Đề Xuất 12/2022 # Công Ty Tnhh Tm Nguyên Nông Gino Co., Ltd / 2023 # Top 13 Like | Vitagrowthheight.com

Đề Xuất 12/2022 # Công Ty Tnhh Tm Nguyên Nông Gino Co., Ltd / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Công Ty Tnhh Tm Nguyên Nông Gino Co., Ltd / 2023 mới nhất trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

ORGANIC XTRA Phân nở tảo biển cao cấp là phân bón chất lượng cao được nhập khẩu 100% từ Úc , Xtra Phân nở tảo biển với nguồn dinh dưỡng từ tảo biển, và các khoáng chất khác, chiếm 65% chất hữu cơ giúp cây trồng phát triển nhanh và tăng sức đề kháng.

Organic Xtra là sự pha trộn hoàn hảo của việc ủ tảo và các phụ phẩm động vật. Đặc biệt, tảo biển được khai thác từ các vùng biển của Úc (nơi tảo biển có hàm lượng dinh dưỡng cao) có chứa thành phần dinh dưỡng cao như các Axit Amin giúp kích thích tăng trưởng cây trồng; các sinh tố, khoáng tố cung cấp và bổ sung nguồn dinh dưỡng cho cây trồng, tảo biển là nguồn tài nguyên tự nhiên, rất được ưa chuộng và sử dụng nhiều như 1 loại phân bón hữu cơ trong chăm sóc cây cảnh, trồng trọt và kinh doanh nông sản.

Xtra – phân nở tảo biển được sản xuất với quy trình khép kín: Phân ban đầu được ủ hiếu khí ở nhiệt độ ổn định từ 6 – 8 tuần giúp tạo ra những vi sinh vật có lợi cho cây trồng và đất. Sau đó, phân được ủ sẽ được đưa qua xử lý bằng phương pháp sấy 2 lần và ép thành dạng viên ở nhiệt độ từ 55oC đến 65oC, ở nhiệt độ này, các mầm bệnh gây hại sẽ bị tiêu diệt. Cuối cùng, phân dạng viên sẽ được làm mát và chuyển đến hệ thống đóng gói tự động.  

Organic Xtra – Phân nở tảo biển cao cấp sẽ làm giàu dinh dưỡng cho đất, giúp vi sinh vật phát triển mạnh mẽ, tăng sức đề kháng cho cây, giúp cây lớn nhanh, khoẻ, tăng sản lượng.

Công dụng:

– Giữ được độ ẩm bền lâu hơn trong mùa khô, giúp cho hệ sinh vật có lợi phát triển.

– Giúp bộ rễ phát triển mạnh, cây khoẻ, lá xanh, hạn chế rụng hoa, rụng quả.

– Đối với các loại hoa, màu sắc đẹp hơn, bền màu hơn.

– Tăng năng suất, chất lượng cây trồng.

Công Ty Tnhh Sản Xuất &Amp; Tm Hoàng Long Vina / 2023

Nếu trồng lan kinh doanh cần thiết kế khung giàn lan làm bằng sắt chắc chắn, đảm bảo bền, chống gió bão. Giàn che ánh sáng dùng lưới màu xám hay xanh đen. Giàn đặt chậu làm bằng sắt, giàn treo làm bằng tầm vông hay sắt ống nước. Xung quanh vườn cần dựng hàng rào chắn chắc chắn hay rào bằng lưới B40. Thiết kế hàng trồng theo hướng Bắc Nam để vuông góc với dường đi của ánh nắng. Các chậu lan cần chọn cùng cỡ kích thước, cùng giống, cùng độ tuổi, bố trí theo từng khu vực để dễ chăm sóc. Nước tưới phải sạch, có rãnh nước dưới dàn lan để tạo khí hậu mát cho vườn lan. Nếu trồng lan để chơi trên lan can, mái hiên, sân thượng cần chú ý rằng kiểu khí hậu các nơi này thường bị khô nóng do ảnh hưởng của các kết cấu bê tông, mái tole… xung quanh. Cần đặt thêm các chậu cảnh khác như cau, mai chiếu thuỷ, nguyệt quế… để giảm bớt ảnh hưởng của các yếu tố này. Cần che bớt ánh sáng mặt trời, tránh ánh nắng chiếu toàn bộ, nhất là vào buổi chiều.

Loài thích hợp cho trồng lan kinh doanh là Dendrobium, Phalaenopsis, Oncidium, Vanda, Cattleya… đây là những loài ra hoa khoẻ, đẹp và bền cây, cho thu hoạch liên tục. Nếu trồng lan để chơi, giải trí nên trồng Dendrobium, Vũ nữ, Hồ điệp; đây là những loài dễ chăm sóc và ra hoa. Có thể nhân giống bằng nuôi cấy mô hay tách mầm. Điều kiện môi trường nuôi cấy mô phong lan với nhiệt độ 22-27oC, cường độ ánh sáng thích hợp, pH từ 5-5,7. Khử trùng mô bằng Starner 20 WP cấy bằng Clorox hoặc Hipocloritcalci, bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng. Có thể tách mầm từ các chậu lan lớn, mỗi phần để 2-3 nhánh. Dùng dao sắc khử trùng bằng cồn, vết cắt cần gọn, sau cắt bôi vôi vào vết cắt cho nhanh lành sẹo.

