Đề Xuất 2/2023 # Đặc Điểm Của Phân Lân Nung Chảy Và Cơ Sở Khoa Học Sử Dụng Hiệu Quả Ở Việt Nam # Top 8 Like | Vitagrowthheight.com

Đề Xuất 2/2023 # Đặc Điểm Của Phân Lân Nung Chảy Và Cơ Sở Khoa Học Sử Dụng Hiệu Quả Ở Việt Nam # Top 8 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Đặc Điểm Của Phân Lân Nung Chảy Và Cơ Sở Khoa Học Sử Dụng Hiệu Quả Ở Việt Nam mới nhất trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. MỞ ĐẦU

Phân lân là một trong ba loại phân bón đa lượng chủ yếu cho cây trồng. Nước ta lại có nguồn quặng apatít dồn dào để sản xuất phân lân nung chảy (FMP), superphosphate đơn (Supe lân, SSP), diamonium phosphate (DAP) và dicalcium phosphate (DCP). Mỗi loại phân lân này có những đặc tính riêng trong mối quan hệ với hệ sinh thái thổ nhưỡng, cây trồng với khí hậu ở nước ta. Trong bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu một số đặc điểm phân lân nung chảy và cơ sở khoa học của việc sử dụng hiệu quả loại phân này.

II. ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÂN LÂN NUNG CHẢY

2.1. Đặc tính của phân lân nung chảy

Phân lân nung chảy được sản xuất theo phương pháp nhiệt, bằng cách nấu chảy quặng photphat với các phụ gia chứa silic và magiê (như quặng secpentin) sau đó làm lạnh đột ngột để giữ sản phẩm ở dạng vô định hình, dễ hòa tan trong dung dịch axit hữu cơ do cây trồng tiết ra. Sản phẩm phân lân nung chảy có những đặc tính sau đây:

2.1.1. Phân lân nung chảy không hòa tan trong nước

Độ hòa tan trong nước của một số loại phân lân thể hiện trong bảng 1.

Bảng 1. Độ hòa tan trong nước của phân lân, g/100g nước

Phân lân nung chảy

Supe phosphate

MAP

DAP

0

38

40,3

71,0

Nguồn: M.E.Pozin, 1984.

Do không tan trong nước nên phân lân nung chảy khi bón vào đất không bị rửa trôi, tránh được thất thoát. Điều này có ý nghĩa quan trọng về an toàn sinh thái, không gây ra hiện tượng phú dưỡng môi trường nước.

2.1.2. Phân lân nung chảy là loại phân kiềm tính

Tính kiềm của phân bón được thể hiện thông qua giá trị pH của dung dịch 10% trong nước (hoặc 0,1M) đượcc ghi trên bảng 2.

Bảng 2. Giá trị pH dung dịch 10% của một số loại phân lân

Phân lân nung chảy

Superphosphate

MAP

DAP

8,0-8,5

4,5

4,0

7,8

Nguồn: Lê Văn Hựu, 2000

Số liệu trên cho thấy, phân lân nung chảy có độ kiềm cao nhất trong số các loại phân lân hiện có trên thị trường ở nước ta. Như đã biết phân kiềm tính thích hợp với nhiều loại đất, nhất là đất chua ở nước ta.

2.1.3. Phân lân nung chảy chứa hàm lượng các chất dinh dưỡng cao

Phân lân nung chảy sàn xuất tại Công ty Cổ phần Phân lân nung chảy Văn Điển chưa 1 hàm lượng các chất dinh dưỡng như sau (%):

P2O5

15-20

MgO

15-18

CaO

24-30

SiO2

24-32

Nguồn: tuyển tập phân bón Việt Nam, 2012.

Tổng hàm lượng các chất dinh dưỡng đa lượng và trung lượng đạt 95-98%, trong khi tổng hàm lượng các chất dinh dưỡng trong phân DAP chỉ là 64%.

Ngoài ra, phần còn chứa các nguyên tố vi lượng như Cu, Fe, Mo, Co, Zn. Khi hàm lượng các chất dinh dưỡng trong phân bón cao sẽ giảm được chi phí vận chuyển và công chăm bón.

