương tự: Dendrobium infundibulum

Lindley, mọc trên độ cao cao hơn 1.000 m, hoa có vẻ nhỏ hơn, hoa to chừng 10 cm.

Dendrobium goldschmidtianum

Cùng loài: Dendrobium miyakei Schlecter, giả hành cứng cáp, hướng thẳng đứng hoặc buông rủ, dài 60-90 cm, to 1 cm, ở mỗi mắt có hơi phồng lên chút ít. Lá chia làm hai hàng, loài rụng lá theo mùa, lá mỏng, hình mũi mác thuôn, dài 5-10 cm, rộng 1-2 cm. Vòi hoa hình thành cụm ở các đốt, mỗi vòi hoa có tới 10 hoa , màu đỏ tía sáng, trụ hoa màu vàng sáng.

Lan biểu sinh, ở vùng thấp, nơi có bóng râm nhẹ, trên độ cao 0-300 m, ở miền bắc Philippines và Đài loan.

Giả hành mảnh, thường đứng thẳng, bao bọc bởi lớp vỏ lụa màu nâu khi giả hành còn nhỏ, dài 80-90 cm. Có 3-6 lá mọc ở gần đầu mút của thân, không thuộc loài rụng lá theo mùa, lá hình mũi mác dạng trứng. Vòi hoa dài 10- 12 cm, đứng thẳng hoặc uốn cong, mỗi vòi có 5-30 hoa, hoa to 1-1,5 cm, màu vàng, xanh hoặc xanh ở bên trong, phía ngoài có miếng bớt màu đỏ.

Lan biểu sinh và thạch lan trong những khu rừng có nhiều mưa và những khu rừng vùng đất thấp, trên độ cao 0-1.000 m, miền đông Australia và những hòn đảo phụ cận.

Giả hành hình cái gậy bóng chày, phần gốc thì rất nhỏ, nhưng lại phình to ở nửa trên, sau đó lá nhỏ lại ở phần đỉnh, giả hành dài 20 cm, to 1 cm. Lá hình mũi mác, dài 5-10 cm, mọc thành 2 hàng ở phần phình ra của thân, lá rụng theo mùa. Vòi hoa ngắn, thường phát xuất từ những thân đã rụng lá, với 5-7 hoa giống như sáp, hoa to 2,5 cm, màu hồng đậm, với cái môi trắng và nắp bao phấn màu đỏ tía.

Lan biểu sinh, vùng thấp, trong những khu rừng nhiều mưa, khí hậu gió mùa, ở Thái-lan, các nước Đông dương, Trung quốc, Hong Kong, đồng thời người ta cũng tìm thấy chúng ở Philippines và Sumatra.

Loài tương tự: Thường bị lầm lẫn với Dendrobium aduncum và Dendrobium linguella

Reichenbach f., cả hai loài này đều có giả hành nhỏ, chỉ khác nhau ở chi tiết bên trong môi.

Cùng loài: Dendrobium aureum Lindley

Ban đầu giả hành đứng thẳng, sau đó trở nên rủ xuống, dài tới 60 cm, cũng có thể ngắn hơn. Lá mọc thành 2 hàng, màu xanh nhạt, có hình dạng thuôn cho đến mũi mác thẳng, dài 9-10 cm, rộng 2 cm. Vòi hoa phát xuất ở phần trên của thân cây, mỗi vòi hoa có 2-3 hoa màu vàng nhạt, hoa to 4-7 cm. Các lá đài và cánh hoa tương tự nhau, môi hẹp màu cam sáng, có những vân màu đỏ, đặc biệt là ở các thùy bên.

Lan biểu sinh với các nhu cầu khác nhau, thường chúng cần ánh sáng mạnh, cần khí hậu mát về mùa khô, trên độ cao 600-1.800 m, trải dài từ Sri Lanka, Ấn độ, Bhutan, Myanmar, Malaysia, Thái lan, Lào, Việt Nam, miền nam Trung hoa, Sumatra, Java, Borneo, Philippines, Sulawesi.