3- CHUẨN BỊ GIÁ THỂ VÀ CHẬU

Có thể than gỗ, xơ dừa, vỏ lạc làm giá thể để trồng lan. Than gỗ nung cần chặt khúc, kích thước 1 x 2 x 3cm, than phải ngâm, rửa sạch, phơi khô. Xơ dừa xé cho tơi ngâm khoảng 1 tuần cho bớt tanin và mặn, phơi khô. Mụn dừa cũng cần rửa sạch phơi khô. Vỏ dừa chặt khúc 1 x 2 x 3 cm xử lý bằng nước vôi 5%. Chậu trồng bằng nhựa hay đất nung, kích cỡ tuỳ loại và độ tuổi.

Nếu dùng lan cấy mô thì khi lan mô đạt khoảng 4cm cần chuyển ra ngoài. Cây mô rửa sạch để trên miếng lưới hay rổ kê trên chậu nước để giữ mát cho cây con. Giai đoạn trồng chung trên giàn lấy xơ dừa bó xung quanh cây lan cấy mô, dùng dây thun cuốn lại rồi đặt lên giàn. Sau khi trồng trên giàn được 6-7 tháng thì chuyển sang chậu nhỏ. Khoảng 6 tháng thì chuyển sang chậu lớn. Sau mỗi lần chuyển chậu khoảng 1 tuần mới được bón phân. Việc thay đổi chậu còn tùy kích cỡ của cây, mức độ thối, hư mục rêu bám… Nếu trồng lan để chơi, lan lâu ngày ra hoa ít cần dỡ lan ra khỏi chậu, cắt bớt các rễ già và quá dài, chuyển sang chậu mới, thay giá thể mới, lan sẽ sinh trưởng tốt và ra hoa trở lại.

Lan là cây trồng dễ chăm sóc nếu chúng ta đảm bảo được các điều kiện thuận lợi cho lan phát triển. Các yếu tố quan trọng nhất đối với lan là ánh sáng, nước tưới, độ ẩm, chậu hay giá thể và dinh dưỡng.

Mật độ chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng, phát triển và ra hoa của lan. Thiếu nắng cây lan vươn cao nhưng nhỏ và ốm yếu, lá màu xanh tối, dễ bị sâu bệnh tấn công, cây ít nảy chồi, khó ra hoa, hoa nhỏ và ngắn màu sắc không tươi, hoa nhanh tàn. Thừa nắng lan thấp cây, lá vàng có vết nhăn và khô, mép lá có xu hướng cụp vào, dễ ra hoa sớm khi cây còn nhỏ nên hoa ngắn, nhỏ, cây kém phát triển. Nếu nắng gắt quá lá sẽ bị cháy, khô dần rồi chết.

Lan có yêu cầu khác nhau về mức độ chiếu sáng tùy theo loài lan và tuổi cây. Lan Hồ điệp (Phalaenopsis) ít chịu nắng nhất, có thể chịu được 30% nắng, lan Cattleya chịu được 50% nắng, lan Dendrobium hay Vanda lá hẹp chịu được 70% nắng, trong khi lan Vanda lá dài và Bò cạp chịu được tới 100% nắng. Lan con từ 0-12 tháng đang trong giai đoạn tăng trưởng thân lá chỉ cần chiếu sáng 50%, lan nhỡ từ 12-18 tháng cần chiếu sáng tới 70% và thời điểm kích thích ra hoa có thể cho chiếu sáng nhiều hơn, thậm chí bỏ dàn che để chiếu sáng tự nhiên. Hướng chiếu sáng cũng rất quan trọng đối với lan. Lan đặt ở hướng Đông nhận ánh nắng buổi sáng sẽ tốt hơn nhiều so với lan đặt ở hướng Tây nhận ánh nắng buổi chiều. Chính vì vậy nếu trồng lan trên sân thượng hay ban công ở phía Tây lan kém phát triển và ít hoa. Khi trồng lan cần bố trí hàng theo hướng Bắc – Nam để cây nhận được ánh sáng phân bố đầy đủ nhất.

Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với lan. Khi lan đầy đủ dinh dưỡng cây tươi tốt, ra nhiều hoa, hoa to đẹp, bền trong khi thiếu dinh dưỡng lan còi cọc, kém phát triển, không hoặc ít có hoa. Lan cần 13 chất dinh dưỡng khoáng, thuộc các nhóm đa, trung và vi lượng: Dinh dưỡng đa lượng gồm Đạm (N), Lân (P) và Kali (K). Dinh dưỡng trung lượng gồm Lưu huỳnh (S), Magiê (Mg) và Canxi (Ca). Dinh dưỡng vi lượng gồm Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Đồng (Cu), Mangan (Mn), Bo (B), Molypđen (Mo) và Clo (Cl).

Thiếu đạm, cây còi cọc, ít ra lá, ra chồi mới, lá dần chuyển vàng theo qui luật lá già trước, lá non sau, rễ mọc ra nhiều nhưng cằn cỗi, cây khó ra hoa.

Thừa đạm, thân lá xanh mướt nhưng mềm yếu, dễ đổ ngã và sâu bệnh, đầu rễ chuyển xám đen, cây khó ra hoa.