2.2. Đặc điểm về công nghệ sản xuất phân lân nung chảy

Công nghệ sản xuất phân lân nung chảy ở Công ty Cổ phần Phân lân nung chảy Văn Điển có những đặc diểm sau:

(i). Sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu hoàn toàn ở trong nước, không cần lưu huỳnh và các hóa chất nhập khẩu như khi sản xuất superphotphate và DAP

(ii). Thiết bị sản xuất hoàn toàn chế tạo ở trong nước

(iii). Công nghệ sản xuất luôn được cải tiến, hoàn thiện, năng suất cao. Từ thiết bị lò cao nhập công nghệ Trung Quốc năng suất 1 tấn/h đến nay đã nghiên cứu cải tiến đạt công suất hơn 12 tấn/h, do vậy các chi tiêu tiêu hao năng lượng đã giảm nhiều lần, năng suất lao động tăng, góp phần quan trọng làm giá thành sản phẩm.

(iv). Môi trường sản xuất được đảm bảo, các chất thải rắn như: bột, apatit, secpentin, bụi than…đều được ép bánh để tái sử dụng, nước làm lạnh bán thành phẩm được tuần hoàn, tiết kiệm điện bơm nước giếng sâu, không phải nộp phí môi trường nước thải.

III. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHÂN LÂN NUNG CHẢY

Hiệu quả của phân lân nung chảy so với một số loại phân lân dễ tan khác có thể giải thích bởi những nguyên nhân sau, trước hết hãy xem xét đến tính chất đất trồng.

3.1. Tính chất của đất trồng và hiện tượng cố định lân trong đất

Phần lớn đất trồng ở nước ta có phản ứng chua, nghèo lân dễ tiêu, giàu sesquioxit, hàm lượng Al3+ và Fe3+ tự do cao rất dễ liên kết hóa học với lân hòa tan. Lân bị hấp thụ trên bề mặt các oxit hydrat hóa của Fe và Al, về bản chất là những keo dương, trao đổi OH- với anion H2PO4- hoặc HPO42-, người ta gọi hiện tượng này là cố định lân.

Hiện tượng cố định hóa học lân là rất nghiêm trọng. Năng lực cố định P của các oxit hydrat sắt và nhôm cao hơn khoáng sét rất nhiều lần: Fe(OH)3.nH2O là 0,4%, Al(OH)3.nH2O là 2,5% so với kaolinit là 0,015%.

Đất feralit hấp thụ P cao hơn hẳn các đất không bị feralit hóa (bảng 3), cường độ hấp thụ P tỷ lệ thuận với hàm lượng Fe3+ và Al3+ và tỷ lệ nghịch với giá trị pH của đất. 

Bảng 3. Năng lực cố định lân của một số loại đất

Loại đất

Năng lực cố định lân, ppm

Đất cát ven biển

10-20

Đất xám bạc màu

15-20

Đất phù sa sông Hồng

150-320

Đất phèn

460-780

Đất đỏ vàng trên phiến thạch

350-650

Đất nâu đỏ bazan

750-1400

Nguồn: Đất Việt Nam, 2000

Những thí nghiệm lắc đất đỏ bazan với 2.000ppm P sau 24h một nửa lân đã bị cố định và sau 48h toàn bộ P dễ tiêu bị giữ chặt. Đối với các đất giàu sesquioxit năng lực giữ chặt lân có thể lên đến 1% khối lượng đất.

Theo Jayarama và Shankar B. N. hiệu quả sử dụng của phân lân trên đất trồng cà phê chỉ khoảng 10%. Một trong những nguyên nhân đó là 70-90% lượng phân bón vào đất bị cố định thành dạng photphat không tan, cây trồng không hấp thụ được.

3.2. Tính hiệu quả của phân lân nung chảy

3.2.1. Giảm hiện tượng cố định lân trong đất

Bón phân lân nung chảy không những tránh được hiện tượng cố định lân mà còn làm tăng hiệu quả của các loại phân lân hòa tan khác, do phân lân nung chảy là loại phân không hòa tan trong nước mà chỉ hòa tan được trong dung dịch axit do rễ cây tiết ra (thường lấy chuẩn là dung dịch axitic 2%, có pH khoảng 2), đồng thời với quá trình hấp thụ lân của cây nên tránh được hiện tượng cố định. Mặc khác, trong phân lân nung chảy còn chứa hàm lượng lớn CaO và SiO2. Lượng canxi trong 1kg phân lân nung chảy tương đương 0,5 – 0,7 kg canxi cacbonat. Canxi cũng có tác dụng gián tiếp đến hiện tượng cố định lân thông qua việc tăng giá trị pH của đất. Do vậy, khi bón phân lân nung chảy không cần bổ sung các chế phẩm hạn chế cố định lân như avail hiện đang nhập khẩu.