Kích thước của cây khác nhau tùy thuộc vào nơi sinh trưởng của chúng và cách nuôi trồng của chúng ta. Giả hành như búp măng mọc lên từ gốc rồi vươn lên, dài 4-50 cm. Có 2-7 lá, hình trứng, không rụng lá, lá dài 5-8 cm, rộng 1-1,5 cm. Có 1 hoặc nhiều hơn 1 vòi hoa, dài 20 cm, phát xuất từ đỉnh của thân, có 15 hoa, hoa to 2,5 cm, màu hồng nhạt hoặc hồng đậm, hoa tàn sau 2 tuần lễ.

Thường là thạch lan, dưới ánh sáng trực tiếp của mặt trời, trên độ cao 0-1.200 m, ở Australia (New South Wales) đến miền đông nam Queensland.

Giả hành buông rủ trong sự lộn xộn, mỗi giả hành dài tới 60 cm. Lá mọc thành 2 hàng, có màu xanh đậm thường thì pha màu đỏ tía, lá hình mũi mác, dài 5-6 cm, rộng 1-2 cm, lá rụng theo mùa. Vòi hoa phát xuất ở những thân không có lá, có 1-8 hoa (thường là 4), hoa giống như sáp và có hình cái chuông. Hoa to 2,5 cm, màu hồng, đỏ tía, cam hoặc vàng, đôi khi có hai màu, hoa lâu tàn.

Lan biểu sinh, trong các khu rừng nhiều mưa, chúng mọc trên các cành cây đóng rêu và trong các bụi cây, trên độ cao 500-1.500 m, Irian Jaya, Papua New Guinea, quần đảo Solomon.

Cùng loài: Dendrobium aggregatum Roxburgh

Giả hành ngắn, mọc thành cụm, nằm sát xuống nền đất hoặc đứng thẳng, có nhiều lông cứng, thân dài 4-10 cm. Lá đơn, dai, hình đai (strap), dài 10 cm, rộng 3 cm. Vòi hoa phát xuất gần ngọn của thân, đứng thẳng hoặc nằm ngang, có tới 15 hoa trên một cái cuống hoa khá nhỏ. Hoa có màu vàng hoặc màu cam sáng, to 4 cm. Môi hoa có màu đậm hơn ở họng.

Lan biểu sinh, ở những nới có khí hậu gió mùa, trong các khu rừng rụng lá, mùa đông cần có ánh sáng mạnh, trên độ cao 500-2.000 m, ở Ấn độ, Myanmar, Thái-lan, Lào, Việt Nam, Hải nam và Vân Nam Trung quốc.

Loài tương tự: Dendrobium jenkinsii Wallich ex Lindley, giả hành nhỏ hơn và hai bên bóp lại, trên mỗi vòi hoa chỉ có 1-3 hoa, nhưng hoa lớn hơn.

Thân rễ, giả hành bò lan và khó thấy. Lá đơn, mọc lần lượt dọc theo thân, lá hình thuôn hoặc hình trứng ngược, dài 4,5 cm, rộng 1,5 cm, lá dày, màu xanh đậm, có nếp nhăn trên mặt lá.

Vòi hoa hướng lên trên, dài 15 cm, mang 6-20 hoa, hoa có màu trắng hoặc kem, hoa to 2 cm.

Là thạch lan hoặc lan biểu sinh, hình thành từng đám giống như tấm thảm, trên độ cao 0-1.000 m, ở Australia.

Loài tương tự: Dendrobium nugentii (Bailey)

M. A. Clements & D. L. Jones, khác nhau ở chỗ lá nhăn nheo, vòi hoa có nhiều hoa hơn, hoa nhỏ hơn, với những đường vân màu tím đỏ trên các thùy bên của môi.

Nguồn tài liệu : SÁCH HOA LAN ( của Bác Phạm Tiến Khoa )

Bạn đang đọc nội dung bài viết Hoa Lan Disa – Dân Chơi Lan trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!