Thiếu lân, cây còi cọc, lá nhỏ, ngắn, chuyển xanh đậm, rễ không trắng sáng mà chuyển màu xám đen, không ra hoa.

Thừa lân cây thấp, lá dày, ra hoa sớm nhưng hoa ngắn, nhỏ và xấu, cây mất sức rất nhanh sau ra hoa và khó phục hồi. Thừa lân thường dẫn đến thiếu Kẽm, Sắt và Mangan.

Thiếu kali, cây kém phát triển, lá già vàng dần từ hai mép lá và chóp lá sau lan dần vào trong, lá đôi khi bị xoắn lại, cây mềm yếu dễ bị sâu bệnh tấn công, cây chậm ra hoa, hoa nhỏ, màu không sắc tươi và dễ bị dập nát.

Thừa kali, thân lá không mỡ màng, lá nhỏ. Thừa kali dễ dẫn đến thiếu magiê và can xi.

Thiếu lưu huỳnh, lá non chuyển vàng nhạt, cây còi cọc, kém phát triển, sinh trưởng của chồi bị hạn chế, số hoa giảm.

Thiếu magiê, thân lá èo uột, xuất hiện dải màu vàng ở phần thịt của các lá già trong khi hai bên gân chính vẫn còn xanh do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, cây dễ bị sâu bệnh và khó nở hoa.

Thiếu canxi, cây kém phát triển, rễ nhỏ và ngắn, thân mềm, lá nhỏ, cây yếu dễ bị đổ ngã và sâu bệnh tấn công.

Thiếu kẽm, xuất hiện các đốm nhỏ rải rác hay các vệt sọc màu vàng nhạt chủ yếu trên các lá đã trưởng thành, các lá non trở nên ngắn, hẹp và mọc sít nhau, các đốt mắt ngọn ngắn lại, cây thấp, rất khó ra hoa.

Thiếu đồng, xuất hiện các đốm màu vàng và quăn phiến lá, đầu lá chuyển trắng, số hoa hình thành ít bị hạn chế, cây yếu dễ bị nấm tấn công.

Thiếu sắt, các lá non chuyển úa vàng sau trở nên trắng nhợt, cây còi cọc, ít hoa và dễ bị sâu bệnh tấn công.

Thiếu mangan, úa vàng giữa các gân của lá non, đặc trưng bởi sự xuất hiện các đốm vàng và hoại tử, các đốm này xuất hiện từ cuống lá non sau lan ra cả lá, cây còi cọc, chậm phát triển.

Thiếu bo, lá dày, đôi khi bị cong lên và dòn, cây còi cọc, dễ bị chết khô đỉnh sinh trưởng, rễ còi cọc số nụ ít, hoa dễ bị bị rụng, không thơm và nhanh tàn.

Thiếu molypden, xuất hiện đốm vàng ở giữa các gân của những lá dưới, nếu thiếu nặng, các đốm này lan rộng và khô, mép lá cũng khô dần, cây kém phát triển.

Thiếu clo, xuất hiện các vệt úa vàng trên các lá trưởng thành sau chuyển màu đồng thau, cây còi cọc, kém phát triển.

Lan rất cần phân bón nhưng không chịu được nồng độ dinh dưỡng cao, vì vậy bón phân cho lan phải thực hiện thường xuyên và tốt nhất là bằng cách phun qua lá. Phân bón cho lan phải chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung và vi lượng với thành phần và tỷ lệ phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây. Nguyên tắc chung là lan trong thời kỳ sinh trưởng thân lá mạnh cần đạm cao, lân và kali thấp, trước khi ra hoa cần lân và kali cao, đạm thấp trong khi lan nở hoa cần kali cao, lân và đạm thấp hơn.

Phân bón thích hợp cho các thời kỳ này là 30-15-10(500ppm),10-30-20(3000ppm) và 15-20-25(2000ppm), đây là loại phân có đầy đủ và cân đối: đa, trung, vi lượng và các chất điều hòa sinh trưởng. Nồng độ và liều lượng phun tùy thuộc tuổi và thời kỳ phát triển như sau:

– Lan mới trồng 0-6 tháng hoặc lan mới ra chồi non sau cắt hoa:

Dùng phân bón (30-10-10) Agrilong hoà loãng vào nước (1g/lít). Giai đoạn trước 3 tháng tưới vào gốc hoặc phun định kỳ 3 ngày/lần, từ 3-6 tháng định kỳ 7 ngày/lần.

– Lan mới trồng 6-12 tháng hay lan cũ có chồi mới đang phát triển mạnh:

Phun phân bón (30-10-10) Agrilong hoà vào nước nồng độ (2g/lít), định kỳ 7 ngày/lần.

– Lan mới trồng 12-18 tháng hay lan cũ có chồi đã thành thục chuẩn bị ra hoa:

Phun phân bón (9-25-17) Agrilong hoà vào nước nồng độ 3.000 ppm (3g/lít), định kỳ 7 ngày/lần. Giai đoạn này cần giảm nước tưới và bỏ bớt mật độ giàn che để năng mức độ chiếu sáng nhằm kích thích ra hoa.

Phun phân bón (6-30-30) nồng độ 2.000 ppm (2g/lít) nhằm thúc hoa nở to, đẹp, giữ hoa lâu tàn.