Ngoài ra, silic trong phân lân nung chảy ở dạng hữu hiệu còn có những tác dụng quan trọng khác đối với cây trồng: làm tăng khả năng sinh trưởng, phát triển và tăng năng suất; khi hàm lượng silic từ 3-5% là hàm lượng tối thiểu trong tế bào cần thiết để cây trồng chống chịu được với bệnh và thời tiết bất lợi, giảm được số lượng thuốc trừ bệnh, trừ nấm cho cây trồng theo 2 cơ chế: Si có thể tạo nên kết cấu với các hợp chất hữu cơ trong vách tế bào nguồn bệnh, mặt khác Si có thể kết hợp với lignin – cacbohydrat ở thành tế bào biểu bì của cây làm cho vách tế bào vững chắt hơn, giúp cây cứng cáp tránh đổ gãy, làm cho lá lúa dày hơn, mọc thẳng, quang hợp tố, giảm sâu bệnh.

3.2.2. Hiệu quả của phân lân nung chảy đối với cây trồng

Trước khi đánh giá hiệu lực của các dạng phân lân cần xem xét độn thái lân dễ tiêu trong đất sau khi bón phân. Ảnh hưởng của các dạng phân lân đến hàm lượng lân dễ tiêu trong đất ngập nước (trường hợp không trồng cây) ghi trong bảng 4.  

Bảng 4. Động thái lân dễ tiêu trong đất ngập nước (ppm)

Công thức

1 giờ

7 ngày

14 ngày

30 ngày

Không lân

185,1

293,8

204,4

147,8

Técmô

209,3

529,9

230,0

228,1

supe

231,1

578,1

226,3

209,9

Nguồn: Nguyễn Văn Bộ, 1999

Số liệu trên cho thấy, sau 1h khi bón các loại phân lân đều làm tăng hàm lượng lân dễ tiêu trong đất, sau đó hàm lượng lân dễ tiêu đều giảm, song khi bón superphosphate thì tốc độ giảm nhanh hơn. Điều này hoàn toàn phù hợp với những đặc tính của phân lân nung chảy đã nêu ở phần trên.

Kết quả thí nghiệm với đất trồng lúa cũng cho thấy chiều hướng tương tự. đến thời kỳ cây lúa kết thúc đẻ nhánh, hàm lượng lân dễ tiêu trong đất khi bón phân lân nung chảy Văn Điển vẫn cao hơn trường hợp bón superphosphate.

Bảng 5. Động thái lân dễ tiêu trong đất (ppm)

STT

Công thức

 

Giai đoạn sinh trưởng

Sau cấy 3 ngày

Kết thúc đẻ nhánh

1

Không lân

23,9

184,0

2

Técmô

316,1

278,0

3

Supe

411,9

260,3

Nguồn: Nguyễn Văn Bộ, 1999

Nguyên nhân này đã ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất và làm tăng năng suất lúa (bảng 6).

Bảng 6. Ảnh hưởng của phân lân đến năng suất lúa

Địa điểm

 

Phân bón

Năng suất tạ/ha

 

Bội thu, so với bón supe

Supe

Técmô

 

Tạ/ha

%

 

Yên Mô, Ninh Bình, giống Ải 32

100

0

82,0

0

100

83,7

1,7

2,0

LSD05=1,1, LSD01=1,5

Yên Mô, Ninh Bình, giống TG5

100

0

81,0

0

100

83,0

2,0

2,5

LSD05=2,1, LSD01=2,8

Vụ Bản, Nam Định, giống Ải Hòa Thành

100

0

54,3

 

0

100

54,8

0,5

0,9

 

LSD05=2,1, LSD01=2,6

Nguồn: Nguyễn Văn Bộ, 1999.

 

Thí nghiệm so sánh hiệu quả của phân lân nung chảy với supe photphat cũng đã được tiến hành đối với cây cà phê (bảng 7)

Bảng 7. Hiệu lực của phân lân đối với cây cà phê

Công thức

Năng suất cà phê nhân

Tỷ lệ tươi /nhân

 

Hiệu suất, kg nhân /1kg P2O5

Kg/ha

%

Cà phê kinh doanh năm thứ 6

250N + 250K2O = Nền

2344

100

4,68

Nền + FMP (130 P2O5)

2693

115

4,38

2,5

Nền + SSP (130 P2O5)

2657

113

4,44

2,3

LSD0,5 = 127,8 kg/ha

Cà phê kinh doanh năm thứ 2

250N + 250K2O = Nền

2152

100

4,6

Nền + FMP (130 P2O5)

2521

117

4,2

3,7

Nền + SSP (130 P2O5)

2302

107

4,4

1,5

LSD0,5 = 95,3 kg/ha

Nguồn: Nguyễn Văn Bộ, 2014.