Lan rất cần nước cho quá trình sinh trưởng phát triển. Nếu thiếu nước cây sẽ khô héo, giả hành teo lại, lá rụng nhưng không chết, nụ có thể trước khi nở hoa. Thừa nước, cây dễ bị thối đọt nhất là với các giống lan có lá đứng mọc sít nhau. Quá nhiều nước rễ có rong rêu và nấm bệnh phát triển mạnh. Nước tưới cho lan không quá mặn, phèn và clor dưới ngưỡng cho phép,

pH 5,6. Chỉ tưới nước đủ ẩm, nên tưới vào sáng sớm hay chiều mát, tránh tưới buổi trưa khi trời đang nắng nóng. Sau những trận mưa bất thường, nhất là mưa đầu mùa cần tưới lại ngay để rửa bớt các chất cặn đọng lại trên thân lá.

Lan là cây cũng dễ bị sâu bệnh, nhất là trong điều kiện chăm sóc kém, điều kiện môi trường không thuận lợi. Tùy theo từng loại sâu bệnh mà dùng các loại thuốc thích hợp. Liều lượng và nồng độ phun cần theo đúng hướng dẫn trên bao bì sản phẩm. Nếu lan bị các loại sâu hại thân lá có thể dùng các thuốc chứa hoạt chất Fenitrothion, Trichlorfon như Ofatox 400EC, hoạt chất Cartap như Patox 95SP hay Captafon, Captan hoặc Actara 25WG. Lan bị rệp sáp, rệp trắng, rầy mềm dùng Supracid 40ED/ND, Suprathion 40EC, Bitox 40EC hay Ofatox 400EC. Lan bị nấm, vi khuẩn hay virus gây nên tình trạng cháy lá từng đám, vết cháy lan tròn dần, bệnh thối rễ dùng Zinep, Starner 20 WP hay Benomyl.

Hoa cắt cánh ngâm trong dung dịch giúp hoa lâu héo khoảng 15 phút, sau đó bọc lại bằng giấy báo

..:: Công Ty Tnhh Biofeed ::.. / 2023

Kỹ thuật trồng hoa lan không nhất thiết phải sử dụng đất mà có thể sử dụng nhiều loại như xơ dừa, mùn cưa hay than… Khi trồng hoa lan bằng những giá thể này vẫn có thể đảm bảo cho sự sống và phát triển khỏe mạnh của cây hoa lan nếu biết cách chọn và chăm sóc.

Việc trồng hoa lan không cần đất còn ít sâu bệnh hại các giá thể không phải đất sẽ nhẹ và hút nước tốt, tránh được tình trạng thối rễ như khi trồng bằng đất.

Điều kiện nhiệt độ trồng hoa lan không cần đất

Thường hoa lan sẽ được trồng trong phòng để có thể điều chỉnh ánh sáng, nhiệt độ, nước tưới… cho cây tốt hơn bởi nếu có ánh sáng trực tiếp cây hoa lan sẽ khó phát triển. Việc trồng trong phòng còn có thể khống chế được giá thể bằng các phương pháp thủ công và nước dùng.

Chọn giá thể thích hợp trồng hoa lan không cần đất

Nên trồng vào các chậu đất nung sẽ giúp phong lan phát triển tốt hơn. Chọn chậu có nhiều lỗ thoáng. Trước khi trồng hoa, phải rửa sạch chậu. Ngoài ra cũng cần phải ngâm, giặt sạch phơi khô, sát trùng trước khi trồng phải gác treo làm sao để có được nhiều kẽ hở.

Thành phần cụ thể của từng loại giá thể như những giá thể cứng là vỏ cây mục, rễ cây, còn những giá thể mềm là vỏ dừa, vỏ trấu, bã mía, than củi, rêu…Trong đó các loại vỏ cây mục do sự phân hủy nhiều năm, chúng nằm trong đất mùn, đất mục. Loại giá thể này chứa rất nhiều chất dinh dưỡng. Mùn cưa chính là rễ và thân của cây họ dương xỉ, chúng thô, cứng và không dễ bị mục nát.

Xử lý giá thể trước khi trồng hoa lan không cần đất

Dù lựa chọn ở loại giá thể nào thì trước khi đem trồng hoa lan cũng cần phải xử ly tiêu độc nhằm ngăn chặn các mầm móng sâu bệnh có thể ảnh hưởng đến cây. Thực hiện xử lý tiêu độc cho giá thể hữu cơ bằng cách rửa sạch chúng và đem phơi khô trong khoảng 3 ngày trước khi đem trồng. Hoặc có thể sử dụng hơi nước để tiêu độc cho chúng trong 2 tiếng.

Chăm sóc hoa lan không cần đất

Vì trồng hoa lan bằng các giá thể không cần đất độ ẩm sẽ nhanh thoát hơn nên cần phải cung cấp nước nhiều gấp 3 – 4 lần để tăng thêm độ ẩm cho chúng. Trong thời điểm nghỉ đông nên tưới nước vào lúc 10h sáng, với đầu đông hoặc xuân muộn thì tưới vào buổi sáng và tối. Mùa hè nắng nóng nên tưới nước vào sáng, trưa, tối với lượng nhiều.