Số liệu trên cho thấy, bón phân lân nung chảy hiệu quả cao hơn supe photphat đối với cà phê kinh doanh năm thứ 2 và cà phê kinh doanh năm thứ 6. Điều này cũng phù hợp với những cơ sở khoa học nêu trên.

IV. KẾT LUẬN

Phân lân nung chảy Văn Điển là loại phân chứa nhiều nguyên tố dinh dưỡng cho cây trồng. Sử dụng loại phân này là một hướng phát triển bền vững trong nông nghiệp đồng thời cũng là hướng phát triển bền vững về sản xuất công nghiệp do hoàn toàn chủ động về nguồn nguyên, nhiên liệu, về công nghệ, thiết bị sản xuất, chi phí sản xuất thấp và năng suất  lao động cao đồng thời an toàn về môi trường sinh thái.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. M.E.Pozin. Công nghệ muối khoáng, NXB Hóa học, 1984, tr 1047.

2. Lê Văn Hựu, Phạm Minh Tâm, Phạm Thị Hường. Tuyển tập báo cáo khoa học chuyên ngành công nghệ Hóa chất Vô cơ-phân bón, Viện Hóa học Công ngiệp, Hà Nội 2000, tr 37.

3. Phân lân nung chảy Văn Điển. Tuyển tập phân bón Việt Nam. NXB Nông nghiệp Hà Nội 2012, tr 567.

4. Đất Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2000.

5. Nguyễn Tử Siêm. Sử dụng hiệu quả phân bón Văn Điển ở Việt Nam. Tài liệu hội thảo Quốc gia, Hà Nội 03/2014, tr 1.

6. Jayarama, Shankar, B.N. Indian Coffee, N01, 2013,14.

7. Datnoff, L.E., rodrigues, F.A. Advances in Agronomy. Vol 58, 2005, p 157.

8. Nguyễn Văn Bộ. Báo cáo tổng kết thí nghiệm hiệu lực của một số loại phân lân. Viện thổ nhưỡng nông hóa, Hà Nội, 1999.

9. Nguyễn Văn Bộ. Phân bón hỗn hợp supe – técmô phosphat. Tài liệu hội thảo Quốc gia, Hà Nội 03/2014, tr 10.

Nguyễn Huy Phiêu – TS. NCV cao cấp Viện hóa học CNVN

Nguyễn Tiến Toát – TS. Hội hóa học Việt Nam

Nguồn: iasvn.org

Bón Phân Lân Nung Chảy Cho Cây Sầu Riêng

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bón phân lân chứa can xi, ma giê đã làm năng suất, chất lượng quả sầu riêng được cải thiện đáng kể, đặc biệt trên đất nghèo các cation kiềm, kiềm thổ như Can xi, ma giê và chua mạnh.

Tại Thái Lan, bón phân lân chứa can xi, ma giê đã làm năng suất tăng từ 5 – 15 % so với các dạng lân không chưa can xi; mẫu mã quả sầu riêng đẹp, tỷ lệ thịt ăn được cao hơn từ 2 – 7 %; cảm quan tốt, vị thơm ngon hơn.

Tại Malaysia, bón phân lân chứa can xi, ma giê đã làm cho tỷ lệ rụng quả sầu riêng giảm 7 – 14 % so với phân lân không chứa can xi; mẫu mã quả đẹp, độ đồng đều của quả cao hơn.

Các kết quả điều tra, nghiên cứu bước đầu của WASI cho thấy các vườn sầu riêng bón lân Văn Điển nhiều năm liên tục cho năng suất trái khá ổn định, tỷ lệ rụng quả thấp; độ đồng đều của quả sầu riêng tốt hơn; chất lượng phần ăn được thơm, ngon hơn so với các vườn sầu riêng bón phân lân không chứa can xi, ma giê, si lic hoặc có chứa với lượng thấp.

Khuyến cáo bón lân nung chảy cho cây sầu riêng

Thành phần dinh dưỡng của lân nung chảy (Văn Điển là loại phân lân nung chảy):

– CaO = 28 – 34%;

– MgO = 15 – 18%;

– SiO 2 = 24 – 30%

Ngoài ra trong phân còn có các chất vi lượng cần thiết cho cây trồng như B, Mn, Zn, Cu, Co…

Thời điểm bón lân nung chảy: bón 1 lần vào đầu mùa mưa.

Tuy nhiên cũng có thể chia làm 2 lần bón:

Lần 1: đầu mùa mưa vào tháng 4, 5

Lần 2: vào tháng 9, khi đất còn đủ ẩm.

Lưu ý: cần bón lân trước khi bón đạm; bón cân đối giữa lân với đạm và lân với kali để đạt được hiệu quả kinh tế tối ưu nhất.

Lưu ý rằng cần bón cân đối lân với đạm và kali có bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng kẽm (Zn), bo (B) để giúp cây đảm bảo đầy đủ các chất dinh dương đa, trung và vi lượng; vì vậy năng suất, chất lượng và hiệu quả của việc trồng sầu riêng sẽ được tăng cao.

Lượng phân có thể điều chỉnh theo mức năng suất thu hoạch. Năng suất cao bón phân nhiều hơn, ngược lại sẽ ít hơn./.

Phân Hữu Cơ Và Hiệu Quả Sử Dụng

PHÂN HỮU CƠ LÀ GÌ?

Theo chúng tôi Mai Văn Quyền, khi loài người còn canh tác theo kiểu “chọn lỗ tra hạt” thì chưa có khái niệm gì về phân bón nhưng với sự thuần hoá động vật hình thành ngành chăn nuôi thì người xưa thấy cây trồng sẽ tốt hơn nếu được bón các chất thải động vật, kể cả chất thải của người. Từ “phân” cho đến tận hôn nay vẫn hàm nghĩa bẩn thỉu là do được hình thành như vậy.

Gọi là phân hữu cơ vì trong phân đó có thành phần hữu cơ là cơ bản nhất. Văn bản hiện hành của nhà nước chia phân hữu cơ ra làm 4 loại:

1. Phân hữu cơ truyền thống: chúng được tạo ra từ nguồn nguyên liệu và cách xử lý truyền thống. Nguồn nguyên liệu đấy có thể là chất thải của vật nuôi, là phế phẩm trong nông nghiệp, là phân xanh (bèo hoa dâu, thân cây họ đậu…được nhà nông gom ủ lại chờ hoại mục).

2. Phân hữu cơ sinh học: Có nguồn nguyên liệu hữu cơ (có thể có thêm than bùn) được xử lý và lên men theo một quy trình công nghiệp với sự tham gia của một hay nhiều chủng vi sinh vật.

3. Phân hữu cơ vi sinh: Có nguồn nguyên liệu và quy trình công nghiệp như phân hữu cơ sinh học nhưng có một hoặc nhiều chủng vi sinh vật vẫn còn sống và sẽ hoạt động khi được bón vào đất.

4. Phân hữu cơ khoáng: Là phân hữu cơ sinh học được trộn thêm phân vô cơ.

Để quản lý, Bộ Nông nghiệp-PTNT quy định thành phần chất hữu cơ trong phân hữu cơ phải đạt 22% trở lên, trong phân hữu cơ khoáng phải đạt 15% trở lên.

Thế kỷ 19, Libic đã phát hiện ra phân vô cơ đã đẩy năng suất tăng vọt và nhờ nó mà loài người đã tránh được nạn đói đe dọa khi dân số quá lớn. Với sự tiện dụng và hiệu quả của phân vô cơ, con người dần quên phân hữu cơ, khiến cho chất lượng và năng suất cây trồng giảm xuống, dịch bệnh lan tràn, hiệu quả của phân vô cơ bị giảm sút, đất bị phá vỡ kết cấu, trở nên chua…

Từ thực tế trên, con người mới nhìn nhận lại vai trò của phân hữu cơ và đưa ra nguyên tắc bón phân cho cây trồng. Sử dụng hài hòa phân hữu cơ và phân vô cơ.