Tuy nhiên, cũng tùy thuộc vào điều kiện khí hậu của từng vùng miền khác nhau để có cách chăm sóc phù hợp. Chúng ta nên sử dụng thêm phân bón cho cây, có thể sử dụng phân vô để bón cho hoa lan giúp cây có đủ dinh dưỡng phát triển tốt nhất.

Làm giàn trồng hoa lan

Muốn trồng hoa lan với số lượng nhiều thì phải trồng giàn lan. Dù làm giàn lan với quy mô nào, hoặc có sân vườn tư gia vừa phải, hoặc công nghiệp, thì sườn của giàn giống như nền móng của ngôi nhà, phải làm cho thật chắc chắn. Trụ đứng phải trồng bằng trụ sắt hoặc trụ betong để đảm bảo dài lâu, có nhiều cây chằng vững chắc để đề phòng trường hợp có gió bão.

Theo An Dương/ VietQ

Công Ty Tnhh Logistics Tín Đạt / 2023

THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG PHÂN BÓN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TỐT CHÂT LƯỢNG TRONG SẢN XUẤT SUPE LÂN VÀ NPK LÀO CAI

I/ Thực trạng thị trường phân bón ở Việt Nam hiện nay

1/ Nhu cầu phân bón.

Nhu cầu phân bón ở Việt Nam hiện nay vào khoảng trên 10 triệu tấn các loại. Trong đó, Urea khoảng 2 triệu tấn, DAP khoảng 900. 000 tấn, SA 850.000 tấn, Kali 950.000 tấn, phân Lân trên 1,8 triệu tấn, phân NPK khoảng 3,8 triệu tấn, ngoài ra còn có nhu cầu khoảng 400 – 500.000 tấn phân bón các loại là vi sinh, phân bón lá.

2/ Tình hình sản xuất trong nước.

Phân Urea, hiện tại năng lực trong nước đến thời điểm hiện tại là 2,340 triệu tấn/năm, bao gồm Đạm Phú Mỹ 800.000 tấn, Đạm Cà Mau 800.000 tấn, Đạm Hà Bắc 180.000 tấn, Đạm Ninh Bình 560.000 tấn. Dự kiến cuối năm 2014, Đạm Hà Bắc nâng công suất từ 180.000 tấn lên 500.000 tấn/năm, cả nước sẽ có 2,660 triệu tấn/năm. Như vậy, về Urea đến nay, sản xuất trong nước không những phục vụ đủ cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp mà còn có lượng để xuất khẩu.

Phân DAP, hiện sản xuất trong nước tại nhà máy DAP Đình Vũ 330.000 tấn/năm, đến hết 2015 có thêm nhà máy DAP Lào Cai công suất 330.000 tấn/năm và theo kế hoạch của Thủ tướng từ nay đến hết năm 2015 sẽ có thêm một nhà máy DAP nữa hoặc nâng công suất hiện có của DAP Đình Vũ lên thêm 330.000 tấn/năm. Như vậy sau 2015 sản xuất trong nước có thể đạt tới gần 1 triệu tấn DAP/năm, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu trong nước. Hiện tại từ nay đến hết năm 2014, chúng ta vẫn phải nhập khẩu DAP thêm từ 500.000 – 600.000 tấn/năm.

Phân Lân: Hiện tại Supe Lân sản xuất trong nước có công suất 1,2 triệu tấn/năm, bao gồm nhà máy Lâm Thao công suất 800.000 tấn/năm, Lào Cai 200.000 tấn/năm và Long Thành 200.000 tấn/năm.

Sản xuất Lân nung chảy hiện tại vào khoảng 600.000 tấn/năm bao gồm nhà máy Văn Điển và nhà máy Ninh Bình. Dự kiến tương lai sẽ có thêm khoảng 500.000 tấn/năm của 3 nhà máy mới ( Lào Cai, Thanh Hóa,…)

Như vậy sản xuất phân Lân trong nước cũng đáp ứng được về cơ bản cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp trong nước.

Phân NPK: Hiện cả nước có tới cả trăm đơn vị sản xuất phân bón tổng hợp NPK các loại. Về thiết bị và công nghệ sản xuất cũng có nhiều dạng khác nhau, từ công nghệ cuốc xẻng đảo trộn theo phương thức thủ công bình thường đến các nhà máy có thiết bị và công nghệ tiên tiến. Về quy mô sản xuất tại các đơn vị cũng khác nhau từ vài trăm tấn/năm tới vài trăm ngàn tấn/năm và tổng công suất vào khoảng trtên 3,7 triệu tấn/năm. Nói chung là sản xuất NPK ở Việt Nam vô cùng phong phú cả về thiết bị, công nghệ đến công suất nhà máy. Chính điều này đã dẫn tới sản phẩm NPK ở Việt Nam rất nhiều loại khác nhau cả về chất lượng, số lượng đến hình thức bao gói.

Phân Kali: Hiện trong nước chưa sản xuất được do nước ta không có mỏ quặng Kali, vì vậy 100% nhu cầu của nước ta phải nhập khẩu từ nước ngoài.

Phân SA: Hiện tại nước ta chưa có nhà máy nào sản xuất SA và nhu cầu của nước ta vẫn phải nhập khẩu 100% từ nước ngoài.

Phân Hữu cơ và vi sinh: Hiện tại sản xuất trong nước vào khoảng 400.000 tấn/năm, tương lai nhóm phân bón này vẫn có khả năng phát triển do tác dụng của chúng với cây trồng, làm tơ xốp đất, trong khi đó nguyên liệu được tận dụng từ các loại rác và phế thải cùng than mùn sẵn có ở nước ta.

3/ Tình hình nhập khẩu.

Theo số liệu thống kê thì nhập khẩu 8 thàng đầu năm 2013 ở nước ta vào khoảng gần 3 triệu tấn phân bón các loại. Trong đó DAP gần 550.000 tấn, Kali trên 560.000 tấn, SA khoảng 750.000 tấn, Urea 420.000 tấn, NPK 350.000 tấn.

Về DAP, so với nhu cầu về cơ bản chúng ta đã nhập khẩu đủ cho lượng dùng của cả năm ( SX trong nước 330.000 tấn, nhu cầu cả nước vào khoảng 900.000 tấn/năm). Hiện tại giá DAP Quốc tế đang có xu hướng giảm, nếu các doanh nghiệp không có giải pháp tốt, một lượng DAP giá thấp hơn sẽ tiếp tục chảy về Việt Nam gây thua lỗ cho các doanh nghiệp đã nhập khẩu chờ cung ứng,

Về Kali, nhập khẩu còn thiếu so với nhu cầu vào khoảng 400.000 tấn cho năm 2013. Tuy nhiên, hiện tại thị trường Kali trên thế giới đang có nhiều biến động và rất có khả năng gây biến động cho thị trường trong nước cả về mặt giá cả lẫn lượng hàng nhập khẩu vào các tháng cuối của năm 2013, đầu năm 2014.

Riêng về SA, lượng nhập khẩu từ đầu năm tới nay là khá lớn (750.000/ nhu cầu 850.000 tấn). Do mất cân đối về cung cầu SA trên thế giới nên từ quý II năm nay đến giờ, giá SA Quốc tế liên tục giảm. Các doanh nghiệp Việt Nam đã tranh thủ nhập “cứ lô sau giá thấp hơn gỡ cho lô trước giá cao…” đã dẫn tới lượng nhập về cho năm nay là quá nhiều, tính đến thời điểm hiện nay. Kết quả của việc nhập khẩu SA từ đầu năn đến nay của các doanh nghiệp là thua lỗ và hiện tại giá SA Quốc tế vẫn chưa khẳng định được là đã dừng lại. Đây cũng là một bài học cho việc cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam về giá cả trong bối cảnh thị trường Quốc tế có chiều hướng đi xuống.

Về Urea, mặc dù lượng sản xuất trong nước không thiếu nhưng do để giá chênh lệch quá lớn giữa Urea sản xuất trong nước và Urea nhập khẩu dẫn tới một lượng khá lớn (420.000 tấn) Urea ngoại được nhập vào Việt nam. Giá thành Urea sản xuất trong nước không biết cao hơn giá Urea nước ngoài sản xuất không, chất lượng không biết cao hơn cỡ nào nhưng giá bán Urea trong nước thời gian qua cao hơn giá Urea ngoại chừng 1,2 – 2 triệu đồng/tấn (60 -100 usd/mt). Đây cũng là một nghịch lý cần phải xem xét đê thị trường phân bón được lành mạnh và người nông dân thực sự có chi phí hợp lý cho giá thành sản phẩm của họ trong sản xuất nông nghiệp.

Về NPK, lượng nhập khẩu năm nay đến thời điểm này (350.000 tấn) là khá cao. Hầu hết các loại NPK nhập vào Việt Nam có công thức 16-16-8-13S, 15-15-15, 20-20-0… Do nước ngoài triển khai kênh bán độc quyền và tâm lý sính ngoại của một bộ phận nông dân nên mặc dù chất lượng, hàm lượng hữu hiệu của các loại phân bón này không hơn chất lượng các sản phẩm NPK trong nước nhưng vẫn bán được với giá cao hơn hẳn hàng cùng loại sản xuất trong nước. Hiện tại nguồn NPK sản xuất trong nước khá dồi dào, nhập khẩu NPK ngoại lại tốn một lượng ngoại tệ không nhỏ… điều này chỉ ra rằng công tác tuyên truyền sản phẩm NPK trong nước, công tác khuyến nông … của chúng ta chưa tốt dẫn tới chi phí SXNN của một bộ phận bà con nông dân bị cao trong khi giá nông sản năm 2013 là chưa cao.

4/ Một số tồn tại trong thị trường phân bón ở Việt Nam hiện nay.

4.1/ Sản xuất, kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng.

Thị trường thời gian qua cũng xuất hiện một số loại phân bón tổng hợp, đặc biệt là NPK với hàm lượng thấp nhưng lại đóng bao ghi các hàm lượng hữu hiệu cao hơn để bán cho nông dân thu tiền với giá cao thì đây chính là loại phân kém chất lượng và về khía cạnh nào đó cũng là loại phân bón giả. Việc làm này là hành vi lừa đảo trục lợi dẫn tới người nông dân bỏ tiền thật mua hàng giả và tất nhiên là chi phí sản xuất nông nghiệp sẽ bị cao…

Các hiện tượng này xuất hiện rất nhiều mỗi khi giá phân bón tăng cao, thị trường có những cơn sốt nóng.