VAI TRÒ CỦA PHÂN HỮU CƠ

Hữu cơ là chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu của đất, quyết định kết cấu của đất, độ tơi xốp thoáng khí của đất, quyết định độ thấm nước và giữ nước của đất, quyết định hệ đệm của đất, quyết định tới số lượng và khả năng hoạt động của vi sinh vật trong đất. Tuy có vai trò quan trọng như vậy nhưng sự hiểu biết và sử dụng của nông dân về phân hữu cơ lại rất khác nhau, trong đó nông dân trồng lúa gần như không biết, không dùng đến phân hữu cơ, ngược lại các nhà vườn lại đã biết cách bón lót phân hữu cơ kết hợp bồi liếp hàng năm để tăng năng suất và chất lượng rau quả.

Theo Th.sỹ Bùi Thanh Liêm, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Chợ Lách, nơi nổi tiếng cung cấp giống và kỹ thuật cây ăn trái cho cả nước, trình độ và mức độ sử dụng phân hữu cơ của các nhà vườn trong huyện vẫn khác xa nhau mà biểu hiện ở chỗ có những vườn cây có tuổi thọ lên đến 30 năm nhưng cây vẫn xanh tốt, năng suất cao trong lúc có những vườn cây mới cho trái 3-4 vụ đã suy. Tuy nhiên các nhà vườn trồng cây có giá trị cao như sầu riêng, bưởi…thì đều “phải biết” sử dụng phân hữu cơ vì nếu không sử dụng thì cây “bị bệnh chịu không nổi”.

Ngoài các tác dụng cơ bản trên, việc bón phân hữu cơ còn làm tăng hiệu quả sử dụng của phân vô cơ, dinh dưỡng vô cơ tạm thời được giữ lại để cung cấp từ tử cho cây trồng, hạn chế rửa trôi. Từ đấy mà làm giảm số lượng sử dụng phân vô cơ tạo nên nền nông nghiệp bền vững và hiệu quả.

CHỌN PHÂN HỮU CƠ NÀO?

Theo Cục Trồng trọt, số lượng các nhà sản xuất và sản lượng phân hữu cơ các loại cung ứng ra thị trường đang tăng mạnh hàng năm. Tuy nhiên việc tăng đấy cũng bao gồm việc tăng phân kém chất lượng, phân giả. Báo cáo của Cục này cho thấy có đến gần một nửa số phân được lấy mẫu kiểm tra là phân kém chất lượng. Bởi vậy rất khó cho nông dân là chọn phân hữu cơ nào để mua?

Theo Th.sỹ Bùi Thanh Liêm, cách tốt nhất là phải biết nguồn nguyên liệu đầu vào và quy trình công nghệ của nhà sản xuất. Nguyên liệu đầu vào rất quan trọng, ngoài than bùn ra nhiều nhà máy còn sử dụng phân gà, bột cá, bã cã phê…có hàm lượng dinh dưỡng rất cao để làm phân bón; quan sát xem than bùn có chất lượng không (nếu có chất lượng thì màu rất đen, xốp tơi và nhẹ hơn đất nhiều) có được ủ men hoạt hoá không. Nhà máy có quy mô công nghiệp như thế nào, có sân bãi không, có phòng phân tích nuôi cấy vi sinh vật không?…Việc tham quan cơ sở sản xuất đã có thể khẳng định được 80-90% chất lượng sản phẩm.

Ngoài ra, phân có chất lượng sẽ có độ đồng nhất cả về cỡ hạt lẫn màu sắc. Dung trọng và độ ẩm phân cũng là một chỉ số quan trọng, lấy một ít phân bỏ vào nước nếu thấy nổi nhiều là dạng hữu cơ thô, dinh dưỡng kém. Bóp trong tay thật chặt rồi mở ra mà nắm phân không tơi trở lại là độ ẩm quá cao.

NÊN TỰ Ủ LẤY PHÂN

Việc nhiều nông dân bón trực tiếp phân bò, trâu khô cho cây trồng là việc làm sai vì dinh dưỡng trong đấy đã bị mất mát còn nguồn bệnh như vi thuẩn tả, thương hàn, trứng giun sán vẫn ở lại. Tự ủ phân chuồng chẳng những có chất lượng đảm bảo mà còn tiết kiệm được nhiều chi phí.