4.2/ Vi phạm về nhãn hiệu hàng hóa.

Việc ghi các nội dung trên bao bì gần đây cũng có nhiều điều đáng phải quan tâm, đó là việc ghi các dòng chữ Anh trên bao bì có các nội dung là Công nghệ Nhật, Công nghệ Mỹ, chất lượng Mỹ… cụ thể là các dòng chữ “Tecnology of Japan” ” Quality of American”… dễ làm cho nông dân hiểu lầm là sản phẩm của Nhật, của Mỹ… và giá cả của từng sản phẩm có sự khác nhau mà nông dân khó phân biệt.

Đặc biệt một số cơ sở còn sử dụng cả công thức hàm lượng hữu hiệu làm tên sản phẩm, như NPK5.10.3 của một đơn vị ở Bắc Giang dễ làm cho người tiêu dùng lầm tưởng đây là sản phẩm NPK có hàm lượng hữu hiệu là 5-10-3, thực chất NPK5.10.3 có hàm lượng hữu hiệu thấp hơn.

Việc đăng ký và sử dụng nhãn hiệu độc quyền trong kinh doanh phân bón cũng đã xuất hiện điều bất cập. Cụ thể Công ty CP Vinacam đăng ký nhãn hiệu “SA” làm nhãn hiệu hàng hóa độc quyền của Vinacam cũng đã gây nhiều tranh cãi, bới SA là tên của một loại phân bón chung là Amonium Sulphate. Tên SA được cả thế giới dùng gọi tên sản phẩm cho loại phân bón này và nó đã rất thông dụng cho cả các nhà cung ứng và người sử dụng là bà con nông dân. Nay tên sản phẩm này chỉ duy nhất một công ty được dùng làm nhãn hiệu phân bón có lẽ vấn đề này chưa hợp lý và không phù hợp với thông lệ ở Việt Nam cũng như trên Quốc tế.

Một số sản phẩm còn thiếu các thông số cần thiết của sản phẩm trên bao bì, thiếu hướng dẫn sử dụng và cảnh báo an toàn…

4.3/ Buôn lậu và trốn thuế

Hiện tượng buôn lậu qua biên giới được cho là vẫn tồn tại bởi biên giới Việt Trung dài, các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lào Cai, hà Giang… đều có hàng chục KM đường bộ, đường thủy… do công tác quản lý chưa được chặt chẽ nên vẫn phát sinh buôn lậu phân bón từ Trung Quốc về Việt Nam. Tình trạng buôn lậu không những trốn thuế làm cho nhà nước thất thu ngân sách mà còn làm cho các nhà kinh doanh chân chính mệt mỏi vì giá cả. Trong buôn lậu không ngoại trừ khả năng mang các hàng hóa không đảm bảo chất lượng vào Vịêt Nam để tiêu thụ gây thiệt hại cho bà con nông dân…

4.4/ Một số vi phạm khác.

Ngoài các vi phạm trên, thị trường phân bón Việt Nam còn có các vi phạm khác như vi phạm về Đăng ký kinh doanh, vi phạm về Hợp đồng, hóa đơn và vi phạm về giá…

5/ Một số kiến nghị

5.1/ Tăng cường công tác tuyên truyền cho bà con nông dân hiểu rõ tính năng, tác dụng, thành phần và hàm lượng hữu hiệu của từng loại phân bón để sử dụng có hiệu quả. Khuyên nông dân không nên quá xính ngoại (như việc sử dụng NPK Phi với giá cao hơn hẳn NPK nội cùng loại) hoặc quá xính nội (như việc sử dụng urea nội với giá cao hơn hẳn giá urea ngoại) làm ảnh hưởng đến chi phí sản xuất; Hướng dẫn cho bà con nông dân biết phân biệt phân giả, phân thật và nhận thức về các thông tin ghi trên bao bì.

5.2/ Đẩy mạnh công tác khuyến nông cho bà con nông dân, mở các lớp tập huấn cho các đại lý và hộ nông dân nhằm trang bị những hiểu biết nhất định về việc sử dụng phân bón để bà con nông dân và đại lý biết lựa chọn và sử dụng phân bón có hiệu quả.

5.4/Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất kinh doanh phân bón; Chú ý các điểm bán hàng ở vùng sâu, vùng xa nơi có ít thông tin về phân bón, đồng thời có biện pháp mạnh đối với những người cố tình vi phạm pháp luật về sản xuất kinh doanh phân bón; khuyến khích, biểu dương những người làm tốt trong công tác sản xuất kinh doanh phân bón…

II/ Tăng cường công tác quản lý chất lượng trong sản xuất phân bón Supe Lân và NPK Lào Cai.

Thực hiện văn bản số 1170/TTg-CN ngày 27/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sung dự án phân bón vào Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm 2010, có tính đến năm 2020; Apromaco đã xây dựng nhà máy sản xuất phân bón Supe Lân tại Khu CN Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai với công suất Supe lân 200.000 tấn/năm, và NPK với công suất 150.000 tấn/năm.

Sản phẩm supe lân Lào Cai được sản xuất trên dây chuyền công nghệ tiên tiến, phản ứng hóa học xảy ra triệt để trong quá trình chuyển hóa P2O5 từ apatit ở dạng khó tiêu thành dạng dễ tiêu bằng phương pháp sử dụng acid Sulphuaric. Với dây truyền công nghệ mới, tiên tiến cho phép sử dụng ít lao động, tiết kiệm nguyên vật liệu nên Apromaco đã sản xuất ra sản phẩm supe Lân có giá thành tốt, chất lượng cao. Nhà máy của Apromaco đặt tại khu mỏ quặng Apatit Lào Cai với nguyên liệu quặng Apatit giàu hàm lượng dinh dưỡng. Trải qua các công đoạn sản xuất khép kín, chất lượng được quản lý nghiêm ngặt theo tiêu chuẩn ISO 9001-2008, Supe lân Lào Cai luôn đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn công bố (hàm lượng P2O5 hữu hiệu trên 17%, P2O5 tự do dưới 4%, độ ẩm thường xuyên không quá 10%, hàm lượng lưu huỳnh 11%, CaO từ 22% – 23% và các yếu tố vi lượng khác như Mg, Si, Mn …), sản phẩm luôn giữ được độ tơi mịn, không vón cục, không đóng bánh, thuận tiện trong quá trình bảo quản và sử dụng.

Sản phẩm supe lân Lào Cai có khả năng tan nhanh ở điều kiện bình thường, kích thích khả năng ra rễ cho cây con, duy trì dinh dưỡng trong cây, giúp cây tạo năng suất, chất lượng, phù hợp với hầu hết các loại đất và các loại cây trồng.

Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm, hơn một lúc nào hết, tập thể cán bộ CNV Apromaco luôn luôn chú trọng đến từng nguyên vật liệu đưa vào sản xuất, từng công đoạn của sản xuất, đẩy mạnh công tác kiểm tra chất lượng tại nhà máy, coi chất lượng sản phẩm tốt là điều kiện tồn tại của chính mình, vì vậy chúng tôi luôn tự hào về sản phẩm của mình và cam kết rằng Supe Lân Lào Cai của Apromaco là sản phẩm có chất lượng cao hàng đầu tại Việt Nam.

Để phân biệt rõ sản phẩm Supe Lân Lào Cai với các sản phẩm khác, đồng thời chịu trách nhiệm đến cùng về chất lượng sản phẩm của mình, chúng tôi đã cho đóng hàng trong bao PP có màu vàng óng, trên mặt bao ghi rõ các chỉ tiêu, hàm lượng cụ thể, tên đơn vị sản xuất, ngày sản xuất, hạn sử dụng, hướng dẫn sử dụng và cảnh báo an toàn để bà con nông dân thuận lợi trong sử dụng.

Mặc dù sản phẩm Supe lân của Apromaco mới ra đời từ 2010 nhưng đã được bà con nông dân cả nước đánh giá cao về chất lượng. Sản lượng sản xuất hàng năm đều được tiêu thụ hết. Việc ra đời sản phẩm Supe Lân Lào Cai không những bổ sung thêm một lượng phân bón có chất lượng cao cho sản xuất nông nghiệp trong nước mà còn tham gia xuất khẩu sang các thị trường ngoại như Đài Loan, Nhật Bản.

Tiếp tục góp phần cung ứng các sản phẩm có chất lượng tốt ra thị trường phân bón Việt Nam, Apromaco đã xây dựng xong nhà máy NPK công suất 150.000 tấn/năm với dây truyền công nghệ tiên tiến, hiện đại và bắt đầu cho ra sản phẩm từ tháng 9/2013.

Sản phẩm NPK của Apromaco có nhiều loại, bao gồm NPK 5-10-3-8S, ngoài các hàm lượng hữu hiệu P2O5 10%, Nitơ 8%, Kali 3% còn có lưu huỳnh 8%, SiO2 4,5%, Ca 20%, MgO 22% và các nguyên tố vi lượng khác.

Sản phẩm NPK 12-5-10-14S ngoài các hàm lượng hữu hiệu Nitơ 12%, P2O5 5%, Kali 10%, còn có Lưu huỳnh 14%, CaO 10%, MgO 13%, SiO2 2,5% và các yếu tố vi lượng khác.

Sản phẩm NPK 16-16-8- 13S có các hàm lượng P2O5 16%, Nitơ 16%, Kali 8% , lưu huỳnh 13% và các yếu tố vi lượng khác …

Công ty có chủ trương phối hợp với Viện Khoa học nông nghiệp, Viện Nông hóa thổ nhưỡng… nghiên cứu để sản xuất ra các sản phẩm đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng cho từng loại cây trồng ở từng giai đoạn sinh trưởng cho phù hợp với từng vùng nhằm giúp cho nhà nông tiết kiệm được chi phí, sản xuất nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao hơn.

Với phương châm “Cùng nhà nông vun trồng thịnh vượng” Apromaco sẽ không ngừng phấn đấu, nâng cao năng lực phục vụ, nghiên cứu và đưa ra các sản phẩm có lợi cho nhà nông, ổn định chất lượng sản phẩm, để tiếp tục xứng đáng là người bạn đồng hành tin cậy của bà con nông dân trên mọi miền đất nước.

Xin trân trọng cám ơn./.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Công Ty Tnhh Tm Nguyên Nông Gino Co., Ltd / 2023 trên website Vitagrowthheight.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!