Nếu có thụ phẩm nông nghiệp (rơm rạ, cây bắp, cây họ đậu, rơm đã làm nấm…) có thể trộn chung với phân chuồng theo tỷ lệ 1:1, nếu có điều kiện thêm lân nung chảy và vôi càng tốt. Cứ lần lượt lớp nọ chồng lớp kia, xong tưới dung dịch có chứa nấm trichoderma làm sao đống ủ có độ ẩm khoảng 60% (bóp thấy có nước rịn ra) nén hơn dẽ, 1 tuần sao đảo lại khoảng 1-1,5 tháng là đống ủ đã hoai và có thể sử dụng. Đống ủ cần được che chắn và đào rãnh thoát nước xung quanh

SẢN PHẨM PHÂN HỮU CƠ ĐẦU TRÂU

Phân Lân: Vai Trò, Phân Loại Và Cách Sử Dụng Hiệu Quả

Phân Lân là một trong 3 nguyên tố đa lượng cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Lân tham gia và thành phân Protein cấu tạo nên tế bào, vì vậy nó là chất không thể thiếu cho sự sống của cây trồng.

Cây trồng hấp thụ phân lân dưới dạng ion photphat (PO4)3-.

– Lân (P) tạo nên nhân tế bào nên rất cần cho sự hình thành bộ phận mới của cây, kiến tạo nên hoạt chất hình thành mầm hoa, đẻ nhánh, phân cành, ra hoa, đậu quả.

– Tham gia vào quá trình phát triển bộ rễ, quá trình quang hợp và hô hấp.

– Ảnh hưởng đến sự vận chuyển đường, bột tích lũy về hạt và các bộ phận của chất nguyên sinh làm cho cây chống được lạnh, chống được nóng đồng thời tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất thuận khác như hạn, úng, sâu bệnh.

– Lân là yếu tố chính quyết định sự ra hoa, đậu quả và quá trình chín của quả và hạt, giúp hoa, quả to, hạt thì chắc.

– Lân còn có tác dụng hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm.

– Lân còn có tác dụng đệm, làm cho cây chịu được chua, kiềm.

– Đối với cây táo: số hoa trên cành có tương quan tuyến tính đến hàm lượng lân trong lá .

– Đối với cây xoài: bón phân lân sớm ở thời kỳ trước khi trái phát triển có thể kích thích cho sự sinh trưởng trong mùa Xuân.

– Đối với cây lạc: Nhu cầu lân của cây khá lớn, Lân kích thích quá trình cộng sinh với vi khuẩn tạo ra nốt sần trên rễ, tăng cường khả năng hút đạm của cây, thúc đẩy ra hoa đậu trái. Lạc có nhu cầu dinh dưỡng lân nhiều nhất ở thời kỳ từ khi ra hoa đến sau khi hình thành quả.

– Đối với hoa và cây cảnh: Lân hình thành và vận chuyển các hợp chất hữu cơ trong cây hoa, kích thích bộ rễ của cây phát triển và tạo điều kiện để cây có thể đồng hóa các chất dinh dưỡng khác.

Giúp cây tăng trưởng, sinh trưởng tốt, cây ra nụ và hoa sớm, cho năng suất và chất lượng cao.

– Gây ảnh hưởng đến chất lượng hoa, quả, củ.

– Làm giảm khả năng tổng hợp chất bột, hoa khó nở; quả ít, chín chậm, quả thường có vỏ dày, xốp và dễ bị thối, nấm bệnh dễ tấn công,

– Cành lá sinh trưởng kém, lá rụng nhiều, rễ sinh trưởng chậm, cây thấp bé, lá ban đầu xanh đậm sau đó chuyển vàng và chuyển màu tím đỏ (bắt đầu từ các lá phía dưới trước, và từ mép lá vào trong).

– Quá trình tổng hợp protein bị ngưng trệ, lá bị nhỏ lại và bản lá bị hẹp và có xu hướng dựng đứng.

– Thiếu lân dẫn đến tích lũy đạm dạng Nirat gây trở ngại cho việc tổng hợp Protein.

– Thiếu lân, bộ rễ cây phát triển kém ảnh hưởng đến việc hấp thụ các chất dinh dưỡng, hạn chế quá trình quang hợp và hô hấp, ảnh hưởng đến quá trình đậu quả, giảm tính chống chịu ảnh hưởng lớn đến năng suất cây trồng.

– Thừa thì khó phát hiện, nhưng dễ kéo theo là cây thiếu kẽm và đồng.

– Bón nhiều lân thì sẽ ức chế cây sinh trưởng dẫn tới thừa sắc tố.

– Thừa Lân sẽ làm cho cây chính quá sớm, không kịp tích lũy được vụ mùa năng suất cao.

– Lân thuộc loại nguyên tố linh động, nên nó có khả năng vận chuyển từ cơ quan già sang cơ quan còn non và nhất là ở các bộ phận sinh trưởng.

Có hai loại phân Lân là: Lân tự nhiên (như Apatit, Phosphorit) và Lân chế tạo (như Super lân, Lân nung chảy) có thể dùng bón thúc. Hàm lượng lân trong phân được tính dưới dạng P2O5. (quy theo khối lượng).

Phân Lân tự nhiên (dùng để bón lót sớm vì nó khó tiêu)

2.1. Apatit (chứa 30 – 32% P2O5, Canxi và nhiều khoáng chất khác)

Được dùng để bón cho đất chua, đất phèn, đất úng trũng nghèo lân

Phân khô rời, dạng bột; dùng cho đất chua, phèn, úng, trũng, rất thích hợp với các giống họ đậu. Chất lân trong lân tự nhiên thường nên bón lót sớm chính xác là vì nó khó tiêu).

+ Super lân đơn chứa 17 – 18% P2O5

+ Super lân kép chứa 37 – 47% P2O5

– Super Lân có tính axit, không thích hợp cho đất chua. Nếu bón trên đất chua phèn nên bón phối hợp với vôi và các loại phân lân khác (như lân nung chảy).

– Super lân ở dạng dễ tiêu, dễ tan trong đất, cây trồng hấp thu được, hiệu quả nhanh, thích hợp với nhiều loại cây.

– Bón Super Lân giúp bổ sung Canxi cho cây Ca 2+ cho cây trồng

– Dùng bón thúc cho cây trồng

– Super lân dùng ủ với phân chuồng rất tốt.

2.4. Lân nung chảy ( 18 – 20% P2O5, 28 – 30% Ca, 17 – 20% Mg, 24 – 30% Si, ngoài ra còn chứa vi lượng sắt, đồng, molipden, mangan, coban)

– Lân nung chảy có dạng bột màu xanh xám.

– Lân nung chảy có tính kiềm, thích hợp cho đất chua

– Lân nung chảy ít tan trong nước, chỉ tan trong axit nhẹ, nên có tác dụng chậm nhưng lâu dài

– Sử dụng thích hợp cho đất phèn, đất bạc màu.

– Bổ sung cả Ca2+ và Mg2+ cho cây trồng

– Lân nung chảy sử dụng thích hợp cho đất phèn ở ĐBSCL, đất đồi núi Đông Nam Bộ và miền Trung, đất bạc màu. Đất càng chua phèn hiệu quả phân lân nung chảy càng cao.

Ngoài các loại phân lân phổ biến trên, còn có phân Magiê amon phosphate chứa 30 – 45% P2O5 + 6 – 9% N + 10 – 15% Mg, là loại phân phức hợp có hiệu quả cao.

3/ Cách bón phân Lân cho cây trồng đạt hiệu quả

Phân lân chủ yếu dùng bón lót, phân dễ tiêu như Super lân có thể dùng bón thúc.

Tùy loại đất chua ít hay nhiều mà chọn loại phân lân thích hợp.

+ Super Lân được sản xuất chủ yếu theo 2 cách (dùng axit sunphuric đặc để khử quặng nên lân này có PH từ 4 – 4,5 gây chua đất. Nên không thích hợp bón cho đất chua, thích hợp bón cho đất hơi chua hoặc trung tính. Nếu bón trên đất chua phèn nên bón phối hợp với vôi và các loại phân lân khác (như lân nung chảy).

+ Lân nung chảy có tính kiềm (PH = 8 – 8,5) vì quặng được nung chảy ở nhiệt độ cao thành lân. Nên thích hợp bón cho đất phèn, đất bạc màu.

Do đó cần kiểm tra để biết đất ruộng là chua, trung tính hay kiềm mà chọn lân nào cho thích hợp.

Bón quá nhiều lân có thể làm cho cây bị thiếu một số nguyên tố vi lượng nên thường bón phân lân kết hợp với bón bổ sung các nguyên tố vi lượng thiết yếu.

– Bón lân nên kết hợp với phân chuồng. Tốt nhất super lân nên ủ cùng phân chuồng sẽ làm tăng hiệu suất của lân, hạn chế sự cố định của đất.

* Lưu ý: Khi bón lân phải giữ đủ độ ẩm cho đất, không để đất khô. Mặt khác, khi bón nên trộn vào đất để phân càng gần rễ càng tốt.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Đặc Điểm Của Phân Lân Nung Chảy Và Cơ Sở Khoa Học Sử Dụng Hiệu Quả Ở Việt Nam trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!